Tiềm năng và thách thức của thương mại điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
TIỀM NĂNG VÀ THÁCH THỨC CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ  
VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ  
POTENTIALS AND CHALLENGES OF VIETNAMESE E-COMMERCE IN THE  
INTERNATIONAL INTEGRATION PROCESS  
ThS. Trần Ngọc Phương Thảo  
Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Hữu nghị Việt – Hàn  
Tóm tắt  
Thương mại điện tử Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, trở thành kênh thương mại tiện lợi cho  
cả người mua và người bán. Với một quốc gia có đến 53% dân số sử dụng internet và gần 50 triệu thuê bao sử  
dụng Smartphone, thị trường thương mại điện tử ở Việt Nam được dự đoán rất tiềm năng và sẽ bùng nổ trong  
thời gian tới. Tuy nhiên, việc phát triển nhanh trong một thời gian ngắn đã đặt ra nhiều thách thức cho cả cơ  
quan quản lý nhà nước và quyền lợi của người tham gia. Chính vì vậy, bài báo này sẽ chỉ ra những tiềm năng  
cũng như những thách thức mà thương mại điện tử Việt Nam đang gặp phải, làm cở sở cho các bên liên quan  
tham khảo khi quyết định tham gia vào thị trường này.  
Từ khóa: Thương mại điện tử, Tiềm năng, Thách thức, Giao dịch trực tuyến  
Abtract  
Vietnam e-commerce is on the strong development, becoming a convenient trade channel for both  
buyers and sellers. As a country with 53% of the population using the internet and nearly 50 million smartphone  
subscribers, the e-commerce market in Vietnam is predicted to be very potential and will explode in the near  
future. However, the rapid development in a short time has presented many challenges for both state  
management agencies and the rights of participants. Therefore, this article will point out the potentials and  
challenges that Vietnam's e-commerce is facing, providing a basis for stakeholders to consult when deciding to  
enter this market.  
Keywords: E-commerce, Potential, Challenges, Online transactions.  
1. Giới thiệu  
Mặc dù tham gia muộn hơn các quốc gia trong khu vực, nhưng hoạt động thương mại điện tử  
tại Việt Nam đang tạo ra một sự bùng nổ khiến nhiều người bất ngờ. Tuy nhiên, so với tiềm năng thì tỷ  
lệ phát triển hiện nay vẫn còn khá thấp. Thực tế, thương mại điện tử (TMĐT) là xu hướng kinh doanh,  
tiêu dùng tất yếu gắn liền với sự phát triển của công nghệ, sự tiếp nhận dịch vụ từ doanh nghiệp (DN)  
đến người dân.  
Theo số liệu Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam 2019 được Cục Thương mại điện tử và  
Kinh tế số thuộc Bộ Công Thương phát hành, năm 2018, toàn ngành TMĐT B2C Việt Nam, bao gồm cả  
hàng hóa và dịch vụ đạt mức 8,06 tỷ USD, tăng trưởng 30% so với năm 2017. Đây cũng là mức tăng  
trưởng cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây. Trong số 10 sàn TMĐT có tổng số lượt truy cập website  
cao nhất tại thị trường Đông Nam Á 6 tháng đầu năm 2019, có tới 5 là của các doanh nghiệp Việt Nam –  
gồm Tiki, Sendo, Thế Giới Di Động, Điện Máy Xanh và FPT Shop.  
Theo đó, 36% số DN tham gia khảo sát cho biết có bán hàng trên mạng xã hội (tăng 4% so với  
năm 2017). Đồng thời, tỷ lệ DN đánh giá bán hàng qua mạng xã hội đạt hiệu quả cao là 45% (tăng  
mạnh so với tỷ lệ 39% năm 2017), bán hàng qua website là 32% và qua ứng dụng di động là 22%.  
Nhiều DN lớn cũng đã tích cực sử dụng mạng xã hội để tiếp thị và chăm sóc khách hàng. Đây là một  
tín hiệu đáng mừng đối với ngành TMĐT ở Việt Nam, khi các hoạt động kinh doanh, giao dịch trực  
tuyến bằng công nghệ hiện đại đang dần thay thế các hình thức mua bán truyền thống.  
603  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Hình 1: Top 10 website TMĐT được truy cập nhiều nhất Đông Nam Á trong quý 2/2019, thống kê bởi  
SimilarWeb và phân tích bởi iPrice Insights vào tháng 7/2019  
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy tiềm năng về TMĐT ở Việt Nam là rất lớn nhưng nhiều DN  
nhỏ và vừa chưa biết đến và chưa biết cách tận dụng tối đa ưu thế của TMĐT. Số liệu cho thấy trong  
số các DN bán hàng trên sàn TMĐT đều có website, nhưng chỉ khoảng 61% trong số đó có ứng dụng  
cho di động. Hiện, số người tham gia mua sắm trực tuyến tại Việt Nam tăng khá đều đặn, với khoảng  
60 triệu người sử dụng Internet, tỷ lệ người dùng tham gia mua sắm trực tuyến ít nhất 1 lần trong năm  
đang ở mức khá cao, khoảng 70%; tương ứng 42 triệu người trong năm 2018. Tuy nhiên, tỷ trọng  
doanh thu so với mức bán lẻ trên cả nước chỉ bằng 4,2%.  
Vì vậy, tiềm năng phát triển là rất lớn nhưng khó khăn, trở ngại cũng không ít. Do đó, các cấp  
quản lý cũng như các doanh nghiệp cần bắt tay nhau, hỗ trợ nhau tìm ra được các giải pháp tốt nhất để  
khai thác các công cụ bán hàng của thương mại điện tử từ khâu nhập hàng, đặt hàng, giao hàng, kiểm  
soát chất lượng cho đến hậu mãi,… đều phải được chú trọng và quan tâm đầu tư đúng mức.  
2. Tổng quan thương mại điện tử tại Việt Nam  
2.1. Giao dịch TMĐT doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C)  
2.1.1. Website doanh nghiệp  
Có 44% doanh nghiệp, tương ứng với 4300 DN khảo sát năm 2018 cho biết đã xây dựng  
website, tăng chỉ 1% so với 2017 và không thay đổi nhiều trong những năm trở lại đây.  
Hình 2. Tỷ lệ DN có website qua các năm  
2.1.2. Kinh doanh trên mạng xã hội  
Năm 2018 đánh dấu sự tăng trưởng tốt của mô hình kinh doanh trên các mạng xã hội. Trong số  
các DN tham gia khảo sát thì có 36% DN cho biết bán hàng trên mạng xã hội, tăng 4% so với năm 2017.  
604  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Hình 3: Kinh doanh mạng xã hội qua các năm  
2.1.3. Tham gia các sàn TMĐT, kinh doanh trên nền tảng di động  
Mặc dù trong vài năm qua, thị trường chứng kiến sự bùng nổ đầu tư vào các sàn TMĐT trong  
nước nhưng thực chất vẫn chưa có sự tăng trưởng mạnh mẽ, trong số các DN tham gia khảo sát thì vẫn  
dao động từ 11-13% có tham gia kinh doanh qua sàn. Vì vậy, để thấy được hiệu quả cũng như tính ứng  
dụng trong DN chắc sẽ cần một khoảng thời gian nữa.  
Tương tự, việc ứng dụng tốt trên nền tảng di dộng vẫn chỉ dừng lại ở các doanh nghiệp lớn có  
quy mô, chiến lược và nguồn lực. Xét một cách tổng thể thì đa số các DN vẫn chưa thực sự sẵn sàng  
cho sự thay đổi này. Năm 2018 chỉ có khoảng 17% DN có website phiên bản di động, không chênh  
lệch nhiều trong vòng 3 năm trở lại đây, cùng mức với 2017 và giảm 2% so với 2016.  
2.2. Giao dịch TMĐT doanh nghiệp với doanh nghiệp  
2.2.1. Sử dụng chữ ký điện tử và hợp đồng điện tử  
Qua biểu đồ, ta thấy các năm trở lại đây, tỷ lệ sử dụng chữ ký điện tử trong giao dịch không có  
sự thay đổi lớn, tương đối ổn định qua 4 năm (2015-2018), song song đó thì xu hướng DN sử dụng  
hợp đồng điện tử trong kinh doanh cũng không có sự tăng trưởng mạnh, thậm chí có giảm nhẹ từ 28%  
năm 2017 còn 26% năm 2018.  
Hình 4: Tình hình sử dụng chữ ký điện tử qua các năm  
605  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
2.2.2. Nhận đơn đặt hàng qua các công cụ trực tuyến  
84% DN trong số 4300 DN khảo sát cho biết nhận đơn đặt hàng thông qua email (tăng 5% so  
với 2017), và hình thức này vẫn là kênh bán hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các kênh trực tuyến.  
Tiếp đó là mạng xã hội chiếm 49%, website chiếm 36% và sàn giao dịch TMĐT chiếm 13%.  
Hình 5: Tỷ lệ DN nhận đơn đặt hàng qua các công cụ trực tuyến  
2.2.3. Tỷ lệ đầu tư, xây dựng và vận hành website/ứng dụng di động  
Theo khảo sát 2018, thì có 62% DN tham gia khảo sát cho biết mới đầu tư TMĐT dưới 20%  
trong tổng ngân sách đầu tư cho TMĐT, 29% DN đã đầu tư từ 20-50% ngân sách và mới có 9% DN  
đầu từ trên 50% ngân sách chung của TMĐT. Điều này phản ánh đa số các DN chưa thực sự tập trung  
vào website hoặc ứng dụng di động.  
Và theo quy mô DN thì nhóm DN lớn có sự đầu tư mạnh hơn các DN vừa và nhỏ. Có thể thấy  
ở mức đầu tư trên 50% cho website/ứng dụng di động trên tổng vốn đầu tư TMĐT của doanh nghiệp  
thì có tới 15% doanh nghiệp lớn chi ở mức này, trong khi đó tỷ lệ này ở nhóm doanh nghiệp vừa và  
nhỏ mới dừng ở mức 8%.  
2.2.4. Hiệu quả của việc bán hàng qua các công cụ trực tuyến  
Trong tổng số doanh nghiệp tham gia khảo sát, có 45% doanh nghiệp đánh giá cao hiệu quả của  
việc bán hàng thông qua mạng xã hội (tăng nhiều so với tỷ lệ 39% năm 2017), tiếp theo đó là 32%  
doanh nghiệp đánh giá cao kênh bán hàng thông qua website doanh nghiệp (giảm một chút so với tỷ lệ  
35% năm 2017), hai kênh là ứng dụng di động và sàn giao dịch thương mại điện tử hầu như không có  
sự thay đổi nhiều so với năm trước.  
Hình 6: Đánh giá hiệu quả của việc bán hàng qua các công cụ trực tuyến  
606  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
2.3. Giao dịch giữa chính phủ với doanh nghiệp (G2B)  
2.3.1. Tra cứu thông tin trên các website cơ quan nhà nước  
Có 31% DN cho biết thường xuyên tra cứu thông tin trên các website của cơ quan nhà nước  
năm 2018 (tăng 1% so với năm trước), 62% DN thình thoảng mới tra cứu và đặc biệt vẫn còn tới 7%  
DN chưa bao giờ tra cứu các thông tin này. Nhìn chung, tỷ kệ này trong những năm trở lại đây vẫn  
chưa có sự thay đổi lớn, điều này phản ảnh tính hiệu quả cũng như nhận thức và mức độ tiếp cận đối  
với hệ thống thông tin của cơ quan nhà nước còn chưa thực sự tốt.  
Hình 7: Xu hướng tra cứu thông tin trên các website cơ quan nhà nước qua các năm  
2.3.2. Sử dụng dịch vụ công trực tuyến  
Khác với việc tra cứu thông tin thì tỷ lệ các DN sử dụng dịch vụ công trực tuyến liên quan đến  
các thủ tục đăng ký, cấp phép,… có phần cao hơn rất nhiều và đang có xu hướng tăng nhẹ trong 2 năm  
gần đây, cụ thể tăng từ 73% năm 2017 lên 75% năm 2018. Một điều đặc biệt là trong 3 năm liên tiếp  
gần đây, khai báo thuế vẫn là dịch vụ công trực tuyến được DN sử dụng nhiều nhất, chiếm 88% trong  
tổng số DN tham gia khảo sát, tiếp sau đó là dịch vụ đăng ký kinh doanh, chiếm 51%, tăng 9% so với  
2017. Tuy nhiên, các dịch vụ liên quan đến hải quan như khai báo hải quan, thủ tục cấp giấy chứng  
nhận xuất xứ điện tử,… có xu hướng giảm dần. Điều này cũng chỉ ra cho ta thấy thủ tục cũng như quy  
trình xử lý trực tuyến đã phát sinh vài bất cập hoặc phức tạp nên DN không còn “ưa chuộng” hình thức  
trực tuyến đối với những dịch vụ công này.  
Hình 8: Tình hình sử dụng một số dịch vụ công trực tuyến qua 3 năm (2016-2018)  
607  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
2.4. Khoảng cách chỉ số thương mại điện tử giữa các địa phương  
Bị ảnh hưởng sâu sắc về tính toàn cầu, nhanh chóng và hiệu quả của Internet nên cho tới nay các  
chính sách thương mại điện tử của Việt Nam ít chú ý tới yếu tố địa kinh tế và thu hẹp khoảng cách số  
giữa các vùng. Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử nhiều năm liên tiếp cho thấy phần lớn hoạt động  
thương mại điện tử diễn ra ở hai thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh và một số  
tỉnh năng động liền kề như Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Bình Dương và các thành phố lớn trực  
thuộc Trung ương là Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. Hoạt động kinh doanh trực tuyến tại hầu hết  
các tỉnh khác còn yếu và có nguy cơ ngày càng tụt lại so với hai thành phố dẫn đầu. Theo ước tính Hà  
Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 70% giao dịch thương mại điện tử. Quy mô thương mại điện  
tử ở các địa phương khác, đặc biệt ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa rất nhỏ. Trong khi đó, khoảng 70%  
dân số sống ở nông thôn. Khu vực nông thôn có tiềm năng tiêu thụ lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp  
sản phẩm đa dạng phù hợp với bán hàng trực tuyến.  
Và chỉ số thương mại điện tử được tổng hợp từ bốn nhóm chỉ số làm trụ cột với các trọng số  
khác nhau được chỉnh sửa cho phù hợp với từng trọng tâm trong các năm. Trọng số điểm cho bốn chỉ  
số thành phần năm 2019 lần lượt là:  
Hạ tầng nguồn nhân lực và Công nghệ thông tin [NLL&HT] ( 20% số điểm)  
Giao dịch giữa chính phủ với doanh nghiệp [G2B] (10% số điểm)  
Giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp [B2B] ( 35% số điểm)  
Giao dịch trực tuyến giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng [B2C] ( 35% số điểm)  
Nhìn chung top 4 tỉnh thành xếp đầu bảng năm 2019 vẫn tiếp tục duy trì không có sự thay đổi  
nào, đó là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Tuy nhiên là top 4 tỉnh thành xếp  
đầu nhưng khoảng cách giữa Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội với tỉnh thành còn lại cũng rất lớn,  
điển hình là khoảng cách giữa Hà Nội (xếp thứ 2) với Hải Phòng (xếp thứ 3) lên tới 24,7 điểm. Vậy  
nên để thu hẹp khoảng cách giữa các tỉnh thành phát triển và chưa phát triển cần một khoảng thời gian  
khá dài.  
3. Đánh giá tổng quan về tiềm năng và trở ngại của thương mại điện tử tại Việt Nam  
3.1. Đánh giá tổng quan  
Một cách tổng thể, qua các con số thể hiện ở trên, thương mại điện tử Việt Nam đang có bước  
chuyển mình để hòa nhập với nền cách mạng công nghiệp 4.0. Cả phía các cơ quan công quyền, các  
doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng đã bắt đầu quen dần với sự hiện diện, hỗ trợ của thương mại  
điện tử trong các giao dịch kinh tế, thương mại và cả hành chính. Tuy nhiên, sự thay đổi vẫn chưa rõ  
nét, việc ứng dụng thương mại điện tử còn nhiều hạn chế đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và  
nhỏ. Ngay cả những “ông lớn” TMĐT cũng vẫn đang loay hoay chưa có sự tăng trưởng rõ ràng. Đồ thị  
về lượng truy cập website của 4 sàn TMĐT hàng đầu từ quý III/2018 - III/2019 thể hiện ngoại trừ  
Sendo tăng đều lượng truy cập, còn lại hầu hết giảm dần theo quý. Shopee vẫn giữ vị trí dẫn đầu trong  
quý III/2019 thì Tiki từ vị trí thứ hai của quý trước đã rơi xuống vị trí thứ ba, nhường cho Sendo;  
Lazada rơi từ vị trí thứ ba xuống vị trí thứ tư.  
Bên cạnh đó, còn nhiều doanh nghiệp thờ ơ trong việc đầu tư ngân sách vào việc xây dựng và  
vận hành website hay các ứng dụng di động, chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của thương mại  
điện tử trong hoạt động kinh doanh ngày nay. Ngoài ra, khoảng cách về việc sử dụng thương mại điện  
tử trong giao dịch mua bán, đăng ký kinh doanh hay các thủ tục khác là khá xa giữa các thành phố lớn  
và khu vực liền kề, nông thôn hoặc vùng sâu vùng xa. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số về kinh tế  
cũng như giao dịch thương mai tại Việt Nam. Qua đó, có thể thấy rằng, tiềm năng phát triển là rất lớn  
nhưng trở ngại là không ít, vì vậy cần xác định đúng các trở ngại để tìm giải pháp tháo gỡ, từ đó mới  
phát huy được những tiềm năng sẵn có, tạo bước đệm cho nền kinh tế phát triển nói chung và doanh  
nghiệp nói riêng.  
608  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
3.2. Những trở ngại  
Có thể xác định một số trở ngại trong việc phát triển thương mại điện tử hiện nay như sau:  
Nguyên nhân của việc DN nhỏ và vừa tại Việt Nam “lười” kinh doanh TMĐT và sự loay hoay  
của chính các “ông lớn” phần nhiều đến từ lòng tin của người tiêu dùng vào giao dịch mua bán trực  
tuyến còn thấp. Khảo sát 10 người mua hàng trên mạng có tới 5 người cho biết không hài lòng với  
phương thức mua bán trực tuyến bởi:  
- Chất lượng sản phẩm vẫn là trở ngại lớn nhất.Tiếp đó là các trở ngại khác như: dịch vụ chăm  
sóc khách hàng kém (47%); lo ngại thông tin cá nhân bị tiết lộ (43%); giá cả đặt hơn mua trực tiếp  
hoặc không rõ ràng (37%); dịch vụ vận chuyển và giao nhận còn kém (36%); website, ứng dụng bán  
hàng thiết kế không chuyên nghiệp (22%)...  
- Một nguyên nhân khác khiến TMĐT chưa phát triển xứng với tiềm năng là dịch vụ logistics -  
giao hàng chặng cuối - hoàn tất đơn hàng còn nhiều hạn chế. Về kho, tất cả các DN tham gia khảo sát  
đều có kho riêng, tuy nhiên năng lực kho chưa đáp ứng được nhu cầu nên phần lớn phải thuê ngoài dẫn  
đến tốn kém. Bên cạnh đó, do công nghệ quản lý kho còn lạc hậu nên chi phí lưu kho và quản lý kho  
còn cao. Một số DN chi phí này cao chiếm trên 20% doanh thu.  
- Một khó khăn lớn của các doanh nghiệp chuyển phát là tỷ lệ người mua hoàn trả sản phẩm đã  
đặt hàng trực tuyến cao. Ước tính tỷ lệ trung bình tổng giá trị của các sản phẩm hoàn trả so với tổng  
giá trị đơn hàng lên tới 13%. Có doanh nghiệp phải chịu tỷ lệ này ở mức 26%.  
- Chính sách pháp luật thiếu tính đồng bộ. Đối với các sàn thương mại điện tử, việc pháp luật  
không chấp nhận hình thức thanh toán rút gọn với dữ liệu điện tử thay vì chứng từ giấy đã tạo ra nhiều  
trở ngại cho sự phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới, đồng thời tạo nên sự thiếu minh bạch  
trong quy trình thanh toán. Đối với người tiêu dùng, họ không được tiếp cận những sản phẩm tương  
xứng với giátiền và quyền được trả hàng khi hàng hóa không đúng như quảng cáo. Việc chỉ cho phép  
nguồn hàng chấp nhận chứng từ giấy theo kiểu truyền thống trong thanh toán quốc tế và không có kết  
nối dữ liệu là không phù hợp với quy trình hiện đại hóa và tự động hóa trong dịch vụ ngân hàng, không  
đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng.  
- Đến nay, các chính sách TMĐT Việt Nam chỉ tập trung ở 2 thành phố lớn là Hà Nội, Tp.HCM  
và một số tỉnh năng động liền kề.  
3.3. Những tiềm năng phát triển  
- Tính đến năm 2019, Việt Nam có 61 triệu người dùng Internet, trung bình người Việt dành 3  
giờ 12 phút sử dụng Internet trên thiết bị di động như điện thoại thông minh (smartphone). Đây chính là  
sức hút mạnh mẽ của thị trường Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế khi trở thành thị trường đón nhận  
nguồn vốn đầu tư đứng thứ 3 trong khu vực, với 600 triệu USD từ năm 2018 đến nửa đầu năm 2019.  
- Một số thương vụ đầu tư vào MoMo, Sendo, Topica từ các nhà đầu tư quốc tế góp phần đưa  
Việt Nam trở thành điểm đến của các nhà đầu tư và được đánh giá là một trong những thị trường  
TMĐT tiềm năng và có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Về quy mô, với điểm xuất phát thấp  
khoảng 4 tỷ USD vào năm 2015 nhưng nhờ tốc độ tăng trưởng trung bình trong ba năm liên tiếp cao  
nên quy mô thị trường thương mại điện tử năm 2018 lên tới khoảng 7,8 tỷ USD. 2 Thị trường này bao  
gồm bán lẻ trực tuyến, du lịch trực tuyến, tiếp thị trực tuyến, giải trí trực tuyến và mua bán trực tuyến  
các dịch vụ và sản phẩm số hóa khác. Nếu tốc độ tăng trưởng của năm 2019 và 2020 tiếp tục ở mức  
30% thì tới năm 2020 quy mô thị trường sẽ lên tới 13 tỷ USD. Quy mô này sẽ cao hơn mục tiêu nêu  
trong Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2016 – 2020, theo mục tiêu này thì  
quy mô thương mại điện tử bán lẻ (B2C) đạt 10 tỷ USD vào năm 2020.  
- Theo ông Stephen Kuo, Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Alibaba, Việt Nam  
có nhiều thế mạnh để phát triển TMĐT như nền kinh tế phát triển, duy trì mức ổn định, dân số đông và  
609  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
cơ cấu dân số trẻ, khu vực DN vừa và nhỏ cũng tương đối lớn với khoảng 500.000 DN, đồng thời có  
thế mạnh phát triển nhiều mảng sản xuất đa dạng.  
- Luật an ninh mạng được thông qua là bước tiến lớn trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho phát  
triển thương mại điện tử.  
4. Kết luận  
Ngành thương mại điện tử Việt Nam được đánh giá là có tiềm năng phát triển cực kỳ to lớn,  
đồng nghĩa với việc đó là một cuộc cạnh tranh không khoan nhượng. Trước khả năng tài chính mạnh  
mẽ của những tập đoàn đa quốc gia như Shopee và Lazada, đã có ít nhiều lo ngại cho các sàn thương  
mại điện tử nội địa. Tuy nhiên, các số liệu mới nhất từ Bản đồ thương mại điện tử Việt Nam của công  
ty so sánh giá iPrice, một công cụ tìm kiếm sản phẩm và so sánh giá tại thị trường Đông Nam Á, lại  
cho thấy các doanh nghiệp thương mại điện tử (TMĐT) nội hoàn toàn có lý do để tự tin.  
Và với những tiềm năng hiện có, các chính sách hỗ trợ, khuyến khích của nhà nước, các cấp  
quản lý, hy vọng ngành thương mại điện tử Việt Nam sẽ theo đà tiếp tục phát triển, mạnh mẽ hơn và  
đa dạng hơn. Vượt qua những trở ngại để vươn tầm, tạo cơ hội cho các nền công nghiệp khác phát  
triển, tạo ra những bước đột phát mới trong giao dịch điện tử cũng như thúc đẩy nền kinh tế phát triển  
trong tương lại.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Báo cáo chỉ số thương mại điện tử (2019), Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam VECOM  
2. Sách trắng thương mại điện tử Việt Nam năm 2019, Bộ công thương- Cục thương mại điện tử và kinh tế số  
IDEA  
3. Thương mại điện tử chờ bùng nổ (2019), Tạp chí Tài chính- Bộ tài chính  
4. Top 10 website thương mại điện tử lớn nhất Đông Nam Á: Thương hiệu Việt "áp đảo" (2019), Tạp chí Công  
thương- Bộ Công thương  
64027.htm  
noi-dia-troi-day/  
610  
pdf 8 trang baolam 24120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiềm năng và thách thức của thương mại điện tử Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftiem_nang_va_thach_thuc_cua_thuong_mai_dien_tu_viet_nam_tron.pdf