Khác biệt sinh kế giữa người Kinh và người Ca-dong và một số vấn đề đặt ra (trường hợp thôn 7, xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam)
Khác biệt sinh kế giữa người Kinh và người Ca-dong
và một số vấn đề đặt ra (trường hợp thôn 7,
xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam)1
Lê Thị Thỏa(*)
Tóm tắt: Sự có mặt và xen cư của người Kinh là nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển sinh
kế của người Ca-dong ở thôn 7, xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam. Tuy
vậy, do khác biệt đặc điểm xã hội, văn hóa tự thân, đã và đang tồn tại một số khác biệt
sinh kế giữa hai bộ phận dân cư, phản ánh sự chậm phát triển, dẫn đến đời sống thấp kém
hơn của người Ca-dong so với người Kinh nơi đây. Thực trạng, nguyên nhân và hệ quả
của khác biệt sinh kế nói trên đòi hỏi cần có các giải pháp phù hợp trong khuyến nông,
khuyến lâm, nâng cao tư duy kinh tế thị trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và
tăng cường vai trò truyền bá kỹ thuật sản xuất mới của người Kinh.
Từ khóa: Sinh kế, Người Ca-dong, Quảng Nam
Abstract: The presence and alternation of the Kinh people plays a positive factor in
promoting the livelihood diversity of the Ca-dong people in Village 7, Tra Tan commune,
Bac Tra My district, Quang Nam province. However, due to differences in social and
cultural characteristics, there exist some differences in the livelihood between the two
population groups, which reflects the stagnant economy and lower living standard of
Ca-dong people compared to Kinh residents. The reality, causes and consequences of
the above-mentioned livelihood differences imply hands-on policies in agricultural and
forestry extension, cultivation of market economy ideas and high-quality human resources,
as well as the spread of new production techniques by the Kinh people.
Keywords: Livelihood, Ca-dong people, Quang Nam
1 2(*)
1. Mở đầu
là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc
Quảng Nam là tỉnh có 3 kiểu địa hình thiểu số tại chỗ, trong đó có người Xơ Đăng
đồng bằng ven biển, trung du, miền núi, (gồm các nhóm Ca-dong, Mơ Nâm, Xơ
Teng, cư trú chủ yếu ở huyện Nam Trà My,
ngoài ra còn cả ở huyện Bắc Trà My). Từ
1
Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài Khoa
năm 1976 đến nay, do kết quả của quá trình
di dân, miền núi Quảng Nam đã đón nhận
sự có mặt của một số dân tộc mới đến như
Kinh, Hoa, Tày, Nùng, Thái,… Tuy vậy,
do những nguyên nhân chủ quan và khách
quan, nhất là do khác biệt về văn hóa và
học công nghệ cấp quốc gia “Một số vấn đề cơ bản
và cấp bách trong cộng đồng các dân tộc thiểu số
tại chỗ khu vực tây duyên hải miền Trung”, mã số
CTDT.36.18/16-20, do PSG.TS. Bùi Văn Đạo làm
chủ nhiệm, Viện Dân tộc học chủ trì.
(*) ThS., Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam; Email: [email protected]
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020
38
trình độ phát triển kinh tế, xã hội tự thân, thống của người Ca-dong Bắc Trà My.
dù cùng điều kiện tự nhiên và cùng cộng Trồng trọt là sinh kế chủ đạo, gồm canh
cư, xen cư bên nhau nhiều thập niên, nhưng tác rẫy, làm ruộng nước, làm vườn, đặc
giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số tại biệt là nghề trồng quế thương phẩm, tuy
chỗ vẫn tồn tại những khoảng cách thể hiện nhiên nghề trồng quế đã mất đi từ đầu thế
trên nhiều lĩnh vực của đời sống, đáng chú kỷ XX. Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, gà, dê,
ý và rõ nét là khác biệt trong hoạt động sinh chó. Trao đổi còn sơ khai, chủ yếu vẫn theo
kế. Khác biệt sinh kế giữa người Kinh và phương thức vật đổi vật. Nghề thủ công
người Ca-dong xen cư ở thôn 7, xã Trà Tân, gồm đan lát, dệt vải và rèn, sản phẩm tinh
huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam là một xảo nhưng năng suất thấp, giá thành không
trường hợp như vậy.
cao, bị mai một theo thời gian. Trước đây,
Qua điền dã thực địa vào tháng khai thác nguồn lợi tự nhiên có vai trò quan
3/2019, với các tài liệu thu thập chủ yếu trọng với người Ca-dong, nổi bật là săn
dựa trên phương pháp quan sát, phỏng vấn bắn. Nhìn chung, các hoạt động sinh kế đều
sâu, thảo luận nhóm1, bài viết bước đầu phục vụ nhu cầu tự cấp tự túc.
đưa ra thực trạng và nguyên nhân dẫn đến
Người Kinh là bộ phận cư dân đến
khác biệt sinh kế cũng như chỉ ra một số sau ở thôn 7, vốn từ huyện Điện Bàn, tỉnh
vấn đề nhằm góp phần phát triển bền vững Quảng Nam di cư lên xây dựng kinh tế mới
sinh kế của người Ca-dong thôn 7, xã Trà theo chủ trương của tỉnh Quảng Nam vào
Tân nói riêng, các tộc người thiểu số miền năm 1984. So sánh với người Ca-dong,
núi duyên hải miền Trung nói chung trong người Kinh thôn 7 có trình độ phát triển tự
bối cảnh hiện nay.
2. Tổng quan địa bàn khảo sát
thân cao hơn, kinh tế, xã hội, văn hóa đều
dựa trên cơ sở sản xuất ruộng nước.
Huyện Bắc Trà My gồm 12 xã, 1 thị 3. Sự khác biệt sinh kế
trấn, trong đó Trà Tân là xã miền núi nhưng
tương đối phát triển. Cơ cấu kinh tế của
a) Trong sản xuất nông nghiệp
Sinh kế nông nghiệp của người Kinh
xã chủ yếu nông - lâm nghiệp 70%, công và người Ca-dong thôn 7 hiện nay gồm 3
nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 10% và thương hoạt động chính là trồng trọt, quản lý bảo
mại - dịch vụ 20% (Chi cục Thống kê huyện vệ rừng và chăn nuôi. Trong đó, trồng trọt
Bắc Trà My, 2018). Thôn 7 là một trong tám là sinh kế nông nghiệp chính yếu, với 4
thôn của xã Trà Tân được lựa chọn để khảo sinh kế bộ phận là canh tác ruộng nước,
sát, kết quả thống kê của chúng tôi cho thấy trồng keo, liên doanh cao su và làm vườn.
thôn 7 có 75 hộ với 315 nhân khẩu (trong
đó Ca-dong 43 hộ với 173 khẩu, Kinh 32 hộ dong từ thời kháng chiến chống Mỹ, do
với 142 khẩu). học hỏi từ bộ đội và cán bộ cách mạng.
Ruộng nước xuất hiện ở người Ca-
Văn hóa truyền thống của người Ca- Đến nay, theo tư liệu điền dã của Đề tài,
dong thôn 7 là hợp phần văn hóa truyền diện tích ruộng nước của người Ca-dong
thôn 7 là 4,5ha/12ha diện tích toàn thôn,
bình quân 0,105ha/hộ. Trong khi, diện tích
1 Thảo luận 2 nhóm hỗn hợp (mỗi nhóm 10 người)
ruộng nước của người Kinh cao gấp đôi với
gồm người Ca-dong và cán bộ quản lý thôn 7; phỏng
7,5ha, bình quân 0,23ha/hộ. Qua quá trình
sống xen cư với người Kinh, trao đổi kinh
vấn sâu ngẫu nhiên 5 hộ gia đình người Kinh và 10
hộ gia đình người Ca-dong thôn 7.
Khác biệt sinh kế…
39
nghiệm cùng với lịch thời vụ địa phương, thủ đúng quy cách, kích thước, mật độ,
người Ca-dong canh tác ruộng nước hai chọn giống, bón phân, làm cỏ, chăm sóc,
vụ. Tuy nhiên, kiến thức, kỹ thuật sử dụng còn người Ca-dong làm theo cảm tính, do
công cụ canh tác hạn chế, vẫn chủ yếu sử ít kinh nghiệm nên thường trồng dày hơn
dụng lao động thủ công, gồm cả việc tuốt hoặc thưa hơn. Trong khi người Kinh đã
lúa bằng máy đạp chân dẫn đến năng suất, chuyển sang trồng giống keo mới là keo tai
hiệu quả thấp. Ngược lại, người Kinh canh tượng, dù kỹ thuật trồng và chăm sóc phức
tác ruộng nước với vốn lớn hơn, nhiều tạp hơn nhưng cho năng suất cao, thì đa số
kinh nghiệm cũng như luôn cập nhật hiệu người Ca-dong vẫn trồng giống keo chàm,
quả các kỹ thuật canh tác trong các khâu kỹ thuật đơn giản hơn nhưng năng suất
làm đất, chọn giống, sử dụng thuốc bảo vệ thấp. Tập quán xen canh vẫn được người
thực vật, phân bón hữu cơ và vô cơ, làm Ca-dong áp dụng trong hai năm đầu, họ
cỏ, sử dụng các loại máy nông cơ như máy trồng xen cây mì với keo. Về cách thức tiêu
cày, bừa, máy tuốt lúa, máy gặt... Để vận thụ sản phẩm, người Kinh thường bán keo
chuyển lúa về nhà, hầu hết người Kinh sử thành phẩm đã bóc vỏ, thu nhập cao hơn,
dụng công nông, người Ca-dong chủ yếu người Ca-dong thường bán keo cây đứng
dùng xe bò kéo hoặc gùi bằng sức người. theo diện tích, thu nhập thấp hơn. Người
Những khác biệt đó dẫn đến năng suất lúa Kinh thu hoạch keo đúng tuổi trong khoảng
ruộng của người Kinh đạt 4,5-5,0 tấn/ha/vụ, 5-7 năm nên năng suất cao hơn, người Ca-
cao gấp 1,5 lần của người Ca-dong (3,0-3,5 dong hay bán keo non, khoảng 4 năm tuổi
tấn/ha/vụ). Tư liệu điền dã của chúng tôi nên năng suất thấp hơn. Thậm chí, một số
tại các hộ gia đình cũng cho thấy, thu nhập hộ nghèo bán keo non với giá chỉ bằng 2/3
từ ruộng nước của người Kinh là 2,5 tấn/ giá thị trường. Sở dĩ có sự khác nhau như
hộ/năm, cao gấp 2,5 đến 2,7 lần của người vậy là do khác biệt về thói quen, tâm lý và
Ca-dong (0,9 tấn/hộ/năm).
phong tục trong sản xuất giữa hai bộ phận
Loại cây trồng quan trọng thứ hai ở dân cư. Ở người Kinh, trồng keo đem lại
thôn 7 là cây keo, được đưa vào trồng từ thu nhập (15-17 triệu đồng/ha/năm) cao
năm 2011, thay thế cây lương thực lúa, gấp gần 1,5 lần so với của người Ca-dong
ngô, sắn trên đất nương rẫy đã bạc màu và (9-11 triệu đồng/ha/năm). Cũng như thế, ở
kém hiệu quả. Cây keo đang là một trong người Kinh, bình quân thu nhập trồng keo
những cây chủ lực của địa phương. Một là 55 triệu đồng/hộ/năm, cao hơn 3 lần so
ha đất trồng keo đúng kỹ thuật (năm 2018) với bình quân thu nhập trồng keo của người
cho thu hoạch khoảng 12 triệu đồng/năm, Ca-dong (16 triệu đồng/hộ/năm).
là mức thu nhập cao hơn so với trồng cây
lương thực.
Canh tác vườn giữa hai bộ phận cư dân
cũng thể hiện sự khác biệt rất rõ rệt. Nhìn
Đến nay, diện tích trồng keo của người vào diện tích thấy rằng, vườn của hộ gia
Kinh trong thôn 7 là 108 ha, người Ca-dong đình người Kinh trung bình 1.200 m2/hộ,
là 64 ha. Bình quân diện tích keo/hộ của cây trồng đa dạng gồm cây ăn quả như bơ,
người Kinh là 3,4 ha, cao gấp hơn 2,0 lần bưởi, chuối, xoài, đu đủ; cây thực phẩm có
so với của người Ca-dong (1,5 ha). Ở đây, các loại rau theo mùa như cà, mướp, ớt,
có một số khác biệt về kỹ thuật trồng keo bầu, bí, rau lang. Ngoài tự cấp tự túc, một
giữa hai nhóm cư dân. Người Kinh tuân số hộ có rau để bán. Nhờ đó, vườn đem lại
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020
40
khoản thu nhập bảo đảm nhu cầu chăn nuôi gia đình người Ca-dong thuộc nhóm hộ
và tự túc hàng ngày cho hộ gia đình. Ngược được giao quản lý bảo vệ rừng với diện tích
lại, vườn của người Ca-dong diện tích nhỏ 315 ha, cách làng khoảng 1 giờ đi bộ. Trừ
hơn, cây trồng thưa thớt, cằn cỗi do không chi phí quản lý cho xã và chi phí công ích
đầu tư nước tưới, chỉ trông vào nước mưa. cho cộng đồng, tiền quản lý, bảo vệ được
Vì vậy, vườn không đem lại thu nhập đáng chia cho các thành viên trong nhóm hộ theo
kể cho các hộ gia đình Ca-dong.
ngày công, mỗi hộ nhận được trên 2,5 triệu
Liên doanh cao su là hình thức trồng đồng/năm.
trọt mới xuất hiện ở thôn 7, chỉ có các hộ
Hơn 30 năm sống cộng cư, xen cư
người Ca-dong tham gia. Năm 2011, Công nhưng khoảng cách trong chăn nuôi giữa
ty Cao su Quảng Nam đến vận động người người Kinh và người Ca-dong thôn 7 có sự
dân các xã Trà Nú, Trà Tân, Trà Coóc ở cách biệt đáng kể. Về cơ sở vật chất, các
huyện Bắc Trà My tự nguyện góp đất trồng hộ người Kinh đầu tư xây dựng chuồng trại
cao su theo phương thức liên doanh, người khang trang, kiên cố, sạch sẽ, thoáng mát.
dân góp đất, công ty góp giống, phân bón, Giống vật nuôi đa dạng, giống mới được
công chăm sóc và thu hoạch. Sản phẩm ăn đưa vào chăn nuôi nhằm tăng năng suất và
chia là mủ cao su thu hoạch vào năm thứ 6 sản lượng, cải thiện sinh kế hộ gia đình. Kỹ
trở đi. Tỷ lệ ăn chia là 7/3, công ty 7 phần, thuật chăn nuôi như tiêm phòng dịch bệnh,
người dân 3 phần. Tại thôn 7, có 12 hộ người sử dụng thức ăn gia súc luôn được cập nhật
Ca-dong ký hợp đồng góp đất trồng cao su và áp dụng. Trong khi đó, người Ca-dong ít
liên doanh, với diện tích 22,5 ha1. Đến năm chú ý đến việc làm chuồng trại kiên cố, đa
2019, cây cao su đã sang năm thứ 8, lẽ ra đã số chuồng trại là tạm bợ (chỉ là khung nhà
có sản phẩm (cho thu nhập) được hai năm, và hai mái tạm) và ít sử dụng, hiện vẫn còn
nhưng công ty chưa thu hoạch do mủ cao su 34/43 hộ chưa có chuồng trại. Các giống
rớt giá, đồng nghĩa người Ca-dong góp đất vật nuôi mới như bò lai Sin, lợn cao sản, gà
vẫn chưa được hưởng lợi từ cao su. Thiếu công nghiệp... ít được sử dụng ở người Ca-
đất sản xuất, người Ca-dong thôn 7 và thôn dong, phổ biến vẫn là giống địa phương,
8 đang muốn lấy lại đất, nhưng công ty cao chậm lớn nhưng sức đề kháng cao. Khâu
su không đồng ý do chưa hết hạn hợp đồng chăm sóc và phòng dịch bệnh không được
thuê đất. Liên doanh cao su đang là vấn đề quan tâm, thiên về thích ứng và đào thải tự
bức xúc cần giải quyết của người Ca-dong nhiên. Qua khảo sát ngẫu nhiên 5 hộ người
xã Trà Tân hiện nay.
Kinh và 5 hộ người Ca-dong cho thấy, quy
Từ năm 2015, phòng Nông nghiệp và mô và số lượng vật nuôi của người Kinh
Phát triển Nông thôn huyện Bắc Trà My nhiều hơn so với người Ca-dong (xem bảng
giao rừng cho nhóm hộ thôn 7 quản lý và 1). Cụ thể, tổng số gia súc, gia cầm bình
bảo vệ, kinh phí lấy từ ngân sách dịch vụ quân mỗi hộ ở người Kinh là 30 con, trong
môi trường rừng do Thủy điện Sông Tranh đó, trâu/bò 3 con, lợn 5 con, gà 21 con.
2 chi trả. Quản lý bảo vệ rừng trở thành Tổng số gia súc, gia cầm người Ca-dong
hoạt động sinh kế mới ở thôn 7. Có 15 hộ bình quân mỗi hộ là 5 con, trong đó, trâu/
bò 0,6 con, lợn 1,2 con, gà 5 con. Như vậy,
1
tổng số gia súc, gia cầm/hộ của người Kinh
lớn hơn của người Ca-dong 6 lần, số trâu
Ở Thôn 8 cùng xã, người Ca-dong cũng góp đất
liên doanh cao su với diện tích gần 30 ha.
Khác biệt sinh kế…
41
bò/hộ lớn hơn 5 lần, số lợn/hộ và số gà/hộ Mặt hàng bán ra gồm lương thực, gia súc,
lớn hơn 4 lần.
gia cầm, lâm sản phi gỗ, nhiều nhất là keo
nguyên liệu. Nhìn vào năng lực tiêu thụ
và sản phẩm bán ra thị trường cho thấy sự
khác biệt về mức độ tham gia dịch vụ trao
đổi giữa người Kinh và Ca-dong. Về năng
lực kinh doanh năm 2018, theo tư liệu điền
dã của chúng tôi, người Kinh vượt trội hơn
nhiều (gấp gần 3 lần) so với người Ca-dong,
bình quân giá trị bán ra là trên 40 triệu đồng/
hộ/năm, bình quân giá trị mua vào là trên 30
triệu đồng/hộ/năm. Trong khi ở người Ca-
dong, các chỉ số tương đương chỉ là 15 triệu
đồng/hộ/năm và 10 triệu đồng/hộ/năm. Về
mức độ tham gia trao đổi, trong 32 hộ người
Kinh có 3 hộ bán dịch vụ tạp hóa tại nhà, 2
hộ bán hàng di động bằng xe máy, 1 hộ bán
hàng tại chợ huyện, còn với 43 hộ người
Ca-dong, chỉ có 1 hộ duy nhất bán tạp hóa
nhỏ tại nhà.
Nhìn chung, hoạt động tham gia khai
thác nguồn lợi tự nhiên giữa người Kinh
và người Ca-dong thôn 7 không giống
nhau. Mức độ khai thác nguồn lợi tự nhiên
trong rừng của người Kinh không nhiều và
không đa dạng bằng người Ca-dong. Trong
khi người Ca-dong khai thác sản phẩm phi
gỗ phong phú hơn như săn bắt côn trùng,
chim, chuột, đánh bắt cá và thủy sản trên
sông suối, hái lượm rau, măng, nấm, củ
quả, thì người Kinh chủ yếu sử dụng thực
phẩm từ canh tác vườn.
Bảng 1: So sánh số lượng vật nuôi của
hộ người Kinh và người Ca dong thôn 7
Đơn vị tính: con
Stt Họ và tên Dân tộc Số lượng vật nuôi
chủ hộ
Trâu Bò Gà
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Nguyễn
Tấn Vinh
Kinh
Kinh
5
2
3
4
2
0
1
0
2
0
7
5
4
6
4
1
0
7
5
4
26
17
15
34
12
3
Nguyễn
Đình Thạch
Bùi Minh
Toán
Kinh
Nguyễn
Đình Tóa
Kinh
Nguyễn
Thị Châu
Kinh
Đinh Văn
Thi
Ca-dong
Ca-dong
Ca-dong
Ca-dong
Ca-dong
Đinh Văn
Banh
5
Đinh Văn
Sắn
7
Đinh Việt
Thông
0
10 Đinh Văn
Diêm
6
Nguồn: Khảo sát thực địa của Đề tài.
b) Trong hoạt động phi nông nghiệp
Gần đây, do tác động của kinh tế thị
trường, các nghề thủ công truyền thống của
người Kinh và Ca-dong thôn 7 đã mai một.
Sinh kế phi nông nghiệp hiện nay gồm dịch
vụ trao đổi, khai thác nguồn lợi tự nhiên và
làm thuê.
Giao thông thuận lợi và sự lan tỏa của
kinh tế thị trường là cơ sở thúc đẩy dịch vụ
trao đổi hàng hóa phát triển hơn trước. Mặt
hàng ngày càng phong phú, bao gồm thực
phẩm, tạp hóa và hàng công nghệ phẩm...
Làm thuê là hoạt động sinh kế xuất hiện
ở thôn 7 chưa lâu, do kinh tế thị trường và
sự suy giảm đất sản xuất/hộ. Công việc làm
thuê khá đa dạng, gồm thợ nề, phụ nề, thợ
mộc, công nhân hợp đồng, xuất khẩu lao
động…, phổ biến nhất là làm thuê ngay tại
địa phương như tham gia trồng keo. Hình
thức làm thuê có thể là làm công nhật hoặc
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của hầu hết làm khoán. Nếu làm công nhật, thu nhập từ
bộ phận cư dân Kinh và Ca-dong thôn 7. 150 đến 180 nghìn đồng/ngày/người, có sự
Thông tin Khoa học xã hội, số 2.2020
42
khác nhau giữa nữ và nam. Nếu làm khoán, có sân láng xi măng rộng rãi, khang trang,
thu nhập phụ thuộc vào công việc và sức trong khi nhà người Ca-dong vẫn là sân đất,
khỏe, khoảng 250 đến 350 nghìn đồng/ bụi bẩn về mùa khô, lầy lội về mùa mưa.
ngày/người. Người Kinh thường làm các
Về tỷ lệ hộ nghèo, theo số liệu của
công việc như thợ mộc, thợ xây, có người đi UBND xã Trà Tân, năm 2017, thôn 7 có
xuất khẩu lao động hoặc làm công nhân hợp 15 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 18% số hộ trong
đồng, còn người Ca-dong thường làm công thôn, trong đó 1 hộ người Kinh (6% tổng
việc thiên về lao động chân tay như trồng và số hộ nghèo và 3% tổng số hộ Kinh), 14 hộ
chăm sóc keo, khai thác, vận chuyển keo. người Ca-dong (94% tổng số hộ nghèo và
Theo tư liệu điền dã của chúng tôi, hiện 33% tổng số hộ Ca-dong) (UBND xã Trà
trong thôn có 3 thợ mộc, 5 thợ xây, 5 thợ Tân, 2018). Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo 33% của
phụ nề, 2 người xuất khẩu lao động, 4 công người Ca-dong ở thôn 7 là thành tựu và thấp
nhân hợp đồng đều là người Kinh, khoảng hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo của người
30 lao động chăm sóc và thu hoạch keo chủ Ca-dong ở các xã đặc biệt khó khăn trong
yếu là người Ca-dong. Làm thuê đối với huyện như Trà Bui (56%), Trà Kót (52%),
người Ca-dong có vai trò quan trọng hơn Trà Đốc (80%), Trà Giác (80%),… (Chi
so với người Kinh. Theo kết quả thảo luận cục Thống kê huyện Bắc Trà My, 2018),
nhóm với đại diện cán bộ và người dân thôn nhưng so sánh với người Kinh cùng thôn,
7, thu nhập từ làm thuê của người Ca-dong tỷ lệ hộ nghèo trong người Ca-dong cao
chiếm gần 1/3 thu nhập hàng năm, thậm chí gấp hơn 10 lần tỷ lệ hộ nghèo của người
trở thành nguồn thu nhập chính của nhiều Kinh. Hiện tiêu chí nghèo trong xây dựng
cặp vợ chồng trẻ mới tách hộ không có đất nông thôn mới của xã Trà Tân được coi là
sản xuất.
c) Khác biệt về đời sống như là hệ quả của người Ca-dong so với người Kinh đang
của khác biệt sinh kế là vấn đề đặt ra cần quan tâm khắc phục ở
đạt yêu cầu, nhưng tỷ lệ hộ nghèo quá cao
Khác biệt về đời sống giữa người Kinh cộng đồng người Ca-dong thôn 7 nói riêng
và người Ca-dong thôn 7 thể hiện qua nhiều và ở xã Trà Tân nói chung.
khía cạnh. Ở đây chỉ trình bày khác biệt 4. Một số vấn đề đặt ra và kết luận
trên hai khía cạnh nhà ở và tỷ lệ hộ nghèo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc
Về nhà ở, theo tư liệu điền dã của chúng dù cư trú xen cư, cộng cư với nhau trong
tôi, trong khi ở người Kinh 17 hộ/32 hộ có nhiều thập niên, sống trong cùng điều kiện
nhà kiên cố mái bằng (53%), 13 hộ/32 hộ tự nhiên nhưng vẫn có sự khác biệt sinh
có nhà bán kiên cố tường xây, mái ngói kế đáng kể giữa người Kinh và người Ca-
(40%), 2 hộ có nhà tạm, tường gỗ, mái lợp dong ở thôn 7. Sự khác biệt đó thể hiện trên
tôn (7%) thì ở người Ca-dong 4/43 hộ có nhiều khía cạnh, từ canh tác ruộng nước,
nhà kiên cố (9%), 12 hộ/43 hộ có nhà bán trồng keo, làm vườn, liên doanh cây công
kiên cố (28%) và 27 nhà là nhà tạm (63%), nghiệp, đến chăn nuôi, nghề rừng, dịch vụ
điều có cũng có nghĩa là so với người Ca- trao đổi, khai thác nguồn lợi tự nhiên và
dong, tỷ lệ hộ có nhà kiên cố ở người Kinh làm thuê. Mặc dù có điều kiện học hỏi trực
cao gấp 6 lần, tỷ lệ hộ có nhà bán kiên cố tiếp từ người Kinh, nhưng các hoạt động
cao gấp gần 1,5 lần và tỷ lệ nhà tạm thấp sinh kế của người Ca-dong vẫn chậm phát
hơn 9 lần. Chưa kể nhà người Kinh đều triển hơn nhiều. Đặc biệt tỷ lệ hộ nghèo
Khác biệt sinh kế…
43
người Ca-dong thôn 7 ở mức cao, nhà cửa người Ca-dong ở thôn 7, xã Trà Tân, huyện
tạm bợ, thiếu đất sản xuất và việc làm. Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam. Những khác
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khác biệt mang tính chậm phát triển của sinh
biệt và tụt hậu giữa sinh kế của người Ca- kế người Ca-dong so với người Kinh và
dong so với người Kinh, trong đó, đặc điểm nguyên nhân dẫn đến khác biệt, tụt hậu nói
kinh tế, xã hội, văn hóa truyền thống là yếu trên là gợi ý quan trọng giúp đề xuất định
tố có tác động trực tiếp. Người Kinh định hướng chính sách phát triển bền vững sinh
canh, thâm canh trên cơ sở canh tác ruộng kế ở các thôn làng người Ca-dong xen cư
nước với kỹ thuật và công cụ sản xuất tiên với người Kinh. Theo đó, thứ nhất, khẳng
tiến, chủ động, ít lệ thuộc thiên nhiên. định lại nguyên tắc cầm tay chỉ việc thực
Người Ca-dong du canh, quảng canh trên sự trong suốt quá trình thực hiện công tác
cơ sở canh tác nương rẫy với kỹ thuật đơn khuyến nông, khuyến lâm cần tiếp tục áp
giản, phụ thuộc thiên nhiên. Tư duy làm dụng; thứ hai, ưu tiên xây dựng các chính
kinh tế của người Kinh nhạy bén và khoa sách kích cầu để nâng cao tư duy kinh tế
học hơn, biết tính toán và có chiến lược thị trường; thứ ba, có chính sách đột phá về
thích ứng, trong khi với người Ca-dong tư giáo dục, đào tạo để nâng cao chất lượng
duy kinh tế thị trường hoàn toàn mới mẻ. nguồn nhân lực; thứ tư, khuyến khích, tăng
Về văn hóa, tín ngưỡng người Kinh gắn với cường vai trò truyền bá kỹ thuật phát triển
ruộng nước, ít phụ thuộc tự nhiên, người sinh kế mới của bộ phận người Kinh trong
Ca-dong bảo lưu văn hóa và tín ngưỡng thôn, trong vùng
gắn với nương rẫy, còn thụ động, ngại thay
đổi, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên. Đó là các Tài liệu tham khảo
nhân tố dẫn đến khác biệt và tụt hậu sinh kế 1. Chi cục Thống kê huyện Bắc Trà My
người Ca-dong so với người Kinh.
(2018), Niên giám Thống kê huyện Bắc
Trà My, 2017.
Sự có mặt và xen cư của người Kinh là
nhân tố mới và tích cực góp phần thúc đẩy 2. UBND xã Trà Tân (2018), Báo cáo kết
nhanh hơn quá trình phát triển sinh kế của
quả giảm nghèo xã Trà Tân năm 2018.
(tiếp theo trang 51)
8. Sauer, C.O. (1963), The morphology
of landscapes, Reprinted in: Leighly
J., ed., Land and life: Selections from
the writings of Cart Ortwin Sauer,
University of California Press, US.
6. Một số khái niệm liên quan đến môi
article.asp?item=M%E1%B%99t-s%E1
%BB%91-kh%C3%A1i-ni%E1%BB% 9. Đinh Trọng Thu, Lê Hồng Ngọc (2018),
87m-li%C3%AAn-quan-%C4%91%E1
%BA%BFn-m%C3%B4i-tr%C6%B0%
E1%BB%9Dng-41139
“Một số vấn đề lý luận cơ bản trong
nghiên cứu địa lý văn hóa”, Tạp chí
Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1 (24),
tr. 46-52.
7. Myga-Piatek, U. (2005), “History,
methods and recourses of cultural 10. Trần Quốc Vượng (2009), Cơ sở văn
landscape”, Problems of landscape
ecology. 17, page 71-77.
hóa Việt Nam, Tái bản lần thứ 11, Nxb.
Giáo dục, Hà Nội.
Bạn đang xem tài liệu "Khác biệt sinh kế giữa người Kinh và người Ca-dong và một số vấn đề đặt ra (trường hợp thôn 7, xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khac_biet_sinh_ke_giua_nguoi_kinh_va_nguoi_ca_dong_va_mot_so.pdf

