Giáo trình Công nghệ thương mại điện tử (Phần 2)

Bài 7: Các doanh nghiệp Việt Nam và TMĐT  
1. Thời cơ và thách thức  
Doanh nghiệp Việt Nam đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên TMĐT sẽ là cầu  
nối giúp mở rộng thị trường, tham gia hội nhập tích cực. Với một chi phí rất thấp, khả  
thi, bất cứ một doanh nghiệp Việt Nam nào cũng có thể nhanh chóng tham gia TMĐT  
để đem lại cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.  
TMĐT ở Việt Nam đang trong quá trình phát triển. Số người tham gia truy cập  
internet còn thấp nên chưa tạo được một thị trường nội địa. Mặt khác các cơ sở để phát  
triển TMĐT ở Việt Nam còn chưa hoàn thiện: hạ tầng viễn thông chưa đủ mạnh và  
cước phí còn đắt, hạ tầng pháp lý còn đang xây dựng, hệ thống thanh toán điện tử chưa  
phát triển. Tất cả điều là những rào cản cho phát triển TMĐT.  
Việt Nam đang trong quá trình tích cực hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới.  
Dù muốn hay không các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt  
không chỉ trong nước và thị trường quốc tế. Các doanh nghiệp nước ngoài, mạnh về  
vốn, công nghệ và kinh nghiệm sẽ thông qua TMĐT để đi vào thị trường Việt Nam,  
cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam.  
Vì vậy dù muốn hay không các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận và tham  
gia thương mại điện tử. Không nên nghĩ tham gia TMĐT là phải mua bán hàng hoá và  
dịch vụ. Thực tế có thể tham gia TMĐT ở nhiều cấp độ khác nhau. Doanh nghiệp Việt  
Nam ngay từ bây giờ có thể tham gia TMĐT để: o Giới thiệu hàng hoá và sản phẩm  
của mình o Tìm hiểu thị trường: nghiên cứu thị trường, mở rộng thị trường o Xây  
dựng quan hệ trực tuyến với khách hàng o Mở kênh tiếp thị trực tuyến o Tìm đối tác  
cung cấp nguyên vật liệu nhập khẩu o Tìm cơ hội xuất khẩu  
Quá trình tham gia TMĐT là quá trình doanh nghiệp từng bước chuẩn bị nguồn  
lực và kinh nghiệm. Nếu không bắt tay vào tham gia TMĐT thì sẽ bỏ lỡ một hình thức  
kinh doanh qua mạng, sẽ là hình thức phổ biến trong thế kỷ này.  
Vấn đề khó khăn nhất đối với doanh nghiệp khi triển khai TMĐT là nguồn lực.  
Đó là cán bộ am hiểu CNTT, kinh doanh trực tuyến. Tuy nhiên nếu không bắt đầu tư  
bây giờ thì cũng sẽ không bao giờ tiếp cận được.  
2. Nhà nƣớc ta đang hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận TMĐT  
Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phát triển internet và các ứng dụng nhằm tạo  
điều kiện cho các doanh nghiệp chấp nhận và tham gia TMĐT. Một số chính sách của  
nhà nước tập trung vào các vấn đề sau:  
- Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, đẩy mạnh học tập và  
ứng  
dụng internet trong nhà trường, các vùng nông thôn, trong thanh niên  
- Phát triển nguồn nhân lực về công nghệ thông tin, ứng dụng công nghệ thông  
tin ở các mức độ khác nhau  
- Xây dựng chính phủ điện tử, cải cách hành chính để từng bước ứng dụng công  
nghệ  
thông tin trong quản lý, điều hành và giao tiếp với người dân  
Trang 60  
- Xây dựng hành lang pháp lý cho các giao dịch TMĐT  
- Phát triển hệ thống thanh toán dùng thẻ  
- Xây dựng các dự án điểm, các cổng thông tin để các doanh nghiệp từng bước  
tiếp cận đến TMĐT  
- Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực để tạo sự thông thoáng cho hàng hoá và  
dịch vụ  
3. Các bƣớc cần làm để chấp nhận và tham gia TMĐT của các doanh  
nghiệp Việt Nam  
Việc tìm ra con đường tiếp cận và phát triển TMĐT của mỗi doanh nghiệp là bài  
toán cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố chiến lược kinh doanh, nguồn lực, chủng loại  
mặt hàng, thị trường truyền thống của doanh nghiệp. Tuy nhiên trên cơ sở nghiên cứu  
về TMĐT và thực trạng phát triển TMĐT ở Việt Nam có thể đưa ra một quy trình tổng  
quát cho các doanh nghiệp tiếp cận và phát triển TMĐT một cách hiệu quả nhất.  
3.1 Xây dựng kế hoạch tiếp cận và phát triển TMĐT  
Doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược tham gia TMĐT, phải phân  
tích hoạt động kinh doanh của mình, xác định mục đích và mục tiêu, phân khúc thị  
truờng và khách hàng mục tiêu, xác định mô hình kinh doanh và chiến luợc thực hiện,  
sau đó mới làm kế hoạch triển khai thực hiện TMĐT.  
Doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường TMĐT trong ngành hàng hoá dịch vụ  
của mình: đối tượng khách hàng tiềm năng trên mạng; mặt hàng hoá, dịch vụ nào thích  
hợp; Phân tích thị trường TMĐT của ngành hàng mình trong nước cũng như ngoài  
nước hiện tại và trong tương lai. Mỗi doanh nghiệp cần phân loại hai thị trường thị  
trường đầu vào là các nguyên liệu, công nghệ, máy móc phục vụ sản xuất và kinh  
doanh. Thị trường đầu ra là sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ của doanh nghiệp sẽ nhằm  
vào đối tượng khách hàng nào, dự báo tăng trưởng trong thời gian tới như thế nào  
Nghiên cứu thị trường bao gồm cả nghiên cứu đối thủ cạnh tranh của doanh  
nghiệp. Sự có mặt của họ trên mạng, trình độ công nghệ sản xuất ra sản phẩm, phương  
án kinh doanh và kế hoạch tiếp thị của họ, hướng đầu tư của họ v.v. Từ việc nghiên  
cứu thị trường sẽ giúp doanh nghiệp xác định lợi thế cạnh tranh của mình làm cơ sở  
cho việc xác định các bước đi cụ thể cho tham gia TMĐT.  
Doanh nghiệp cần xác định mục đích tham gia TMĐT trong từng giai đoạn: thăm  
dò kênh kinh doanh qua mạng, nâng cao nhận thức hiểu biết về TMĐT, cung cấp cho  
khách hàng hiểu biết về các sản phẩm, dịch vụ và hoạt động của doanh nghiệp, duy trì  
sự hiện diện thương hiệu trên mạng, xây dựng và duy trì mối quan hệ với khách; thực  
hành marketing trực tuyến, bán hàng qua mạng và đặt hàng cũng như thanh toán qua  
mạng; cuối cùng là đào tạo nhân lực, cải tiến cơ cấu quản lý cho phù hợp với môi  
trường kinh doanh mới TMĐT.  
Trong từng giai đoạn doanh nghiệp phải xác định các mục tiêu cụ thể: huân luyện  
đào tạo, sự hiện diện, giảm chi phí tiếp thị, mở rộng thị trường, doanh số bán hàng,  
quan hệ trực tuyến khách hàng. Về khách hàng mục tiêu, phải xác định các đặc trưng  
của khách hàng, khách hàng là cá nhân người tiêu dùng hay doanh nghiệp từ đó xác  
định mô hình kinh doanh thích hợp: B2B hay B2C.  
Trang 61  
Các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận TMĐT thường không bài bản nên hiệu quả  
và khả năng phát huy của nó bị hạn chế. Đa số doanh nghiệp không nhận thức đầy đủ  
về TMĐT, khả năng và hạn chế của nó trong hoàn cảnh Việt Nam. Có Doanh nghiệp  
đã coi TMÐT đơn thuần chỉ là các tiến bộ trong công nghệ thông tin hay xem TMÐT  
chỉ là làm web duới dạng catalogue điện tử. Hiểu đơn giản tham gia TMĐT chỉ là việc  
mở trang web trên mạng, Không xác dịnh rõ ràng mục dích, mục tiêu và chiến luợc  
phát triển TMÐT cho doanh nghiệp. Đầu tư TMĐT chỉ tập trung vào mua sắm thiết bị  
mà không chú ý đầy đủ các yếu tố như nhân lực, tổ chức xây dựng duy trì mối quan hệ  
với khách hàng và vấn đề tái cơ cấu doanh nghiệp  
3.2 Mở trang web của doanh nghiệp  
Website là một cửa hàng trực tuyến trên mạng của doanh nghiệp. Trên một  
website của doanh nghiệp có thể có nhiều trang web, mỗi trang web như là một quầy  
hàng chào bán các loại dịch vụ khác nhau. Trang đầu gọi là trang chủ (homepage). Khi  
tham gia TMĐT doanh nghiệp tất yếu phải tiến hành xây dựng cho mình website, tức  
là mở cửa hàng trực tuyến trên mạng.  
Vấn đề đầu tiên của doanh nghiệp là thiết kế các trang web của mình. Việc thiết  
kế phải thể hiện rõ chiến lược tiếp thị, chiến lược sản phẩm và chiến lược xây dựng  
thương hiệu của doanh nghiệp.  
Trang web phải thể hiện nổi bật các hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp. Các  
trang web phải được tổ chức chặt chẽ, đơn giản và dễ sử dụng. Câu chữ trên trang web  
phải ngắn gọn, rõ ràng và thu hút người đọc. Trong mỗi trang web phải có khả năng  
liên hệ với nhau để người đọc có thể xem đi xem lại khi cần.  
Sử dụng hình ảnh trong trang web là rất quan trọng nhưng phải phù hợp với khả  
năng đường truyền. Ở Việt Nam, tốc độ đường truyền chậm nên hình ảnh nên nhỏ,  
hình vẽ nhiều hơn ảnh chụp, tránh cho khách phải đợi lâu. Có thể dùng mầu để làm  
nổi bật các chữ. Hạn chế dùng quá nhiều hình ảnh động làm người đọc mất tập trung  
vào nội dung chính. Nên cung cấp tài liệu miễn phí giới thiệu các sản phẩm của mình  
để khách hàng quan tâm có thể tải (download) xuống. Mầu sắc, hình ảnh trang trí phụ  
thuộc vào sản phẩm, khách hàng tiềm năng của sản phẩm.  
Trang web phải thể hiện được cho khách hàng thấy rõ lợi ích của sản phẩm và  
dịch vụ khi họ mua hàng, khách hàng thấy được cách mua hàng và thời gian nhận  
được hàng v.v.  
Sau khi thiết kế các trang web, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ cho thuê  
máy chủ (webhosting) của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet. Nếu doanh  
nghiệp có đủ điều kiện thì có thể đặt riêng một máy chủ của mình. Đa số các doanh  
nghiệp Việt Nam sử dụng dịch vụ webhosting để đưa trang web lên mạng.  
Như trên đã nói, xây dựng trang web là tổ chức một cửa hàng trực tuyến, đây  
mới chỉ là bắt đầu của quá trình kinh doanh TMĐT. Vấn đề tiếp sau là duy trì và phát  
triển cửa hàng trực tuyến như thế nào để doanh nghiệp đạt được thành công lại là một  
vấn đề khác.  
Hiện nay Việt Nam đã có khoảng 3000 doanh nghiệp mở trang web trên mạng.  
Con số này thực ra rất nhỏ bé so với tổng số hơn 70.000 doanh nghiệp đang hoạt động.  
Đa số doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc mở trang web, rất ít các doanh nghiệp quan  
tâm đến marketing trực tuyến ngoại trừ một số doanh nghiệp kinh doanh về CNTT.  
Trang 62  
Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp nhận thức và bước vào TMĐT không bài bản, mở  
trang web là một việc nhưng duy trì và phát triển trang web lại là một việc khó hơn.  
3.3 Tiếp thị trực tuyến trong TMĐT  
Khi đã có một website, doanh nghiệp đã có một hình ảnh, một sự hiện diện trên  
của mình trên mạng. Doanh nghiệp phải coi website như là một một công cụ tiếp thị  
trực tuyến. Nó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu: giúp khách hàng tìm đến qua  
mạng; thuyết phục khách hàng về các sản phẩm hay dịch vụ của mình; bán các sản  
phẩm và dịch vụ trực tuyến; chia sẻ những thông tin thị trường; dễ dàng tìm kiếm đối  
tác trên mạng.  
Một Website đơn giản nhất là có một trang web, thường gọi là trang chủ để thông  
tin về doanh nghiệp. Trên trang Web nên gồm các thông tin: địa chỉ trang Web của  
công ty; địa chỉ bưu điện của công ty, điện thoại, fax, e-mail của công ty. Khi tiến  
hành marketing trực tuyến, doanh nghiệp phải đầu tư, mở rộng Website, biến nó thành  
công cụ marketing trực tuyến. Website gây được chú ý, thuyết phục, dẫn dắt khách  
hàng giúp xây dựng lòng tin và lập quyết định cho các bước tiếp theo: mua trực tuyến  
sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp. Đặc điểm của marketing trực tuyến là mối  
quan hệ trực tiếp với khách hàng, đáp ứng đến các yêu cầu hay giải đáp đến từng  
khách hàng, nó không phải là marketing chung chung.  
Doanh nghiệp có thể sử dụng mầu sắc, đồ hoạ, các bức ảnh và một số lời văn cô  
đọng, xúc tích để diễn đạt đuợc các điểm then chốt về doanh nghiệp: sản phẩm và dịch  
vụ mà doanh nghiệp cung cấp; doanh nghiệp định hướng vào loại khách hàng nào; giải  
pháp so với đối thủ cạnh tranh; dịch vụ sau bán và hướng phát triển của sản phẩm.  
Như vậy duy trì và phát triển website đòi hỏi xây dựng một chiến lược tiếp thị,  
chiến lược sản phẩm và các nghiên cứu điều tra thị trường nghiêm túc. Vấn đề đó  
không phải là vấn đề của CNTT mà chính của việc kinh doanh thương mại. Sự khác  
nhau ở đây là môi trường kinh doanh trên mạng và CNTT là công cụ để thực hiện các  
ý tưởng sáng tạo của kinh doanh.  
Thế mạnh của tiếp thị trực tuyến là mối quan hệ trực tiếp với từng khách hàng.  
Do vậy, trong kinh doanh TMĐT doanh nghiệp phải xử lý chu đáo mối quan hệ với  
khách hàng, thoả mãn đến từng chi tiết yêu cầu của khách, tư vấn cho khách hàng giúp  
họ thấy rõ lợi ích khi quyết định mua sản phẩm. Các doanh nghiệp phải xây dựng cơ  
sở dữ liệu khách hàng, cung cấp các dịch vụ tư vấn miễn phí cho khách hàng, xử lý ý  
kiến của từng khách hàng để củng cố mối quan hệ với khách hàng. Đấy là thế mạnh  
của TMĐT mà doanh nghiệp phải biết nắm cơ hội.  
Các doanh nghiệp hiện nay đa số chưa nhận thức đủ về TMĐT và tiếp thị trực  
tuyến mà TMĐT đem lại, đa số chỉ dừng lại ở một trang web coi như một sự hiện diện  
của mình trên mạng. Để phát huy hiệu quả của TMĐT các doanh nghiệp phải biết tiến  
hành tiếp thị trực tuyến để thu hút khách hàng, phục vụ khách hàng hoàn hảo hơn  
3.4 Kế hoạch phát chuyển hàng trong TMĐT  
Khi triển khai TMĐT, doanh nghiệp phải tính đến giải pháp chuyển phát hàng  
cho khách hàng. TMĐT cho phép doanh nghiệp hoạt động trên phạm vi rộng, kế  
hoạch phát chuyển hàng phải được xây dựng theo từng khu vực lãnh thổ, kế hoach xây  
Trang 63  
dựng hệ thống kho hàng và quản lý hệ thống kho hàng một cách tối ưu. Vấn đề này sẽ  
phải tính toán dựa trên quy mô doanh nghiệp, chủng loại mặt hàng.  
Đối với đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ, kế hoạch phát chuyển hàng trong phạm  
vi thành phố có trụ sở có thể doanh nghiệp tự xây dựng và triển khai. Đối với khách  
hàng vuợt quá bán kính hoạt động của mạng lưới doanh nghiệp thì việc phát chuyển  
phải dựa trên doanh nghiệp làm dịch vụ chuyển phát như bưu chính. Khi xây dựng kế  
hoạch phát chuyển, yếu tố thời gian là yếu tố quan trọng nhất. Bên cạnh đó, phải tính  
đến các yếu tố an toàn, tin cậy và chi phí rẻ để giá thành của sản phẩm mua qua mạng  
không vượt quá mức cho phép.  
Đó là giải pháp mà Nhà Sách Tiền Phong và Nhà Khách Minh Khai đã lựa chọn  
để giao hàng. Hệ thống bưu chính hiện nay chưa cho phép thực hiện chế độ COD, nên  
thời gian gửi hàng phải tính từ khi khách gửi tiền đến khi khách nhận được hàng. Hệ  
thống thuế hiện nay chưa cho phép các doanh nghiệp triển khai dịch vụ cho khách  
dùng thử, chưa chấp nhận chuyển giao nội bộ nếu doanh nghiệp không có tư cách  
pháp nhân trên địa bàn. Điều này hạn chế cho TMĐT phát triển mạnh.  
3.5 Lựa chọn phƣơng án thanh toán điện tử  
Thanh toán là khâu quan trọng nhất trong việc triển khai TMĐT. Có nhiều  
phương án thanh toán mà doanh nghiệp phải lựa chọn. Phương án thanh toán phụ  
thuộc không chỉ vào doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào khả năng cung cấp dịch vụ  
của các ngân hàng. Khi tham gia TMĐT doanh nghiệp phải biết lựa chọn hình thức  
thanh toán và dự kiến các phương án thanh toán có thể: thanh toán bằng tiền mặt;  
thanh toán bằng thẻ tín dụng hay chuyên dụng; thanh toán tiền điện tử; thanh toán  
chuyển tiền; thanh toán quốc tế. Trên cơ sở xác định các hình thức thanh toán, doanh  
nghiệp phải thống nhất với Ngân Hàng quy trình thanh toán. Trình độ phát triển công  
nghệ thanh toán của Ngân Hàng ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình thanh toán của  
doanh nghiệp.  
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khi lựa chọn hình thức thanh toán dựa trên  
phân loại khách hàng là trong nước và quốc tế và bản chất giao dịch B2B hay B2C.  
Đối với khách hàng trong nước, với trình độ công nghệ thanh toán của Ngân hàng hiện  
nay, doanh nghiệp có thể lựa chọn hai hình thức thanh toán cho cả B2C và B2B:  
- Thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán ngay khi giao hàng (COD), hình thức  
này dành cho khác hàng nằm gần khu vực của doanh nghiệp (trong thành phố), doanh  
nghiệp sử dụng ngay mạng lưới bán hàng của mình. Khi giao hàng, nhân viên của  
doanh nghiệp thu tiền ngay. Đây chính là hình thức mà Nhà Sách Tiền Phong và Minh  
Khai đã lựa chọn.  
- Thanh toán qua Ngân Hàng, khách hàng có thể dùng thẻ tín dụng hay thư  
chuyển tiền, séc chuyển khoản gửi đến doanh nghiệp sau đó doanh nghiệp giao hàng  
cho khách. Hình thức này dùng cho khách ở xa, doanh nghiệp phải gửi qua Bưu Điện.  
Đối với khách hàng ngoài nước, doanh nghiệp phải làm việc cụ thể với Ngân  
Hàng và có thư chỉ dẫn cụ thể cho khách hàng. Khách hàng mua (B2C) có thể thanh  
toán bằng thẻ tín dụng hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngoại tệ của doanh nghiệp,  
sau đó doanh nghiệp gửi hàng đã đặt cho khách. Đối với giao dịch B2B thì quy trình  
thanh toán hiện nay vẫn phải theo phương thức truyền thống. Các Ngân Hàng Việt  
Trang 64  
Nam chưa có công nghệ cho phép các doanh nghiệp thực hiện thanh toán điện tử EDI  
cho khách.  
Như vậy để lựa chọn hình thức thanh toán trong TMĐT, doanh nghiệp phải lựa  
chọn Ngân Hàng có khả năng đầu tư công nghệ thanh toán tiên tiến để giúp doanh  
nghiệp mở rộng khả năng thanh toán trong tương lai.  
3.6 Lựa chọn phƣơng án an toàn và bảo mật trên mạng  
Vấn đề an ninh, an toàn trên mạng là một vấn đề quan trọng mà doanh nghiệp  
phải tính đến khi xây dựng phương án TMĐT cho doanh nghiệp. An ninh, an toàn ở  
đây bao gồm bảo vệ các giao dịch thương mại và tính riêng tư của người tiêu dùng.  
CNTT phát triển đang ngày càng đưa ra các phương án đảm bảo độ tin cây và độ bảo  
mật cao cho các giao dịch TMĐT. Các vấn đề phải chú ý khi lựa chọn vấn đề này:  
- Vấn đề an toàn trước hết là vấn đề an toàn của hệ thống máy tính, hệ thống cơ  
sở dữ liệu phục vụ TMĐT phải được đảm bảo hoạt động tin cậy, có phương án dự  
phòng, chống mất điện, chống virus, chống sự truy cập bất hợp pháp.  
- Doanh nghiệp lựa chọn nhà cung cấp các giải pháp bảo mật cho các giao dịch  
thương mại trên mạng của doanh nghiệp, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến thanh  
toán điện tử. Kỹ thuật bảo mật phụ thuộc vào phương pháp mã hoá và độ dài từ khoá  
cho phép.  
- Vấn đề an ninh, bảo mật phải được chú ý ngay từ khâu tổ chức của doanh  
nghiệp. Để đảm bảo nội bộ doanh nghiệp không để lộ danh sách khách hàng, tính  
riêng tư của khách hàng ra bên ngoài, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp.  
- Thường xuyên giữ mối quan hệ với khách hàng cũng là một biện pháp tăng  
cường kiểm tra chéo, phát hiện dấu hiệu mất an ninh của hệ thống để từ đó có biện  
pháp kịp thời.  
Vấn đề an toàn bảo mật là vấn đề quyết định đến uy tín của doanh nghiệp trong  
TMĐT. Nếu doanh nghiệp làm tốt, uy tín của doanh nghiệp với khách hàng tăng, góp  
phần quan trọng vào thành công của doanh nghiệp trong TMĐT  
3.7 Xây dựng, phát triển và duy trì website của doanh nghiệp  
Khi doanh nghiệp đa mở trang web trên mạng tức là đã mở một cửa hàng trên  
mạng để bắt đầu tham gia TMĐT. Đưa ra trang web đã khó, nhưng duy trì trang web  
còn khó hơn. Để phát triển TMĐT, doanh nghiệp phải có biện pháp duy trì, củng cố và  
phát triển trang web.  
Duy trì trang web là duy trì một kênh tiếp thị trực tuyến với khách hàng trên  
mạng. Doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư nhân lực đủ để phát triển một kênh tiếp  
thị trực tuyến trên mạng như là một trong các kênh tiếp thị nếu không nói là phải có  
chú ý đặc biệt.  
Quá trình này đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu thị trường, xây dựng kế hoạch  
tiếp thị, chiến lược sản phẩm, kế hoach tiếp thị v.v , thay đổi và mở rộng thiết kế trang  
web để uy tín của địa chỉ trang web của doanh nghiệp ngày càng nâng cao trong thế  
giới mạng.  
Một khâu rất quan trọng trong tiếp thị trực tuyến là duy trì, củng cố và phát triển  
mối quan hệ trực tuyến với khách hàng. Doanh nghiệp phải giữa mối quan hệ chặt chẽ  
Trang 65  
với khách hàng, tư vấn thường xuyên cho khách hàng thông qua các ấn phẩm điện tử,  
trao đổi thư điện tử. Doanh nghiệp phải thường xuyên tư vấn tiêu dùng cho khách  
hàng và khi khách hàng đã mua hàng, phải làm tốt dịch vụ sau bán.  
Khi đã phát triển trang web để bán hàng trực tuyến, doanh nghiệp phải xây dựng  
và duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu hàng hoá để phục vụ khách hàng. Tức là công tác tin  
học hoá quá trình quản trị doanh nghiệp phải đi trước một bước. Các hệ thống quản lý  
kho, giao hàng phải được tự động hoá, nối mạng để tổ chức bán hàng tự động qua  
trang web.  
Công việc trên là công việc của một quá trình kinh doanh. Nó đòi hỏi có tổ chức,  
có kế hoạch, có phương pháp. Tham gia TMĐT không chỉ là mở trang web, mà là việc  
làm thế nào để duy trì và phát triển nó.  
3.8 Tái cơ cấu lại công ty trên cơ sở phát triển TMĐT  
Hoạt động của TMĐT đến một lúc nào đó sẽ tác động lại cơ cấu tổ chức quản lý  
doanh nghiệp. Nó sẽ đòi hỏi doanh nghiệp phải tái cơ cấu lại tổ chức cho phù hợp với  
nhu cầu thực tế. Câu hỏi đặt ra bộ phận kinh doanh TMĐT đặt ở đâu là hợp lý trong  
quá trình phát triển kinh doanh TMĐT. Khó có một lời giải đúng cho mọi trường hợp  
vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là nguồn lực của mỗi doanh nghiệp. Nói  
chung, có thể chia TMĐT ra làm hai giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn kinh  
doanh. Trong giai đoạn đầu, bộ phận phát triển TMĐT có thể nằm trong phòng máy  
tính, phòng kế hoạch, phòng kinh doanh hay trực tiếp do Giám đốc chỉ đạo. Giai đoạn  
đầu cần sự đầu tư ban đầu và sự chỉ đạo trực tiếp, cần nhân lực am hiểu công nghệ  
mới. Giai đoạn sau, khi đã bước vào kinh doanh, TMĐT là một kênh bán hàng mới  
nên việc giao cho bộ phận kinh doanh sẽ thuận lợi hơn cả. Từ đó nó được duy trì và  
triển khai với các phương pháp và kỹ thuật kinh doanh trực tuyến.  
Hoạt động TMĐT sẽ đòi hỏi tin học hoá doanh nghiệp và hệ thống bán hàng, kho  
hàng, yêu cầu khách hàng trực tuyến sẽ được chuyển thẳng đến các khâu sản xuất,  
cung ứng, giao vận. Khi số lượng giao dịch đủ lớn nó sẽ tác động đến tổ chức quản trị  
kinh doanh, có thể có bộ phận chuyên kinh doanh TMĐT. Mối quan hệ trong các bộ  
phận công ty đương nhiên cũng phải được tin học hoá để có thể đáp ứng nhanh các  
yêu cầu của khách. Trong doanh nghiệp sẽ hình thành đội ngũ chuyên CNTT để duy  
trì và phát triển hệ thống bán hàng qua mạng, bộ phân kinh doanh trực tuyến tập trung  
vào vấn đề tiếp thị, theo dõi khách hàng, tư vấn khách hàng, các bộ phận bán, thu tiền  
và giao hàng có thể không thay đổi, nhưng phải được bổ xung công nghệ cho phù hợp  
Khi hoạt động quản trị bán hàng của doanh nghiệp đã được tin học hoá, thì để nâng  
cao hiệu quả, doanh nghiệp phải tái cơ cấu lại các bộ phận của doanh nghiệp để đáp  
ứng với tình hình mới do TMĐT đem lại.  
Quá trình áp dụng TMĐT, chính là quá trình đổi mới doanh nghiệp để tiếp nhận,  
thích nghi và phát triển công nghệ kinh doanh TMĐT, một hình thức kinh doanh chủ  
yếu trong xã hội thông tin sau này .  
Trang 66  
4. Xây dựng kế hoạch kinh doanh TMĐT  
Những việc nên làm khi soạn thảo kế hoạch kinh doanh cho kinh doanh TMĐT  
- Nên sử dụng ý kiến tư vấn khi soạn thảo kế hoạch kinh doanh - một số doanh  
nghiệp chuyển sang kinh doanh TMĐT là những khu vực hoàn toàn mới nên sẽ gặp  
khó khăn nếu không tham khảo ý kiến tốt của các nhà chuyên môn.  
- Lãnh đạo doanh nghiệp phải tham gia thực sự vào chuyển đổi sang kinh doanh  
TMĐT. Từ đó yêu cầu các bộ phận của doanh nghiệp phải tiếp cận kinh doanh TMĐT  
- Có kế hoạch Nghiên cứu thị trường. Kế hoạch kinh doanh tốt bao giờ cũng  
gồm có phần nghiên cứu thị trường đúng đắn, chi tiết, hợp lý. Nghiên cứu thị trường  
trực tuyến cho phép dễ tìm kiếm hơn các đầu mối kinh doanh, các cơ hội xuất nhập  
khẩu, các kỹ thuật marketing trực tuyến, các điều kiện địa lý, dân cư, chính trị của các  
nước trên thế giớivà nhiều loại thông tin khác. Kỹ thuật nghiên cứu thị trường qua  
mạng về thực chất không có gì khác biệt so với kỹ thuật nghiên cứu thị trường thông  
thường. Nhìn chung, nghiên cứu thị trường trên mạng cho kết quả nhanh hơn, vì thông  
tin chung trên mạng nhiều hơn, khả năng thu thập thông tin đặc thù cũng cao hơn.  
- Phân tích kết quả nghiên cứu thị trường. Việc phân tích chi tiết và khách quan  
cho phép khẳng định loại sản phẩm, dịch vụ nào có khả năng thành công trong thị  
trường.  
Phân tích kết quả cần phải gắn với các quá trính ra quyết định.  
- Xác định luồng xuất - nhập khẩu cho các nhóm hàng và thị trường. Cần xác  
định nhu cầu xuất nhập khẩu của một số nước, đặc biệt là nhu cầu và khả năng xuất  
nhập khẩu về các loại sản phẩm nào đó. Nên sử dụng một cách hợp lý các kỹ thuật  
trực tuyến để xác định xem một sản phẩm của mình, nếu mang bán tại một nơi nào đó  
thì có thể cạnh tranh được không, hoặc nếu nhập một loại hàng nào đó, thì có thể bán  
nhanh tại thị trường trong nước hay không.  
- Xác định giá xuất, nhập khẩu hợp lý: Định giá sản phẩm là bước quan trọng có  
ảnh hưởng lớn tới các yếu tố tài chính trong chiến lược kinh doanh TMĐT. Một số nhà  
xuất khẩu lần đầu hoặc không thường xuyên thường bỏ qua các yếu tố giá bất thường  
khi hàng được bán tại nước ngoài. Nói chung, định giá nên làm cho tầm 3 – 5 năm đối  
với hầu hết mặt hàng dự kiến.  
• Xem xét chi phí, chúng ta cần xem xét cho các chi phí cho các khâu sau:  
• Thiết kế Web, Bổ xung, sửa đổi Web theo kỳ  
• Xử lý thư tín giao dịch , đơn đặt hàng, Marketing trên mạng, Tính toán chỉ tiêu  
thống kê, Tính toán hoa hồng bán hàng  
• Chi phí trung chuyển hàng, Chi phí tài chính, Tỷ lệ hoa hồng  
• Chi phí xử lý thư tín dụng (L/C), Các điều kiện tín dụng, Lịch thanh toán  
• Phí bao bì xuất khẩu, Phí vận chuyển nội địa, Phí bốc hàng tại càng, Phí bảo  
hiểm, Phí dịch thuật tài liệu  
• Phí lưu kho, Chi phí dịch vụ sau bán hàng, Chi phí đổi hàng hư hỏng...  
• Biết cách khách hàng quyết định mua, bán. Cần biết về hành vi ra quyết định  
của khách hàng khi tiến hàng mua, bán trên mạng, để những người đọc kế hoạch kinh  
Trang 67  
doanh nhận biết được rằng người viết kế hoạch kinh doanh đã đầu tư để có thể hiểu  
biết về khách hàng tiềm năng nước ngoài.  
• Chú trọng marketing. Nhiều công ty khi mới bước vào kinh doanh TMĐT đều  
tỏ ra thụ động nhiều hơn là tích cực - họ bán được hàng phần nhiều do các công ty  
nước ngoài liên hệ với họ, chứ họ chưa tích cực giao tiếp để tìm khách hàng. Điều lưu  
ý quan trọng là ―lên mạng‖ không có nghĩa là bỏ quên các kênh thông thường (catalog  
hàng địa phương, các hội chợ, triển lãm, các hiệp hội thương mại).  
• Kiểm tra độ tin cậy của khách hàng. Trước khi thỏa thuận mua, bán cần kiểm  
tra chất lượng và độ tin cậy của khách hàng. Nói chung, không nên kiến tạo các quan  
hệ làm ăn với các công ty tên tuổi chưa được biết đến, nhất là trong những trường hợp  
mà ta không kiểm tra được. Nếu cần, có thể bán hàng nhận thanh toán thẻ tín dụng  
thông qua trung gian chắc chắn.  
• Chọn các cách phân phối. Nhiều công ty đã mắc sai lầm là chỉ sử dụng các  
kênh điện tử để giao dịch quốc tế. Ngược lại, một trang Web tốt cho phép một doanh  
nghiệp nhỏ có khả năng kiểm soát tốt các công việc tài chính, marketing, tăng trưởng.  
.. do đó tận dụng mọi khả năng của Web để đạt hiệu quả cao nên tạo các đại lý kinh  
doanh TMĐT, nhờ một công ty quản lý kinh doanh TMĐT tiến hành rao bán sản  
phẩm, dựng các hợp đồng liên doanh, đại lý, đại diện… Nhà xuất khẩu có thể tận dụng  
kinh nghiệm và các mối liên hệ mà đối tác mang đến cho họ.  
Soạn thảo kế hoạch kinh doanh điện tử  
Soạn kế hoạch kinh doanh ĐT đòi hỏi doanh nghiệp phải thận trọng và giành  
công sức thích hợp cho việc này. Trước hết, phải xác định chiến lược TMĐT tức là  
nhằm vào mục tiêu đầu tư kinh doanh lâu dài; hơn là đầu tư ngắn. Kế hoạch kinh  
doanh là khâu quan trọng không thể bỏ qua đối với một doanh nghiệp. Kế hoạch kinh  
doanh TMĐT không đòi hỏi phải có hình thức khác với kế hoạch kinh doanh thông  
thường. Tuy vậy, kế hoạch này cũng cần nêu các nét riêng về:  
• Đặc trưng của môi trường kinh doanh trực tuyến khác môi trường khác về  
cạnh tranh, thiết kế sản phẩm, dịch vụ, quảng cáo, mua bán và vai trò giá trị gia tăng  
của thông tin đối với mọi quá trình và khâu kinh doanh trên mạng.  
• Năng lực kỹ thuật và thương mại cho việc triển khai kinh doanh TMĐT tại  
môi trường kinh doanh, nhấn mạnh kiến thức về loại môi trường này  
• Sẵn sàng về sản phẩm và dịch vụ thích hợp cho kinh doanh TMĐT. Trước khi  
soạn thảo chi tiết và hoàn thành kế hoạch kinh doanh chúng ta nên xem xét cẩn thận  
các vấn đề sau:  
Quản lý: Nên phân tích kỹ lưỡng tất cả các nhân tố và thực tiễn của doanh nghiệp  
để đảm chắc rằng quyết định về việc chuyển sang kinh doanh TMĐT sẽ được sự ủng  
hộ tích cực của mọi cấp quản lý trong doanh nghiệp. Soạn chi tiết một kế hoạch hành  
động trong đó có sự phân công cụ thể ai làm việc gì. Nhân lực và đào tạo: Việc đầu  
tiên là phải gắn kết Internet vào hoạt động doanh nghiệp. Giao trách nhiệm cụ thể cho  
các nhóm cộng tác xây dựng cơ sở kỹ thuật cho kinh doanh TMĐT (thiết kế hệ thống,  
nội dung, viết chương trình, tạo Web, bổ xung nội dung và hình thức, bảo trì kỹ thuật,  
xúc tiến, quan hệ khách hàng, trả lời yêu cầu khách hàng, hợp đồng và giao hàng, dịch  
vụ...).  
Trang 68  
Một kế hoạch kinh doanh tốt phải xác định hợp lý tiềm năng của việc bán sản  
phẩm, dịch vụ trên thị trường điện tử, xác định được độ lớn đàu tư cần cho việc tạo  
dựng, duy trì và đạt tăng trưởng trong khu vực kinh doanh. Kế hoạch kinh doanh cũng  
cần đưa ra các chỉ tiêu đánh giá cụ thể, các dự kiến thu nhập, hoàn vốn và chỉ tiêu tài  
chính khác.  
Các phần cơ bản của một kế hoạch kinh doanh TMĐT:  
Tóm tắt kế hoạch. Đây là phần quan trọng rất cần thiết cho kế hoạch kinh doanh,  
chỉ nên viết sau khi đã hoàn thành bản thân kế hoạch. Các nhà đầu tư và ngân hàng  
phần nhiều chỉ đọc phần này, do đó nó phải được viết thật rõ ràng, ngắn gọn, chính  
xác, cuốn hút, nêu bật các vấn đề cần thiết của kế hoạch. Hãy nêu bật những điểm  
mạnh và thành công của mình, ví dụ mình hơn các đối thủ cạnh tranh như thế nào khi  
mình lên mạng, mình có những nguồn lực gì đặc biệt...  
Mục tiêu. Xác định các mục tiêu dài hạn, trình bày rõ vì sao kinh doanh TMĐT  
lại được sử dụng để đạt tới các mục tiêu đó.  
Định hướng kinh doanh trên mạng. Nêu những loại sản phẩm, dịch vụ, giải pháp  
mà doanh nghiệp sẽ kinh doanh thành công trên mạng, giải thích tai sao doanh nghiệp  
sẽ thành công trên mạng...  
Các tiêu chuẩn đánh giá. Gồm số khách tham quan trang Web của mình trong  
một tháng, số trang được khách xem, tỷ lệ số khách quay lại trong tháng, số lượng giao  
tiếp, loại giao tiếp, kết quả giao tiếp, số giao dịch, số lượng các đơn đặt hàng, lượng  
bán qua mạng hoặc liên quan tới mạng...  
Xúc tiến thương mại. Làm gì và làm thế nào để xúc tiến, khuyến khích Website  
của mình  
Phân tích thị trường. Cơ hội thị trường cho kinh doanh TMĐT của doanh nghiệp  
là gì, làm sao có thể mau chóng tạo chỗ đứng và lợi thế trong đó  
Tình hình cạnh tranh. Phân tích cụ thể và càng rộng càng tốt về tình hình cạnh  
tranh hiện nay về kinh doanh TMĐT . Cần xác định ngay trình độ và khả năng cạnh  
tranh của bản thân doanh nghiệp mình. Nêu danh sách những Website mạnh và yếu  
nhất đang cạnh tranh với doanh nghiệp mình, nêu dự đoán về thị phần cho từng đối thủ  
cạnh tranh, các mặt mạnh, yếu, cơ hội, nguy cơ của họ. Xu thế phát triển của thị  
trường là gì?...  
Khách hàng đặc thù. Bức tranh rõ nét về dân cư và xã hội học của các nhóm  
khách hàng mà doanh nghiệp định nhằm tới? Tại sao doanh nghiệp lại tin tưởng rằng  
sẽ có khách mua hàng hóa, dịch vụ.. của mình qua mạng?  
Nghiên cứu nhóm mẫu. Trình bày kết quả nghiên cứu nhóm mẫu trong thị trường  
định hướng của mình, nêu các phản hồi cụ thể và phân tích hành vi tổng thể và chi tiết  
của nhóm này để có hình dung tốt hơn về khách hàng và thị trường.  
Đánh giá rủi ro. Dự liệu cụ thể về khu vực thị trường và kết quả của doanh  
nghiệp trong ba hoặc năm năm tới, cả trên mạng và bên ngoài mạng  
Chiến lược marketing.  
Nội dung. Xác định những phần nội dung nào được đưa lên trang Web phục vụ  
trực tiếp và gián tiếp các hoạt động kinh doanh TMĐT  
Trang 69  
Quảng cáo. Cần chú ý mọi yếu tố đã trở thành tiêu chuẩn quốc tế và nhãn hiệu,  
thương hiệu, đóng gói, tiếng nước ngoài, quan hệ khách hàng, các quảng cáo liên quan  
tới các vấn đề văn hóa riêng và các rào cản ngôn ngữ  
Quan hệ công cộng. Cần có chương trình phù hợp, lôgíc, được bổ xung theo định  
kỳ. Nên tạo các mảng tin điện tử, viết bài cho các báo và các phương tiện truyền thông,  
họp báo, hội nghị khách hàng, tổ chức thảo luận trên mạng...  
Chiến lược bán hàng.  
Giá lợi nhuận. Thiết kế chi tiết chiến lược giá cho toàn bộ hoạt động bán hàng,  
phân phối và mua bán trên mạng.  
Xử lý phiếu đặt hàng. Đặt hàng được tiến hành thế nào (qua điện thoại, fax, thư  
tín, Internet)...? Thanh toán xảy ra thế nào (qua điện thoại, fax, thư tín, Internet)...?  
Phương pháp phân phối. Định ra tất cả các cách phân phối ra ngoài thế nào, khi  
nào nhận và gửi các laọi phiếu đặt hàng và các chứng từ khác như thế nào?  
Chiến thuật bán hàng. Xác định xem việc bán hàng sẽ xảy ra riêng trên mạng hay  
sẽ kết hợp với các cách bán hàng thông thường khác?  
Quan hệ kinh doanh. Nêu kế hoạch về các loại quan hệ đối tác, đại lý, quốc tế...  
bao gồm các nhân tố đa văn hóa.  
Kế hoạch sản xuất. Nêu sản lượng ban đầu ( kể cả việc viết phần mềm), các yêu  
cầu mở rộng, phát triển, các nguồn lực, nơi sản xuất... là hệ quả của việc áp dụng kinh  
doanh TMĐT  
Kế hoạch tài chính. Nên cụ thể, thực tiễn và khiêm tốn  
Kinh phí cho 12 tháng đầu. Thiết kế chi tiết kinh phí cho năm đầu tiên khi bắt  
đầu bước sang kinh doanh TMĐT, kể cả kinh phí dự phòng.  
Tính toán về dòng tiền mặt. Tính toán so sánh dòng tiền mặt và thu – chi  
Kế hoạch năm năm. Nêu bảng tính toán lỗ - lãi ( Profit and Loss Ststement)  
Bảng cân đối. Trình bày khả năng tài chính, khả năng chi trả đúng hạn và vị thế  
tiền mặt của doanh nghiệp  
Phân tích điểm hòa vốn. Nêu số lượng các sản phẩm, dịch vụ... cần bán để đạt  
điểm hòa vốn  
Nguồn vốn và việc sử dụng vốn. Nêu nguồn vốn và cách sử dụng vốn để phát  
triển kinh doanh, xuất khẩu.  
Sử dụng tài sản. Lợi nhuận và khoản vay sẽ được sử dụng thế nào?  
Kết luận. Nêu một lần nữa các mục tiêu kinh doanh TMĐT , tổng số vốn cần  
dùng, lợi nhuận dự báo, lịch trình thực hiện và các ghi chú chung.  
Phụ lục. Bao gồm tất cả lý lịch của tất cả những người tham gia chủ chốt vào  
việc thực hiện kế hoạch này. Cũng cần có hồ sơ về các khách hàng chính và tiềm năng,  
các hợp đồng quan trọng, các số liệu điều tra thị trường, các bản vẽ, các văn bản pháp  
lý, các loại hợp đồng, thỏa thuận, các tính toán tài chính cho kế hoạch này.  
Trang 70  
Bài 8: Một số lĩnh vực ứng dụng thƣơng mại điện tử  
1. Mở đầu  
Năm 2007, tình hình ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp nói chung  
đa có nhiều tiến bộ so với những năm trước. Tuy nhiên, tốc độ chuyển biến và mức độ  
ứng dụng giữa các ngành, các lĩnh vực khác nhau là không đồng nhất. Do đặc thù của  
ngành kinh doanh, một số ngành triển khai ứng dụng thương mại điện tử nhanh và  
mạnh hơn các ngành khác, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ. Kết quả điều tra cho thấy  
dịch vụ du lịch, chứng khoán và bán lẻ là ba lĩnh vực nổi bật với nhiều chuyển biến  
cũng như thành  
tựu đáng ghi nhận về ứng dụng thương mại điện tử trong năm 2007  
10 website TMĐT B2C tiêu biểu năm 2006- 2007 theo bình chọn của TrustVn  
Thành tựu này cũng phần nào được phản ánh qua kết quả xếp hạng website  
thương mại điện tử uy tín TrustVn 2007, khi mà 3 trong 10 website TMĐT B2C hàng  
đầu của năm 2007 có liên quan đến lĩnh vực du lịch, và 4 website khác là của các nhà  
phân phối bán lẻ tổng hợp.  
2. Tiêu chí đánh giá website thƣơng mại điện tử uy tín của TrustVn  
Để giúp các doanh nghiệp và người tiêu dùng tích cực tham gia thương mại điện  
tử (TMĐT), từ năm 2004, hàng năm, Vụ Th ương mại điện tử - Bộ Th ương mại (nay  
là Cục TMĐT và CNTT - Bộ Công Thương) thực hiện chương trình TrustVn -  
Website thƣơng mại điện tử uy tín.  
Trang 71  
Trong năm 2007, Chương trình TrustVn đa phối hợp cùng Hiệp hội Th ương mại  
điện tử Việt Nam (Vecom) tổ chức đánh giá và xếp hạng các website TMĐT uy tín tại  
Việt Nam. TrustVn 2007 có hàng loạt thay đổi quan trọng nhằm phù hợp với sự phát  
triển của thương mại điện tử Việt Nam cũng như song hành cùng bước tiến của các  
website TMĐT. Những thay đổi đó thể hiện ngay trong tiêu chí đánh giá, phương thức  
đánh giá và đối tượng tham gia.  
1.  
Đối tượng tham gia vào TrustVn 2007 là các website TMĐT của Việt  
Nam do Chương trình lựa chọn ra và tập trung vào loại hình B2C (Doanh nghiệp bán  
hàng cho người tiêu dùng). Đây được coi là loại hình TMĐT có sự bứt phá mạnh mẽ  
trong năm 2007 với hàng loạt những website tên tuổi được đầu tư quy mô, tạo được  
lòng tin và đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng. Tổng số  
các website B2C tham gia TrustVn 2007 là 176.  
2.  
Bộ tiêu chí đánh giá năm 2007 đa thay đổi hoàn toàn so với năm 2006.  
Tổng số tiêu chí là 23 được phân bổ trong 12 nhóm tiêu chí lớn. Th eo các tiêu chí  
này, các website được đánh giá chính xác hơn, phù hợp hơn với các thông lệ quốc tế.  
Một số nhóm tiêu chí lớn là: 1) Thông tin định danh thương nhân/chủ website, 2) Điều  
khoản giao dịch giữa 2 bên, 3) Cơ chế rà soát hợp đồng giao dịch, 4) Bảo vệ thông tin  
cá nhân và quyền lợi người tiêu dùng. www.trustvn.gov.vn  
Nếu như năm 2006, sự phát triển của loại hình B2C tập trung vào các cửa hàng  
trực tuyến bày bán đa dạng sản phẩm, thì năm nay lại có sự tiên phong của các website  
kinh doanh chuyên ngành như vận tải, du lịch, sách báo, thiết bị tin học, v.v… Đặc  
biệt một số website đa hoàn thiện cả khâu thanh toán trực tuyến như  
cho thấy sự trưởng thành nhanh chóng của các doanh nghiệp trong việc triển khai ứng  
dụng thương mại điện tử để phục vụ hoạt động kinh doanh chuyên ngành của mình.  
3. Ứng dụng thƣơng mại điện tử trong lĩnh vực du lịch  
Lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đoi hỏi cao về hàm lượng thông tin và mức độ  
tương tác giữa khách hàng với nhà cung cấp rất thích hợp cho môi trường thương mại  
điện tử. Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của thị trường dịch vụ tại Việt Nam, các  
sản phẩm dịch vụ ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên mạng.  
So sánh với doanh nghiệp ở các ngành dịch vụ khác, doanh nghiệp hoạt động ở  
lĩnh vực du lịch tỏ ra năng động hơn cả trong việc khai thác ứng dụng thương mại điện  
tử. Hầu hết những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, đặc biệt là dịch vụ lữ  
hành quốc tế, đa xây dựng trang web nhằm quảng bá sản phẩm của mình. Các tiện ích  
trên website được cung cấp ở nhiều cấp độ khác nhau. Một số trang web cho phép  
khách du lịch đặt vé, đưa ra yêu cầu về lộ trình, thỏa thuận giá cả, lựa chọn khách sạn  
và thụ hưởng một số dịch vụ giá trị gia tăng. Nhiều website đã chấp nhận thanh toán  
qua thẻ tín dụng.  
Năm 2007 đánh dấu mốc phát triển mới của ứng dụng thương mại điện tử trong  
ngành du lịch, với sự triển khai đồng loạt dịch vụ vé máy bay điện tử tại hai hãng hàng  
không lớn nhất Việt Nam là Vietnam Airlines và Pacifi c Airlines. Khi hệ thống bán  
vé điện tử được đưa vào vận hành đại trà, các công ty du lịch sẽ có thể dễ dàng tích  
hợp việc đặt vé máy bay cho khách vào gói dịch vụ cung cấp trên website của mình.  
Một quy trình đặt tour hoàn chỉnh từ tìm hiểu thông tin, chọn tuyến, mua vé, đặt phòng  
khách sạn, trả tiền dịch vụ giờ đây đa có thể tiến hành trực tuyến.  
Trang 72  
Dịch vụ trực tuyến của Công ty du lịch Vietravel  
Tháng 3/2007, Công ty Du lịch và Tiếp thị giao thông vận tải Vietravel chính  
thức đưa vào vậnhành Hệ thống bán tour du lịch và tham khảo thông tin du lịch trực  
tuyến qua trang web http://www.travel.com.vn/. Khi truy cập vào website, du khách dễ  
dàng tìm kiếm được tất cả những chương trình tour mới, dịch vụ hàng không, tàu hỏa,  
phương tiện vận chuyển cho thuê, khách sạn, resort, nhà hàng, các dịch vụ giải trí…  
Hiện công ty có 1.500 tour du lịch chào bán, trong đó hơn 1.000 tour quốc tế. Không  
chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách trong nước, du khách Việt kiều và người  
nướcngoài cũng có thể đặt mua tour ngay tại các nước mà không cần đến trụ sở và chi  
nhánh của Vietravel. Du khách sẽ tự do lựa chọn chương trình tham quan yêu thích và  
gửi xác nhận đăng ký tour theo hướng dẫn trên trang web là có thể an tâm với một  
chuyến đi đa được chuẩn bị từ công ty này. Khi triển khai dịch vụ trực tuyến trên  
website (E-tour), Vietravel không làm việc độc lập mà liên kết với một hệ thống các  
nhà cung cấp dịch vụ trong nước và quốc tế. Th ông qua hệ thống E-tour, Vietravel sẽ  
nhanh chóng đưa các sản phẩm, dịch vụ lên hệ thống đặt chỗ tự động để du khách lựa  
chọn và đăng ký được thuận tiện. Ngoài ra, hệ thống tiêu thụ của Vietravel cũng có  
mặt ở tất cả các vùng trong và ngoài nước. Du khách có thể đến các đại lý ủy quyền để  
đăng ký dịch vụ hoặc đăng ký trực tuyến qua website của công ty.  
Cùng với việc phát triển các website dịch vụ lữ hành, nhiều khách sạn và nhà  
hàng cũng xây dựng cho mình website riêng nhằm quảng bá hình ảnh và nhận đặt  
phòng, đặt tiệc. Hầu như tất cả khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế từ 3 sao trở lên ở Việt  
Nam hiện đều có trang web, và nhiều khách sạn nhỏ cũng bắt đầu xây dựng website  
riêng của mình. Ngoài ra, nhiều ―cổng thông tin khách sạn‖ nơi cung cấp thông tin  
tổng hợp về các khách sạn tại Việt Nam và cho phép khách hàng chọn lựa, đặt phòng  
trực tuyến cũng đa được triển khai rất thành công. Bên cạnh đó, việc các khách sạn  
Việt Nam có mặt ở hầu hết những website lớn của thế giới về dịch vụ liên kết đặt  
phòng (như Travelocity, YahooTravel, AsiaRooms, Tripadvisor, v.v...) cho thấy doanh  
nghiệp Việt Nam đa khá nhanh nhạy trong việc nắm bắt cơ hội để khai thác công cụ  
tiếp thị trực tuyến hiệu quả này.  
Một số website cung cấp thông tin tổng hợp về khách sạn và dịch vụ đặt phòng tại  
Việt Nam  
4. Lĩnh vực chứng khoán  
Thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ trong hai năm gần đây,  
Trang 73  
với sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng thành viên tham gia thị trường và các  
dịch vụ được cung cấp. Đặc thù của hoạt động giao dịch chứng khoán là dựa trên  
thông tin, do đó chất lượng cũng như tính kịp thời của thông tin có ý nghĩa quan trọng  
đối với thành công của mỗi giao dịch, đồng thời ứng dụng CNTT đóng vai trò quyết  
định đối với sự tồn tại và phát triển của các tổ chức tham gia thị trường. Vì vậy, mặc  
dù là lĩnh vực dịch vụ còn khá non trẻ tại Việt Nam, nhưng có thể nói chứng khoán  
đang là một trong những lĩnh vực ứng dụng CNTT và TMĐT mạnh nhất hiện nay  
Các thành viên tham gia thị trƣờng chứng khoán  
Bên cạnh ứng dụng CNTT trong nội bộ mỗi tổ chức nhằm đảm bảo sự liên kết  
cũng như vận hành thông suốt của toàn bộ thị trường, ứng dụng thương mại điện tử là  
công cụ chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp đến khách hàng. Ứng  
dụng này có thể được triển khai ở nhiều cấp độ, từ mức đơn giản như dịch vụ tra cứu  
thông tin trực tuyến về thị trường cho đến mức phức tạp hơn như đặt lệnh giao dịch  
trực tuyến. Hầu hết các công ty chứng khoán hiện nay đều đa triển khai ít nhất một  
loại hình giao dịch điện tử trong gói dịch vụ cung cấp cho nhà đầu tư.  
Các ứng dụng thƣơng mại điện tử trong giao dịch chứng khoán  
Trang 74  
Các dịch vụ giao dịch trực tuyến do Công ty chứng khoán FPT cung cấp  
Với sự nở rộ của các công ty chứng khoán trong năm 2007, mức độ cạnh tranh  
trên thị trường đang ngày càng trở nên gay gắt.109 Ứng dụng thương mại điện tử để  
cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đa dạng và tiện lợi nhất đang là lựa chọn  
chiến lược của nhiều công ty nhằm tạo chỗ đứng cho mình trong cuộc cạnh tranh này.  
Việc triển khai thương mại điện tử được các đơn vị tiến hành một cách khá chuyên  
nghiệp nhằm đảm bảo cả độ chặt chẽ về tính pháp lý cũng như sự an toàn về mặt kỹ  
thuật cho giao dịch. Rất nhiều website đa công bố hợp đồng sử dụng dịch vụ với  
những điều khoản hoàn chỉnh và hướng dẫn chi tiết để nhà đầu tư có thể dễ dàng làm  
quen với giao dịch trực tuyến. Các biện pháp bảo mật và xác thực thông tin như mã  
hóa dữ liệu, mật khẩu kép, chữ ký số, v.v... được các công ty vận dụng khá đa dạng để  
đảm bảo độ tin cậy cho giao dịch.  
Theo khảo sát của Vụ Thương mại điện tử vào cuối tháng 12/2007 với 69 công ty  
chứng khoán đang hoạt động trên thị trường, 56 công ty (chiếm tỷ lệ 81%) đa thiết lập  
website, trong số đó 22 website cung cấp tiện ích truy vấn thông tin tài khoản và 8  
website cho phép khách hàng đặt lệnh giao dịch trực tuyến. Có 21 công ty (chiếm tỷ lệ  
30,4%) cung cấp dịch vụ qua các phương tiện điện tử khác như điện thoại, thiết bị di  
động cầm tay, email, v.v...  
Tình hình triển khai giao dịch điện tử của các công ty chứng khoán (tháng 12/  
2007)  
Trang 75  
Từ kết quả khảo sát, có thể thấy những công ty chưa xây dựng website đa phần là  
công ty mới được thành lập. Còn những công ty đa ổn định về mặt tổ chức và hoạt  
động đều có website và triển khai cung cấp dịch vụ trên đó theo nhiều cấp độ khác  
nhau. Mặc dù hiện nay chỉ 16% số website cho phép khách hàng đặt lệnh giao dịch  
trực tuyến, nhưng kết quả khảo sát cho thấy rất nhiều website đang trong quá trình xây  
dựng, hoàn thiện hệ thống để có thể triển khai cung cấp dịch vụ này trong năm 2008.  
Trước nhu cầu cấp bách của thực tế triển khai thương mại điện tử trong lĩnh vực  
này, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang tiến hành xây dựng Thông tư hướng dẫn  
giao dịch điện tử trên thị trường chứng khoán, nhằm quy định chi tiết việc tổ chức hoạt  
động giao dịch chứng khoán trực tuyến và các giao dịch điện tử khác liên quan đến thị  
trường chứng khoán. Sau khi thông tư được ban hành, việc ứng dụng thương mại điện  
tử trong lĩnh vực này sẽ bước sang một giai đoạn mới, có tổ chức và hiệu quả hơn, vừa  
góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh của từng công ty đồng thời tạo động lực phát  
triển cho toàn bộ thị trường chứng khoán Việt Nam.  
5. Ứng dụng thƣơng mại điện tử trong lĩnh vực bán lẻ  
Với việc thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện và sức mua  
trong xã hội ngày càng tăng, hành vi mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam cũng có  
những thay đổi đáng kể trong vài năm trở lại đây. Người tiêu dùng có nhu cầu tinh tế  
hơn, am hiểu hơn về thị trường và tiếp cận được với những thông tin rất đa dạng về  
hàng hóa. Theo khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường Nielsen, Việt Nam đứng  
thứ 5 thế giới về mức độ tự tin của người tiêu dùng và là thị trường hấp dẫn thứ 4 thế  
giới của các công ty bán lẻ. Gia nhập WTO, Việt Nam cam kết thực thi lộ trình mở  
cửa thị trường bán lẻ cho các công ty nước ngoài tham gia.113 Để có thể cạnh tranh  
trực tiếp với những tập đoàn bán lẻ lớn của thế giới, doanh nghiệp Việt Nam đứng  
trước yêu cầu cấp bách phải hiện đại hóa quy trình và cải thiện dịch vụ cung cấp cho  
khách hàng. Ứng dụng thương mại điện tử đang là một trong những giải pháp then  
chốt cho bài toán nâng cao năng lực cạnh tranh này.  
Trang 76  
Ứng dụng thƣơng mại điện tử- hƣớng đi mới của ngành bán lẻ  
Sự thành công của bán lẻ nằm ở việc không ngừng sáng tạo, đổi mới để phục vụ  
và thu hút khách hàng. Ông Andrew Ma, giám đốc phụ trách thương hiệu, nhóm các  
giải pháp bán lẻ của IBM nhấn mạnh: “đối thủ cạnh tranh của DN là bất kỳ ai, kể cả  
người tiêu dùng”. Vì chính người tiêu dùng cũng có thể lên eBay.com để rao bán  
hàng. Ông Andrew cho biết thêm, hàng năm IBM đều tổ chức chương trình mang tên  
“Cửa hàng của tương lai” (Shop of the Future), nhằm đưa khách hàng, đối tác đi  
tham quan những cửa hàng có tính đột phá cao trong kỹ thuật bán lẻ, từ cửa hàng tự  
động bật thử 10 giây mỗi bài hát trong một album khi khách hàng cho máy quét đọc  
tên đĩa; hay cửa hàng thời trang bán giầy có gắn thẻ RFID cho phép các quý cô tìm  
thấy ngay đôi giày vừa cỡ; đến cửa hàng của Apple ở New York cho phép người dùng  
iPod đến, trao đổi và cài đặt PM yêu thích...  
Ông Andrew cũng nhấn mạnh, môi trường bán hàng không chỉ tồn tại ở những  
cửa hàng thực thể mà còn mở rộng ra website và cả thế giới ảo. Chẳng hạn việc các  
hãng ứng dụng môi trường trực tuyến 3 chiều của Second Life để khuyến khích khách  
hàng đến thăm cửa hàng thực. Ông nói: ―Ngày nay, khách hàng hiểu biết về hàng hóa  
rất nhanh và sâu sắc. Vì vậy, việc ứng dụng nhiều thiết bị và giải pháp CNTT chính là  
để giúp nhân viên bán hàng hiệu quả hơn‖.  
“Tương lai ngành bán lẻ”, Tạp chí Thế giới vi tính series B, tháng 11/2007, tr.26  
Ứng dụng thương mại điện tử trong lĩnh vực bán lẻ hiện được các doanh nghiệp  
triển khai theo hai hướng: thiết lập các cửa hàng ―ảo‖ trên mạng hoặc ứng dụng các  
giải pháp công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quy trình kinh doanh tại cửa hàng  
truyền thống.  
Những website bán điện thoại di động, máy tính, thiết bị điện tử, mỹ phẩm, quà  
tặng, v.v... đã trở nên phổ biến và quen thuộc với người tiêu dùng hơn rất nhiều cửa  
hàng ―thật‖ khác. Nhiều doanh nghiệp đa thành công trong việc sử dụng các cửa hàng  
―ảo‖ để hỗ trợ, bổ sung cho cửa hàng truyền thống và mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản  
phẩm, nâng cao đáng kể doanh số bán hàng. Các sản phẩm có độ tiêu chuẩn hóa cao  
như điện thoại, máy tính; văn hóa phẩm bao gồm sách, đĩa nhạc; mỹ phẩm và quà tặng  
hiện là những mặt hàng có doanh số bán trực tuyến cao nhất do đặc tính phù hợp với  
phương thức giao dịch thương mại điện tử. Các đặc tính đó là: gọn nhẹ, chi phí vận  
chuyển thấp, có thể đánh giá sản phẩm qua thông số kỹ thuật, thông tin hoặc hình ảnh  
trực quan.  
Một số website bán lẻ các mặt hàng thông dụng  
Trang 77  
Trên phương diện ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả kinh doanh của các cửa  
hàng truyền thống, năm 2007 cũng chứng kiến nhiều chuyển biến tích cực trong cộng  
đồng bán lẻ Việt Nam. Một loạt giải pháp chuyên dụng phục vụ cửa hàng bán lẻ hoặc  
chuỗi bán lẻ được giới thiệu, thể hiện rõ sự quan tâm của các nhà cung cấp giải pháp  
cả trong và ngoài nước đối với tiềm năng phát triển của thị trường dịch vụ này.  
Ứng dụng CNTT trong hoạt động bán lẻ truyền thống giờ đây không chỉ dừng ở  
các máy bán lẻ POS đơn giản (POS: point of sale - điểm bán hàng), mà đa tiến đến  
việc trang bị những phần mềm POS chạy trên máy tính có gắn kèm các thiết bị liên  
quan như thiết bị đọc mã vạch – máy in hóa đơn chuyên dụng, thiết bị kiểm kho, các  
thiết bị thanh toán thông qua ngân hàng, v.v... Cao hơn nữa, nhiều chuỗi cửa hàng lớn  
giờ đây trang bị các bộ giải pháp toàn diện hơn như hệ thống RMS (Retail  
Management Systems) nhằm tích hợp dữ liệu bán lẻ từ các máy POS về cơ sở dữ liệu  
trung tâm, cũng như tiếp nhận các dữ liệu mang tính chính sách được phân phối từ  
trung tâm đến các POS. RMS là hệ thống quản lý bán lẻ vừa phục vụ mục đích bán lẻ  
thông thường vừa cho khả năng kết nối mạng, tích hợp nhiều chương trình quản lý  
thông minh, dự báo bán hàng, quản lý quan hệ khách hàng, quản lý nhân viên, v.v...  
RMS hỗ trợ khả năng phân tích giúp các doanh nghiệp đề ra những chiến lược kinh  
doanh phù hợp. Đây sẽ là hướng đi mới cho các nhà phân phối và bán lẻ Việt Nam  
trong bối cảnh thị trường phân phối được tự do hóa ở mức cao theo cam kết gia nhập  
WTO của Việt Nam.  
Trang 78  
Bài 9: Thảo luận về vấn đề thanh toán qua mạng & hiệu quả ứng  
dụng TMĐT  
1. Mở đầu  
Từ năm 2005 trở về trước, các website thương mại điện tử Việt Nam chủ yếu chỉ  
cung cấp thông tin sản phẩm và dịch vụ. Các giao dịch B2C và C2C tự phát triển theo  
nhu cầu của thị trường một cách nhỏ lẻ do thiếu sự bảo hộ về pháp luật. Lúc đó, cơ sở  
hạ tầng cho thanh toán điện tử trong các giao dịch thương mại điện tử chưa được xây  
dựng. Đến năm 2006, khung pháp lý về thương mại điện tử cơ bản đa hình thành,  
thanh toán điện tử bắt đầu được nhắc đến, một số ngân hàng tiên phong triển khai  
thanh toán điện tử nhưng vẫn có tính chất đơn lẻ, manh mún với dịch vụ thanh toán  
hoá đơn qua ATM, dịch vụ ngân hàng trực tuyến chỉ dừnglại ở tiện ích cung cấp thông  
tin.  
Tuy nhiên, từ đầu năm 2007, thanh toán điện tử đa có bước phát triển mạnh với  
một số đặc điểm chính sau:  
2. Mở rộng đối tƣợng triển khai và ứng dụng thanh toán trực tuyến  
Tháng 2/2007, Công ty Hàng không Cổ phần Pacifi c Airlines và Ngân hàng  
Ngoại thương Việt Nam (VCB) cùng triển khai dịch vụ bán vé máy bay qua mạng  
Internet, áp dụng giải pháp thanh toán điện tử qua thẻ tín dụng. Th áng 4/2007, mạng  
thanh toán điện tử Công ty Mạng thanh toán Vina (PayNet) ra mắt, cung cấp các giao  
dịch thanh toán hoá đơn điện nước, Internet, điện thoại, bảo hiểm, v.v... qua máy  
ATM, điểm chấp nhận thẻ (POS) và ePOS. Dịch vụ Fast-Vietpay của Ngân hàng Kỹ  
Thương và thẻ đa năng Ngân hàng Đông Á cho phép chủ thẻ thanh toán tiền mua hàng  
trực tuyến tại một số website. Tháng 10/2007, Công ty Giải pháp thanh toán Việt Nam  
chính thức cung cấp dịch vụ thanh toán VnTopUp qua điện thoại di động.  
3. Kết nối sâu rộng của các liên minh thẻ  
27 ngân hàng liên kết tạo nên mạng thanh toán Smartlink cùng với việc kết nối  
thành công của 4 ngân hàng lớn trong Công ty Cổ phần Chuyển mạch Tài chính Quốc  
gia Việt Nam (Banknetvn) đa giúp thị trường thẻ phát triển mạnh và mang lại nhiều  
tiện ích hơn cho người tiêu dùng. Hai mạng thanh toán này chiếm khoảng 90% thị  
phần thẻ cả nước đa ký cam kết hợp tác và đang nỗ lực cho ra mắt loại thẻ thanh toán  
có thể thực hiện mọi giao dịch cần đến thanh toán điện tử. Đa dạng hoá các loại hình  
thanh toán điện tử các kênh thanh toán điện tử phổ biến bao gồm thanh toán thẻ qua hệ  
thống ATM/POS, thanh toán trực tuyến qua Internet.  
4. Yêu cầu của TMĐT đối với hệ thống thanh toán  
Luật Giao dịch điện tử chính thức có hiệu lực từ ngày 01/3/2006, cùng với các  
nghị định hướng dẫn dưới Luật đa tạo hành lang pháp lý cơ bản để thương mại điện tử  
đi vào cuộc sống. Trong đó, các nghị định hướng dẫn về giao dịch điện tử trong hoạt  
động ngân hàng và hoạt động tài chính đa góp phần định hình một hướng phát triển  
mới cho các lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và doanh nghiệp.  
Theo Báo cáo Th ương mại điện tử Việt Nam năm 2005 và 2006, hệ thống thanh  
toán điện tử yếu kém luôn được doanh nghiệp đánh giá là trở ngại lớn thứ hai đối với  
Trang 79  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 46 trang baolam 20840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Công nghệ thương mại điện tử (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_cong_nghe_thuong_mai_dien_tu_phan_2.pdf