Luận văn Trả lương cho lao động gián tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn

I
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung của luận văn này là kết quả nghiên  
cứu của riêng tôi và chƣa từng xuất hiện hoặc công bố trong bất cứ một  
chƣơng trình đào tạo cấp bằng hoặc công trình nào khác. Các số liệu, nội  
dung đƣợc trình bày trong luận văn này là hoàn toàn hợp lệ và đảm bảo tuân  
thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.  
Tác giả  
Lê Thị Minh Huệ  
II  
MỤC LỤC  
III  
IV  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
STT  
KÝ HIỆU  
Ý NGHĨA  
1
CBCNV  
BKS  
Cán bộ công nhân viên  
2
3
Ban kiểm soát  
BQLDABS II  
DN  
Ban quản lý dự án Bút Sơn II  
Doanh nghiệp  
4
ĐGTHCV  
N-ĐB  
Đánh giá thực hiện công việc  
Nghiền Đóng bao  
5
6
7
NLĐ  
Ngƣời lao động  
8
NSDLĐ  
NSLĐ  
Ngƣời sử dụng lao động  
Năng suất lao động  
Sản xuất kinh doanh  
Tự động hóa  
9
10  
11  
SXKD  
TĐH  
12 TNHH  
13 TL  
Trách nhiệm hữu hạn  
Tiền lƣơng  
14 TLBQ  
15 XNKT Mỏ  
16 XNVLXD  
Tiền lƣơng bình quân  
Xí nghiệp Khai thác Mỏ  
Xí nghiệp Vật liệu xây dựng  
V
DANH MỤC BẢNG  
1
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế - xã hội, đặc biệt trƣớc công  
cuộc đổi mới nền kinh tế cùng với sự hội nhập kinh tế trong khu vực và kinh tế  
thế giới, tiền lƣơng luôn là vấn đề nóng bỏng và đƣợc mọi ngƣời quan tâm. Bởi  
vì tiền lƣơng đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngƣời lao động,  
chủ sử dụng lao động mà còn với Nhà nƣớc. Đối với ngƣời lao động, nó chính  
là nguồn sống, là động lực chính để ngƣời lao động tham gia vào các quan hệ  
lao động. Đối với chủ sử dụng lao động, nó lại là một chi phí đầu vào của quá  
trình sản xuất, chiếm một tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất kinh doanh của  
đơn vị mình. Với nhà nƣớc thì tiền lƣơng là một công cụ vĩ mô để quản lý kinh  
tế xã hội. Vì vậy, tiền lƣơng là một vấn đề hết sức nhạy cảm mà nếu không  
đƣợc giải quyết tốt sẽ gây ra những hậu quả khó lƣờng. Do đó, việc nghiên  
cứu, đƣa ra ôn là cần thiết, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của mỗi  
nhà quản lý.  
Đối với doanh nghiệp nhà nƣớc việc trả lƣơng phù hợp, công bằng, tạo  
động lực cho ngƣời lao động, tiền lƣơng chịu sự quản lý của nhà nƣớc nhƣng  
không tách rời khỏi mối quan hệ phân phối lợi ích giữa ba bên nhà nƣớc, doanh  
nghiệp và ngƣời lao động. Vì vậy, doanh nghiệp nhà nƣớc phát triển thì cần  
phải có những phƣơng thức quản lý về tiền lƣơng phù hợp, hoàn thiện để vừa  
đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và tạo động lực, nâng cao năng suất lao động.  
Công tác trả lƣơng là một trong những vấn đề quan trọng trong việc quản lý  
tiền lƣơng của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có phƣơng án trả lƣơng tốt  
không những giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, góp phần tạo động lực cho  
ngƣời lao động mà còn làm tăng năng suất và hiệu quả công việc, giúp doanh  
nghiệp đạt đƣợc hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh. Ngƣợc lại, nếu trả  
 
2
lƣơng không phù hợp sẽ không kích thích đƣợc ngƣời lao động, làm ảnh  
hƣởng đến tình hình sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp.  
Công ty Cổ phần xi măng Vicem đang đứng vững trên thị trƣờng là  
một trong những Công ty hàng đầu tại Việt Nam về xi măng, mỗi năm cho ra  
đời khoảng 3 triệu tấn xi măng với thƣơng hiệu “Thách thức với thời gian”.  
Trong quản lý lao động của công ty với phƣơng trâm “Coi nhân viên là một  
nguồn tài nguyên” cần đƣợc khai thác và sử dụng hiệu quả. Công ty đã có  
những hoạt động quan tâm, động viên khuyến khích nhân viên của mình bằng  
công tác tạo động lực lao động thông qua trả lƣơng, song tình trạng hiệu quả  
làm việc vẫn chƣa đƣợc nhƣ mong đợi. Trong những năm qua ngƣời lao động  
vẫn rời bỏ công ty ra đi tập trung chủ yếu vào đội ngũ lao động gián tiếp có  
trình độ cao, nguyên nhân chủ yếu là vấn đề tiền lƣơng. Việc trả lƣơng của  
công ty cho đội ngũ lao động gián tiếp hiện nay vẫn còn một số điểm bất cập,  
trả lƣơng chƣa thực sự căn cứ vào kết quả lao động, chƣa phản ánh đƣợc đúng  
giá trị sức lao động, các tiêu chí đánh giá còn thiếu và mang tính định tính  
cao. Đứng trƣớc thực trạng đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Trả lương cho lao  
động gián tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn” làm đề tài cho  
khóa luận tốt nghiệp của mình. Thông qua nghiên cứu này, tác giả mong  
muốn có thể đóng góp cho công ty trong việc trả lƣơng cho lao động gián tiếp  
một cách hiệu quả hơn.  
2. Tình hình nghiên cứu  
Vấn đề về tiền lƣơng và thu nhập của ngƣời lao động của các loại hình  
doanh nghiệp trong những năm gần đây cũng đƣợc các nhà khoa học, các nhà  
quản lý quan tâm nghiên cứu. Trong số các công trình nghiên cứu về tiền lƣơng  
và thu nhập, nổi bật có một số công trình nghiên cứu sau:  
2.1.1. Những công trình nghiên cứu của Nhà nước  
3
- Đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nƣớc về tiền lƣơng, tiền công  
trong kinh tế thị trƣờng giai đoạn 2006-2010”, thuộc Chƣơng trình nghiên cứu  
trọng điểm của Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội do Vụ Tiền lƣơng -  
Tiền công chủ trì. Công trình nghiên cứu đã chỉ ra vài trò của Nhà nƣớc về  
quản lý tiền lƣơng, tiền công trong nền kinh tế thị trƣờng, đánh giá thực trạng  
cơ chế quản lý tiền lƣơng hiện hành đồng thời đề xuất những căn cứ, quan  
điểm và khuyến nghị hoàn thiện cơ chế quản lý tiền lƣơng giai đoạn 2006-  
2010;  
- Đề tài cấp Bộ “ Nghiên cứu chính sách và giải pháp đảm bảo công  
bằng xã hội trong phân phối tiền lƣơng và thu nhập trong các loại hình doanh  
nghiệp” của tập thể tác giả Ths. Huỳnh Thị Nhân, Ts. Phạm Minh Huân và  
Ts. Nguyễn Hữu Dũng đã đề cập đến vấn đề công bằng xã hội trong phân  
phối tiền lƣơng và thu nhập. Công trình nghiên cứu đã đƣa ra hệ thống chỉ  
tiêu đánh giá công bằng xã hội trong phân phối tiền lƣơng và thu nhập, đánh  
giá thực trạng về đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối tiền lƣơng, thu  
nhập và đề xuất các quan điểm, giải pháp đảm bảo công bằng trong phân phối  
tiền lƣơng, thu nhập.  
- “Vai trò của lƣơng và thu nhập nhƣ là động lực thúc đẩy tăng trƣởng  
kinh tế bền vững” của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng, Số 8,  
2012, chuyên đề nêu rõ chính sách, pháp luật của nhà nƣớc về lƣơng và thu  
nhập; thực tiễn diễn biến lƣơng và thu nhập của nƣớc ta và đƣa ra những kiến  
nghị nhằm cải cách chính sách tiền lƣơng.  
2.1.2. Những công trình nghiên cứu thuộc về cá nhân  
- Luận án Tiến sỹ “Hoàn thiện phƣơng pháp trả công lao động theo cơ  
chế thị trƣờng trong các doanh nghiệp ở Hà Nội” của NCS Đỗ Thị Tƣơi  
(2012), Luận án xây dựng mới khái niệm phƣơng pháp trả công lao động theo  
cơ chế thị trƣờng là phƣơng pháp trả công lao động dựa trên giá trị sức lao  
4
động và quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trƣờng để quyết định mức  
lƣơng và cách tính trả lƣơng hợp lý đảm bảo tính cạnh tranh của tiền lƣơng, thu  
hút và giữ chân ngƣời lao động đồng thời doanh nghiệp phải kiểm soát đƣợc  
chi phí lao động.  
- “Tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lƣơng dƣới tác động của WTO và  
hội nhập quốc tế, tầm nhìn đến năm 2020” của PGS.TS Nguyễn Tiệp, Tạp chí  
Lao động và Xã hội, số 348-349, 2008.  
Từ các đề tài nghiên cứu về tiền lƣơng: tiền lƣơng nói chung và tiền  
lƣơng tại các doanh nghiệp, các tác giả đã có cách tiếp cận và phân tích công  
tác trả lƣơng ở những mặt, những điều khoản khác nhau nhƣng chủ yếu tập  
trung vào phân tích thực trạng, các giải pháp mang tính chất tổng quan, chung  
chung cho các doanh nghiệp, chƣa cụ thể với từng doanh nghiệp. Vậy làm  
thế nào để công tác trả lƣơng là hợp lý, đáp ứng đƣợc yêu cầu của doanh  
nghiệp? Làm thế nào để công tác trả lƣơng phát huy đƣợc vai trò, sức mạnh là  
đòn bẩy thúc đẩy ngƣời lao động cống hiến hết mình đối với doanh nghiệp?...  
là những câu hỏi làm đau đầu các nhà lãnh đạo mỗi doanh nghiệp.  
Năm 2007, Công ty Cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn cũng đã xây  
dựng quy chế trả lƣơng căn cứ vào đặc điểm của công ty. Tuy nhiên, từ khi  
xây dựng quy chế đến nay, dù đã có nhiều lần tiến hành sửa đổi song việc trả  
lƣơng của công ty cho đội ngũ lao động gián tiếp vẫn còn tồn tại một số hạn  
chế, chƣa phù hợp với tình hình thực tế. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Trả  
lương cho lao động gián tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn”  
nhằm phân tích thực trạng việc trả lƣơng cho lao động gián tiếp và tìm ra  
những giải pháp rõ ràng, cụ thể, thiết thực với công ty, góp phần vào thành  
công của công ty là có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
Nội dung luận văn hƣớng tới các mục tiêu sau:  
5
- Làm rõ những lý luận cơ bản về tiền lƣơng và trả lƣơng cho lao động  
gián tiếp trong doanh nghiệp.  
- Phân tích thực trạng công tác trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại Công  
ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn, những ƣu điểm, hạn chế còn tồn tại.  
- Đề xuất giải pháp có tính khả thi nhằm đƣa ra phƣơng án trả lƣơng  
cho lao động gián tiếp cũng nhƣ các biện pháp nhằm thực hiện tốt việc trả  
lƣơng tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.  
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tƣợng nghiên cứu: Trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại Công ty  
cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.  
- Phạm vi nghiên cứu:  
+ Về nội dung: nghiên cứu những vấn đề cơ bản về trả lƣơng cho lao  
động gián tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.  
+ Về không gian: Nghiên cứu tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút  
Sơn.  
+ Về thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2015, quy mô nội dung nghiên  
cứu có liên quan đến toàn bộ công tác trả lƣơng tại Công ty cổ phần xi măng  
Vicem Bút Sơn trong thời gian giới hạn trên.  
5. Phƣơng pháp nghiên cứu  
5.1. Phương pháp thu thập số liệu  
Cả số liệu sơ cấp và thứ cấp đều đƣợc sử dụng trong bài luận văn:  
- Để thu thập số liệu sơ cấp, tác giả sử dụng phƣơng pháp nhƣ phát phiếu  
điều tra (bảng mẫu ở Phụ lục 1), nhằm có đƣợc thông tin tin cậy nhất về thực  
trạng trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại công ty.  
+ Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu tài liệu từ phòng Tổ chức - Lao động  
tại công ty và các tài liệu kham khảo khác.  
6
Thu thập thông tin qua điều tra, mẫu điều tra đƣợc chọn theo phƣơng  
pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Kích thƣớc mẫu cho nghiên cứu 200, phiếu khảo  
sát đƣợc gửi trực tiếp đến từng nhân viên.  
Các bộ phận mà tác giả đã tiến hành điều tra gồm:  
- 170 phiếu cho lao động quản lý, kỹ sƣ và chuyên viên khối gián tiếp  
nhƣ: Phòng Tổ chức lao động, Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Kĩ thuật sản  
xuất, Phòng Thí nghiệm - KCS, Phòng Điều hành trung tâm, Phòng Hành  
chính - Quản trị, Phòng Vật tƣ, Phòng Kế hoạch chiến lƣợc ...  
- 30 phiếu nhân viên lao động tiền lƣơng, phục vụ thuộc các phân xƣởng  
sản xuất (Nghiền - Đóng bao, Bột liệu, Nguyên liệu), xí nghiệp Khai thác  
mỏ..., các xƣởng phụ trợ (Điện TĐH, Cơ khí, Sửa chữa công trình...) và nhân  
viên phòng Bảo vệ.  
5.2. Thiết kế bảng hỏi  
Nội dung phiếu khảo sát gồm 2 phần chính: phần 1 gồm những thông tin  
chung về cá nhân và công việc của từng nhân viên đƣợc khảo sát.  
Phần 2 gồm những câu hỏi để biết đƣợc thực trạng trả lƣơng cho lao  
động gián tiếp đang thực hiện tại công ty. Phần này sẽ cung cấp cho tác giả  
những đánh giá của CBCNV về việc thực trạng trả lƣơng tại công ty.  
Bảng câu hỏi đƣợc thiết kế qua các giai đoạn:  
Giai đoạn 1: Xây dựng bảng câu hỏi dựa trên các nội dung của kết cấu  
trả lƣơng cho lao động gián tiếp;  
Giai đoạn 2: Sau khi thiết kế bảng câu hỏi tác giả đã trực tiếp phỏng vấn  
thử một số nhân viên tại công ty để kiểm tra về hình thức cũng nhƣ nội dung  
của bảng câu hỏi;  
Giai đoạn 3: Chỉnh sửa và hoàn tất bảng câu hỏi trƣớc khi tiến hành điều tra.  
Nội dung chi tiết của Bảng hỏi đƣợc trình bày ở Phụ lục.  
7
6. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài  
Giúp cho công ty nhận thấy những tồn tại về việc trả lƣơng trong thời  
gian qua, đồng thời mạnh dạn đƣa ra một số đề xuất nhằm giúp công ty hoàn  
thiện việc trả lƣơng cho lao động gián tiếp phù hợp với điều kiện và môi  
trƣờng cụ thể tại công ty trong thời gian tới.  
Hoàn thiện trả lƣơng công bằng đối với mọi chức danh, tạo dựng niềm  
tin cho ngƣời lao động, tạo động lực cho họ hăng say công tác, nhằm thúc  
đẩy hiệu suất công việc và đạt đến mục tiêu chiến lƣợc của tổ chức, củng cố  
giá trị văn hóa tổ chức, tạo ấn tƣợng cho ngƣời lao động về giá trị của họ  
trong tổ chức để tối đa hóa sự đóng góp cho từng ngƣời, nâng cao vị thế của  
công ty.  
7. Kết cấu của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, sơ đồ, danh mục  
các tài liệu tham khảo và Phụ lục thì kết cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng:  
Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về trả lƣơng cho lao động gián tiếp trong  
doanh nghiệp.  
Chƣơng 2: Thực trạng trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại Công ty cổ  
phần xi măng Vicem Bút Sơn.  
Chƣơng 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện việc trả lƣơng cho lao động gián  
tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn.  
8
CHƢƠNG 1  
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẢ LƢƠNG LAO ĐỘNG  
GIÁN TIẾP TRONG DOANH NGHIỆP  
1.1. Một số khái niệm  
1.1.1. Lao động  
Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là  
hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm tạo các sản phẩm  
phục vụ cho nhu cầu của đời sống xã hội.  
1.1.2. Lao động gián tiếp, phân loại lao động gián tiếp và vị trí lao  
động gián tiếp trong doanh nghiệp  
1.1.2.1. Lao động gián tiếp  
Lao động gián tiếp là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào  
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lao động gián tiếp bao gồm  
những ngƣời chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp.  
1.1.2.2. Phân loại lao động gián tiếp và vị trí của lao động gián tiếp  
trong doanh nghiệp  
- Lao động gián tiếp là lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp: Tổng  
giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Trƣởng phòng, Phó  
Trƣởng phòng, Quản đốc, Phó quản đốc, …  
- Lao động gián tiếp làm công tác chuyên môn, phục vụ: Kỹ sƣ điện,  
Kỹ sƣ công nghệ thông tin, Kỹ sƣ Silicát, Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản  
lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính, nhân viên lao động tiền lƣơng, …  
- Lao động gián tiếp làm công tác kinh doanh nhƣ: nhân viên thị  
trƣờng, nhân viên bán hàng, …  
1.1.3. Tiền lương  
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về tiền lƣơng:  
         
9
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - International Labour  
Orgazination), tiền lƣơng (salary) là số tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả  
cho ngƣời lao động theo một số lƣợng nhất định không căn cứ vào số giờ làm  
việc thực tế, thƣờng đƣợc trả theo tháng hoặc nửa tháng. Tiền công (wage) là  
khoản tiền trả công lao động theo hợp đồng lao động (chƣa trừ thuế thu nhập  
và các khoản khấu trừ theo quy định), đƣợc tính dựa trên số lƣợng sản phẩm  
làm ra hoặc số giờ làm việc thực tế [23,tr8].  
Theo từ điển kinh tế thị trƣờng “Tiền lƣơng là tiền trả hàng tháng cho  
một nhân viên làm việc trong văn phòng hay nhân viên quản lý”. Định nghĩa  
này mới chỉ đề cập đến nhóm lao động hay đối tƣợng lao động là nhân viên  
văn phòng, nhân viên quản lý hay đối tƣợng lao động gián tiếp mà chƣa đề  
cấp đến nhóm đối tƣợng lao động trực tiếp sản xuất. Mặt khác tiền lƣơng  
không phải nhất thiết phải trả theo tháng, có thể trả theo tuần, nửa tháng tùy  
theo thỏa thuận của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Với cách hiểu  
này về tiền lƣơng, có thể thấy trách nhiệm của ngƣời mua sức lao động là chủ  
yếu vì tiền lƣơng mà họ phải trả chứ chƣa nói lên đƣợc những gì mà họ nhận  
đƣợc hay nói cách khác định nghĩa chƣa nói lên trách nhiệm của ngƣời lao  
động đối với ngƣời sử dụng lao động trong việc mua và bán sức lao động.  
“Tiền lƣơng là giá cả của sức lao động, đƣợc hình thành trên cơ sở thỏa  
thuận giữa ngƣời lao động với ngƣời sử dụng lao động thông qua hợp đồng  
lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng phù hợp với quan hệ cung - cầu sức  
lao động trên thị trƣờng lao động và phù hợp với các quy định tiền lƣơng của  
pháp luật lao động. Tiền lƣơng đƣợc ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời  
lao động một cách thƣờng xuyên, ổn định theo tháng hoặc nửa tháng. Tiền  
công là số tiền ngƣời thuê lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện một  
khối lƣợng công việc hoặc trả cho một thời gian làm việc (thường theo giờ),  
10  
trong những hợp đồng thỏa thuận thuê nhân công phù hợp với quy định của  
pháp luật lao động và pháp luật dân sự về thuê mƣớn lao động” [23,tr.8].  
Theo quy định tại Điều 55 Bộ Luật lao động nƣớc Cộng hòa xã hội chủ  
nghĩa Việt nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012  
thì “Tiền lƣơng của ngƣời lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao  
động và đƣợc trả theo năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc.  
Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do  
Nhà nƣớc quy định”. Tại Điều 56 Bộ Luật lao động ghi “Mức lƣơng tối thiểu  
đƣợc ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho ngƣời lao động làm công việc  
đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thƣờng có thể bù đắp sức lao  
động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động, mở rộng và  
đƣợc dùng làm căn cứ để tính các mức lƣơng cho các loại lao động khác”.  
Qua đó có thể thấy, mức lƣơng tối thiểu là một trong những căn cứ quan  
trọng buộc ngƣời sử dụng lao động phải quan tâm khi tiến hành trả lƣơng cho  
ngƣời lao động. Mức lƣơng tối thiểu đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ bằng pháp luật,  
chống lại sự bóc lột quá mức đối với ngƣời lao động, hạn chế phân hóa xã hội  
về thu nhập, tuy nhiên đây cũng chính là nguyên nhân làm giảm tính linh hoạt  
của thị trƣờng lao động bởi tiền lƣơng cũng phải tuân theo quy luật cung cầu  
lao động, là sự mặc cả sòng phẳng giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao  
động hay giữa những ngƣời đi mua hoặc thuê sức lao động và những ngƣời  
bán sức lao động.  
Theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu tiền lƣơng là số tiền mà ngƣời  
sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động sau khi đã hoàn thành một số lƣợng  
hoặc khối lƣợng công việc theo thỏa thuận.  
Tiền lƣơng bao gồm tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế:  
11  
Tiền lƣơng danh nghĩa có thể đƣợc hiểu là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử  
dụng lao động trả cho ngƣời lao động căn cứ vào hợp đồng lao động bằng văn  
bản hoặc bằng miệng.  
Tiền lƣơng thực tế đƣợc hiểu là số lƣợng hàng hóa dịch vụ mà ngƣời  
lao động có thể mua đƣợc từ tiền lƣơng danh nghĩa mà họ nhận đƣợc. Trên  
thực tế, số tiền mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ việc cung ứng sức lao động  
của mình đều là tiền lƣơng danh nghĩa bởi ngƣời sử dụng lao động trả lƣơng  
cho ngƣời lao động bằng tiền chứ không trả bằng số lƣợng tƣ liệu sinh hoạt,  
tƣ liệu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ.  
Tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế có mối quan hệ mật thiết  
với nhau. Tuy nhiên không phải ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời điểm nào tăng  
tiền lƣơng danh nghĩa tỷ lệ thuận với tăng tiền lƣơng thực tế mà phải xét đến  
yếu tố chỉ số giá cả hàng hóa dịch vụ tiêu dùng (CPI). Nếu tăng tiền lƣơng  
danh nghĩa mà CPI không đổi hoặc giảm thì tiền lƣơng thực tế đã tăng lên  
một cách tƣơng đối và ngƣợc lại. Thực tế những năm qua cho thấy, khi Chính  
phủ có sự điều chính tiền lƣơng danh nghĩa thì tốc độ tăng của giá cả hàng  
hóa dịch vụ cũng tăng theo, do đó đôi khi việc tăng tiền lƣơng danh nghĩa  
nhằm cải thiện và nâng cao đời sống ngƣời lao động nếu không đƣợc tính  
toán kỹ có khi mang lại tác dụng ngƣợc.  
1.2. Trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại doanh nghiệp  
1.2.1. Trả lương cho lao động quản lý lãnh đạo  
Theo Điều 8 Nghị định 51/2013/NĐ-CP thì việc trả lƣơng, thù lao, tiền  
thƣởng cho lao động là quản lý, lãnh đạo nhƣ sau:  
- Tiền lƣơng, thù lao, tiền thƣởng đƣợc trả cho viên chức quản lý gắn với  
mức độ đóng góp vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh và kết quả quản lý, điều  
hành của viên chức quản lý theo quy chế trả lƣơng, thù lao, tiền thƣởng của  
công ty.  
   
12  
- Quy chế trả lƣơng, thù lao, tiền thƣởng đƣợc xây dựng theo quy định của  
pháp luật, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, có sự tham gia của Ban Chấp  
hành công đoàn cơ sở và có ý kiến chấp thuận của chủ sở hữu trƣớc khi thực  
hiện.  
- Đối với trƣờng hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên chuyên trách hoặc  
Chủ tịch công ty chuyên trách kiêm Tổng giám đốc hoặc Giám đốc thì chỉ  
đƣợc nhận tiền lƣơng của một chức danh cao nhất.  
1.2.2. Trả lương cho lao động làm công tác chuyên môn, phục vụ  
Theo Bộ luật Lao động, tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động căn cứ vào  
năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc. Mức lƣơng của ngƣời  
lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Chính phủ quy định.  
Mức lƣơng tối thiểu đƣợc xác định, căn cứ vào nhu cầu tối thiểu của ngƣời  
lao động và gia đình ngƣời lao động, vào điều kiện kinh tế xã hội, mức tiền  
công trên thị trƣờng lao động và đƣợc Chính phủ xác định theo từng thời kỳ.  
Trả lƣơng cho đội ngũ lao động làm công tác chuyên môn, phục vụ  
thƣờng dựa trên hệ thống thang bảng lƣơng theo chức vụ và vị trí công việc  
đƣợc ấn định cứng, kèm theo hệ thống tiền thƣởng và các tiêu chí khấu trừ  
lƣơng thích hợp.  
1.2.3. Trả lương cho lao động làm công tác kinh doanh  
Hiện nay, đối với các nhân viên kinh doanh, hình thức trả lƣơng theo  
doanh số đang rất thịnh hành. Cách trả lƣơng này tạo động lực cho nhân viên  
làm việc hết mình, bán đƣợc nhiều sản phẩm thì lƣơng càng cao. Đây cũng là  
một hình thức đƣợc khá nhiều doanh nghiệp trẻ Việt Nam áp dụng.  
Nhìn chung, dù có áp dụng cách thức nào, hệ thống thang bảng lƣơng  
của doanh nghiệp cần đáp ứng đƣợc ba yêu cầu: cân bằng trong nội bộ, phân  
cấp ngạch bậc và cạnh tranh với thị trƣờng. Tiền lƣơng có vai trò rất quan  
trọng đối với ngƣời lao động, nhân viên sẽ làm việc hiệu quả nhất khi họ nhận  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 134 trang baolam 24840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Trả lương cho lao động gián tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tra_luong_cho_lao_dong_gian_tiep_tai_cong_ty_co_pha.pdf