Đạo tin lành tại Tây Nam Bộ: Lịch sử, hiện trạng và những vấn đề đặt ra

Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 – 2018  
59  
NGUYỄN XUÂN HÙNG*  
ĐẠO TIN LÀNH TẠI TÂY NAM BỘ: LỊCH SỬ, HIỆN TRẠNG  
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA  
Tóm tắt: Tây Nam Bộ là vùng đất mới, là nơi quần tụ sinh sống  
của nhiều tộc người khác nhau, bởi vậy đời sống văn hóa và tôn  
giáo cũng hết sức phong phú. Trong sự đa dạng văn hóa, tôn  
giáo đó rất thú vị khi thấy đạo Tin Lành - một nhánh Kitô giáo  
du nhập Việt Nam muộn nhất cũng đã có mặt tại đây từ khá  
sớm. Tìm hiểu về lịch sử du nhập, tồn tại của tôn giáo này tại  
vùng đất Tây Nam Bộ trong sự so sánh với các vùng miền khác  
cùng các vấn đề đặt ra hiện nay là chủ đề khoa học rất đáng  
quan tâm. Bài nghiên cứu đi vào tìm hiểu lịch sử quá trình  
truyền giáo của đạo Tin Lành tại vùng đất mới Tây Nam Bộ từ  
khởi đầu cho đến ngày nay. Trong đó, có sự phân tích, đối  
chiếu, so sánh với các vùng miền khác về kết quả truyền giáo, sự  
tiếp nhận cũng như sự phản ứng văn hóa, tôn giáo của quá trình  
này cùng những vấn đề đặt ra.  
Từ khóa: Đạo Tin Lành; Tây Nam Bộ; truyền giáo.  
1. Truyền giáo Tin Lành tại khu vực Tây Nam Bộ từ khởi đầu  
cho đến năm 1975  
1.1. Giai đoạn từ khởi đầu cho đến năm 1945  
Năm 1911, 03 giáo sĩ của Hội Truyền giáo Tin Lành C.M.A đã lập  
trụ sở tại Tourane (Đà Nẵng), cuộc truyền đạo Tin Lành cho người  
bản xứ mới chính thức bắt đầu. Năm 1914, các giáo sĩ C.M.A đã chính  
thức lập địa hạt truyền giáo Việt Nam với 09 giáo sĩ. Từ Đà Nẵng năm  
1916, đã có 06 giáo sĩ được phái ra Hà Nội, Hải Phòng mở trụ sở  
truyền giáo.  
* Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
Ngày nhận bài: 02/12/2018; Ngày biên tập: 10/12/2018; Ngày duyệt đăng: 20/12/2018.  
60  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Sau một thời gian cảnh giác, trục xuất, dè chừng các giáo sĩ, chính  
quyền Pháp vào năm 1918 đã chính thức cho phép các giáo sĩ được hoạt  
động tại 03 thành phố nhượng địa, đó là: Hà Nội, Hải Phòng, Tourane,  
và xứ thuộc địa Nam Kỳ. Các nơi khác thuộc Bắc Kỳ và Trung Kỳ về  
danh nghĩa vẫn là xứ bảo hộ, vì vậy bị kiểm soát chặt hơn.  
Như vậy, Nam Kỳ trong đó có vùng Tây Nam Bộ ngày nay không  
phải là nơi đầu tiên các giáo sĩ truyền đạo Tin Lành đặt chân tới nhưng  
từ rất sớm đã là vùng có quy chế pháp lý tương đối thuận lợi đối với  
các giáo sĩ.  
Trong khoảng thời gian từ 1921 đến 1927, các giáo sĩ cùng với các  
truyền đạo bản xứ đã lập được những trụ sở truyền giáo tại các địa bàn  
từ Nam ra Bắc, như: Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Rạch  
Giá, Biên Hòa, Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Vinh, Thanh Hóa, Hà  
Nội, Hải Phòng. Số các địa điểm truyền giáo trên các địa bàn tăng  
trưởng từ năm 1924 có 24 địa điểm, đến năm 1925 có 37 địa điểm,  
năm 1927có 87 địa điểm.  
Số tín đồ: Năm 1921 có được 180 người, năm 1924 có được 1.571  
người, năm 1925 có 2.939 người và đến năm 1927 đã có 4.236 tín đồ  
chính thức trong 74 chi hội Tin Lành1.  
Năm 1927, tại Đà Nẵng, Đại Hội Đồng chính thức đầu tiên đã  
thành lập tổ chức giáo hội bản xứ Hội Tin Lành Đông Pháp. Bản Hiến  
Chương năm 1928 được thông qua đã quy định các thể chế hoạt động  
của Giáo hội Tin Lành Việt Nam bao gồm 3 cấp: Chi hội, Địa hạt Liên  
hội và Tổng Liên hội.  
Ngay khi Đại Hội Đồng thông qua bản Hiến chương đầu tiên (lần  
thứ V, năm 1928), các đại biểu đã thông qua biểu quyết chia 3 kỳ làm  
2 hạt là Trung - Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Như vậy vào thời điểm này, Hội  
Tin Lành Đông Pháp có 02 địa hạt, vùng Tây Nam Bộ nằm trong địa  
hạt Nam hạt.  
Năm 1932, theo biểu quyết tại Đại Hội Đồng thường niên, địa hạt  
Trung - Bắc Kỳ tách ra làm 2, thành: Trung hạt và Bắc hạt. Như vậy,  
từ đây HTTLVN có 3 địa hạt (Nam Kỳ đã là một địa hạt từ trước, bao  
gồm cả vùng Bình Thuận).  
Nguyễn Xuân Hùng. Đạo Tin Lành tại Tây Nam Bộ…  
61  
Đến cuối năm 1934, sự tăng trưởng về mặt tổ chức được ghi nhận  
với 38 chi hội tại Bắc Kỳ, 34 ở Trung Kỳ và 47 tại Nam Kỳ, tổng  
cộng đã có tới 119 chi hội.  
Đại Hội Đồng Tổng liên Hội năm 1934 đã khai trình tổng số tín đồ  
và cụ thể riêng từng vùng (địa hạt) như sau:  
“Nam hạt: Số tín đồ chính thức (đã báp têm) 5.268 người; số tín đồ  
chưa chính thức là 1.405 người.  
Trung hạt: Số tín đồ chính thức (đã báp têm) 1.545 người; số tín đồ  
chưa chính thức là 652 người.  
Bắc hạt: Số tín đồ chính thức (đã báp têm) 421 người; số tín đồ  
chưa chính thức là 187 người.  
Tổng cộng: 7.234 tín đồ chính thức và 2.244 tín đồ chưa chính  
thức”2.  
Kết quả truyền giáo tại địa hạt Nam hạt thời kỳ 1932-19423  
Số Báp  
Tín đồ  
chính  
thức  
Số cầu  
nguyện  
tin Chúa  
tem  
trong  
năm  
854  
Chi hội  
Chính  
Chi hội  
Nhánh  
Năm  
1932  
1934  
1936  
1938  
1939  
1940  
1941  
1942  
4876  
5185  
5692  
6313  
6500  
7065  
7455  
8159  
2069  
1069  
34  
40  
22  
21  
377  
474  
628  
581  
566  
449  
2116  
1479  
1783  
1763  
1322  
50  
51  
56  
25  
34  
34  
Nguồn: Thống kê từ Thánh Kinh báo.  
Phân tích về các số liệu khai trình thấy tỷ lệ tín đồ chính thức  
(Báptem) trên tổng số tín đồ tin nhận đạo có sự khác biệt rất lớn giữa  
các địa hạt.  
Ở Bắc Bộ trong 1.000 người tin Chúa (mới theo) năm 1935 chỉ có  
164 người chịu Báptêm (trở thành tín đồ chính thức), trong khi tại  
Nam Bộ có 722 người Báptêm trên 1.069 người, Trung Bộ có 346  
Báptêm trên 576 người4. Nguyên do bắt nguồn từ sự va chạm văn hóa  
61  
62  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
của việc cấm thờ cúng tổ tiên do các giáo sĩ Tin Lành quy định. Tại  
các làng quê truyền thống Bắc Bộ, những thiết chế cộng đồng gia  
đình, làng mạc, họ tộc rất bền vững, rất khó cho việc truyền giáo Tin  
lành xâm nhập. Đạo Tin Lành truyền giáo có kết quả hơn tại các vùng  
đất mới, đặc biệt tại Nam Bộ.  
1.2. Giai đoạn 1946 - 1954  
Tình hình chính trị xã hội Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống  
thực dân Pháp đã ảnh hưởng mạnh đến công việc truyền giáo, đặc  
biệt tại Bắc Bộ và Trung Bộ. Trong khi đó, tại Nam Bộ tình hình lại  
khác. Đây là vùng ổn định và tăng trưởng mạnh nhất đối với Tin Lành  
trong giai đoạn này. Do các chi hội có nguồn tài chính tự lực khá tốt,  
chiến sự không lan rộng, hoạt động truyền giáo Tin lành gặp được  
những bất ổn tâm lý, xã hội do biến động thời cuộc, nên số chi hội và  
tín đồ gia tăng.  
Chính trong giai đoạn này và đặc biệt là từ 1950 - 1952, các nhà  
thờ, nhà giảng được xây dựng liên tiếp (5 nhà thờ trong năm 1949, 25  
nhà thờ được trùng tu, sửa chữa trong năm sau). Năm 1949 có 450 tín  
đồ mới chịu làm Báptêm, năm 1950 có 397 người, có chi hội rất lớn  
như Hội Thánh Cần Thơ với hơn 500 tín đồ, 13 ban chứng đạo5.  
Như vậy, thời kỳ đầu truyền giáo, Nam hạt trong đó có vùng Tây  
Nam Bộ là nơi mà việc truyền đạo Tin Lành thu được kết quả khả  
quan nhất so với các vùng truyền giáo khác. Mọi số liệu thống kê đều  
cho thấy số lượng tín đồ, tỷ lệ Báp têm trên tổng số tín đồ, số chi hội,  
cơ sở nhà thờ, nhà giảng đều chiếm vị trí thứ nhất. Nếu chỉ lấy số liệu  
tín đồ chính thức của Nam hạt năm 1942 đã hơn 8.000 người và đối  
chiếu với số 13.000 tín đồ chính thức của miền Nam và miền Trung  
sau năm 1954 thì tại Nam hạt trong đó chủ yếu ở Tây Nam bộ đã  
chiếm hơn 50%.  
1.3. Giai đoạn từ năm 1955 đến 1975  
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, theo Lê Hoàng Phu, Hội  
Thánh Tin Lành Việt Nam chỉ hoạt động tại miền Nam, miền Trung  
với khoảng 13.000 tín đồ Báp têm chính thức. Từ đây bắt đầu một giai  
đoạn mới về hoạt động truyền giáo với sự hỗ trợ nhiều mặt từ các tổ  
Nguyễn Xuân Hùng. Đạo Tin Lành tại Tây Nam Bộ…  
63  
chức, giáo phái Tin Lành quốc tế. Để phù hợp với sự tăng trưởng của  
Hội Thánh, HTTLVN đã chấn chỉnh, cải cách bước đầu hệ thống hành  
chính điều hành từ Tổng hội đến Địa hạt, cụ thể: Năm 1959, đưa Địa  
hạt Thượng Du về thuộc quản lý của HTTLVN (trước đây địa hạt này  
do Hội C.M.A nắm).  
Năm 1962, tách Địa hạt Trung hạt ra thành 02 Hạt mới là Trung  
Trung hạt và Nam Trung hạt. Thập niên 1955-1965 là thập niên mà  
hoạt động truyền giáo của HTTLVN được đẩy mạnh lên thành cao trào.  
Sự tăng trưởng số lượng tín đồ như là kết quả của những nỗ lực  
truyền giáo, đã được Lê Hoàng Phu tổng kết như sau:  
Số liệu về tăng trưởng tín đồ của HTTLVN trong thời kỳ 1955 -1965  
Số tín đồ  
Năm  
Báptêm  
13.935  
24.430  
24.708  
27.296  
32.823  
37.222  
40.214  
41.733  
Tin đạo nói chung  
Không rõ  
Không rõ  
51.819  
1955  
1957  
1959  
1960  
1962  
1963  
1964  
1965  
Không rõ  
Không rõ  
Không rõ  
81.079  
100.000  
Nguồn: Lê Hoàng Phu6.  
Thời kỳ từ 1965 đến 1975 là khoảng thời gian mà HTTLVN phối hợp  
với Hội Truyền giáo C.M.A, Hội Ngữ học Mùa hè, Hội Truyền giảng  
Phúc Âm triển khai các hoạt động truyền giáo bằng các phương tiện hiện  
đại nhất, tiên tiến nhất, được yểm trợ tối đa nhất từ trước đến đây.  
Tại miền Hậu Giang, dưới sông nước sử dụng tầu Tin Lành, ghe  
Tin Lành, trên bộ có xe Tin Lành lưu động: Truyền giáo bằng sóng  
phát thanh, bằng Kinh thánh nhỏ, lẻ, sách báo, truyền đạo đơn đủ mọi  
dạng ở mọi nơi, mọi lúc.  
63  
64  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Thời kỳ 1965-1975 cũng là thời kỳ HTTLVN phát triển và hoàn  
thiện các cơ cấu, tổ chức, cơ quan điều hành của mình. Năm 1969, Địa  
hạt Thượng Du được tách ra làm 02 Hạt mới là Trung Thượng hạt và  
Nam Thượng hạt. Địa hạt Nam hạt cũng chia ra thành Đông Nam hạt  
và Tây Nam hạt.  
Năm 1971, Tây Nam hạt lại chia thành Tiền Giang hạt và Hậu  
Giang hạt, đưa tổng số các địa hạt lên tới con số 7.  
Như vậy, cũng như thời kỳ trước đó, không có số liệu thống kê cụ  
thể các tỉnh thuộc Tây Nam Bộ thuộc Nam hạt thậm chí các thập niên  
sau, việc khai trình của các địa hạt thường ít được HTTLVN công bố.  
Tuy nhiên, theo chúng tôi, khu vực này vẫn là nơi phát triển ổn định  
nhất của đạo Tin Lành, trước khi nhường lại vị trí này cho khu vực  
Tây Nguyên - Nam Trường Sơn khi có sự gia tăng tín đồ người dân  
tộc thiểu số vượt trội.  
Cũng cần nhắc lại rằng, cho đến năm 1975, với số lượng tín đồ vào  
khoảng gần 160.000 người (trong đó tín đồ Báp têm chỉ khoảng 55.000),  
đạo Tin Lành vẫn chưa có ảnh hưởng gì lớn trong xã hội Việt Nam.  
2. Đạo Tin Lành tại vùng Tây Nam Bộ thời kỳ từ 1975 đến nay  
2.1. Giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 2001  
Sau khi các giáo sĩ nước ngoài rút đi, sự trợ giúp quốc tế bị ngưng trệ,  
nhiều tín đồ chức sắc di tản, bỏ nhiệm sở, đạo Tin Lành tại miền Nam  
nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng rơi vào thời kỳ khủng hoảng.  
Thêm nữa, sau kỳ Đại Hội Đồng lần thứ 42 năm 1976 tại Thành  
phố Hồ Chí Minh (13-15/6/1976), HTTLVN (miền Nam)7 không được  
Nhà nước thừa nhận như một tổ chức tôn giáo hợp pháp, khiến cho  
các sinh hoạt định kỳ về mặt tổ chức không thực hiện được, như: tổ  
chức Đại Hội Đồng các cấp, đào tạo, bổ sung; tấn phong, điều chuyển  
chức sắc; in ấn kinh sách, dùng các phương tiện truyền giáo đa dạng  
như trước kia, v.v...  
Tuy nhiên, ngoại trừ vùng Tây Nguyên, tại các tỉnh, thành phố ở đồng  
bằng, cụ thể là tại miền Tây Nam Bộ, các chi hội cùng tín đồ vẫn sinh hoạt  
bình thường. Tại nhiều nơi, chính quyền địa phương vẫn giúp đỡ việc  
thuyên chuyển người quản nhiệm, các cuộc bồi linh của các chức sắc...  
Nguyễn Xuân Hùng. Đạo Tin Lành tại Tây Nam Bộ…  
65  
Xu hướng, nhu cầu tất yếu của tình hình là phải thích nghi, hội  
nhập, tìm phương cách để tồn tại và phát triển. Đặc biệt khi quá trình  
đổi mới, mở cửa, dân chủ hóa đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực  
tôn giáo đang được mở ra.  
Từ cuối những năm 80, đầu những năm 90, việc phục hồi và đẩy  
mạnh hoạt động truyền giáo của đạo Tin Lành bắt đầu diễn ra, đặc biệt  
tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.  
Về thành phần hệ phái, tổ chức cũng có nhiều thay đổi. Đã xuất  
hiện nhiều hệ phái, tổ chức, nhóm Tin Lành mới qua sự bùng phát  
“phong trào hội thánh tư gia”. Tại vùng Tây Nam Bộ, nếu như trước  
năm 1975 chỉ có sự hiện diện của HTTLVN và Giáo hội Cơ Đốc Phục  
Lâm thì giờ đây đã lần lượt xuất hiện thêm hàng chục tổ chức, hệ phái  
mới.  
Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, số lượng tín đồ Tin  
Lành tại các tỉnh thành phía nam vào thời điểm năm 2000, trước khi  
Nhà nước cho phép HTTLVN miền Nam tiến hành tổ chức Đại Hội  
Đồng và công nhận tư cách pháp nhân của tổ chức này như sau:  
TT  
1
2
3
4
5
6
7
8
Tỉnh, thành phố  
An Giang  
Số tín đồ  
1.904  
961  
TT  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
23  
24  
Tỉnh, thành phố  
TP. HCM  
Số tín đồ  
22.570  
8.262  
3.908  
1.020  
64.324  
3.698  
2.866  
13.130  
2.097  
1.621  
271  
Bạc Liêu  
Khánh Hòa  
Kiên Giang  
Kom Tum  
Lâm Đồng  
Long An  
Bình Dương  
Bình Định  
Bình Thuận  
Bà Rịa-Vũng Tàu  
Cà Mau  
800  
1.693  
8.450  
4.166  
1.900  
5.786  
8.515  
120.000  
12.362  
94.215  
Phú Yên  
Cần Thơ  
Đà Nẵng  
Đắk Lắk  
Đồng Nai  
Quảng Nam  
Quảng Ngãi  
Sóc Trăng  
Tây Ninh  
9
10  
11  
12  
Gia Lai  
Vĩnh Long  
4.404  
Tổng số (24 tỉnh, thành): 388.5238  
Về phía đạo Tin Lành, sau khi được Nhà nước cho phép tiến hành  
Đại Hội Đồng lần thứ 1 (lần thứ 43 theo lịch sử giáo hội), HTTLVN  
(miền Nam) công bố trong Niên giám năm 2002 của Tổng Liên hội  
HTTLVN (miền Nam): Thời điểm tháng 4/2001, tổ chức này hiện có  
898 chi hội, số chức sắc là 798 người (bao gồm mục sư, truyền đạo kể  
cả số hưu trí) 149.551 tín đồ chính thức trên tổng số 367.687 tín đồ  
nói chung9.  
65  
66  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
Qua những số liệu trên, có thể nhận ra: So với thời điểm năm 1975  
khi HTTLVN (miền Nam) có được 50.000 tín đồ Báptem trên tổng số  
160.000 tín đồ nói chung thì sau 25 năm, lực lượng tín đồ của họ đã  
phát triển lên gần gấp 3 lần; Tỷ lệ tín đồ người dân tộc so với tín đồ  
người kinh trước 1975 là 1/3 (15.000/50.000 tín đồ Báptem) thì hiện  
nay ngược lại 3/1. Chỉ riêng 3 tỉnh Tây Nguyên (và cả Bình Phước) số  
tín đồ dân tộc đã lên tới 300.000 người. Tốc độ tăng trưởng tín đồ nơi  
các dân tộc thiểu số trung bình là gấp 6 lần, tại một số địa phương  
(Đắk Lắk, Gia Lai) đến hơn 10 lần; Số liệu của một số tỉnh thuộc Tây  
Nam Bộ không cho thấy sự phát triển đột biến.  
2.2. Giai đoạn từ 2001 đến nay  
Năm 2001, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), tổ chức  
Giáo hội Tin Lành lớn mạnh nhất đã được công nhận tư cách pháp  
nhân. Liền theo đó Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2004 và Chỉ  
thị 01 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đối với đạo Tin Lành đi  
vào đời sống.  
Đạo Tin Lành chính thức được thừa nhận và hoạt động trong khuôn  
khổ luật pháp. Tiếp theo HTTLVN (miền Nam), 09 hệ phái, tổ chức khác  
cũng đã được công nhận tư cách pháp nhân. Mối quan hệ giữa Nhà  
nước và giáo hội đã có nhiều biến chuyển tích cực chứng tỏ chủ trương,  
chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đạo Tin Lành là đúng đắn.  
Tuy nhiên, việc cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức  
tôn giáo cho các tổ chức, hệ phái Tin Lành cũng như việc cấp đăng ký  
sinh hoạt tôn giáo còn là công việc lâu dài. Hiện tại, ngoài 11 tổ chức  
hệ phái đã được công nhận trên còn hơn 70 hệ phái, nhóm Tin Lành  
đang còn chưa có tư cách pháp nhân chính thức.  
Tại các tỉnh vùng Tây Nam Bộ, sau quá trình thực thi chủ trương  
chính sách mới về đạo Tin Lành, tình hình cộng đồng tôn giáo này nhìn  
chung hoạt động hài hòa, ổn định, có sự phát triển. Tuy nhiên đã có vấn  
đề mới nẩy sinh, đó là việc truyền đạo phát triển tín đổ, hay còn gọi là  
“cải đạo” tại vùng đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông.  
Nhiều cơ quan hữu quan, nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo đã đề  
cập đến vấn đề trên. Tác giả Trần Hồng Liên trong bài viết “Sự  
Nguyễn Xuân Hùng. Đạo Tin Lành tại Tây Nam Bộ…  
67  
chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer tại Trà Vinh hiện nay” cho  
biết người Khmer theo Tin Lành xuất hiện tại các huyện: Trà Cú,  
Duyên Hải, Tiểu Cần, Châu Thành, Càng Long... với số lượng lên tới  
430 người (trong tổng số 1.286 tín đồ Tin Lành tại đây)10. Đây là một  
hiện tượng rất đáng chú ý vì Phật giáo Nam tông đối với người Khmer  
là truyền thống, là chất kết dính văn hóa có tính sống còn của cộng  
đồng mà nếu tan vỡ thì sẽ có những hệ lụy phức tạp cho việc phát  
triển bền vững. Đi vào phân tích, lý giải, tác giả tìm ra những nguyên  
nhân về biến đổi đời sống kinh tế, xã hội, cộng đồng nơi người  
Khmer; sự suy thoái, giảm vai trò của các lãnh đạo tôn giáo, của các  
Sư Cả trong việc chăm sóc cộng đồng; sự truyền đạo mang tính vụ lợi,  
dùng các chiêu thức thu hút bằng lợi ích vật chất, bằng phương thức  
truyền giáo vụ lợi của các hệ phái, nhóm Tin Lành còn chưa hợp pháp.  
Tác giả Trần Hữu Hợp trong một nghiên cứu về chủ đề “Sự cải  
giáo của một bộ phận người Khmer vùng Tây Nam Bộ” cho thấy: Dù  
chùa đối với người Khmer là trung tâm tôn giáo và sinh hoạt văn hóa  
cộng đồng nhưng những năm qua đã diễn ra sự cải đạo. Trước tiên là  
cải đạo theo Công giáo, với 3.202 tín đồ/715.054 tín đồ Công giáo tại  
13 tỉnh miền Tây Nam Bộ (chiếm 0,45%).  
Đối với việc cải đạo sang đạo Tin Lành, theo số liệu của Ban Chỉ  
đạo Tây Nam Bộ và của tác giả có những chi tiết rất đáng chú ý:  
Số liệu người Khmer Tây Nam Bộ theo Tin Lành  
(Số liệu thống kê của BCĐ TNB năm 2015 và của tác giả)  
ST  
T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
11  
12  
13  
Đơn vị  
Tín đồ  
Tin Lành  
2.195  
961  
Tín đồ Tin Lành  
là người Khmer  
Tỷ lệ %  
An Giang  
Bạc Liêu  
Bến Tre  
91  
128  
0
41  
26  
0
46  
754  
0
650  
0
4,14  
13,31  
5.300  
4.532  
10.979  
7.284  
3.366  
6.209  
5.773  
3.695  
8.658  
1.286  
7.399  
67.637  
Cà Mau  
0,90  
0,23  
Cần Thơ  
Đồng Tháp  
Hậu Giang  
Kiên Giang  
Long An  
Sóc Trăng  
Tiền Giang  
Trà Vinh  
1,36  
12,14  
17,59  
430  
29  
2.195  
33,43  
0,39  
Vĩnh Long  
Tổng cộng  
67  
68  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
“Theo bảng thống kê trên có 9/13 tỉnh thành trong khu vực có tín  
đồ Tin Lành là người Khmer. Tổng số tín đồ Tin Lành là người dân  
tộc Khmer là 2.195 người, chiếm tỷ lệ 3,24% số tín đồ Tin Lành  
trong khu vực và chiếm tỷ lệ 0,18% người Khmer trong khu vực.  
Tỉnh có tín đồ Tin Lành là người Khmer đông nhất là tỉnh Kiên  
Giang, 754 người (chiếm 12,14% tín đồ Tin Lành của tỉnh); tỉnh Sóc  
Trăng có 650 tín đồ Tin Lành là người Khmer (chiếm 17,59% tín đồ  
Tin Lành của tỉnh); tỉnh Trà Vinh có 430 tín đồ Tin Lành là người  
Khmer (chiếm 33,43% tín đồ Tin Lành của tỉnh); tỉnh Bạc Liêu có  
128 tín đồ Tin Lành là người Khmer (chiếm 13,31% tín đồ Tin Lành  
của tỉnh); các đơn vị còn lại có tín đồ Tin Lành là người Khmer ít  
hơn hoặc không có”11.  
Theo tác giả, việc cải đạo của người Khmer sang các tôn giáo khác  
tuy ít nhưng không hiếm. Riêng đối với Công giáo thì đã xảy ra từ lâu.  
“Về số lượng, người Khmer cải sang tôn giáo khác chiếm tỷ lệ rất  
nhỏ: Công giáo là 0,27%, Tin Lành là 0,18% so với dân số người  
Khmer trong khu vực.  
Tác giả nhận định việc cải đạo của một bộ phận người Khmer là  
bình thường và là quyền lựa chọn của họ. Tuy nhiên, việc truyền đạo  
còn có những dấu hiệu trái pháp luật và là vấn đề đặt ra cho công tác  
quản lý. Cuối cùng, việc xung đột văn hóa do việc cải đạo hay sự suy  
thoái ảnh hưởng của tôn giáo truyền thống đặt ra những vấn đề khá  
phức tạp và cần sự nghiên cứu nghiêm túc.  
Qua những số liệu gần đây và vấn đề nổi lên liên quan đến đạo Tin  
Lành tại vùng Tây Nam Bộ, chúng tôi xin góp thêm ý kiến phân tích  
như sau:  
Về số liệu tín đồ Tin Lành tại 13 tỉnh thành Tây Nam Bộ: Với cộng  
đồng tín đồ 67.637 người, trong đó đông nhất tại Cần Thơ với 10.979;  
ít nhất tại Bạc Liêu 961 người, bình quân hơn 5.000 người mỗi tỉnh  
thành thì Tây Nam Bộ vẫn là nơi Tin Lành phát triển giữa vùng người  
Việt một cách tự nhiên và mạnh mẽ. Tại đây, đạo Tin Lành không có  
sự phát triển đột biến như vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây  
Bắc, nhưng có sức sống nội tại khá vững chắc.  
Nguyễn Xuân Hùng. Đạo Tin Lành tại Tây Nam Bộ…  
69  
Từ trong lịch sử truyền giáo, do đạo Tin Lành cứng nhắc trong việc  
áp dụng khắt khe giữ gìn nghi lễ và lối sống tín đồ, cấm việc thờ cúng  
hình tượng (tổ tiên, các thần khác) nên sự va chạm văn hóa đã là vật  
cản tự nhiên đối với việc theo đạo của người Việt. Tỷ lệ người chịu  
Báp têm/số người tin nhận Chúa chưa bao giờ quá 10%. Tại vùng đất  
mới, cộng đồng mở như Tây Nam Bộ, sự hưởng ứng có phần cao hơn  
các vùng khác.  
Trong quá khứ, dù cố gắng xâm nhập truyền giáo nhưng các giáo  
sĩ Tin Lành đã không thu được kết quả gì đáng kể đối với người Chăm  
và người Khmer vì nhiều khi gặp phản ứng dữ dội từ những cộng  
đồng này vốn coi việc giữ gìn tín ngưỡng tôn giáo tộc người như là sự  
sống còn của cộng đồng.  
Xét về mặt động cơ và phương thức truyền giáo thì tất cả các giáo  
hội, hệ phái Tin Lành đều coi việc “rao giảng lời Chúa, chinh phục tội  
nhân về với Chúa” là đại mạng lệnh của Chúa và họ phải tuân theo.  
Bất kể họ đã hợp pháp hay chưa hợp pháp. Hơn nữa với chiến thuật  
truyền giáo “làm chứng đạo” theo chiến thuật “vết dầu loang”, họ dễ  
dàng lách qua các chế tài của pháp luật. Như vậy, người Khmer cũng  
như mọi sắc dân khác đều là đối tượng truyền giáo của họ. Đương  
nhiên, có các tổ chức, hệ phái truyền giáo chính danh; có phái vì  
những động cơ ngăn hạn, giải ngân các khoản tài trợ truyền giáo nên  
hoạt động bất chấp mọi hậu quả xã hội.  
Như vậy, từ việc truyền đạo Tin Lành giữa vòng người Khmer và  
sự cải đạo đang diễn ra có thể nhận thấy nguy cơ tiềm ẩn những mâu  
thuẫn xung đột trong cộng đồng đối với những người cải đạo và phản  
ứng đối với người đi truyền đạo. Tuy nhiên, để hóa giải vấn đề này lại  
là vấn đề không dễ dàng nếu như chủ thể - cộng đồng người Khmer  
tiếp tục diễn ra quá trình suy thoái những thiết chế cộng đồng, tôn  
giáo, văn hóa truyền thống.  
Kết luận  
Miền Tây Nam Bộ được các giáo sĩ C.M.A đến truyền giáo từ rất  
sớm (năm 1918). Các chi hội Tin Lành tại đây tuy số lượng ít nhưng  
rất ổn định, tín đồ dâng tiền cho Hội Thánh rất tự giác. Các chi hội  
69  
70  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 12 - 2018  
nhìn chung đều phát triền hài hòa và là nguồn lực vững chắc của Hội  
Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam). Tuy nhiên, tại vùng sông  
nước đa văn hóa, đạo Tin Lành phải cạnh tranh với nhiều tôn giáo  
khác cùng đa dạng các hình thức tín ngưỡng tôn giáo cổ truyền có mặt  
tại đây nên mức độ phát triển không có đột biến.  
Tin Lành là tôn giáo thế giới, đi liền với quá trình truyền giáo đã chuyển  
tải những yếu tố tiến bộ của văn hóa, văn minh phương Tây. Những đóng  
góp về đạo đức lối sống, về văn hóa, các hoạt động từ thiện nhân đạo, sự  
giáo dục tín đồ sống lành mạnh, ý thức tiết kiệm, nhanh nhạy, cần cù  
trong cuộc sống... là những nguồn lực văn hóa cần phát huy và sử dụng.  
Mặt khác, cần hướng dẫn cho các tổ chức hệ phái Tin Lành sự cần thiết  
phải hội nhập văn hóa dân tộc, biết tôn trọng và trân quý, cũng như có  
thái độ ứng xử phù hợp với các giá trị văn hóa chung của cộng đồng, với  
các tín ngưỡng tôn giáo khác để cùng tồn tại và phát triển. /.  
CHÚ THÍCH:  
1
Lê Hoàng Phu (1974), Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965),  
Trung tâm Nghiên cứu Phúc Âm, Sài Gòn, tr. 55.  
Số liệu thống kê từ Thánh Kinh Báo năm 1935 - 1936.  
Thống kê từ Thánh Kinh Báo 1932 - 1943.  
Lê Hoàng Phu (1974), Sđd, tr. 55.  
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, Khai trình công việc Chúa - Địa hạt Nam hạt  
năm 1952, Nhà in Tin Lành, Sài Gòn.  
2
3
4
5
6
7
Lê Hoàng Phu (1974), Sđd, tr. 152.  
Từ thời điểm này, tên gọi HTTLVN thêm chữ “miền Nam” vào để phân biệt với  
HTTLVN miền Bắc.  
8
9
Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ.  
HTTLVN (miền Nam), Niên giám năm 2002, lưu hành nội bộ.  
10 Trần Hồng Liên (2014), “Sự chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer tại Trà  
Vinh hiện nay”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 05 (131), tr. 47 - 52.  
11 Xem: Trần Hữu Hợp (2017), “Sự cải giáo của một bộ phận người Khmer vùng  
Tây Nam Bộ”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 3&4 (161), tr. 98 - 107.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1953), Khai trình công việc Chúa -Địa hạt Nam  
hạt năm 1952, Nhà in Tin Lành, Sài Gòn.  
2. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1964), Các quyết nghị Hội Đồng Tổng Liên  
1927-1964, Bản in roneo, lưu hành nội bộ, Nha Trang.  
3. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1969), Khai trình công việc Chúa - Địa hạt Liên  
hội Nam phần 1967-1968, Nhà in Tin Lành, Sài Gòn.  
4. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1973), Địa hạt Liên hội miền Đông Nam phần -  
Kỷ yếu kỷ niệm 5 năm thành lập địa hạt, Nhà in Tin Lành, Sài Gòn.  
Nguyễn Xuân Hùng. Đạo Tin Lành tại Tây Nam Bộ…  
71  
5. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1977), Các quyết nghị Hội Đồng Tổng Liên  
1965-1976, Bản in roneo, lưu hành nội bộ, Tp. Hồ Chí Minh.  
6. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam (2001), Niên giám năm 2002, lưu  
hành nội bộ, Tp. Hồ Chí Minh.  
7. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam (2002), Hiến Chương, Nxb. Tôn giáo,  
Hà Nội.  
8. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam miền Nam (2005), Kỷ yếu 2005, lưu hành nội bộ,  
Tp. Hồ Chí Minh.  
9. Trần Hữu Hợp (2017), “Sự cải giáo của một bộ phận người Khmer vùng Tây  
Nam Bộ”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 384 (161), tr. 98-107.  
10. Trần Hồng Liên (2014), “Sự chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer tại Trà  
Vinh hiện nay”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 05 (131), tr. 47-52.  
11. Nguyệt san Thánh Kinh Báo, Cơ quan ngôn luận chính thức của HTTLVN, xuất  
bản từ năm 1931 tại Hà Nội, đình bản do chiến tranh (1945-1950), sau xuất bản  
lại tại Đà Lạt. Từ 1962 đến 1975 xuất bản tại Sài Gòn, sau năm 1968 đổi tên là  
Thánh Kinh Nguyệt San.  
12. Lê Hoàng Phu (1974), Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam 1911-1965, Trung  
tâm Nghiên cứu Phúc Âm, Sài Gòn.  
Abstract  
PROTESTANTISM IN THE SOUTH WEST PART OF THE  
SOUTH VIETNAM: HISTORY, CURRENT SITUATION  
AND PROBLEMS  
Nguyen Xuan Hung  
Institute for Religious Studies, VASS  
The Southwest is a new land, where many different ethnic groups  
live, so the cultural and religious life is also very diverse. In the  
cultural and religious diversity, Protestantism, a branch of  
Christianity, was introduced into Vietnam. Research on the history of  
introduction and existence of Protestantism in the Southwest region in  
comparison with other regions and current issues is an interested  
topic. This paper indicates the history of the Protestant missionary  
process in the Southwest region from the beginning to the present day.  
It also shows an analysis and comparison with other regions on  
missionary achievement, reception as well as cultural and religious  
reactions and problems.  
Keywords: Protestantism; Southwest; Missionary.  
71  
pdf 13 trang baolam 19760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đạo tin lành tại Tây Nam Bộ: Lịch sử, hiện trạng và những vấn đề đặt ra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdao_tin_lanh_tai_tay_nam_bo_lich_su_hien_trang_va_nhung_van.pdf