Giáo trình Vật liệu - Nghề Công nghệ ô tô
1
BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ
GIÁO TRÌNH
MH 10: Vật liệu
NGHỀ: CÔNG NGHỆ Ô TÔ
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
(Ban hành kèm theo Quyết định số:...)
Năm 2012
2
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN:
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể
được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và
tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
MÃ TÀI LIỆU: MH 10
LỜI GIỚI THIỆU
Để phục vụ cho học viên học nghề và thợ sửa chữa ô tô những kiến
thức cơ bản cả về lý thuyết và thực hành bảo dưỡng, sửa chữa các hệ thống
trên ô tô. Hoặc học nghề cơ khí. Tôi có biên soạn giáo trình: Vật liệu học với
mong muốn giáo trình này sẽ giúp cho học sinh, sinh viên nắm vững hơn kiến
thức về ô tô. Cơ ứng dụng được biên soạn, nội dung giáo trình bao gồm ba
chương:
Chương1. Nhôm và hợp kim nhôm
Chương 2. Gang và thép
Chương 3. Vật liệu phi kim loại
Mỗi Chương được biên soạn với nội dung gồm:một số các nội dung cơ bản
về vật liệu dùng để chế tạo ô tô, và một số nhiên liệu đốt cháy, nhiên liệu bôi trơn
được sử dụng trên ô tô.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tác
giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của người đọc để lần xuất bản sau
giáo trình được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày…..tháng…. năm 2012
Tham gia biên soạn
1. Chủ biên: Hoàng Văn Ba
3
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TRANG
Chương 1 Nhôm và hợp kim nhôm
1.1. Giản đồ nhôm – silic
1.2. Đặc điềm của nhôm và hợp kim nhôm
1.3. Phân loại hợp kim nhôm
1.3.1. Phân loại
6
6
7
9
9
9
9
1
4
1
4
2
1
2
4
3
4
3
9
5
4
6
1
6
1
6
1
6
2
7
0
1.3.2. Ký hiệu
1.4. Quan sát tổ chức tế vi của hợp kim nhôm
Chương 2 Gang và thép
2.1 Giản đồ sắt - các bon
2.2 Đặc điểm của sắt và thép
2.3 Gang
2.4 Thép kết cấu
2.5 Thép hợp kim
2.6 Quan sát tổ chức tế vi của gang và thép
Chương 3 Vật liệu phi kim loại
3.1 Chất dẻo
3.2 Cao su - amiăng
3.3 Vật liệu bôi trơn và làm mát
3.4 Nhiên liệu
4
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC VẬT LIỆU HỌC
Mã số của môn học: MH 10
I. Vị trí, tính chất môn học:
- Vị trí của môn học:
Môn học được bố trí giảng dạy song song với các môn học/ mô đun sau:
MH 07, MH 08, MH 09, MH 11, MH 12, MH13, MH 14, MH 15, MH 16, MĐ
17, MĐ 18, MĐ 19
- Tính chất:
Là môn cơ sở nghề bắt buộc.
II. Mục tiêu môn học:
- Vẽ và giải thích được: giản đồ nhôm – silic; giản đồ sắt – các bon
- Trình bày được đặc điểm, phân loại và ký hiệu các loại hợp kim nhôm,
gang và thép
- Nhận dạng các loại hợp kim nhôm, gang và thép
- Trình bày được công dụng, tính chất, phân loại dầu, mỡ bôi trơn, nước
làm mát , của xăng, dầu diesel dùng trên ô tô
- Tuân thủ đúng quy định, quy phạm về vật liệu học
- Rèn luyện tác phong làm việc nghiêm túc, cẩn thận.
III. Nội dung môn học:
Nội dung tổng quát và phân phối thời gian
Thời lượng
Tổng LT TH
Mã
bài
Loại bài
Tên chương mục/bài
Địa điểm
dạy
KT
Nhôm và hợp kim
nhôm
Gang và thép
MH
10- 01
Lý thuyết
Thực hành
Phòng học
tổng hợp
5
8
6
1
MH
10- 02
Lý thuyết
Thực hành
Lý thuyết
Phòng học
tổng hợp
21
14
6
0
1
1
Vật liệu phi kim
loại
MH
10- 03
Phòng học
9
8
IV. Phương pháp và nội dung đánh giá:
1. Phương pháp kiểm tra, đánh giá khi thực hiện:
Được đánh giá qua bài viết, kiểm tra, vấn đáp hoặc trắc nghiệm, tự luận,
thực hành trong quá trình thực hiện các bài học có trong môn học về kiến thức, kỹ
năng và thái độ.
2. Nội dung kiểm tra, đánh giá khi thực hiện:
- Về kiến thức:
+ Trình bày đầy đủ các tiêu chuẩn bản vẽ kỹ thụât cơ khí, hình cắt, mặt cắt,
hình chiếu và vẽ quy ước.
+ Giải thích đúng các ký hiệu tiêu chuẩn và phương pháp trình bày bản vẽ
kỹ thuật cơ khí.
5
+ Các bài kiểm tra viết hoặc trắc nghiệm đạt yêu cầu 60%.
+ Qua sự đánh giá của giáo viên, quan sát viên và tập thể giáo viên.
- Về kỹ năng:
+ Lập được các bản vẽ phác và bản vẽ chi tiết, bản vẽ lắp đúng tiêu chuẩn
Việt nam.
+ Đọc được các bản vẽ lắp, bản vẽ sơ đồ động của các cơ cấu hệ thống ô tô.
+ Sử dụng đúng các dụng cụ, thiết bị để trình bày bản vẽ kỹ thuật đảm bảo
đúng, chính xác và an toàn.
+ Qua sự nhận xét, tự đánh giá của học sinh, của khách hàng và của hội
đồng giáo viên.
+ Kết quả bài thực hành đạt yêu cầu 70%.
- Về thái độ:
+ Chấp hành nghiêm túc các quy định về giờ học và làm đầy đủ các bài tập
về nhà.
+ Rèn luyện tính cẩn thận, chính xác, tác phong công nghiệp.
6
CHƯƠNG 1. NHÔM VÀ HỢP KIM CỦA NHÔM
MH 10 - 01
Mục tiêu:
- Vẽ và giải thích được giản đồ nhôm - silic
- Trình bày được đặc điểm, phân loại và ký hiệu các loại hợp kim nhôm
- Nhận dạng hợp kim nhôm
- Tuân thủ các quy định, quy phạm về vật liệu học.
Nội dung:
1.1 GIẢN ĐỒ NHÔM - SILIC
Để có độ bền cao người ta phải hợp kim hóa nhôm và tiến hành nhiệt
luyện, vì thế hợp kim nhôm có vị trí khá quan trọng trong chế tạo cơ khí và xây
dựng.
Khi đưa nguyên tố hợp kim vào nhôm (ở trạng thái lỏng) thường tạo nên
giản đồ pha Al - nguyên tố hợp kim như biểu thị ở hình 1.1, trong đó thoạt tiên
(khi lượng ít) nguyên tố hợp kim sẽ hòa tan vào Al tạo nên dung dịch rắn thay thế
α nền Al, khi vượt quá giới hạn hòa tan (đường CF) sẽ tạo thêm pha thứ hai
(thường là hợp chất hóa học của hai nguyên tố), sau đó khi vượt quá giới hạn hòa
tan cao nhất (điểm C hay C’) tạo ra cùng tinh của dung dịch rắn và pha thứ hai kể
trên. Do vậy dựa vào giản đồ pha như vậy bất cứ hệ hợp kim nhôm nào cũng có
thể được phân thành hai nhóm lớn là biến dạng và đúc.
Hình 1.1. Góc nhôm của giản đồ pha Al - nguyên tố hợp kim.
- Hợp kim nhôm biến dạng là hợp kim với hàm lượng thấp nguyên tố hợp
7
kim (bên trái điểm C, C’) tùy thuộc nhiệt độ có tổ chức hoàn toàn là dung dịch rắn
nền nhôm nên có tính dẻo tốt, dễ dàng biến dạng nguội hay nóng. Trong loại này
còn chia ra hai phân nhóm là không và có hóa bền được bằng nhiệt luyện.
+ Phân nhóm không hóa bền được bằng nhiệt luyện là loại chứa ít hợp kim
hơn (bên trái F), ở mọi nhiệt độ chỉ có tổ chức là dung dịch rắn, không có chuyển
biến pha nên không thể hóa bền được bằng nhiệt luyện, chỉ có thể hóa bền bằng
biến dạng nguội mà thôi.
+ Phân nhóm hóa bền được bằng nhiệt luyện là loại chứa nhiều hợp kim
hơn (từ điểm F đến C hay C’), ở nhiệt độ thường có tổ chức hai pha (dung dịch
rắn + pha thứ hai), nhưng ở nhiệt độ cao pha thứ hai hòa tan hết vào dung dịch
rắn, tức có chuyển pha, nên ngoài biến dạng nguội có thể hóa bền thêm bằng nhiệt
luyện. Như vậy chỉ hệ hợp kim với độ hòa tan trong nhôm biến đổi mạnh theo
nhiệt độ mới có thể có đặc tính này.
- Hợp kim nhôm đúc là hợp kim với nhiều hợp kim hơn (bên phải điểm C,
C’), có nhiệt độ chảy thấp hơn, trong tổ chức có cùng tinh nên tính đúc cao. Do có
nhiều pha thứ hai (thường là hợp chất hóa học) hợp kim giòn hơn, không thể biến
dạng dẻo được. Khả năng hóa bền bằng nhiệt luyện của nhóm này nếu có cũng
không cao vì không có biến đổi mạnh của tổ chức khi nung nóng.
Ngoài các hợp kim sản xuất theo các phương pháp truyền thống như trên
còn có các hợp kim nhôm được chế tạo theo các phương pháp không truyền
thống, đó là các hợp kim bột (hay thiêu kết) và hợp kim nguội nhanh.
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÔM VÀ HỢP KIM NHÔM
Nhôm được điện phân từ quặng nhôm (Boxit) năm1808.
1.2.1 Nhôm
Là kim loại màu có ánh kim (ánh bạc), khối lượng riêng là 2,7g/cm3
nhẹ hơn sắt 3 lần vì vậy thường được sử dụng trong công nghệ hàng không
hoặc vận tải điện năng đi xa,...
1.2.1.1 Đặc tính chủ yếu
- Dẫn điện tốt, độ dẫn điện của nhôm bằng 62% của đồng tuy nhiên
khối lượng riêng của đồng gấp 3,3 lần của nhôm vì thế để có đặc tính dẫn
điện như nhau thì khối lượng dây dẫn bằng nhôm chỉ bằng 1 nửa của dây dẫn
đồng.
- Có tính dẫn nhiệt tốt, thường dùng chế tạo mặt máy động cơ xăng nó
tăng khả năng dẫn nhiệt, tăng được tỷ số nén và giảm hiện tượng kích nổ.
- Có tính chống ăn mòn tốt nhờ lớp oxit nhôm Al2O3 mỏng (khoảng
vài A0 bao trên bề mặt trơ với không khí. Ngày nay bằng kỹ thuật anot hóa có
thể tạo được lớp oxit nhôm dày hơn có khả năng bảo vệ cao hơn, dùng chế tạo
tấm ốp, khung cửa..
8
- Độ dãn nở dài lớn (3%), khi đúc nhôm độ co ngót của sản phẩm lớn,
khi sử dụng nhôm hợp kim chế tạo pistong của động cơ cần có rãnh chống bó
kẹt.
- Độ bền của nhôm thấp, độ dẻo cao, khi vặn bu lông mặt máy cần xiết
với mô men xiết thấp hơn.
1.2.1.2 Nhược điểm của nhôm
- Độ bề cơ học không cao δb = 60MPa = 6KG/mm2
- Nhiệt độ nóng chảy 6600C, của oxyt nhôm là 20830C, nhôm nóng ít
thay đổi màu, khi tăng nhiệt độ nhôm dễ bị oxihoá mặt ngoài, dễ bị hydrô
xâm nhập khi nóng chảy.
- Nhôm là vật liệu khó hàn.
1.2.2 Hợp kim nhôm
1.2.2.1 Silumi (nhôm đúc)
- Là hợp kim nhôm với silic (Al-Si) với một số nguyên tố khác.
- Khối lượng riêng bằng 1/3 thép, có độ bền gần bằng thép; Dễ đúc.
- Ở nhiệt độ thường và nhiệt độ tương đối cao Silumi có cơ tính cao;
Độ bền hóa học tốt khi nhiệt luyện; Độ dãn nở nhỏ; Chống mài mòn tốt vì thế
hợp kim AlSi12Mg1Mn0,6NiĐ dùng đúc piston của động cơ, mặt máy, thân
máy động cơ xăng.
- Một số hợp kim nhôm đúc:
Ký hiệu
Thành phần
%
TCVN
AA
AlCu4,5Đ
295,0
308,0
356,0
4,5Cu-1Si
AlSi5,5Cu4,5Đ
AlSi7Mg0,3Đ
5,5Si-4,5Cu
7Si-0,3Mg
AlSi12Mg1,3Cu4Mn0,6Đ
12Si-1,3Mg-2Cu-0,6mn-1Ni-
0,2Ti
AA : Aliminum Association (hiệp hội nhôm)
1.2.2.2 Đuara (nhôm biến dạng)
- Là hợp kim nhôm, đồng và một số nguyên tố khác
- Đuara bền, nhẹ chịu gia công áp lực và chống ăn mòn tốt, ứng dụng
rộng rãi trong ngành hàng không, trên ôtô máy kéo.
Thường dùng phủ lên bề mặt kim loại khác để chống ăn mòn.
9
- Một số Đuara thông dụng:
Ký hiệu
Thành phần
%
TCVN
Al99,00
Al99,60
AlCu4,4Mg0,5Mn0,8
AlCu4,4Mg1,5Mn0,6
AA
1100
1060
2014
2024
99,0Al
99,6Al
4,4Cu-0,5Mg-0,8Mn
4,4Cu-1,5Mg-0,6Mn
1.2.2.3 Hợp kim Nhôm ACM (Al St Mg)
Stibi = Angtimoan = C = 3,5 ¸ 4,5 %; Mg = 0,3 ¸ 0,7 %; Al
ACM có hệ số dãn nở nhiệt lớn hơn của Brông vì thế khe hở giữa bạc -
cổ trục là lớn hơn để tránh bó kẹt khi động cơ làm việc; Rẻ tiền hơn và dùng
phổ biến hơn; Dễ bị ăn mòn hóa học hơn.
ACM dùng chế tạo ổ trục của các động cơ xăng cũng như động cơ
Diesel
Ví dụ: khi sử dụng trên động cơ D50.
Bạc BCuPb30 có khe hở giữa trục - bạc là 0,08 ¸ 0,12.
Bạc ACM
có khe hở giữa trục - bạc là 0,10 ¸ 0,15.
1.3. PHÂN LOẠI HỢP KIM NHÔM
1.3.1. Phân loại
- Silumi (nhôm đúc).
- Đuara (nhôm biến dạng).
- Hợp kim Nhôm ACM (Al St Mg),...
1.3.2. Ký hiệu
- Silumi (nhôm đúc) ký hiệu Al-Si.
- Đuara (nhôm biến dạng) ký hiệu Al 99,00; Al 99,60;
AlCu4,4Mg0,5Mn0,8; AlCu4,4Mg1,5Mn0,6,....
- Hợp kim Nhôm ACM (Al St Mg).
1.4. QUAN SÁT TỔ CHỨC TẾ VI CỦA HỢP KIM NHÔM
1.4.1 Lý thuyết
* Phương pháp hiển vi quang hoc: Là phương pháp dùng kính hiển vi quang
học để xem hình ảnh, tổ chức bề mặt của mẫu vật liệu trong một vùng diện
tích nhỏ với độ phóng đại từ 50, 100, 200, 500, 1000, và 1500 lần.
* Nhờ kính hiển vi quang học ta có thể quan sát đuợc cấu trúc của vật liệu nói
chung, tổ chức kim loại và hợp kim nói riêng.
* Phương pháp dùng kính quang học (kính hiển vi kim tương) để đánh giá
phân tích tổ chức tế vi kim lọai và hợp kim gọi là phương pháp phân tích kim
tương (phương pháp kim tương học).
10
* Nhờ kính hiển vi kim tương ta có thể xác định đuợc chủng lọai của vật liệu
(thép, gang, nhôm, đồng,…) quan sát được tổ chức các pha, sự phân bố các
pha, hình dáng và kích thước của các pha. Ví dụ với gang ta có thể xác định
được hình dáng, kích thước của grafit. Ngoài ra, ta còn thấy được khuyết tật
của vật liệu như vết nứt tế vi, rỗ khí, tạp chất, bề dầy lớp thấm, lớp mạ, kích
thước hạt trong các pha, nhờ đó ta có thể đánh giá tính chất, phân tích được tổ
chức của vật liệu. Phương pháp này gọi là phương pháp kim tương định
lượng, phân tích kim tương định lượng có vai trò quan trọng khi xác định cơ
tính của kim loại vì ta có thể đo được kích thước hạt của kim lọai và hợp kim.
Kích thước hạt càng thô thì độ dẻo và độ cứng càng thấp và ngược lại hạt
càng mịn thì độ dẻo và độ cứng càng cao.
1.4.2 Cách chuẩn bị mẫu để xem tổ chức tế vi của kim lọai
Chuẩn bị mẫu để xem tổ chức của kim lọai và hợp kim thực hiện theo
các bước sau:
* Chọn và cắt mẫu
Việc lấy mẫu phải phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Ví dụ : khi muốn
quan sát sự thay đổi tổ chức từ bề mặt vào lõi, ta phải cắt theo tiết diện ngang,
còn muốn nghiên cứu tổ chức dạng thớ, sợi, ta phải cắt theo dọc trục,…
Khi cắt mẫu, có thể dùng máy cắt kim lọai như máy tiện , phay,… cưa
máy, cưa tay,… các mẫu quá cứng có thể dùng đá mài để cắt, với thép đã tôi ,
gang trắng, hợp kim cứng khi cắt bằng đá mài phải chú ý làm nguội trong quá
trình cắt (nhiệt độ khi cắt không quá 1000C) nếu không sẽ làm thay đổi tổ
chức bên trong của nó.
* Mài mẫu
Mẫu sau khi cắt xong được mài thô trên đá mài hoặc giấy nhám từ thô
đến mịn. Giấy nhám thường được đánh số từ nhỏ đến lớn.
Gang ,thép sử dụng giấy mài: 120-240-400-600-800-1000-1200
Kim loại mầu và hợp kim mầu: 120-240-400-600-800-1000-1200-
1500-2000
Số càng lớn thường độ hạt càng mịn. Để tránh rách giấy nhám khi mài,
ta thường vạt mép mẫu.
Giấy nhám phải được đặt lên bề mặt thật phẳng hoặc mặt tấm kính dầy.
Bề mặt mẫu phải áp sát vào giấy. Khi mài tiến hành theo một chiều. Khi bề
mặt mẫu tương đối phẳng, các vết xước song song vào đều nhau. Sau đó, ta
quay mẫu đi 900 và lại mài tiếp, cho đến khi tạo ra bề mặt phẳng mới, các vết
xước mới xóa đi các vết xước cũ. Mỗi loại giấy nhám, ta mài như thế tới 3 ÷5
lần , và lặp lại với các giấy nhám càng mịn hơn cho đến tờ giấy nhám mịn
nhất.
* Đánh bóng mẫu
11
Để đánh bóng mẫu, ta tiến hành trên máy đánh bóng. Máy đánh bóng
mẫu cũng giống như máy mài mẫu, thay vì dán tờ giấy nhám lên đĩa, người ta
gắn miếng nỉ lên trên, khi đánh bóng ta phải cho dung dịch mài mẫu lên trên
miếng nỉ tránh để miếng nỉ quá khô làm mẫu bị cháy; (dung dịch đánh bóng
mẫu thường dùng là Al2O3, Cr2O3, Parafin,...). Chú ý khi vật liệu cứng nên
dùng vải dầy, nếu vật liệu mềm nên dùng nỉ mịn. Trong khi đánh bóng mẫu
nên thường xuyên quay mẫu 900 như khi mài mẫu và tốc độ quay chậm để
mẫu bóng đều. Đánh bóng mẫu cho đến khi thấy không còn vết xước trên bề
mặt mẫu, không nên đánh mẫu quá lâu, nếu đánh mẫu quá lâu sẽ làm bong
các tổ chức mềm, hoặc hiện tượng nổi các hạt cứng sẽ làm khó khăn khi quan
sát và chụp ảnh. Với những kim loại rất mềm (chì, thiếc, kẽm ...) thường đánh
cuối cùng bằng tay trên vải nhung hoặc dùng máy đánh bóng phải điều chỉnh
tốc độ chậm. Để tránh bị oxyt hóa mẫu, người ta pha vào dung dịch mài các
chất thụ động như NaNO2 , KNO2,…
Sau khi đánh bóng mẫu ta phải rửa thật nhanh và sạch bột mài, rồi đem
sấy thật khô mẫu.
Ngoài phương pháp đánh bóng mẫu thông dụng, để đánh bóng mẫu đạt
chất lượng cao ta dùng phương pháp đánh bóng điện phân, nguyên tắc của
đánh bóng điện phân là hòa tan anod trong dung dịch điện phân dưới tác dụng
của dòng điện một chiều. Đánh bóng điện phân còn có ưu điểm là rất bóng,
tránh được hiện tượng biến dạng dẻo bề mặt và thời gian nhanh hơn.
* Tẩm thực mẫu
Mẫu sau khi đánh bóng đem rửa sạch, thấm và sấy khô rồi quan trên
kính hiển vi. Ta sẽ thấy được các vết xước khi mài và đánh bóng chưa đạt, các
vết nứt tế vi, rỗ khí, xỉ, tạp chất, một số tổ chức như carbit, graphit, chì,…
Tẩm thực là quá trình làm hiện tổ chức mẫu, bằng cách dùng hóa chất
bôi lên mặt mẫu làm cho bề mặt mẫu bị ăn mòn, tùy theo vật liệu của mẫu
quan sát hoặc yêu cầu tổ chức nghiên cứu ta sẽ dùng hóa chất thích hợp. Khi
tẩm thực biên giới các pha, các thành phần tổ chức khác nhau thậm chí cùng
thành phần tổ chức pha nhưng định hướng tinh thể khác nhau cũng sẽ bị ăn
mòn khác nhau.
Ví dụ muốn xem tinh giới hạt ta dùng phương pháp tẩm thực tinh giới
(bằng cách dùng hóa chất thích hợp) chủ yếu chỉ ăn mòn biên giới hạt, trong
khi bản thân hạt ăn mòn không đáng kể. Khi tẩm thực vùng biên giới hạt sẽ bị
lõm sâu hơn ở bản thân hạt, vì ở vùng biên giới hạt bị xô lệch và thường tập
trung nhiều tạp chất. Tẩm thực bề mặt hạt là lọai tẩm thực mà bản thân từng
hạt ăn mòn khác nhau. Màu sắc hạt sau khi tẩm thực phụ thuộc vào nhiều yếu
tố. Những chất có tính oxyt hóa mạnh như HNO3, tạo trên bề mặt tinh thể lớp
12
ô xít hóa dầy, mỏng, lớp ô xít càng dầy thì màu càng đậm. Sau khi tẩm thực
bề mặt mẫu sẽ lồi lõm và màu sáng tối, đậm nhạt khác nhau tương ứng với
các pha và tổ chức. Do đó, có thể nhận biết được hình dáng, kích thước và sự
phân bố các pha.
Khi tẩm thực có thể nhúng bề mặt mẫu vào dunh dịch tẩm thực, hoặc
dùng đũa thủy tinh có quấn bông tẩm dung dịch rồi thoa đều lên mặt mẫu.
Thời gian tẩm thực tùy theo tổ chức và tính chất của từng vật liệu, có thể vài
giây, vài phút thậm chí vài giờ. Có thể dựa vào kinh nghiệm khi quan sát bề
mặt mẫu từ màu sáng sang màu tối thì ta có thể kết thúc tẩm thực. Nếu để lâu
quá mẫu sẽ có màu tối đen không quan sát được. Tẩm thực xong ta phải dùng
bông rửa thật sạch bề mặt mẫu dưới vòi nước chảy, sau đó có thể rửa lại bằng
cồn và thấm khô trên giấy lọc hoặc sấy khô bằng máy sấy.
Nếu sau khi tẩm thực, quan sát thấy các đường biên giới hạt đứt đoạn là
thời gian tẩm thực chưa đủ phải tẩm thực lại. Ngược lại đường biên giới quá
to đậm, đường tương phản sáng tối không rõ nét là do thời gian tẩm thực quá
lâu hoặc nồng độ dung dịch tẩm thực cao, ta phải đánh bóng mẫu và tẩm thực
lại.
13
Câu hỏi
Câu 1) Phân tích Giản đồ nhôm – silic?
Câu 2) Nêu đặc điểm của nhôm và hợp kim nhôm?
Câu 3) Phân loại hợp kim nhôm?
Câu 4) Quan sát tổ chức tế vi của hợp kim nhôm?
14
CHƯƠNG 2. GANG VÀ THÉP
MH 10 - 02
Mục tiêu:
- Vẽ và giải thích được giản đồ sắt – các bon
- Trình bày được đặc điểm, phân loại và ký hiệu các loại gang và thép
- Nhận dạng các loại gang và thép
- Tuân thủ các quy định, quy phạm về vật liệu học.
Nội dung:
2.1 GIẢN ĐỒ SẮT - CÁC BON
2.1.1 Giản đồ trạng thái Fe – C
Giản đồ pha Fe - C (Fe - Fe3C) được trình bày ở hình 2.1 với các ký hiệu
các tọa độ (nhiệt độ, 0C - thành phần cacbon, %) đã được quốc tế hóa như sau:
A (1539 - 0);
B (1499 - 0,5); C (1147 - 4,3); D (~1250 - 6,67);
E (1147 - 2,14); F (1147 - 6,67); G (911 - 0);
J (1499 - 0,16); K (727 - 6,67); L (0 - 6,67);
H (1499 - 0,10);
N (1392 - 0);
P (727 - 0,02); Q (0 - 0,006);
S (727 - 0,80).
Một số đường có ý nghĩa thực tế rất quan trọng như sau:
ABCD là đường lỏng để xác định nhiệt độ chảy lỏng hoàn toàn hay bắt đầu
kết tinh.
AHJECF là đường rắn để xác định nhiệt độ bắt đầu chảy hay kết thúc kết
tinh.
ECF (1147oC) là đường cùng tinh, xảy ra phản ứng cùng tinh (eutectic).
PSK (727oC) là đường cùng tích, xảy ra phản ứng cùng tích (eutectoid).
ES - giới hạn hòa tan cac bon trong Feγ; PQ - giới hạn hòa tan cacbon trong
Feα.
Cho biết cấu trúc của hợp kim Fe-C, là cơ sở quyết định các tính chất
và mục đích sử dụng hợp kim Fe-C.
ABCD - là đường bắt đầu đông đặc.
ECF- là đường kết thúc đông đặc(đường cùng tinh), dưới đường này
hợp kim tồn tại ở thể rắn.
PSK- ứng với nhiệt độ 7270C gọi là đường cùng tích (một pha rắn tạo
ra 2 pha rắn trở lên)
Hợp kim có hàm lượng 4,3% C là hợp kim có nhiệt độ nóng chảy thấp
nhất (11470C).
Fe nguyên chất có nhiệt độ nóng chảy 15390C.
Fe-C có hàm lượng các bon là 6,67 gọi là Xêmentit.
Ferit là dung dịch rắn của C trong Feα, mềm, có từ tính, độ bền thấp,
độ dẻo và dai cao, độ cứng 80HB.
15
Austenit là dung dịch rắn của C trong Feγ, mềm, chịu dai và chống mài
mòn tốt, không có từ tính, độ cứng (170÷220) HB.
Xêmentit là hợp chất của Fe-C với hàm lượng C là 6,67%, có độ cứng
rất cao 800 HB, khả năng chống mài mòn tốt, giòn.
Peclit là hỗn hợp cơ học của Ferit và Xe, có dạng hạt tròn, độ cứng
thấp và ổn định (190÷255) HB.
Hình 2.1 Giản đồ pha Fe - C (Fe - Fe3C).
2.1.2 Các chuyển biến khi làm nguội chậm
Như đã nói, trong giản đồ này có khá đầy đủ các chuyển biến đã khảo
sát ở trên..............................................................................................................
- Chuyển biến bao tinh xảy ra ở 14990C trong các hợp kim có (0,10 -
0,50)%C (đường HJB)
δH + LB → γH hay δ0,10 + L0,50 → γ0,16
(2.1)
song người ta thường không để ý đến phản ứng này vì xảy ra ở nhiệt độ quá
cao và không có ảnh hưởng gì đến tổ chức của thép khi gia công và sử dụng.
- Chuyển biến cùng tinh xảy ra ở 1147oC trong các hợp kim có >
2,14%C (đường ECF).
16
LC → (γE + Fe3CF) hay L4,3 → (γ2,14 + Fe3C6,67)
(2.2)
- Chuyển biến cùng tích xảy ra ở 727oC hầu như với mọi hợp kim thuộc
(đường PSK).
γS → [αP + Fe3CK] hay γ0,8 → [α0,02 + Fe3C6,67]
(2.3)
- Sự tiết pha Fe3C dư ra khỏi dung dịch rắn của cacbon trong các dung
dịch rắn: trong Feγ theo đường ES và trong Feα theo đường PQ.
2.1.3 Các tổ chức một pha
Ở trạng thái rắn có thể gặp bốn pha sau.
Ferit (có thể ký hiệu bằng α hay F hay Feα) là dung dịch rắn xen kẽ của
cacbon trong Feα với mạng lập phương tâm khối (a = 0,286 ÷ 0,291mm) song
do lượng hòa tan quá nhỏ (lớn nhất là 0,02%C ở 7270C điểm P, ở nhiệt độ
thường thấp nhất chỉ còn 0,006%C điểm Q) nên có thể coi nó là Feα (theo
tính toán lý thuyết, cacbon không thể chui vào lỗ hổng của Feα, lượng cacbon
hòa tan không đáng kể này là nằm ở các khuyết tật mạng, chủ yếu là ở vùng
biên giới hạt). Ferit có tính sắt từ nhưng chỉ đến 7680C. Trên giản đồ nó tồn
tại trong vùng GPQ (tiếp giáp với Feα trên trục sắt). Do không chứa cacbon
nên cơ tính của ferit chính là của sắt nguyên chất: dẻo, dai, mềm và kém bền.
Trong thực tế ferit có thể hòa tan Si, Mn, P, Cr,... nên sẽ cứng và bền
hơn song cũng kém dẻo dai đi. Ferit là một trong hai pha tồn tại ở nhiệt độ
thường và khi sử dụng (< 7270C), song với tỷ lệ cao nhất (trên dưới 90%), nên
nó đóng góp một tỷ lệ quan trọng trong cơ tính của hợp kim Fe - C. Tổ chức
tế vi của ferit trình bày ở hình 2.2a có dạng các hạt sáng, đa cạnh.
a)
b)
Hình 2.2 Tổ chức tế vi của ferit (a) và austenit (b) (x500).
17
Austenit có thể ký hiệu bằng γ, A, Feγ(C) là dung dịch rắn xen kẽ của
cacbon trong Feγ với mạng lập phương tâm mặt (a ≈ 0,364mm) với lượng hòa
tan đáng kể cacbon (cao nhất tới 2,14% hay khoảng 8,5% về số nguyên tử ở
11470C điểm E, tức tối đa tính bình quân cứ ba bốn ô cơ sở mới có thể cho
phép một nguyên tử cacbon định vị vào một lỗ hổng tám mặt trong chúng, ở
7270C chỉ còn 0,80%C điểm S). Khác với ferit, austenit không có tính sắt từ
mà có tính thuận từ, nó chỉ tồn tại ở nhiệt độ cao (> 7270C) trong vùng
NJESG (tiếp giáp với Feγ trên trục sắt) nên không có quan hệ trực tiếp nào
đến khả năng sử dụng của hợp kim nhưng lại có vai trò quyết định trong biến
dạng nóng và nhiệt luyện.
Với tính dẻo rất cao (là đặc điểm của mạng A1) và rất mềm ở nhiệt độ
cao nên biến dạng nóng (dạng chủ yếu để tạo phôi và bán thành phẩm) thép
bao giờ cũng được thực hiện ở trạng thái austenit đồng nhất (thường ở trên
dưới 10000C). Vì thế có thể tiến hành biến dạng nóng mọi hợp kim Fe - C với
C < 2,14% dù cho ở nhiệt độ thường thể hiện độ cứng và tính giòn khá cao.
Làm nguội austenit với tốc độ khác nhau sẽ nhận được hỗn hợp ferit -
xêmentit với độ nhỏ mịn khác nhau hay được mactenxit với cơ tính cao và đa
dạng, đáp ứng rộng rãi các yêu cầu sử dụng và gia công. Tổ chức tế vi của
austenit trình bày ở hình 2.2b có các hạt sáng, có thể với màu đậm nhạt khác
nhau đôi chút (do định hướng khi tẩm thực) và các đường song tinh (song
song) cắt ngang hạt (thể hiện tính dẻo cao)
Xêmentit (có thể ký hiệu bằng Xe, Fe3C) là pha xen kẽ với kiểu mạng
phức tạp có công thức Fe3C và thành phần 6,67%C, ứng với đường thẳng
đứng DFKL trên giản đồ. Đặc tính của xêmentit là cứng và giòn, cùng với
ferit nó tạo nên các tổ chức khác nhau của hợp kim Fe - C. Người ta phân biệt
bốn loại xêmentit:
- Xêmentit thứ nhất (XeI) được tạo thành do giảm nồng độ cacbon trong
hợp kim lỏng theo đường DC khi hạ nhiệt độ, chỉ có ở hợp kim có > 4,3%C.
Do tạo thành ở nhiệt độ cao (> 11470C) nên xêmentit thứ nhất có dạng thẳng,
thô to đôi khi có thể thấy được bằng mắt thường.....................................
- Xêmentit thứ hai (XeII) được tạo thành do giảm nồng độ cacbon trong
austenit theo đường ES khi hạ nhiệt độ, thường thấy rất rõ ở hợp kim có >
0,80 cho tới 2,14%C. Do tạo thành ở nhiệt độ tương đối cao (> 7270C) tạo
điều kiện cho sự tập trung ở biên giới hạt, nên khi xêmentit thứ hai với lượng
đủ lớn sẽ tạo thành lưới liên tục bao quanh các hạt austenit (peclit), tức tạo ra
khung giòn, làm giảm mạnh tính dẻo và dai của hợp kim..................................
- Xêmentit thứ ba (XeIII) được tạo thành do giảm nồng độ cacbon trong
ferit theo đường PQ khi hạ nhiệt độ, với số lượng (tỷ lệ) rất nhỏ (nhiều nhất
18
cũng chỉ là 2o/oo) nên rất khó phát hiện trên tổ chức tế vi và thường được bỏ
qua.
- Xêmentit cùng tích được tạo thành do chuyển biến cùng tích austenit
→ peclit. Loại xêmentit này có vai trò rất quan trọng, được trình bày ở mục
tiếp theo.
Grafit chỉ được tạo thành trong hợp kim Fe - C cao và chứa lượng đáng
kể silic, là pha quan trọng trong tổ chức của gang.
2.1.4 Các tổ chức hai pha
Peclit (có thể ký hiệu bằng P, [Feα +Fe3C]).
Peclit là hỗn hợp cùng tích của ferit và xêmentit được tạo thành từ
austenit với 0,80%C và ở 7270C như phản ứng (2.3). Trong peclit có 88%
ferit và 12% xêmentit phân bố đều trong nhau, nhờ kết hợp giữa một lượng
lớn pha dẻo với lượng nhất định pha cứng, peclit là tổ chức khá bền, cứng
nhưng cũng đủ dẻo, dai đáp ứng rất tốt các yêu cầu của vật liệu kết cấu và
công cụ. Peclit và các biến thể của nó (xoocbit, trôxtit, bainit) có mặt trong
hầu hết các hợp kim Fe-C. Người ta phân biệt hai loại peclit tấm và peclit hạt.
Peclit tấm (hình 2.3a) thường gặp hơn cả, có cấu trúc tấm (lớp hoặc
phiến), tức là hai pha này đều ở dạng tấm nằm đan xen đều nhau, nên trên mặt
cắt ngang để lại các vạch theo cùng một hướng hay đa hướng, trong đó các
vạch tối mỏng (với lượng ít hơn) là xêmentit, vạch sáng dày (với lượng nhiều
hơn, gọi là nền) là ferit nên tổng thể có dạng vân..
Peclit hạt (hình 2.3b) ít gặp hơn, có cấu trúc hạt tức xêmentit ở dạng
thu gọn nhất (bề mặt ít nhất) hạt xêmentit phân bố đều trên nền ferit. Giữa hai
loại này có sự khác biệt nhỏ về cơ tính: so với peclit hạt, peclit tấm có độ bền,
độ cứng cao hơn, độ dẻo, độ dai thấp hơn đôi chút. Austenit đồng nhất dễ tạo
thành peclit tấm, còn austenit kém đồng nhất dễ tạo thành peclit hạt. Peclit hạt
ổn định hơn peclit tấm nên khi nung lâu ở nhiệt độ tương đối cao, ví dụ (600
a)
b)
Hình 2.3. Tổ chức tế vi của peclit tấm (a) và peclit hạt (b) (x500).
÷ 700)0C, peclit tấm có xu hướng chuyển thành peclit hạt.
19
Lêđêburit có thể ký hiệu bằng Le, hay (γ + Xe) hay (P + Xe).
Lêđêburit là hỗn hợp cùng tinh của austenit và xêmentit tạo thành từ
pha lỏng với 4,3%C ở 11470C nhờ phản ứng (2.2), tuy nhiên khi làm nguội
tiếp tục lại có phản ứng cùng tích (2.3) để austenit chuyển biến thành peclit
nên tổ chức tế vi cuối cùng quan sát được (hình 2.4) là hỗn hợp của peclit
tấm (các hạt tối nhỏ) trên nền xêmentit sáng. Lêđêburit cứng và giòn (vì có
quá nhiều, tới 2/3, là xêmentit) và chỉ có trong hợp kim Fe-C ở dạng gang
trắng, ít gặp.
Các tên gọi pha và tổ chức kể trên với các nghĩa và xuất xứ như sau: để
kỷ niệm các nhà khoa học lỗi lạc trong ngành là Robert Austen (người Anh)
cho austenit, Ledebur (người Đức) cho lêđêburit; từ bản chất hay đặc trưng
tính chất là ferrum (sắt, tiếng latinh) cho ferit, pearl (vân) cho peclit, cementit
Hình 2.4 . Tổ chức tế vi của lêđêburit - (P+Xe) (x500).
2.1.5 Quá trình kết tinh của hợp kim Fe - C
2.1.5.1 Phần dưới của giản đồ
Phần dưới của giản đồ ứng với những chuyển biến ở trạng thái rắn. Có
ba pha chuyển biến đáng chú ý sau đây xuất phát từ ôstenit. Sự tiết ra
xêmentit thứ hai từ ôstenit.
Các hợp kim có thành phần cacbon lớn hơn 0,8% khi làm nguội từ
11470C đến 7270C, ôstenit của nó bị giảm thành phần cacbon theo đường ES,
do vậy, sẽ tiết ra xêmentit mà ta gọi là xêmentit thứ hai. Cuối cùng ở 7270C,
ôstenit có thành phần cacbon 0,8% ứng với điểm S. Sự tiết ra ferit từ ôstenit.
Các hợp kim có thành phần cacbon nhỏ hơn 0,8% khi làm nguội từ
9110C ở 7270C, ôstenit của nó sẽ tiết ra ferit là pha ít cacbon, do vậy ôstenit
20
còn lại giàu cacbon theo đường GS. Cuối cùng ở 7270C hợp kim gồm hai pha
là ferit ứng với điểm P (0,02%C) và ôstenit ứng với điểm S (0,8%C).
Như vậy khi làm nguội tới 7270C trong tổ chức của mọi hợp kim Fe -C
đều chứa ôstenit với 0,8%C (ứng với điểm S).…
Chuyển biến cùng tích: ôstenit thành peclit.…
Tại 7270C ôstenit có thành phần 0,8%C sẽ chuyển biến thành peclit là
hỗn hợp của hai pha ferit và xêmentit.
Như đã nói ở trên, chuyển biến này có ở trong mọi hợp kim Fe-C.
Phần trên của giản đồ trạng thái Fe-C ứng với sự kết tinh từ trạng thái
lỏng thấy có ba khu vực rõ rệt ứng với ba khoảng thành phần cacbon khác
nhau.
Khu vực có thành phần (0,1 ÷0,51)%C.
Tất cả các hợp kim có thành phần cacbon (0,1 ÷ 0,51)%C khi kết tinh
sẽ xảy ra phản ứng bao tinh: δH + B →γJ.……………………………………
Lúc đầu, khi làm nguội đến đường lỏng AB, hợp kim lỏng sẽ kết tinh ra
dung dịch rắn trước. Khi nhiệt độ hạ xuống tới 14990C (ứng với đường HB),
hợp kim có hai pha là dung dịch rắn δ chứa 0,10%C và dung dịch rắn ôstenit
chứa 0,16%C:
Các hợp kim có (0,1 ÷ 0,16)%C sau phản ứng bao tinh còn thừa pha
δ và khi làm nguội tiếp, pha này tiếp tục chuyển biến thành pha γ. ...................
Các hợp kim có (0,16 ÷ 0,51)%C sau phản ứng bao tinh còn thừa pha
lỏng L, và sau khi làm nguội tiếp theo pha lỏng tiếp tục chuyển biến thành
pha γ. Như vậy, cuối cùng hợp kim (0,10 ÷ 0,51)%C khi làm nguội xuống
dưới đường NJE chỉ có tổ chức một pha ôstenit.
Khu vực có thành phần (0,51 ÷ 2,14)%C kết thúc kết tinh bằng sự tạo
thành dịch dung rắn ôstenit.
Hợp kim thành phần (2,14 ÷ 4,3)%C: khi làm nguội hợp kim tới đường
lỏng BC nó sẽ kết tinh ra ôstenit. Làm nguội tiếp tục, ôstenit có thành phần
thay đổi theo đường JE, hợp kim lỏng còn lại thay đổi theo đường BC.
Khu vực có thành phần (0,51 ÷ 2,14)%C kết thúc kết tinh bằng sự tạo thành
dung dịch rắn ôstenit.………………………………………………………….
Hợp kim có thành phần (2,14 ÷ 4,3)%C, kết thúc kết tinh bằng sự kết
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Vật liệu - Nghề Công nghệ ô tô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_vat_lieu_nghe_cong_nghe_o_to.pdf

