Bàn về chủ đề “tính dục hiện sinh” trong thơ Việt Nam đương đại

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0051  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 3, pp. 91-100  
BÀN VỀ CHỦ ĐỀ “TÍNH DỤC HIỆN SINH” TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  
Đoàn Thị Hạnh  
Trường Trung học phổ thông Chuyên Đại học Vinh  
Tóm tắt. Quan tâm đến vẻ đẹp thân xác trong tình yêu để làm rõ tính nhân bản nhân văn  
trong tình yêu là đóng góp lớn của các nhà thơ Việt Nam đương đại. Theo tư tưởng hiện  
sinh, con người sinh ra không tự quyết định được số phận. Họ luôn cảm thấy âu lo vì sự hư  
hao mỏng mảnh của kiếp người. Chính điều đó khiến con người luôn cô đơn. Nhưng con  
người chấp nhận sự cô đơn và vươn lên để sống khẳng định nhân vị của chính mình. Và  
tính dục là một trong những chủ đề trọng tâm của chủ nghĩa hiện sinh giúp con người tìm  
thấy ý nghĩa cuộc sống, vượt lên nỗi cô đơn nghiệp dĩ. Có thể nói, thơ Việt Nam đương đại  
từ sau năm 1986 đã tiếp nhận sự ảnh hưởng sâu sắc của chủ nghĩa hiện sinh từ phương Tây  
và đã tạo xu hướng mới về chủ đề “tính dục”. Bài viết đề cập đến những đóng góp lớn đáng  
ghi nhận của các nhà thơ Việt Nam đương đại, góp phần đổi mới thơ ca, đem đến cho  
người đọc quan niệm, nhân thức mới mẻ về chủ đề “tính dục” vốn bị nhiều cấm kị và né  
tránh cả trong đời sống thực tiễn và trong văn học.  
Từ khóa: Chủ nghĩa hiện sinh, tính dục, thơ Việt Nam đương đại.  
1. Mở đầu  
Từ năm 1986 đến nay, cùng với những thay đổi mạnh mẽ của chính trị - xã hội, văn học  
đương đại Việt Nam đã có những chuyển mình vượt bậc. “Văn học đương đại” thuộc vào phạm  
trù “văn học hiện đại”, nhằm chỉ văn học được sáng tác gần đây và ngày nay. Năm 1986 được  
chúng tôi xem như một dấu mốc đánh dấu cho sự bắt đầu của giai đoạn văn học này bởi đây là  
thời điểm mang tính bản lề cho thấy sự khác biệt trong tư duy sáng tác và quan niệm thẩm mĩ  
của người viết lẫn người đọc. Trong văn học Việt Nam đương đại có một bộ phận phát triển rất  
năng động. Đó chính là thơ ca. Thơ đương đại Việt Nam là tiếng nói bộc lộ sự nhận thức, tư  
duy, quan niệm thẩm mĩ và những trăn trở của người nghệ sĩ về con người trong bối cảnh thời  
đại mới. Bên cạnh những đề tài đất nước mang màu sắc sử thi vẫn được tiếp tục đề cập, thơ Việt  
Nam đương đại còn tiếp nhận những luồng tư tưởng mới mẻ từ phương Tây, trong đó có chủ  
nghĩa hiện sinh. Bên cạnh những chủ đề như lo âu, cô đơn, buồn nôn, phi lý, dấn thân, nổi loạn  
...của chủ nghĩa hiện sinh, thơ đương đại quan tâm đến chủ đề “tính dục” với cái nhìn mới mẻ  
mang giá trị nhân bản, nhân văn. Các nhà thơ mà tác phẩm của họ in đậm dấu ấn về “tính dục  
hiện sinh” có thể kể đến như: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Phan Thị Vàng  
Anh, Phương Lan, Thanh Xuân… Tác giả Hồ Tiểu Ngọc khẳng định “Trong tình yêu có nhu  
cầu tính dục...Đây là chủ đề phổ biến được các nhà thơ nữ quan tâm.Nó là một phần của bản  
năng sinh học, vừa là nguồn sống vừa là dục năng nói theo nghĩa tốt đẹp của từ này” [1, tr.74].  
Nhận thấy chủ đề tính dục hay tư tưởng hiện sinh như yếu tố mới xuất hiện trong thơ Việt Nam  
Ngày nhận bài: 22/6/2020. Ngày sửa bài: 29/7/2020. Ngày nhận đăng: 10/8/2021.  
Tác giả liên hệ: Đoàn Thị Hạnh. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
91  
Đoàn Thị Hạnh  
đương đại, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện. Tuy nhiên các công trình hầu như  
chưa có sự quan tâm thấu đáo đến chủ đề tính dục với tư cách là một phương tiện biểu hiện của  
quan niệm hiện sinh, hoặc nếu có thì chỉ mới nghiên cứu trong phạm vi một tác giả. Ở bài viết  
này, chúng tôi tập trung làm rõ tính dục trong thơ Việt Nam đương đại là một ám ảnh của nhiều  
nhà thơ, hơn nữa nó không đơn thuần là chuyện bản năng của con người mà còn phản chiếu một  
cái nhìn mang đậm dấu ấn hiện sinh.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Chủ nghĩa hiện sinh và chủ đề “tính dục hiện sinh”  
Thuyết hiện sinh được khởi nguồn từ Đức, sau du nhập vào Pháp và ảnh hưởng khắp châu  
Âu từ cuối thế kỉ XIX với các triết gia tiêu biểu như: Friedrich Nietzsche (1844-1900), Soren  
Kierkeggard (1813-1855), Martin Heidegger (1889-1976), Karl Jasper (1883-1969), Maurice  
Merleau-Ponty (1908-1961). Trào lưu này ảnh hưởng lớn và trực tiếp vào đời sống văn học,  
hình thành nên hai trường phái văn chương chủ đạo: phái hữu thần gồm hai nhà văn tiêu biểu:  
Gabriel Marcel và Jacques Maritain và đại diện cho phái vô thần có Jean-Paul Sartre, Albert  
Camus, Simone de Beauvoir… Dù theo vô thần hay hữu thần, chủ nghĩa hiện sinh luôn quan  
tâm đến thân phận con người như một nhân vị độc đáo, tự do bởi “con người không có một bản  
chất có sẵn, nó phải hiện sinh để tự làm nên mình, con người hiện sinh bằng tự do lựa chọn,  
trong lo âu. Đó là trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh hiện đại” [2, tr.220]. Chủ nghĩa hiện sinh  
không quan tâm đến những lẽ huyền vi mà quan tâm đến những vấn đề liên quan đến thân phận  
con người. Những câu hỏi được chủ nghĩa hiện sinh luôn đặt ra là con người là ai? Con người từ  
đâu đến? Đến thế giới này để làm gì? Con người được đặt trong một bối cảnh xã hội đầy phi lí,  
đầy mâu thuẫn trái ngược. Trước sự phi lí, các nhà hiện sinh cảm thấy nó bức bách không thể  
chịu đựng nổi, nó gợi cho họ cảm giác buồn nôn. Chính con người cũng không lí giải được sự  
có mặt của mình trên cuộc đời. Họ không tự quyết định được thân phận mình mà luôn lệ thuộc  
vào những yếu tố xung quanh như tha nhân, cái chết và thường sống trong tâm trạng lo âu, khắc  
khoải. Với quan niệm cuộc đời là hư hao, mỏng manh, hữu hạn nên họ luôn mang trong mình  
mặc cảm về nỗi cô đơn, luôn ưu tư và lo lắng về chính bản thân mình. Chủ nghĩa hiện sinh chỉ  
ra những giới hạn của cuộc sống của con người song cũng chỉ ra cho con người thấy rõ mục  
đích sống và cách thoát khỏi nỗi cô đơn bản thể như một nghiệp dĩ. Theo chủ nghĩa hiện sinh  
con người phải chấp nhận sự cô đơn như một tất yếu. Và để đời sống không trở nên tầm thường  
vô nghĩa, con người không ngừng phải nỗ lực vươn lên, nỗ lực bằng cách nổi loạn, dấn thân và  
hành động.  
Từ vấn đề nhân vị là cốt lõi, chủ nghĩa hiện sinh đã xuất hiện những phạm trù khác như cô  
đơn, buồn nôn, phi lí, tự do, dấn thân, nổi loạn và tính dục. Trong đó phạm trù tính dục đã có sự  
ảnh hưởng tác động đến sự đổi thay trong nhận thức tư duy của của con người về bản thể, về  
tình yêu. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Tính dục là nhu cầu tự nhiên của con người về quan  
hệ tính giao” [4, tr.996]. Vì con người hiện tồn bằng thân xác nên đề cao thân xác là một cách  
đề cao nhân vị. Thân xác con người cần được trân trọng bởi “Khả năng tính dục không còn  
chính là sự sụp đổ, hoang phế bản thể” [3, tr.87]. Được nhìn nhận như một yếu tố bền vững của  
con người trong mối quan hệ đối lập với sự thay đổi chóng mặt của những giá trị tinh thần, tính  
dục trở thành phương tiện, cách thức để con người trốn tránh thực tại phi lí. Trong rất nhiều  
biểu hiện của sự nổi loạn, con người tìm đến tình yêu như một cách để trút bỏ những ẩn ức tích  
tụ dồn nén, những chấn thương tinh thần bởi hoàn cảnh xã hội. Tìm đến tình yêu thân xác còn là  
để khám phá chính mình và khám phá những chiều kích vô cùng bí ẩn phức tạp nhưng cũng  
phong phú sâu sắc của nhân vị con người. Thông qua tính dục con người hiện đại bày tỏ sự cô  
đơn, hoang mang, âu lo trước cuộc đời, đồng thời, khẳng định được nhân vị, bản ngã trước sự  
bất an phi lý của cuộc đời. “Tính dục được xem là phương tiện để chuyển tải tình cảnh cô đơn  
92  
Bàn về chủ đề “tính dục hiện sinh” trong thơ Việt Nam đương đại  
bất lực cũng như nỗ lực níu giữ bản ngã đang dần bị tha hóa của con người hiện đại” [5, tr.89].  
Trong văn học, khát vọng nhục cảm hiện sinh “không dẫn dụ người đọc vào những thèm khát  
bản năng” [5] mà là sự chưng cất cho những khát vọng tinh khiết từ thực thể phần CON và  
phần NGƯỜI... của nhân loại. Trên cơ sở này, chúng ta có thể phủ nhận những quan niệm ấu trĩ  
và cực đoan của văn học Việt Nam trong thời kì dài thường quy kết, coi đó là vấn đề đồi trụy  
cần phải né tránh, từ đó, góp phần tiếp nối tâm thức “văn hóa phồn thực” trong mạch nguồn văn  
hóa Việt Nam.  
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện ở phương Tây nhanh chóng tìm được tiếng nói chung và ảnh  
hưởng trực tiếp đến đời sống con người ở các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. Đặc  
biệt từ sau năm 1986, khi đất nước có sự thay đổi kéo theo sự thay đổi về tư duy nhận thức và  
cảm quan thẩm mĩ của các nhà văn nhà thơ cũng như bạn đọc, tư tưởng hiện sinh nói chung, chủ  
đề “tính dục hiện sinh” nói riêng càng được thể hiện sâu sắc trong văn học.  
2.2. Tính dục trong thơ ca Việt Nam truyền thống  
Cùng với thời gian, quan niệm về tính dục đã có những bồi đắp trở nên phong phú. Từ  
trong văn học dân gian, tính dục trong tình yêu luôn gắn với những vẻ đẹp tinh tế, bóng gió.  
Tình yêu trong thơ ca trung đại gắn với quan niệm nho giáo phong kiến, kín cổng cao tường,  
không phô bày trực tiếp. Chủ đề tính dục bị cấm kị, khoác tấm áo của “khuôn vàng thước ngọc”  
bởi các lễ giáo hà khắc. Vì lẽ đó con người thường thể hiện tình yêu một cách kín đáo, dè dặt  
thiên về tinh thần hơn nói về thể xác. Đến thời kì thơ ca lãng mạn tình yêu thiên về những tình  
cảm, cảm xúc “hòa lẫn vào xác thịt đã làm tình yêu trở nên trần tục” (Đặng Cao Sừu).  
Trong thơ Mới, tình yêu mang màu sắc nhục cảm nhưng chỉ dừng lại trong sự khao khát  
tận hưởng của thế giới tinh thần. Chính Xuân Diệu trong bài thơ Vội vàng đã thể hiện: Hãy siết  
đôi đầu/Hãy kề đôi ngực/ Hãy trộn nhau đôi mái toc ngắn dài/Những cánh tay hãy quấn riết đôi  
vai/Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt/ Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt. Tình yêu trong  
thời kì thơ ca chống Pháp và chống Mỹ thiên về tình yêu lí tưởng hi sinh vì quyền lợi quốc gia  
dân tộc. Tính dục trong tình yêu thường bộc lộ kín đáo: Dấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay/  
Cô bé ngập ngừng sang nhà hàng xóm (Hương thầm - Phan Thị Thanh Nhàn). Con người thời  
kỳ này hi sinh đời sống hưởng thụ để tập trung tất cả cho cuộc chiến tranh thần thánh của dân  
tộc “Khi Tổ quốc cần… ta biết sống xa nhau”.  
2.3. Tính dục hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại  
2.3.1. Tính dục biểu hiện của cái tôi bản thể  
Sau năm 1975, với sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh, cách nhìn nhận của các nhà hiện  
sinh về vấn đề tính dục đã tạo nên một góc nhìn mới mẻ. Đặc biệt sau năm 1986, đất nước ta đã  
có sự thay đổi về hoàn cảnh lịch sử xã hội khiến cho nhận thức, tư duy và cảm quan thẩm mĩ  
của con người cũng thay đổi. Con người sau một chặng đường dài hi sinh vì sự sống còn của  
quốc gia dân tộc, giờ đây họ có thời gian nhìn nhận lại chính mình và đi sâu quan tâm cuộc sống  
đời tư của con người nhiều hơn thế sự. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, các nhà thơ Việt Nam  
đương đại đã tiếp nhận những luồng tư tưởng mới mẻ từ phương Tây trong đó có sự tái xuất của  
chủ nghĩa hiện sinh. Với cái nhìn hiện sinh, chủ đề tính dục mang những nét mới mẻ đầy nhân  
văn. Trên thi đàn Việt Nam đã xuất hiện hàng loạt những cây bút trẻ với tư tưởng có sự tiếp cận  
nhanh chóng sâu sắc chủ nghĩa hiện sinh từ phương Tây, khiến quan niệm về tình yêu của họ  
cũng thay đổi. Những tác phẩm được ra đời in dấu ấn đậm nét về tính dục đã gợi cho các nhà  
nghiên cứu một cách nhìn mới mẻ về chủ đề này “Sự hiện diện của sex trong văn chương một  
cách khá rõ rệt, mạnh bạo buộc chúng ta phải nhìn nhận nó như một hiện tượng văn hóa, xã hội,  
liên quan đến thị hiếu, tâm tính của con người đương đại” [dẫn theo 6]. Sự xuất hiện đông đảo  
gương mặt các nhà thơ đương đại đề cập vấn đề tính dục một cách công khai, thẳng thắn trên thi  
đàn đã được giới nghiên cứu đồng tình Nguyễn Hữu Hồng Minh cho rằng “đó là sự giải phóng  
93  
Đoàn Thị Hạnh  
bản ngã, sự xác lập giới tính của con người đương đại” [dẫn theo 6]. Cần phải nói rõ hơn, đó là  
biểu hiện của khát vọng sống mang tâm thức hiện sinh. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng nhấn  
mạnh “Tính dục không đơn thuần là chuyện sex mà rộng hơn, giải tỏa nhiều vùng bí ẩn, kì bí  
trong đời sống con người” [dẫn theo 6]. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vấn đề tính dục được  
quan tâm sâu sắc bởi đó là vấn đề của “tâm thức thời đại”, đó không chỉ là một đề tài hay cảm  
hứng, đó là nhu cầu nhân sinh, xã hội” [dẫn theo 6].  
Khi con người ý thức được mình là một nhân vị độc đáo, tự do thì họ càng muốn vượt thoát  
khỏi nỗi cô đơn ưu tư để khẳng định mình. Con người bất chấp mọi rào cản để khẳng định chiều  
sâu bí ẩn phức tạp của cái tôi bản thể. Thái Phan Vàng Anh nhấn mạnh “Dường như để là mình  
(theo kêu gọi Hãy là mình của Nietzsche), con người cần thành thật trước hết ở phương diện bản  
năng”. Điều này không chỉ được đề cập nhiều trong văn xuôi Việt Nam mà còn được thể hiện  
một cách sinh động trong thơ ca đương đại. Khi mới xuất hiện những bài thơ đề cập đến chủ đề  
tính dục một cách thẳng thắn dư luận bất bình, phê phán. Chẳng hạn bài thơ “Tan vỡ” của Dư  
Thị Hoàn có những câu như “Chúng mình sẽ thành chồng, vợ/ Nếu không có một lần như đêm  
nay/ Sau phút giây/ Êm đềm trên ghế đá/ Anh không cài lại khuy áo ngực cho em”. Tuy nhiên  
càng về sau thì dư luận, bạn đọc đã tiếp nhận nhiều và quen dần, chấp nhận sự đổi mới trong tư  
duy, quan niệm của các nhà thơ về vấn đề dục tính.  
Vi Thùy Linh được xem là thi sĩ ái quyền mà Nguyễn Huy Thiệp gọi là một “hiện tượng”  
trong nền thi ca đương đại Việt Nam. Với cách viết mạnh mẽ táo bạo, sử dụng từ ngữ đầy cá  
tính, thơ của Vi Thùy Linh với những “trận bạo động chữ” (Văn Giá), đã tạo nên một cái nhìn  
mới mẻ, thoát ra khỏi những khuôn phép chật hẹp hướng đến tình yêu thân xác. Nhà phê bình  
Nguyễn Trọng Bình gọi thơ Vi Thùy Linh là những “trận bạo động tình”, là một quan niệm tình  
yêu mới mẻ lành mạnh mang tâm thức hiện sinh đầy nhân bản nhân văn với những câu thơ diễn  
tả khát khao tình yêu cháy bỏng cuồng nhiệt:  
Hãy ghì chặt em, hãy hôn em, vượt qua khắc nghiệt  
Chỉ có đôi mắt anh, đôi mắt anh có lửa  
Chỉ có đôi mắt anh, đôi môi anh cháy ở môi em.  
(Ở lại - Vi Thùy Linh)  
Nhịp điệu bài thơ nhanh gấp, giọng điệu mời gọi với cảm xúc chân thực trào dâng. Người  
phụ nữ mong tìm đến tình yêu để khẳng định sự tồn tại sự hiện hữu của cái tôi bản thể. Tác giả  
Lệ Trinh cho rằng “chuyện của thân thể giới tính không gì khác là những tự thuật “tự thú” của  
con người về nhu cầu giải phóng, bày tỏ bản thể bản năng, khát vọng thành thực hay nhu cầu  
ham muốn của bản thân” [6]. Tình yêu như một ốc đảo để cái tôi ngự trị và trú ẩn để tự thấy  
được ý nghĩa đích thực của sự sống con người. Đây không đơn thuần là tình yêu lãng mạn đắm  
say mà vượt lên cảm xúc cuồng nhiệt là một tấm lòng khát sống khát được khẳng định sự hiện  
hữu của. mình. Đối với Vi Thùy Linh tình yêu với những điều tưởng như cấm kị lại trở thành  
niềm hạnh phúc cần được sẻ chia. Tình yêu trong quan niệm của các nhà thơ đương dại nói  
chung, Vi Thùy Linh nói riêng còn biểu hiện cho khát vọng dâng hiến và cảm nhận hạnh phúc  
đời thực “với quan niệm tiến bộ về tính dục, đi đến tận cùng của những xúc cảm yêu thương,  
các nhà văn nữ đã khẳng định niềm hạnh phúc của nữ giới” [8].  
Khỏa thân trong chăn  
Thèm chồng  
Thèm có chồng ở bên. Chỉ cần anh gối lên đùi.  
(Chân dung - Vi Thùy Linh)  
Nhìn từ bề mặt câu chữ có vẻ như đó là những cung bậc cảm xúc của nhục cảm. Đằng sau  
thái độ giống như cầu khẩn kia chính là sự giằng xé của cái tôi muốn nhìn thấy, muốn nắm bắt  
sự sống trần thế trong mỗi khoảnh khắc tồn tại.  
94  
Bàn về chủ đề “tính dục hiện sinh” trong thơ Việt Nam đương đại  
Biểu hiện đầu tiên của tính nhục cảm là khát khao giao cảm thân xác. Vi Thùy Linh là  
người muốn đập vỡ những rào cản, muốn nổi loạn thể hiện tuyên ngôn về tình yêu về nữ quyền  
trong bài Anh sẽ ru em ngủ: “Khu vườn vắng lại chỉ còn anh và em. Khởi đầu phản xạ thiêng  
liêng. Những cặp chân khóa chặt nhau khước từ chân lí.” Chính những câu từ trong Anh sẽ ru  
em ngủ thể hiện bản chất tình yêu mang vẻ đẹp sơ nguyên và nghệ thuật trong thơ là phương  
tiện thể hiện ái ân muôn đời mang giá trị nhân bản. Tác giả Vi Thùy Linh đã hướng ngòi bút  
khám phá tính dục dưới cái nhìn mang giá trị văn hóa khiến cho vấn đề tưởng như cấm kị trở  
nên rất cao quý thiêng liêng. Tình yêu đích thực không thể thiếu vắng ân ái. Đó là ân ái khởi  
nguồn từ những rung động, những xúc cảm dồn nén tích tụ bùng cháy “khước từ mọi chân lí”.  
Chính điều này khiến cho tình yêu dẫn con người đi vào cuộc tìm kiếm bất tận và cũng khiến  
con người không ngừng tự hoàn thiện mình. Tiếp nối nghệ thuật đố tục giảng thanh của Hồ  
Xuân Hương, Vi Thùy Linh thể hiện lối viết trần tục mà thi vị tạo nên thế mạnh sở trường riêng.  
“Màu cho búp hôn thụ phấn thân người”, câu thơ dùng từ ngữ giàu tính gợi hình làm toát lên  
vẻ đẹp của sức sống phồn thực, sự sinh tạo thiêng liêng mà tạo hóa ban cho con người. Tác giả  
thường đề cập khát khao về thân xác một cách táo bạo mãnh liệt không che giấu: Đại từ Anh  
viết hoa trở thành tiếng gọi quen thuộc trong thơ Vi Thùy Linh. Anh là đại từ vang lên kiêu hãnh  
đáng trân trọng trong thơ của Linh. Nhân vật Anh là hiện thân của tình yêu đem đến cuộc sống  
với những chiều kích vừa hiển lộ vừa vô hình bí ẩn: “Khi áp vào tai anh/ Em nghe thấy muôn  
tiếng sóng vỗ về miên man như áp con ốc biển/Khi em hôn trong toàn vẹn anh/ Em đã vén được  
bức màn bí ẩn về sự sống”.  
Tình yêu thân xác đã đưa con người trở về khám phá chính mình và dám sống như một  
nhân vị hiểu mình và hiểu cuộc sống ở bề sâu với những nỗi niềm trắc ẩn. Như vậy sự đòi hỏi  
bạo liệt riết ráo trong tình yêu là biểu hiện cho niềm “khát” được sống, được thoát ra khỏi cảm  
giác âu lo và cô đơn, bế tắc trong những suy nghĩ mông lung về sự hữu hạn của kiếp người. Sự  
ồn ào bạo liệt cháy bỏng trong tình yêu thân xác phải chăng là biểu hiện cho nguồn năng lượng  
sống mang tính phồn thực của con người trong đời sống thực tại. Tìm đến tình yêu là đi tìm ý  
nghĩa đích thực của cuộc sống. Bởi chủ nghĩa hiện sinh quan niệm nói đến tình yêu là nói đến  
tính nam tính nữ. Con người tìm đến tình yêu là để khẳng định giói tính và biểu hiện tình yêu  
con người, tình yêu cuộc sống. Có phải vì thế nên Vi Thùy Linh biểu đạt nỗi khát thèm yêu và  
được yêu một cách đầy bản năng trong bài thơ Nơi ánh sáng: Anh hạ trời xuống Anh nâng đất  
lên/ Anh bừng vỡ thanh xuân cuồng điên/ Trên lưng Anh bơi mải miết/ ngón ngón em dài trắng/  
Môi em tròn đêm căng/ Duỗi chân dài em nối những ranh giới, những núi đồi, sông biển, nhịp  
nhịp qua cầu đùi muốt” (Nơi ánh sáng- Vi Thùy Linh). Có thể thấy, trong thơ của Vi Thùy  
Linh, tình yêu nhục cảm phải tồn tại trong con người toàn vẹn, thiêng liêng và lành mạnh. Diễn  
tả nỗi khát khao, nỗi thèm chồng chỉ là một cách bày tỏ khát khao khi người phụ nữ cần có tình  
yêu, cần được khẳng định sự hiện hữu trung thực của chính mình như một nhân vị tự do, độc  
đáo. Tìm đến tính dục là để sống trọn vẹn con người mình trong mọi chiều kích của thời gian,  
không gian. Xuân Quỳnh cũng từng viết “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”. Con  
người tìm đến tình yêu là để tìm thấy chính mình. Tìm đến tình yêu để hiểu được những âm  
vang trong đời sống nội tâm với mọi biến thái phong phú phức tạp. Phải chăng vì cuộc đời là  
chuỗi dài những âu lo, những bấp bênh do vậy họ mong tìm tình yêu đời thực, để tìm được niềm  
tin, chỗ dựa cho cuộc sống luôn chênh vênh. Tính dục được xem là bến đỗ để con người khám  
phá bản thể “Các cây bút nữ từ chỗ tìm cách “xé rào” để viết về tính dục, dần dần biến nó trở  
thành đề tài tiêu biểu để thể hiện cách nhìn về con người và giới nữ. Thực tế ấy đã khiến người  
ta dễ dàng nhận ra có sự trỗi dậy của đề tài về tính dục nữ trong văn học đương đại như là cách  
để khám phá bản thể con người” [8]. Khát khao nhục cảm được Vi Thùy Linh diễn tả không chỉ  
mãnh liệt mà còn đến quằn quại pha lẫn nỗi đau dồn nén từ tinh thần khát sống: Một đêm căng  
tròn muốn vỡ/ Phát điên, nhớ cái hôn phát điên/ Tiếng nói mê (từ - những – ngày - thủy – triều  
–dâng)/ Kéo ngã mấy sợi tóc bạc (Chân dung -Vi Thùy Linh). Đề cập đến vấn đề từ lâu bị né  
95  
Đoàn Thị Hạnh  
tránh, cấm kị Vi Thùy Linh đã thể hiện xúc cảm “chân thành gần như là tuyệt đối và hiếm có”  
[dẫn theo 9]. Sự cuồng nhiệt, chân thành thể hiện trong bài Yêu anh - 19 tuổi của Vi Thùy Linh:  
Đôi ta khỏa thân chiều nắng, dập dềnh sóng cỏ lau xây xước/ Phiến môi dính cỏ/ Và mắt chứa  
chan buồn... Tính dục trong thơ Vi Thùy Linh không sa vào thái quá bởi tác giả có điểm tựa đó  
là nội lực bên trong dám dấn thân, nổi loạn, sáng tạo. Tính dục dù muôn hình vẻ nhưng luôn  
hướng về vẻ đẹp của tính nữ khi tác giả nghĩ về thiên chức làm mẹ. Qua tình yêu người phụ nữ  
thấy rõ hơn thiên chức làm người khi họ hoàn thành sứ mệnh làm mẹ và sinh cho đời những đứa  
con: “Tôi vẫn tin/ Không có gì đẹp bằng con người/ Khi tình yêu giúp họ vượt qua mọi sự ngăn  
trở./ Tôi mãi run rẩy tôn vinh, ngợi ca vẻ đẹp của thân thể khi thoát khỏi sự áp đặt của mẫu  
mới, xuất hiện nguyên khối”. Hay trong bài Thế giới hiện hữu, tình yêu được tôn vinh, được  
thiêng liêng hóa vì nó tạo thành con người. “Không gì kì diệu bằng việc tạo thành CON  
NGƯỜI./ Cuộc sống được bắt đầu bằng sự phôi thai những đứa trẻ.”  
Theo quan niệm của Vi Thùy Linh nhục cảm gắn với sứ mệnh cao quý mang ý thức sâu sắc  
về thiên tính nữ. đó là sinh ra những con người: Em tin ở ngày mai của đôi ta/ Khi đôi mắt Anh  
nhìn thấy trong mắt em những đứa bé chờ/ dược sinh ra và hoan hỉ gọi (Đôi mắt Anh). Chính  
điều này cho thấy giá trị nhân bản của vấn đề nhục cảm. Đó là những suy ngẫm và phát hiện,  
khẳng định đầy mới mẻ và sự chiêm nghiệm sâu sắc của Vi Thùy Linh.  
2.3.2. Tính dục biểu hiện của niềm khát khao cuộc sống  
Thơ về tình yêu của Vi Thùy Linh bao giờ cũng mạnh mẽ tràn trề nhựa sống “Em vùi em  
trong anh/. Nảy mầm chưa từng có/ Ảo thuật gia trong món trứng mặt trời”. Từ sự gắn trộn tình  
yêu thể xác Vi Thùy Linh vẫn thấy trong Nhật thực một tình yêu “không bao giờ thỏa”, “Cắn  
gập cuống chiều/ Bốn bề gió thốc/ Nắng đen mặt người/ Đất như ngừng thở/ Khóc cười mệnh  
bạc/ Em vẫn tìm anh”. Vi Thùy Linh biểu hiện niềm khát yêu khát “sống” ngay tựa đề tập thơ  
Khát. Khao khát tìm đến tình yêu trần thế viên mãn đến “Cắn gập cuống chiều”, một tình yêu  
chế ngự thời gian, không gian. Đó là một tình yêu thiên về chiếm hữu trong mọi chiều kích để  
thỏa nỗi khát khao gắn kết hòa trộn thể xác để hướng đến khẳng định sự hiện tồn của cái tôi cá  
thể. Tình yêu trong thơ Vi Thùy Linh không che giấu, tác giả dám phô bày mọi cung bậc trạng  
thái cảm xúc của người phụ nữ khi yêu gắn với cảm nhận về vẻ đẹp thể xác. Có khi tác giả tự  
họa thân thể mình trong cảm xúc tình yêu và trong khát khao dục tính trào dâng mạnh mẽ: Cơ  
căng tia mặt trời/ Ngước mắt nhận nguồn sinh khí/Nhịp nhàng muốt song/ Soi thần thái từng  
mili hình vóc…/…Này đứng lên/ Vươn tay dan tay/ Như một cây vĩ cầm/ Đêm Nude/ Vili violin  
trắng… (Vi Thùy Linh). Vẻ đẹp cơ thể người phụ nữ được nhìn với cái nhìn tôn vinh một sức  
sống rạo rực đầy men say thấm quyện trong sự soi chiếu của thiên nhiên vũ trụ để trở nên đẹp,  
khỏe khoắn lành mạnh. Tình yêu qua thơ Vi Thùy Linh mang một nguồn sinh khí mạnh mẽ  
như vượt ra khỏi mọi trói buộc về tinh thần con người để khẳng định sự tồn tại của một nhân  
vị có ý thức sâu xa về giá trị con người và sự sống. Tình yêu trong quan niệm của Vi Thùy  
Linh gắn với sự hoàn thiện bản thể, là bản thể trung thực được sống đúng với những nguồn  
cảm xúc chân thực của bản thân: “Những ngôi sao tung vạn tinh thể ướt sáng/Bọc anh và em  
thành một bản thể”.  
Cùng với Vi Thùy Linh, thơ Phạm Thị Ngọc Liên đầy những cảm xúc mạnh mẽ về khát  
vọng tình yêu thân xác trong Khỏa thân tím: Lặn ngụp trong thơ/Tắm gội mối tình mình/ Hùng  
hục trong tôi/ Cháy bỏng ngôn từ/ Không hề giấu mặt/ Phải trả nỗi đau bằng tiếng thét. Cách  
vận dụng mọi cử chỉ động tác thông qua hệ thống từ loại động từ đã tái hiện cảm xúc mãnh liệt,  
trần tục nhưng cũng đảm bảo sự tính tế trong lời thơ của tác giả về tình yêu thân xác. Đằng sau  
sự mạnh mẽ bộc bạch tâm can vì tình yêu trong đời thực và trong thơ chính là tiếng thét cuồng  
điên vì nỗi đau trước cuộc đời đầy trắc trở đầy âu lo, bất an. Đó không chỉ là tính dục mà đó là  
dòng suy tư trăn trở đến nỗi đau của bản thể người khi tìm đến cứu cánh để vượt thoát cô đơn  
đó là tinh yêu. Người phụ nữ muốn thông qua việc khẳng định tình yêu, tính dục là để được ôm  
96  
Bàn về chủ đề “tính dục hiện sinh” trong thơ Việt Nam đương đại  
trọn cuộc đời rộng lớn như Đoàn Thị Lam Luyến từng viết trong bài Gửi Tình yêu “Ta muốn  
ôm cả đất / Ta muốn ôm cả trời/ Mà sao không yêu trọn /Trái tim một con người?”. Sự thừa  
nhận không chế ngự được trái tim của con người trong tình yêu cho thấy khát vọng chiếm lĩnh  
tình yêu, tính dục chính là khát vọng chiếm lĩnh cuộc sống rộng lớn mà hư hao mong manh,  
luôn biến đổi… Khát khao hóa thân trong tình yếu, tính dục là khát khao được sống, được bất tử  
hóa “Ta đã hòa lẫn trong chàng/ Vĩnh cửu trên cái chết” (Phạm Thị Ngọc Liên).  
2.3.3. Tính dục biểu hiện của sự ẩn ức, chấn thương tinh thần  
Với những khát khao cháy bỏng thể hiện ý thức về quyền sống của người phụ nữ trong  
Đêm là của chúng mình tác giả Ly Hoàng Ly thể hiện: “Đêm là của chúng mình/Sao nỡ ngủ hở  
anh”. Câu hỏi xoáy vào quan niệm cần tranh thủ thời gian để được tận hưởng tình yêu tạo hóa  
đã ban cho anh và em. Có tâm trạng lo âu, vội vàng tiếc nuối ấy phải chăng là bởi nhân vật trữ  
tình cảm nhận thấm thía cuộc đời luôn vận động, chảy trôi và kết thúc. Tác giả Ly Hoàng Ly  
dừng lại cảm nhận vẻ đẹp thân xác một cách tự nhiên, chân thành:  
Chầm chậm, mở một chiếc nút áo  
Soi vào gương chầm chậm, mở hai chiếc nút áo  
Soi vào gương chầm chậm, mở hai chiếc nút áo (…)  
Mở mãi, muốn mở mãi/ Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm  
Mở mãi, muốn mở mãi/Bầu ngực này căng đêm  
Soi vào gương  
Bất lực và khóc  
Trong vô vàn những giọt nước mắt  
Một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng”  
(Mở nút đêm - Ly Hoàng Ly)  
Nhịp điệu bài thơ chậm như lời trò chuyện hàng ngày. Ý thơ không chỉ dừng lại cảm xúc  
về thân xác mà còn hướng đến những ẩn ức giằng xé trong đáy long nhân vật trữ tình khi đặt  
từng cử chỉ động tác của thân xác người phụ nữ với vẻ đẹp phồn thực bên cạnh tiếng khóc đày  
bất lực không che giấu nỗi buồn nỗi lo âu suy tư về sự hư hao mỏng mảnh của kiếp người. “Núp  
sau con người tính dục có khi là những bất hạnh thể xác, những chấn thương tinh thần, những  
ám ảnh vô thức hay những nỗi đau thân phận” (Thái Phan Vàng Anh). Các tác giả nói chuyện  
thân xác nhưng cũng là để hướng đến nhu cầu tìm kiếm đời sống tinh thần, tìm kiếm những giá  
trị sống đích thực. Đặng Cao Sừu nhận xét tình yêu nhục cảm “được quan niệm như một nhu  
cầu tinh thần, một giá trị sống của con người bản thể”. Tính nhục cảm không làm tầm thường,  
không dẫn dắt người đọc vào thế giới bản năng mà đầy chất người. Tính nhục cảm thân xác hòa  
quyện với những khát vọng mang tính bản thể của con người khi nó trở thành nguồn năng lượng  
sống bền lâu cho con người. Khi con người mệt mỏi kiệt sức vì những sóng gió va đập bên  
ngoài cuộc sống mưu sinh chỉ có tình yêu mới là bến đỗ và là nguồn sống vực con người đứng  
dậy như một lực đỡ dìu. Vì vậy Ly Hoàng Ly cho rằng, nếu một ngày con người không còn  
niềm vui trong tình yêu tình người thì cuộc sống của con người cũng trở nên vô vị, vô nghĩa.  
Tình yêu còn là nguồn động lực sống để con người tìm kiếm những đam mê, nỗ lực cống hiến  
trong đời thực. Trong bài thơ Nhớ tác giả Đinh Thị Thu Vân viết: “Vai anh rộng để em thèm bé  
nhỏ/Mơ một ngày yên ngủ giữa vòng tay/ Một ngày thôi lơi lỏng áo quên cài”. Mơ ước một  
ngày hay là khao khát kiếm tìm cả cuộc đời con người là được sống trong tình yêu chân thực,  
được thả hồn phiêu diêu trong cảm giác hạnh phúc đời thực để vợi đi nỗi cô đơn lẻ loi. Bày tỏ  
tình yêu mãnh liệt với người mình yêu cũng là một biểu hiện sống hết mình trong mối liên hệ  
gắn bó với tha nhân để tránh rơi vào tình trạng cô đơn, lẻ loi và bị vong thân. Hiểu theo nghĩa  
đó thì sự đòi hỏi một tình yêu cuồng nhiệt đắm say trong các tác giả thơ trẻ là điều đáng được  
97  
Đoàn Thị Hạnh  
trân trọng. Với cách diễn đạt có phần mạnh bạo, có vẻ lạ lẫm tân kỳ thực chất là một tầng vỉa ẩn  
ngầm trong đó chính là khát khao sống mạnh mẽ dâng trào của con người hiện sinh.  
Con người trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển càng chịu nhiều áp lực về đời sống  
vật chất và tinh thần. Có khi con người cảm thấy mình cô đơn ngay cả khi đang sống cạnh đồng  
loại. Tìm đến tình yêu để bứt phá khỏi những ẩn ức tổn thương về thể xác lẫn tinh thần. Đó  
cũng là con đường để con người thấu hiểu hơn về giá trị của cuộc sống. Khi Phạm Thị Ngọc  
Liên cất lên những xúc cảm mạnh mẽ trong tình yêu, để bộc lộ quan niệm về tình yêu mang  
nặng tư tưởng nữ quyền: “Lặn ngụp trong thơ/ Tắm gội mối tình mình/ Hừng hực trong tôi/Cháy  
bỏng ngôn từ/ Không hề giấu mặt/ Phải trả nỗi đau bằng tiếng thét” (Khỏa thân tím - Phạm Thị  
Ngọc Liên). Nhân vật trữ tình khát khao được hòa trộn gắn kết trong tình yêu trần thế cuồng  
nhiệt. Câu thơ cuối giúp người đọc nhận ra đằng sau thái độ vồ vập khát khao hòa quyện chiếm  
hữu là nỗi đau, là ẩn ức muốn nổi loạn gào thét để vợi bớt nỗi cô đơn. Cái màu sắc nhục cảm  
trong tình yêu không chỉ dừng lại ở khát khao thỏa mãn bản năng mà thực ra là muốn hướng  
đến lý giải và giải thoát khỏi sự tù túng vô nghĩa của cuộc sống không có sinh khí không có  
nhựa sống. Đằng sau nỗi khát khao cháy bỏng đến cuồng si, tham lam kia chính là biểu hiện cho  
những ẩn ức đầy bất lực trước cuộc sông mà con người bị giới hạn bởi cuộc đời ngắn ngủi .  
Người đọc bắt gặp trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên hình ảnh một người phụ nữ tôn thờ một tình  
yêu mãnh liệt cuồng say: …Cháy bỏng những khát khao lặng im/ tôi tìm thấy tôi một nửa/ yêu  
tôi như chưa bao giờ/ Tôi dâng tặng linh hồn tôi/nửa khát khao còn lại/ và nửa trăng mệt mỏi  
cúi đầu. Người phụ nữ dâng tặng thể xác linh hồn cho tình yêu, một nửa còn lại với những hao  
khuyết những gập ghềnh, những nỗi cô đơn cô độc trong tình yêu thì người phụ nữ cúi đầu chấp  
nhận nhẫn nhịn nhưng cao thượng, bao dung và đầy hy sinh. Tác giả Phan Huyền Thư miêu tả  
một cách đầy táo bạo về vẻ đẹp thân xác người phụ nữ trong cảm xúc tính dục vừa chân thật,  
mãnh liệt nhưng vẫn giữ được sự chừng mực đáng yêu: “Em thèm miết ngón tay/ Không vị mặn  
của anh/ Mắt/ Môi/ Lưỡi/Răng/ Nha phiến/ Anh ở đâu sót lại trong vết xước/ Em cào ngực rách  
ra những vì sao” (Điệp khúc mùa đông - Phan Huyền Thư). Ý thơ bộc lộ cảm xúc tuôn trào  
trước tình yêu thân xác. Có sự hòa hợp giữa động tác cào xé mạnh bạo đến điên cuồng lại là sự  
xuất hiện những ngôi sao. Đây là một biểu hiện cho sự cách tân trong thơ ca đương đại. Người  
đọc đồng sáng tạo với tác giả khi hiểu rằng những khát khao dâng hiến như mang theo cả nỗi  
đau bản thể con người. Và từ niềm đam mê dâng hiến con người khao khát hướng đến ánh sáng  
của tình yêu hạnh phúc đích thực cũng rực rỡ như những ngôi sao. Nhân vật anh, nhân vật em  
trở thành điểm tựa để con người hướng đến khát vọng cuộc sống đời thường đích thực. Đó là  
biểu hiện của cuộc sống hiện sinh mà con người luôn tìm kiếm, theo đuổi chứ không đơn thuần  
là vấn đề của tính dục bản năng. Chính tác giả Phan Huyền Thư cũng đã tái hiện bằng tất cả  
niềm say mê vẻ đẹp ái ân qua những vần thơ tự nhiên, tự tin trong bài Van nài: Tay em /Lúc  
quấn quýt thành giường/ Lúc mỏi mòn ngậm miệng/ Anh biết không/ Em vẫn chia tay/ Thế kỉ  
sau/ Biết đâu có một ngày.../”. Người phụ nữ trong thơ Phan Huyền Thư chủ động bày tỏ khát  
khao tính dục “Truất yêu đương - phế ghen tuông - giáng thù hận/tôi nhường tôi cho anh” (Tự  
nguyện - Phan Huyền Thư). Khát khao bày tỏ cảm nhận tình yêu thân xác có khi trở nên vội  
vàng giục giã “ Ngủ vùi trong anh/ Nhịp tim còn lảnh lót/ đòi gỡ/ Đòi buộc/ Đòi tỉnh dậy. Đòi /  
do dự/ miên man” (Do dự - Phan Huyền Thư). Không né tránh việc tái hiện những cung bậc,  
những khát khao hạnh phúc trần thế, Vi Thùy Linh cho người đọc thấy phần bản năng mang đầy  
tính nữ trong bài Vũ trụ trong tay: Ngón tay đón mạch máu ở gáy/ Anh, mồ hôi dọc lưng anh/  
Eo nàng đồng hồ cát tuôn chậm/Hôm nay/Ngày – đêm 32 giờ/Thân thể nàng là vĩ cầm đang  
đợi/(...)/...Cây cầu tay quàng cổ anh/Mắt rừng rực bão bùng nguyên thủy/Cuồng lưu tìm đáy  
thẳm giữ dịu dàng tụ lại...” (Vũ trụ trong tay - Vi Thùy Linh). Cùng viết về chủ đề “tính dục”  
tác giả Đoàn Thị Lam Luyến cũng bày tỏ khát khao thân xác một cách thành thật, không lảng  
tránh: Trái tim em kiêu hãnh trước bao người/ Bỗng run rẩy bên anh ròi vỡ ra giọt lệ/ Bay mất  
áo tàng hình lại nguyên là đôi trẻ/ Trong ngỡ ngàng hai đứa hôn nhau” (Hai người cô đơn -  
98  
Bàn về chủ đề “tính dục hiện sinh” trong thơ Việt Nam đương đại  
Đoàn Thị Lam Luyến). Hạnh phúc đi cùng sự dâng hiến nhưng cũng chính trong sự hòa nhập  
thân xác con người nhận ra nỗi cô đơn đến tột cùng. Hạnh phúc và khổ đau luôn đeo đẳng con  
người. Càng dấn thân để vượt thoát nỗi cô đơn con người càng bị bủa vây bởi những nỗi cô đơn  
vô hình. Được mệnh danh là “thi sĩ ái quyền” Vi Thùy Linh tôn thờ tình yêu thân xác và gửi  
vào đó khát vọng yêu, khát vọng sống. Tác giả tự nhận mình là nô lệ của tình yêu “Hiến dâng  
trong hạnh phúc tuyệt đỉnh của nô lệ tình yêu không muốn được giải phóng (Thánh giá - Vi Thỳ  
Linh). Đi ngược lạ với khát vọng được giải phóng mọi ràng buộc của lễ giáo, Vi Thùy Linh  
muốn được trói buộc toàn vẹn con người mình trong tình yêu thân xác. Điều này cũng xuất hiện  
trong thơ Phạm Thị Ngọc Liên “Tôi khỏa thân tôi bằng tình yêu rực lửa/” (Khỏa thân - Phạm  
Thị Ngọc Liên).  
Tái hiện phô bày lên trang thơ những cung bậc cảm xúc, những vận động, cử chỉ thân xác  
của người phụ nữ trong tính giao là điều mới mẻ đòi hỏi một cái nhìn rộng mở và nâng niu trân  
trọng đời sống thân xác ở con người có tính văn hóa, nhân văn. Tính dục là chủ đề gắn với đời  
sống thực tiễn mang tính hiện sinh. Qua tác phẩm các tác giả thơ Việt Nam đương đại đã góp  
phần tôn vinh vẻ đẹp thân xác của con người. Đồng thời góp phần định hướng cho người đọc  
biết nâng niu trân trọng vẻ đẹp bản thể của con người. Đằng sau sự nổi loạn bạo liệt của các  
nhà thơ dám bày tỏ thẳng thắn quan niệm mới về tính dục cũng cho thấy sự dấn thân để vượt  
thoát những ẩn ức, những chấn thương tinh thần của con người sau một thời kỳ dài đắm chìm  
trong chiến tranh, đau thương, mất mát. Chúng tôi cho rằng đây là một chủ đề không thể thiếu  
và cần được nỗ lực quan tâm tôn vinh đồng thời giữ được chừng mực của con người trong quan  
niệm thân xác cả trong đời thực và thơ ca. Qua tác phẩm của các nhà thơ nữ đương đại Việt  
Nam đã giúp người đọc mở rộng tầm đón nhận về một góc nhìn mới mang tâm thức hiện sinh  
về chủ đề “Tính dục”. Không chỉ đơn thuần là vấn đề bản năng với cái nhìn trần tục, các tác giả  
cho chúng ta thấy đằng sau vấn đề dục tính là vấn đề con người. Con người trong mảng đời tư  
thế sự được quan tâm đến những điều sâu kín của bản thể luôn muốn vươn lên để khẳng định  
nhân vị. Và tìm đến vẻ đẹp tình yêu thân xác là một biểu hiện mang tính nhân bản nhân văn.  
Bên cạnh những thành tựu trong đổi mới tư duy và cảm quan thẩm mĩ về chủ đề Tính dục  
trong thơ Việt Nam đương đại cũng cần chỉ ra những hạn chế. Viết về chủ đề tính dục là một  
thử thách với người nghệ sĩ, điều đó đòi hỏi ở người nghệ sĩ bản lĩnh về ranh giới giữa sự thẳng  
thắn, đổi mới, cách tân, sáng tạo và sự thái quá, thô thiển và trần trụi. Cái hay cần phải mới  
nhưng không hẳn cái gì mới đã hay. Do vậy chúng tôi nghĩ rằng để thể hiện chủ đề tính dục của  
chủ nghĩa hiện sinh đòi hỏi người nghệ sĩ không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây  
nhưng đảm bảo tính văn hóa, thuần phong mĩ tục của dân tộc đề tác động, khai mở nhận thức và  
tình cảm nhân văn ở người tiếp nhận văn bản thơ ca về chủ đề vốn đã từng bị cấm kị, né tránh.  
3. Kết luận  
Các Mác từng nói: “Không có cái gì thuộc về con người mà xa lạ với tôi”. Tình yêu mang  
khát khao nhục cảm vừa là sự tiếp nối nét văn hóa phồn thực trong cội nguồn văn hóa dân tộc,  
vừa là “biểu hiện sự thức tỉnh của con người cá nhân” [Đặng Cao Sừu], khẳng định ý thức về  
cái tôi bản thể hướng đến việc giúp con người tìm cách giải thoát nỗi cô đơn. Từ chủ đề “tính  
dục”của chủ nghĩa hiện sinh cho thấy, cùng với sự thay đổi của thời đại, vấn đề tính dục cũng có  
sự thay đổi trong nhận thức tư tưởng tình cảm của con người. Nhưng dù ở thời đại nào vấn đề  
tính dục cũng cần được phân biệt ranh giới với bản năng. Tính dục cho thấy bản ngã, bản lĩnh,  
sự nhận thức và văn hóa của con người. Thực tế cuộc sống còn nhiều điều phi lí khi con người  
vẫn còn phải đối mặt với khổ đau bi kịch do sự nhận thức thiếu đúng đắn về vấn đề tính dục đặc  
biệt là ở thế hệ trẻ. Tình yêu, tính dục là đề tài muôn thưở của con người trong cuộc sống và  
chính các nhà thơ đương đại đã cho thấy rõ hơn tầm quan trọng của tính dục. Tính dục có thể  
chữa lành chấn thương ẩn ức về tinh thần, giúp con người khẳng định nhân vị, vượt thoát nỗi cô  
99  
Đoàn Thị Hạnh  
đơn đồng thời có vai trò duy trì nòi giống vô cùng thiêng liêng song nó cũng cho thấy phần thấp  
hèn ấu trĩ của con người. Như vậy, tính dục là chủ đề có tính nhân bản muôn thuở của con  
người, song với truyền thống văn hóa Á Đông, sự ảnh hưởng của Nho giáo, vấn đề tính dục  
được coi là vấn đề nhạy cảm, tránh hoặc ít được đề cập trực tiếp trong thơ ca. Phải đến sau năm  
1986 đến nay, ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây tạo những luồng gió mới thổi vào  
thơ ca Việt Nam đương đại, đặc biệt với các nhà thơ nữ, đã thổi bùng những khát khao tính dục  
thường tình của phụ nữ, vốn bị che giấu, khuất lấp đã từ lâu với quan niệm: thành thực với  
mình, với mọi người cả ở những vấn đề vốn được coi là nhạy cảm trong cuộc sống.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hồ Tiểu Ngọc, 2019. Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1986-2016.  
Tạp chí khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội Nhân văn, Tập 128/ số 6C, Tr. 5-18.  
[2] Phạm Văn Sĩ, 1986. Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại. Nxb Đại học và Trung  
học chuyên nghiệp.  
[3] Nguyễn Thái Hoàng, 2016. Dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam  
đương đại. Luận án Tiến sĩ văn học, Học viện Khoa học xã hội.  
[4] Từ điển Tiếng Việt, 2006. Trung tâm từ điển học. Nxb Đà Nẵng.  
[5] Trần Hoài Anh, 2015. Khuynh hướng hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kì đổi mới.  
Tạp chí sông Hương, số 320 tr. 10-15.  
[6] Lệ Trinh- https://taodan.com.vn, sex- trong –van- hoc- duong –dai, Truy cập ngày 30-7-  
2021.  
[7] Nguyễn Thanh Tâm, Công chúng với vấn đề tính dục trong văn chương,  
[8] Nguyễn Thị Ngân, 2019. Đề tài trong tiểu thuyết các nhà văn nữ Việt Nam đương đại từ  
góc nhìn giới. Tạp chí khoa học Đại học Huế, Khoa học xã hội Nhân văn, Tập 128-Số 6A,  
tr. 17-28.  
ABSTRACT  
A study on sexuality of existentialism in some contemporary Vietnamese poetries  
Doan Thi Hanh  
Gifted High school of Vinh University  
Attractiveness in the physical beauty in order to clarify the humanity in love is one of great  
contribution of contemporary Vietnamese poets. According to existentialist ideology, human is  
born without deciding their own fate. They always feel anxious about the fragmentary loss of  
human life that makes them always feel lonely. But they also accept their loneliness and rise up  
to live and affirm their own individuality. And sexuality is one of the key themes of  
existentialism people to find the meaning of life and overcome the kama of loneliness. The  
contemporary Vietnamese poetry since 1986 has been greatly influenced the existentialism from  
the West and has been shared a new look at the theme of "sexuality". The article mentions the  
remarkable contributions of contemporary Vietnamese poets to the renewal of poetry, give  
readers a new conception and awareness of the theme of "sexuality" which is prohibited and  
avoided mention to both in real life and in literature.  
Keywords: Existentialism, sexuality, contemporary Vietnamese poetry.  
100  
pdf 10 trang baolam 23220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bàn về chủ đề “tính dục hiện sinh” trong thơ Việt Nam đương đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfban_ve_chu_de_tinh_duc_hien_sinh_trong_tho_viet_nam_duong_da.pdf