Hiện trạng và những đề xuất về đổi mới nội dung chương trình tiếng Việt tiểu học sau 2015

Khoa Giáo dục Tiểu  
học, Trƣờng Cao đẳng  
Sƣ phạm Kiên Giang  
HIỆN  
TRẠNG  
VÀ NHỮNG ĐỀ  
XUẤT VỀ ĐỔI  
MỚI NỘI DUNG  
CHƢƠNG  
Điện thoại: 0939  
331058 (PTQN)  
TRÌNH TIẾNG  
VIỆT TIỂU HỌC  
SAU 2015  
Email:  
ThS. PHAN THỊ  
ThS. NGUYỄN TẤN  
QUỲNH NHƢ  
KIỆT  
TÓM TẮT  
Chƣơng trình Tiểu học năm 2000 có những ƣu điểm vƣợt trội so với chƣơng  
trình Cải cách giáo dục trƣớc đó. Tuy nhiên, nhiều nhà giáo dục vẫn nhìn thấy còn  
những mặt hạn chế nhất định. Vì thế, bài viết này bàn về hiện trạng và những đề xuất  
nhỏ về đổi mới nội dung chƣơng trình Tiếng Việt ở tiểu học sau năm 2015.  
Từ khóa: hiện trạng, đề xuất, đổi mới, toàn diện  
ABSTRACT  
Current status and recommendations on reforms agenda Vietnamese primary after  
2015  
The primary program in 2000 has advantages compared with education  
reform program earlier. Howerver, many educatort still find certain drawbacks.  
Therefore, this article discusses the current situation and proposals for innovative small  
primary school after 2015.  
Key words: the statucs, proposals, innovation, comprehensive  
1. Đặt vấn đề  
415  
Có thể nói vấn đề đổi mới nội dung chƣơng trình giáo dục ở phổ thông sau năm  
2015 đang là điểm nóng. Đổi mới và đổi mới nhƣ thế nào? Những mặt thành công và  
hạn chế trong chƣơng trình Tiếng Việt ở tiểu học năm 2000? Để trả lời cho câu hỏi đặt  
ra là cả một lộ trình nhìn lại và đi tới. Bàn về chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học sau 2015  
là một việc làm tất yếu của mỗi nhà giáo dục nhằm mong muốn hƣớng đến mục tiêu  
chƣơng trình mang tính toàn diện và phù hợp, hiện đại và hội nhập.  
2. Nội dung  
2.1. Hiện trạng nội dung chương trình Tiếng Việt Tiểu học năm 2000  
Thời gian qua, chúng ta đã có nhiều cuộc Hội thảo khoa học, nhiều bài viết đăng  
trên các tạp chí chuyên ngành, nhiều ý kiến trong các cuộc họp chuyên môn của các nhà  
khoa học, nhà giáo khi bàn về hiện trạng nội dung chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học năm  
2000. Từ những nhận xét, suy nghĩ kinh nghiệm và tâm huyết của các nhà giáo dục trên,  
chúng tôi cũng xin đƣa ra những ý kiến riêng của mình nhằm góp thêm tiếng nói ở bài  
tham luận Hội thảo khoa học về mặt hạn chế của nội dung chƣơng trình Tiếng Việt tiểu  
học năm 2000 nhƣ sau:  
2.1.1. Kiến thức còn nặng tính hàn lâm, ngữ liệu thiếu tính chọn lọc  
Chƣơng trình Tiếng Việt Tiểu học hiện nay vẫn còn khá ôm đồm, nặng tính hàn  
lâm, nội dung ngữ liệu chƣa phù hợp với tƣ duy của ngƣời học nhỏ tuổi. Điều đó có thể  
nhận thấy nhiều ở phân môn Tập đọc. Một số ngữ liệu mà các nhà biên soạn sách giáo  
khoa (SGK) đƣa vào dạy học là vƣợt mức hiểu của các em. Chẳng hạn, văn bản trong  
Ngƣời ăn xin (Tiếng Việt 4, tập 1), nghĩa hàm ẩn trong bài Tập đọc là nội dung chính  
của bài. Thế nhƣng để HS nắm đƣợc bài một cách tốt nhất thì phải chăng độ tuổi của  
các em lại chƣa đủ tầm để hiểu sâu? Hay trong SGK Tiếng Việt lớp 1, những câu thơ  
nhƣ: “Nơi ấy ngôi sao khuya/ Soi vào trong giấc ngủ/ Ngọn đèn khuya bóng mẹ/ Sáng  
một vầng trên sân.” hoặc “Dù ai nói ngả nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững nhƣ kiềng ba  
chân”, liệu HS lớp1 có hiểu hết ý nghĩa? Vậy tại sao những bài đồng dao dễ nhớ, dễ  
thuộc, gần gũi, rất phù hợp với trẻ lại chỉ vẻn vẹn có một bài duy nhất trong chƣơng  
trình?  
Môn học bị cắt khúc do ngữ liệu SGK đƣa ra là quá dài. Văn bản Dế Mèn bênh  
vực kẻ yếu (Tiếng Việt 4, tập 1) đƣợc dạy ở tuần 1 và đến tuần 2 lại đƣợc dạy tiếp theo;  
Bốn anh tài (Tiếng Việt 4, tập 2) đƣợc dạy ở tuần 19 và tiếp tục sang tuần 20; Ngƣời  
công dân số Một (Tiếng Việt 5, tập 2) cũng thế, đƣợc dạy ở tuần 19 và tuần 20. Chúng  
ta không thiếu những ngữ liệu vừa đủ trong một đơn vị bài học. Điều đó khiến giờ học  
416  
văn của HS bị gián đoạn, tƣ duy hình tƣợng không theo dòng chảy cảm xúc sẽ ảnh  
hƣởng ít nhiều đến việc cảm thụ trong dạy học văn cho ngƣời học. Tuy nhiên, dù có ngữ  
liệu không kéo dài từ tuần trƣớc đến tuần sau khiến môn học bị cắt khúc nhƣng ngữ liệu  
quá dài trong một tiết khó đạt đƣợc mục tiêu dạy học nhƣ Sáng kiến của bé Hà, Chiếc  
bút mực (Tiếng Việt 2, tập 1), Ngƣời mẹ, Hũ bạc của ngƣời cha (Tiếng Việt 3, tập 1),  
Chú đi tuần, Một vụ đắm tàu (Tiếng Việt 5, tập 2), v.v.  
Một điều nữa mà ai cũng nhận thấy là những sáng tác của một số tác giả nhƣ  
Trần Đăng Khoa, Tô Hoài, Tố Hữu đƣợc chọn lựa và đƣa vào SGK khá nhiều – nhƣng  
nhiều nhất vẫn là Trần Đăng Khoa. Dẫu biết rằng thơ của tác giả “Góc sân và khoảng  
trời” hay và phù hợp với tâm lí trẻ con nhƣng cả chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học có  
đến 12 bài thơ lẫn đoạn trích là của tác giả này. Điều đáng nói là các nhà biên soạn đƣa  
cả những bài chƣa hay vào chƣơng trình. Bài thơ Khi mẹ vắng nhà (Tiếng Việt 3, tập 1)  
chƣa hay vì thiếu chất thơ (bài thơ có 12 dòng nhƣng 8 dòng đầu là kể việc, nặng tính  
văn xuôi). Đã thế, phần Tìm hiểu bài, trong SKG yêu cầu HS học thuộc lòng cả bài.  
Chắc chắn trẻ nhỏ sẽ khó thuộc và cũng khó lòng cảm thụ thẩm mĩ từ bài thơ nặng tính  
văn xuôi này.  
2.1.2. Các phân môn trùng lặp ngữ liệu  
Tích hợp là cần thiết trong dạy học. Vì thế, các nhà biên soạn SGK đã tích hợp  
các phân môn trong cùng một chủ điểm. Nhƣng điều đó lại vô tình làm cho cả ngƣời  
dạy và ngƣời học giảm đi sự hứng thú. Điều này có thể nhận thấy khá rõ ở SGK lớp 2  
và lớp 3. Các phân môn trùng lặp về ngữ liệu. Từ phân môn Tập đọc đến Kể chuyện rồi  
Chính tả cũng chỉ một ngữ liệu ở một văn bản duy nhất. Chẳng hạn, ngữ liệu Câu  
chuyện bó đũa (Tiếng Việt 2, tập 1) HS đƣợc học trong giờ Tập đọc, rồi giờ Kể chuyện  
HS cũng kể lại văn bản đó, đến sang Chính tả cũng viết thế. Hay văn bản Ngƣời liên lạc  
nhỏ (Tiếng Việt 3, tập 1), phân môn Tập đọc – Kể chuyện – Chính tả cũng một ngữ liệu  
nhƣ nhau. Một món ăn dù ngon đến đâu nhƣng ăn mãi cũng gây cảm giác ngấy. Một  
ngữ liệu dù hay thế nào nhƣng cứ lặp đi lặp lại một bài sẽ tạo cho GV và HS cảm giác  
đơn điệu, tẻ nhạt, không thú vị và hứng thú trong dạy và học.  
2.1.3. Tranh vẽ chƣa phù hợp  
Tƣ duy của trẻ là tƣ duy trực quan hình ảnh. Tính chất có hình ảnh cụ thể của tƣ  
duy đặc trƣng cho trẻ mẫu giáo còn giữ lại rất lâu ở HS tiểu học. Đối với HS lớp 1, khi  
minh họa tranh cần chính xác và sinh động. Ở bài 19, phần Tập đọc có nội dung “bé tô  
cho rõ chữ và số” (Tiếng Việt 1, tập 1) nhƣng phần tranh chỉ minh họa phần tô số mà  
không có chữ. Cũng ở bài này, phần Luyện nói về chủ đề rổ, rá, tranh vẽ cũng chƣa  
417  
đúng. Rổ là đồ đựng đan thƣa bằng tre hay bằng nhựa, nhôm…, hình dạng tròn và sâu  
lòng, có nhiều lỗ thƣa để thoát nƣớc, thƣờng dùng đựng rau; còn rá chất liệu cũng thế  
nhƣng khác với rổ là rá có nhiều lỗ nhỏ thoát nƣớc, thƣờng dùng để vo gạo. Theo nghĩa  
của 2 từ nhƣ thế, tranh vẽ lại minh họa ngƣợc lại (rổ là rá, rá là rổ!) khiến trẻ con hiểu  
chƣa đúng về các vật dụng trong gia đình. Một ví dụ nữa, Ở bài 102, phần Luyện nói, có  
nội dung về “Đèn dầu, đèn điện, đèn huỳnh quang” (Tiếng Việt 1, tập 2) nhƣng phần  
tranh minh họa cho hình ảnh hoàn toàn không tƣơng ứng! Đèn dầu mà tranh vẽ lại thể  
hiện đèn điện, đèn điện thì lại vẽ đèn huỳnh quang, đèn huỳnh quang lại minh họa…  
đèn dầu! Tƣởng rằng sai sót từ tranh vẽ minh họa là chuyện nhỏ nhƣng tác động rất lớn  
đến nhận thức của trẻ trong việc khám phá thế giới môi trƣờng xung quanh.  
2.1.4. Chú thích, giải nghĩa từ không chuẩn xác và sai về quy tắc chính tả  
Chú thích, giải nghĩa từ có tác dụng cho HS hiểu đúng nghĩa của từ và từ đó biết  
sử dụng từ trong hoạt động học tập và giao tiếp. Thế nhƣng có những từ ngữ chú thích,  
giải nghĩa không sát. Ví nhƣ từ “ghé” trong hai dòng thơ “Nắng ghé vào cửa lớp/ Xem  
chúng em học bài” (Tiếng Việt 2, tập 1) đƣợc chú thích nghĩa nhƣ là ghé mắt và giải  
thích là “nhìn, ngó”. Nếu đặt từ trong văn cảnh của văn bản (Cô giáo lớp em) thì ta nên  
hiểu từ “ghé” có nghĩa là tạm dừng lại bên ngoài cửa lớp để xem các bạn nhỏ học bài  
(mƣợn ý của tác giả Bùi Thanh Truyền) [5, tr.79]. Các bạn nhỏ đáng yêu, thơ ngây,  
chăm chỉ đã khiến nắng không cƣỡng nổi sức hút mà tạm dừng chân để thích thú ngắm  
nhìn. Giải thích nhƣ trong SGK thì tính liên tƣởng, giá trị thẩm mĩ của hình tƣợng văn  
chƣơng bị phá vỡ ngay.  
Riêng ở phân môn Tập đọc, ở phần Chú thích và giải nghĩa, SGK Tiếng Việt (từ  
lớp 2 - 5) đều viết hoa chữ cái đầu của các tiếng. Nhƣ chúng ta đều biết, viết hoa là một  
quy định về chính tả với các chức năng sau: viết hoa để đánh dấu sự bắt đầu của một  
câu (chức năng ngữ pháp), viết hoa để biểu thị sự tôn kính, trân trọng (chức năng tu từ),  
viết hoa để biểu thị tên riêng (chức năng từ vựng – ngữ pháp). Vì thế, SGK trong phần  
Chú thích và giải nghĩa đều viết hoa chữ cái đầu của các tiếng là không đúng quy tắc  
chính tả tiếng Việt. Chúng tôi đơn cử một ví dụ, ở bài Tập đọc Đàn gà mới nở (tuần 16,  
Tiếng Việt 2, tập 1), SGK đƣa ra 3 từ ngữ cần giải thích:  
- Líu ríu chạy: chạy nhƣ dính chân vào nhau.  
- Hòn tơ: cuộn tơ (tơ: sợi mảnh, màu vàng, để dệt vải).  
- Dập dờn: chuyển động lúc lên lúc xuống nhẹ nhàng.  
418  
Cách viết hoa tùy tiện nhƣ thế cần phải xem lại tránh gây cho HS hiểu sai quy  
tắc chính tả về cách viết hoa trong tiếng Việt.  
2.1.4. Hệ thống câu hỏi hạn chế sự phát triển tƣ duy của ngƣời học  
Nhìn chung hệ thống câu hỏi ở phần Tìm hiểu bài trong phân môn Tập đọc đa  
phần chƣa phát huy năng lực tƣ duy của HS theo bậc thang nhận thức. Nhƣ chúng ta  
đều biết, Benjamin Bloom là ngƣời đề xuất ra bậc thang tƣ duy trong lĩnh vực nhận thức  
(1956) [5]. Theo tác giả, thang nhận thức gồm 6 cấp độ: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích,  
tổng hợp và đánh giá. Để hoàn thiện hơn, Lorin Anderson (1991) [6] đã đƣa ra ý tƣởng  
mới trên cơ sở kế thừa và phát huy bậc thang nhận thức Bloom: Nhớ, hiểu, vận dụng,  
phân tích, đánh giá và sáng tạo. Tác giả đặc biệt chú trọng đến cấp độ Sáng tạo. Từ bậc  
thang nhận thức của hai nhà giáo dục, ta thấy việc đặt câu hỏi trong dạy học rất quan  
trọng, góp phần thành công trong học tập của HS. Chúng tôi trở lại vấn đề về hệ thống  
câu hỏi ở phần Tìm hiểu bài ở phân môn Tập đọc, nếu câu hỏi ở SGK chỉ dừng lại ở  
mức độ: Biết, hiểu khá dễ khi tái hiện, nhắc lại nội dung văn bản thì sẽ khiến ngƣời học  
không hứng thú bởi câu hỏi đặt ra đƣợc HS trả lời dễ dàng, không phải động não nhiều.  
Điều đó ảnh hƣởng không nhỏ đến sự phát triển năng lực đánh giá và sáng tạo của HS  
trong học văn. Câu hỏi tái tạo khơi gợi trí tƣởng tƣợng, đánh giá, nêu chính kiến của  
ngƣời học là trọng yếu trong việc cảm thụ và yêu thích học văn của các em.  
Mặt khác, câu hỏi thiết kế ở một số bài trong SGK cũng chƣa thật hay. Theo Bùi  
Thanh Truyền [4, tr.80] ở ví dụ câu: “Mỗi năm tết đến Trung thu, Bác càng nhớ các  
cháu” (trong bài Thƣ Trung thu, Tiếng Việt 2, tập 2), SGK nêu câu hỏi: “Mỗi tết Trung  
thu, Bác Hồ nhớ tới ai ?”. Câu hỏi chứng tỏ ngƣời biên soạn SGK chƣa nhận ra nhãn tự  
“càng”, Bác bao giờ cũng nhớ thƣơng và luôn nghĩ về các cháu thiếu nhi chứ không  
phải chỉ Tết Trung thu Bác mới nhớ các cháu! Cách thiết kế câu hỏi nhƣ trong bài chƣa  
thể giúp GV và HS cảm nhận đƣợc tình cảm và sự độc đáo trong cách dùng từ của Bác.  
2.2. Một số đề xuất về đổi mới nội dung chương trình Tiếng Việt Tiểu học sau 2015  
Theo Hoàng Thị Tuyết [2, tr.161], tập hợp những tiêu chuẩn của một SGK dạy  
tiếng mẹ đẻ tốt đƣợc cộng đồng các nhà nghiên cứu chƣơng trình và biên soạn SGK  
ngôn ngữ trên thế giới thống nhất và công nhận gồm những tiêu chuẩn theo các góc độ  
khác nhau: xã hội, HS, GV, ngƣời quản lí, phụ huynh HS,… Từ những thực trạng về nội  
dung chƣơng trình Tiếng Việt ở tiểu học năm 2000 nhƣ trên cùng với việc nhận thấy ƣu  
điểm của tài liệu hƣớng dẫn học theo mô hình trƣờng tiểu học mới [1], chúng tôi đƣa ra  
những đề xuất nhỏ về đổi mới nội dung chƣơng trình Tiếng Việt ở tiểu học sau năm  
419  
2015 nhằm mong muốn hƣớng đến mục tiêu chƣơng trình SGK của ta mang tính toàn  
diện, phù hợp và hiện đại hơn. Dƣới đây là một số đề xuất mang tính xây dựng:  
2.2.1. Bài dạy học cần có mục tiêu cần đạt, chủ điểm hấp dẫn  
Mục tiêu cần đạt trong mỗi bài cần đƣợc trình bày rõ ràng trƣớc nội dung dạy  
học sẽ giúp GV và HS nỗ lực nhằm đạt đƣợc mục tiêu đặt ra. Nếu HS tự mình thấy chƣa  
đạt mục tiêu trong bài học sẽ tự điều chỉnh cách học hoặc xem lại thêm ở nhà để hoàn  
thiện việc học của bản thân.  
Chủ điểm dạy học cần phong phú, đa dạng để GV và HS thích thú khám phá  
hơn. Riêng ở nội dung chủ đề nói hoặc viết ở phân môn Tập làm văn, ngƣời biên soạn  
SGK cần thiết kế linh hoạt “mềm hóa” tính đến đặc điểm đối tƣợng, địa phƣơng,…để  
mỗi GV ở mỗi nơi có thể điều chỉnh cho phù hợp.  
2.2.2. Ngữ liệu cần có sự chọn lọc  
Chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học cần có nội dung ngữ liệu phù hợp với tƣ duy  
của HS. Riêng chƣơng trình Tiếng Việt 1, SGK nên có nhiều bài đồng dao để các em dễ  
nhớ, dễ thuộc vì chúng gần gũi và phù hợp với trẻ nhƣ chúng tôi đã trình bày ở trên.  
Để tránh môn học không bị cắt khúc do ngữ liệu SGK đƣa ra là quá dài, ngƣời  
biên soạn SGK cần chọn lựa bài có dung lƣợng vừa đủ trong một đơn vị bài học. Điều  
đó khiến giờ học văn của HS không bị gián đoạn, tƣ duy hình tƣợng đƣợc phát triển  
theo dòng chảy cảm xúc.  
Chúng ta không thiếu những tác phẩm hay của nhiều nhà văn đƣơng đại. Vì thế,  
ngoài những tác giả quá quen thuộc nhƣ Trần Đăng Khoa, Tố Hoài, Tố Hữu,.. nhà biên  
soạn SGK cần thêm những tác giả khác. Chúng tôi nhận thấy, nhiều em HS hiện nay  
tích cực tham gia viết văn trên các báo Tiền Phong, Nhi đồng,… Nên chăng ta chọn lọc  
kĩ những bài viết hay của chính lứa tuổi của các em để đƣa vào chƣơng trình? Dĩ nhiên,  
những bài viết đó cần mang tính nhận thức, tính thẩm mĩ và tính giáo dục.  
Đôi điều cần nói thêm, khi chọn lựa văn bản đƣa vào chƣơng trình SGK, ta cũng  
tính đến ngôn từ trên phƣơng diện ngữ âm, văn phong ở mỗi vùng miền sao cho cân đối  
và phù hợp. Trên thực tế, số lƣợng tác phẩm ở phân môn Tập đọc, Chính tả rất ít ỏi  
những nhà văn trong Nam.  
2.2.3. Các phân môn tránh trùng lặp ngữ liệu và tranh vẽ minh họa phù hợp  
420  
Chủ điểm tích hợp cần tạo cho GV và HS sự hứng thú trong dạy và học, tránh  
trùng lặp về ngữ liệu ở các phân môn: Tập đọc – Kể chuyện – Chính tả.  
Tƣ duy của trẻ là tƣ duy trực quan hình ảnh, vì thế, khi minh họa tranh cần chính  
xác và sinh động kích thích ngƣời học khám phá thế giới xung quanh.  
2.2.4. Chú thích, giải nghĩa từ cần chuẩn xác  
Ngôn ngữ và tƣ duy là hai mặt của một tờ giấy. Vì thế, chú thích, giải nghĩa từ  
có tác dụng cho HS hiểu nghĩa của từ và từ đó biết cách sử dụng đúng từ trong hoạt  
động học tập và giao tiếp.  
Ở phân môn Tập đọc, phần Chú thích và giải nghĩa, SGK Tiếng Việt (từ lớp 2 -  
5) đều viết hoa chữ cái đầu của các tiếng – nhƣ đã nói ở trên. Vì thế, chúng tôi đề nghị  
SGK khi Chú thích và giải nghĩa từ ngữ tránh viết hoa. Chúng tôi đơn cử một ví dụ đã  
có sự điều chỉnh viết hoa tùy tiện, ở bài Tập đọc Đàn gà mới nở (tuần 16, Tiếng Việt 2,  
tập 1) tránh cho HS hiểu sai quy tắc chính tả tiếng Việt về viết hoa nhƣ sau:  
- líu ríu chạy: chạy nhƣ dính chân vào nhau.  
- hòn tơ: cuộn tơ (tơ: sợi mảnh, màu vàng, để dệt vải).  
- dập dờn: chuyển động lúc lên lúc xuống nhẹ nhàng.  
Ngoài ra, ở phân môn Luyện từ và câu, Tập đọc, ngƣời biên soạn không nhất  
thiết giải nghĩa đầy đủ tất cả các từ mà một số từ ngữ nên để khuyết và yêu cầu HS làm  
việc ở nhà với Từ điển bằng cách tra cứu từ nhằm nâng cao tính tích cực cho ngƣời học.  
Trên thực tế, HS tiểu học rất ít sử dụng từ điển để hiểu nghĩa từ, mở rộng vốn từ mà  
phần nhiều chỉ là đối tƣợng GV và phụ huynh HS – mà HS lại là chủ thể của hoạt động  
dạy học.  
2.2.5. Hệ thống câu hỏi hƣớng đến sự phát triển tƣ duy cho ngƣời học  
Hệ thống câu hỏi ở phần Tìm hiểu bài trong phân môn Tập đọc cần phát huy khả  
năng tƣ duy của HS theo bậc thang nhận thức. Câu hỏi trong thiết kế cần đảm bảo ở hai  
mức độ: tái hiện và đánh giá/ sáng tạo để phát huy năng lực tƣ duy cảm thụ, sáng tạo  
trong học văn của HS. Bên cạnh đó, câu hỏi thiết kế cần hay và phù hợp, tránh đánh đố,  
không quá dễ mà cũng không quá khó. Cách thiết kế câu hỏi trong bài học nhƣ đề nghị  
sẽ giúp HS phát huy tốt nhất kĩ năng đọc hiểu, cảm thụ trong học giờ Tập đọc.  
3. Kết luận  
421  
Trở lên trên, bài viết đề cập đến hiện trạng chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học năm  
2000 và đƣa ra những đề xuất đổi mới nội dung chƣơng trình Tiếng Việt ở tiểu học sau  
năm 2015. Chặng đƣờng nhìn lại và hƣớng tới chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học sau  
2015 là một việc làm tất yếu của mỗi ngƣời làm công tác giáo dục. Với mong muốn  
hƣớng đến mục tiêu chƣơng trình mang tính toàn diện, căn bản, phù hợp và hiện đại,  
chúng tôi hi vọng một chƣơng trình Tiếng Việt tiểu học sau 2015 sẽ tốt hơn, hoàn chỉnh  
hơn nâng cao chất lƣợng giáo dục cho nƣớc nhà trong xu thế hội nhập hiện nay.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Tiểu học, Dự án Mô hình trƣờng học mới Việt  
Nam – VNEN (2012), Dạy học theo Mô hình trƣờng học mới VNEN và nhiệm vụ đào  
tạo GVTH trong các trƣờng sƣ phạm (Lƣu hành nội bộ tài liệu tập huấn đợi 1 cho các  
trƣờng sƣ phạm).  
2. Hoàng Thị Tuyết (2012), Lí luận dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, tập 1, Nxb Thời đại.  
3. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), (2012), Bộ SGK Tiếng Việt tiểu học (lớp 1-5), Nxb  
Giáo dục Việt Nam.  
4. Bùi Thanh Truyền (2012), “Chất lƣợng dạy học văn”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học  
“Dạy học tích hợp ở tiểu học: Hiện tại và tƣơng lai”, Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ  
Chí Minh.  
5. Bloom, B. S (1964), Phân loại tƣ duy cho các mục tiêu giáo dục (phần 1), New York:  
Longman.  
422  
pdf 8 trang baolam 24660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiện trạng và những đề xuất về đổi mới nội dung chương trình tiếng Việt tiểu học sau 2015", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhien_trang_va_nhung_de_xuat_ve_doi_moi_noi_dung_chuong_trinh.pdf