Luận văn Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ khuyết tật tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
NGUYỄN THỊ ÁNH  
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI  
PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN SÓC SƠN,  
THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI  
HÀ NỘI - 2017  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI  
NGUYỄN THỊ ÁNH  
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI  
PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN SÓC SƠN,  
THÀNH PHỐ HÀ NỘI  
Chuyên ngành: Công Tác Xã Hội  
Mã số : 60900101  
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS. BÙI TÔN HIẾN  
HÀ NỘI - 2017  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan rằng luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội với đề tài:  
“Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ khuyết tật tại huyện  
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được  
thực hiến dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Tôn Hiến.  
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung  
thực, được trích nguồn và trích dẫn đầy đủ.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.  
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm,  
giúp đỡ của các thày cô, gia đình và bạn bè.  
- Lời cảm ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi tới TS. Bùi Tôn Hiến- một  
người thày, một trong những chuyên gia hàng đầu về CTXH. Tôi đã học được  
ở thày rất nhiều, từ phương pháp, tư duy nghiên cứu đến thái độ làm việc và  
hơn cả là đam mê cống hiến cho ngành Giáo dục.  
- Tôi vô cùng biết ơn Bà Đinh Thị Quỳnh Nga, Thư ký Hội NKT  
huyện Sóc Sơn, Chủ nhiệm CLB Phụ nữ khuyết tật huyện Sóc Sơn, giám đốc  
HTX Trái tim hồng. Thời gian làm việc với bà đã giúp tôi có nhiều kiến thức  
và trưởng thành hơn rất nhiều.  
- Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thày cô, cán bộ Khoa sau  
đại học và Khoa Công tác xã hội trường Đại học Lao động xã hội, những  
người đã cho tôi hành trang tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.  
- Tôi xin trân trọng cảm ơn tới các sở, ban, ngành, đòan thể, các tổ  
chức đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành việc thu thập số liệu  
phục vụ luận văn này. Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị, các  
bạn tình nguyện viên đã tham gia vào quá trình khảo sát trong nghiên cứu này.  
- Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân, bạn bè đã  
luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.  
Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Qúy thày cô, các nhà  
khoa học, các anh chị đồng nghiệp để tôi hoàn thiện những thiếu sót của luận  
văn.  
I
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT............................................................IV  
DANH MỤC BẢNG.................................................................................... V  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ..............................................................................VI  
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................... 1  
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................... 1  
2. Tổng quan nghiên cứu.............................................................................. 3  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................... 11  
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ....................................... 11  
5. Phương pháp nghiên cứu....................................................................... 12  
6. Nội dung đề tài........................................................................................ 13  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ  
TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT ............................ 14  
1.1. Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản liên quan..................................... 14  
1.1.1. Khái niệm công tác xã hội .................................................................. 14  
1.1.2. Khái niệm người khuyết tật ................................................................ 14  
1.1.3. Khái niệm phụ nữ khuyết tật............................................................... 16  
1.1.4. Khái niệm công tác xã hội với người khuyết tật.................................. 16  
1.1.5. Khái niệm việc làm............................................................................. 17  
1.1.6. Khái niệm hỗ trợ việc làm ................................................................. 18  
1.1.7. Khái niệm công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm................................. 19  
1.2. Đặc điểm của phụ nữ khuyết tật và việc làm................................... 20  
1.2.1. Các đặc điểm của phụ nữ khuyết tật ................................................... 20  
1.2.2. Các đặc điểm về việc làm của phụ nữ khuyết tật................................. 25  
1.3. Các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với PNKT.... 27  
1.3.1. Hỗ trợ nâng cao năng lực cá nhân hướng tới việc làm của phụ nữ khuyết tật28  
1.3.2. Hỗ trợ tiếp cận giáo dục nghề nghiệp.................................................. 31  
II  
1.3.3. Tiếp cận và duy trì, phát triển việc làm............................................... 33  
1.3.4. Hỗ trợ tự tạo việc làm......................................................................... 35  
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ  
việc làm đối với phụ nữ khuyết tật............................................................ 36  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................... 43  
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ  
VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN SÓC SƠN,  
THÀNH PHỐ HÀ NỘI .............................................................................. 44  
2.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu.................................. 44  
2.1.1.Khái quát về địa bàn............................................................................ 44  
2.1.2.Khái quát về phụ nữ khuyết tật huyện Sóc Sơn.................................... 46  
2.1.3. Lao động việc làm và vấn đề việc làm của phụ nữ khuyết tật ............. 50  
2.2. Thực trạng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với  
PNKT tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội............................................ 66  
2.2.1. Hỗ trợ nâng cao năng lực cá nhân hướng tới việc làm của PNKT....... 66  
2.2.2. Hỗ trợ tiếp cận giáo dục và dạy nghề................................................. 76  
2.2.3. Tiếp cận và duy trì, phát triển việc làm............................................... 78  
2.2.4. Hỗ trợ tự tạo việc làm......................................................................... 80  
2.3. THỰC TRẠNG MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT  
ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM CỦA PHỤ  
NỮ KHUYẾT TẬT HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI........... 83  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................... 86  
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ  
HỘI TRONG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI PHỤ NỮ KHUYẾT TẬT  
TẠI HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................... 87  
3.1. Định hướng hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với  
phụ nữ khuyết tật tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội......................... 87  
3.1.1. Bối cảnh và định hướng phát triển của huyện Sóc Sơn ....................... 87  
III  
3.1.2. Định hướng về công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với PNKT tại  
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội................................................................ 88  
3.2. Các giải pháp phát triển công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với  
PNKT tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội............................................ 88  
3.2.1. Các giải pháp về cơ chế, chính sách.................................................... 88  
3.2.2. Giải pháp phát triển giáo dục, dạy nghề cho phụ nữ khuyết tật........... 93  
3.2.3. Phát triển công tác xã hội trong hỗ trợ PNKT tiếp cận, tự tạo việc làm  
và duy trì, phát triển việc làm....................................................................... 97  
3.2.4. Tăng cường hoạt động công tác xã hội đối với gia đình, cộng đồng.... 99  
3.2.5. Nhóm giải pháp nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ nhân viên, cộng  
tác viên công tác xã hội .............................................................................. 100  
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ......................................................................... 103  
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................... 104  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................. 105  
IV  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
CTXH  
ILO  
Công tác xã hội  
Tổ chức lao động quốc tế  
Ban hành động vì sự phát triển hòa nhập vì người khuyết tật  
Khuyết tật  
IDEA  
KT  
KS  
Khảo sát  
LĐTBXH  
NKT  
Lao động thương binh xã hội  
Người khuyết tật  
NVCTXH  
PNKT  
TP  
Nhân viên công tác xã hội  
Phụ nữ khuyết tật  
Thành phố  
VCCI  
Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam  
V
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 2.2. Trình độ học vấn của người khuyết tật huyện Sóc Sơn năm 2016. 49  
Bảng 2.3. Dạng khuyết tật của PNKT huyện Sóc Sơn ................................. 50  
Bảng 2.4. Lý do chưa tham gia đào tạo nghề của PNKT huyện Sóc Sơn ...... 54  
Bảng 2.5. Tình trạng việc làm của PNKT huyện Sóc Sơn năm 2017. ........... 55  
Bảng 2.6. Nghề nghiệp của PNKT huyện Sóc Sơn năm 2017....................... 56  
Bảng 2.7. Khó khăn của PNKT đang đi làm tại huyện Sóc Sơn.................... 57  
Bảng 2.8. Biện pháp khắc phục khó khăn trong vấn đề việc làm của PNKT  
huyện Sóc Sơn ............................................................................................. 64  
VI  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ  
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu giới tính NKT huyện Sóc Sơn năm 2016...................... 46  
Biểu đồ 2.2: Mức độ khuyết tật của PNKT huyện Sóc Sơn năm 2016.......... 48  
Biểu đồ 2.3: Tình trạng hôn nhân của PNKT huyện Sóc Sơn năm 2017....... 51  
Biểu đồ 2.4: Trình độ văn hóa của PNKT huyện Sóc Sơn năm 2017............ 52  
Biều đồ 2.5: Trình độ chuyên môn của PNKT tại huyện Sóc Sơn ................ 53  
Biểu đồ 2.6. Mức độ hợp lý việc thực hiện chính sách cho lao động nữ KT tại  
cơ sở cung cấp việc làm tại huyện Sóc Sơn .................................................. 58  
Biểu đồ 2.7: Mức độ hài lòng với công việc hiện tại của PNKT huyện Sóc  
Sơn............................................................................................................... 59  
Biều đồ 2.8. Mức độ hài lòng với điều kiện làm việc của công việc hiện tại  
của PNKT huyện Sóc Sơn............................................................................ 60  
Biểu đồ 2.9. Nhu cầu hỗ trợ khắc phục khó khăn trong vấn đề việc làm của  
PNKT huyện Sóc Sơn .................................................................................. 65  
Biểu đồ 2.10. Biểu đồ mức độ sử dụng dịch tư vấn, tham vấn của PNKT..... 74  
huyện Sóc Sơn ............................................................................................. 74  
1
PHẦN MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Công tác xã hội là một ngành khoa học ứng dụng có lịch sử hình thành  
và phát triển hơn 100 năm trên thế giới. Tuy nhiên, tại Việt Nam do biến cố  
của lịch sử, sự hình thành và phát triển của Công tác xã hội có nhiều thăng  
trầm, vì vậy, những năm gần đây ngành mới được sự công nhận của Chính  
phủ thông qua đề án 32 "Phát triển nghề công tác xã hội". Công tác xã hội  
hướng tới sự trợ giúp con người trong cuộc sống, nhất là những nhóm đối  
tượng dễ bị tổn thương bằng các mô hình can thiệp từ cá nhân, đến nhóm và  
cộng đồng, công tác xã hội thể hiện được vai trò quan trọng trong đời sống xã  
hội nhất là trong xã hội hiện đại, xã hội công nghiệp dịch vụ. Trong xã hội  
ngày nay, đối tượng trợ giúp của công tác xã hội tương đối đa dạng. Nhiều  
đối tượng yếu thế đang rất cần sự giúp đỡ, động viên, chia sẻ của tất cả cộng  
đồng cũng như của công tác xã hội.  
Người khuyết tật là một trong số những đối tượng dễ bị tổn thương cần  
sự trợ giúp của công tác xã hội. Công tác xã hội có sứ mệnh vận dụng linh  
hoạt những kiến thức và kỹ năng để tiếp cận đối tượng, lập kế hoạch trợ giúp  
và giúp đối tượng người khuyết tật tiếp cận với các cơ sở dịch vụ hỗ trợ một  
cách bền vững.  
Gía trị nhân văn và kinh tế khi NKT có việc làm dường như không thể  
phủ nhận. Đối với người khuyết tật, đứng sau vấn đề sức khỏe là việc làm bởi  
nó không chỉ góp phần đảm bảo cuộc sống mà nó còn là cánh cửa mở ra các  
cơ hội hòa nhập cộng đồng, giảm bớt gánh nặng cho xã hội, góp phần cải  
thiện vị thế, và tăng cường tính trách nhiệm xã hội cho NKT. NKT muốn duy  
trì sự phát triển, ổn định cần có việc làm phù hợp…  
Thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà NKT vẫn còn gặp nhiều khó khăn  
khi tìm việc như: Sức khỏe yếu, trình độ tay nghề chưa cao, chính sách hỗ trợ  
cho doanh nghiệp tuyển dụng NKT làm việc còn nhiều hạn chế. Là phụ nữ đã  
2
là phái yếu, lại mang theo bên mình những khiếm khuyết, PNKT gặp nhiều  
rào cản và chịu nhiều thiệt thòi hơn cả trong vấn đề việc làm.  
Trong thời điểm hiện nay, dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, để đáp  
ứng nhu cầu việc làm cho mọi công dân trong xã hội đã là một vấn đề lớn.  
Người lành lặn tìm được việc làm đã khó, NKT tìm việc làm còn khó hơn. Và  
đặc biệt là phụ nữ khuyết tật lại càng bức thiết hơn.  
Công tác dạy nghề, tạo việc làm cho NKT nói chung và PNKT nói  
riêng tại huyện Sóc Sơn Hà Nội còn nhiều khó khăn: Phần lớn chị em NKT  
chưa có công ăn việc làm, đời sống khó khăn và đa phần thuộc hộ nghèo. Tỷ  
lệ PNKT không có việc làm, trình độ học vấn còn hạn hẹp, nhiều hội viên còn  
tự ti chưa hòa nhập với cộng đồng.  
Luận văn "Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với PNKT tại  
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” nhằm đề ra các giải pháp thúc đẩy hoạt  
động công tác xã hội đối với vấn đề việc làm của phụ nữ khuyết tật tại huyện  
Sóc Sơn, Hà Nội; hướng đến: một ngày nào đó, tất cả NKT sẽ được bình đẳng  
về cơ hội tham gia và đóng góp cho sự phát triển của đất nước; giúp cá nhân-  
cộng đồng PNKT đủ sức mạnh, chủ động, tự tin, hội nhập- hòa nhập, tự giúp  
bản thân, tự lập cuộc sống, tự khẳng định bản thân, giúp PNKT định hướng  
nghề nghiệp và tạo cầu nối giúp PNKT tìm được việc làm.  
Tại địa bàn huyện Sóc Sơn đã nổi lên các nhu cầu, mô hình việc làm cho  
PNKT và đang rất quan tâm cũng như cần có một nghiên cứu về vấn đề việc  
làm của PNKT để thúc đẩy, phát triển hoạt động hỗ trợ PNKT trên địa bàn tốt  
hơn.  
Do vậy, nghiên cứu: CTXH trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ khuyết  
tật tại huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội là hoàn toàn thiết thực và cần thiết, phù  
hợp với bối cảnh chiến lược và chính sách của địa phương.  
3
2. Tổng quan nghiên cứu  
Ở các quốc gia công nghiệp, cuối thế kỷ trước, vấn đề việc làm cho  
người khuyết tật được hiểu và nhìn nhận nhiều từ góc độ phúc lợi từ. Trong  
nhìn nhận theo khía cạnh này, khuyết tật được hiểu dựa trên hai mô hình: y  
học và thảm kịch. Mô hình đầu nhấm mạnh vấn đề khuyết tật là do vấn đề  
bệnh tật của cá nhân và điều này đôi khi được điều chỉnh thông qua sự can  
thiệp y tế và chữa trị. Qua đó, từ quan điểm này người khuyết tật luôn được  
nhìn nhận là có vai trò phụ thuộc và thiếu hụt khả năng về thể chất và tinh  
thần. Mô hình sau đề cập đến những quan điểm đối lập lại khi cho rằng một  
người bị khuyết tật thì đáng được thông cảm do đó cách tốt nhất để mọi người  
giúp đỡ người khuyết tật chính là việc quyên góp từ thiện để giúp đỡ họ trong  
cuộc sống. Cách nhìn này cũng dẫn tới việc xem xét người khuyết tật không  
có khả năng tự chăm sóc cũng như tự thay đổi cuộc sống của bản thân. Cả hai  
mô hình này đều nhấn mạnh và quan tâm nhiều đến khía cạnh hệ quả của  
khuyết tật và làm tách rời họ ra khỏi xã hội.  
Hai cách hiểu này về vấn đề khuyết tật đang dần được thay bởi mô hình  
xã hội về vấn đề khuyết tật. Quan điểm này cho rằng ngoài những điều kiện  
khó khăn về mặt cá nhân, người khuyết tật bị hạn chế tham gia vấn đề việc  
làm do chính xã hội tạo nên các rào cản như vậy từ góc độ tạo các dịch vụ về  
giáo dục, đào tạo nghề và tuyển dụng. Cách nhìn này mang tính cởi mở hơn  
về khía cạnh việc làm cho người khuyết tật ở các hai phía người khuyết tật và  
phía xã hội. Cách tiếp cận này đã được phát triển cùng với các quan điểm về  
nhân quyền, về phúc lợi xã hội và dịch vụ xã hội đang được áp dụng rộng rãi  
khi nghiên cứu về vấn đề người khuyết tật. Từ cách hiểu chung về vấn đề  
khuyết tật, hiện các nghiên cứu về việc làm cho người khuyết tật và hướng  
thúc đẩy hòa nhập xã hội cho người khuyết tật được nhìn nhận từ hai góc độ  
chủ yếu: quyền của người khuyết tật và mô hình dịch vụ về vấn đề việc làm.  
Cách tiếp cận về quyền đối với vấn đề việc làm cho người khuyết tật:  
4
Một số nghiên cứu gần đây về hệ thống pháp luật cho thấy hiện đang có  
sự thay đổi về mặt nhận thức về việc làm và khuyết tật. Trước đây, các quan  
điểm cho rằng tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của người khuyết tật có  
mối quan hệ chặt chẽ và trên thực tế là hậu quả không tránh khỏi của sự sút  
kém về tinh thần và thể chất của những người khuyết tật (mô hình nhận thức  
dựa trên quan điểm y tế, quan điểm cá nhân về vấn đề khuyết tật). Nhưng tới  
ngày nay, nhiều quan điểm cho rằng nguyên nhân chính của những của những  
bất lợi về góc độ việc làm của người khuyết tật đang phải đối mặt cũng như  
những vấn đề về sự tách biệt xã hội trong cuộc sống của người khuyết tật là  
do những phản ứng tiêu cực của xã hội, những rào cản về mặt nhận thức của  
xã hội cũng như những rào cản khó tiếp cận của cơ sở hạ tầng xã hội (mô  
hình xã hội về vấn đề khuyết tật). Ở một góc độ nào đó, chính sách xã hội và  
pháp luật xã hội đang tạo ra những rào cản như vậy. Cách tiếp cận về quyền  
của người khuyết tật với vấn đề việc làm nhấn mạnh nhiều đến việc thực thi  
các quan điểm pháp lý liên quan. Các quan điểm pháp lý này được thể hiện  
trong hệ thống các văn bản luật, chính sách ở cấp độ quốc tế và quốc gia. Ở  
cấp độ luật pháp quốc tế, Tuyên bố chung về vấn đề nhân quyền, các chuẩn  
mực lao động cơ bản của Tổ chức lao động thế giới được thông qua năm 1958  
và gần đây được điều chỉnh với sự phê chuẩn của 163 quốc gia thành viên của  
Tổ chức lao động thế giới và Công ước về Quyền của người khuyết tật năm  
2006 được xem là những công cụ pháp lý quan trọng cho các quốc gia trên  
toàn thế giới thực hiện.  
Trong khuôn khổ các hoạt động đẩy mạnh vấn đề việc làm cho người  
khuyết tật, Tổ chức Lao động thế giới luôn xây dựng các chiến lược nhằm đẩy  
mạnh sự công bằng xã hội và xây dựng các mô hình việc làm phù hợp cho  
người khuyết tật, điều này cũng được xem như là các khía cạnh về tiếp cận  
nhân quyền vì các định hướng này nhằm tạo được sự đối xử bình đẳng và tạo  
5
các cơ hội bình đẳng ở nơi làm việc, sự tự do xây dựng hội đoàn, đề cập đến  
các vấn đề về lao động trẻ em, sự phân biệt đối xử dựa trên vấn đề khuyết tật.  
Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006 được coi là công cụ  
pháp lý cao nhất hiện nay đề cập đến các vấn đề chung của người khuyết tật.  
Ở lĩnh vực việc làm, Công ước có ghi nhận các quyền của người khuyết tật ở  
các khía cạnh về đào tạo nghề, cơ hội làm việc, thúc đẩy mô hình tự tạo việc  
làm, khả năng lựa chọn cơ hội việc làm cũng như những yêu cầu về việc tạo  
dựng môi trường dễ hòa nhập, không rào cản cho người lao động là khuyết  
tật. Đây chính là cách thức chống lại vòng đói nghèo luẩn quẩn của người  
khuyết tật.  
Các quốc gia khác nhau đều có hệ thống các bộ luật và các hiệp định  
cam kết thúc đẩy vấn đề quyền của người khuyết tật, điều quan trọng mà các  
nhà nghiên cứu quan tâm đó chính là các hệ thống luật này được thực hiện ra  
sao. Để đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các vấn đề về quyền của người  
khuyết tật trong lĩnh vực việc làm đòi hỏi sự tham gia tích cực của hệ thống  
quản lý nhà nước, người tuyển dụng lao động, người lao động và các tổ chức  
của người khuyết tật. Việc áp dụng các quyền cần dựa trên các nguyên tắc về  
sự phù hợp giữa quyền và trách nhiệm, do đó khi một cá nhân khuyết tật có  
quyền yêu cầu thì các tổ chức cũng có trách nhiệm đảm bảo thực hiện các  
quyền về yêu cầu đó. Đây là nguyên tắc hướng đến lượng giá được quyền nào  
đang tồn tại trong cuộc sống. Để xác định được các vấn đề luật pháp được  
thực hiện như thế nào, Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng cần có các hoạt  
động giám sát và theo dõi từ chính các doanh nghiệp, cơ sở lao động. Các báo  
cáo đánh giá về môi trường làm việc cũng là nguồn thông tin quan trọng cho  
vấn đề này, ngoài ra cần xem xét các đánh giá giữa kỳ, thường xuyên, các báo  
cáo của các cơ quan quản lý và thậm chí nguồn thông tin phản ảnh trên báo  
chí.  
6
Trong việc xem xét tiếp cận lao động cho người khuyết tật ở góc độ  
quyền con người, năm 1997 Mạng lưới Thông tin và Nghiên cứu ứng dụng về  
khuyết tật toàn cầu (Thornton & Lunt 1997) đã tiến hành đánh giá chính sách  
ở 18 quốc gia phát triển trên thế giới để có cách nhìn chung về vấn đề tiếp cận  
này. Một trong những vấn đề quan trọng khác nữa khi nhìn nhận vấn đề việc  
làm từ góc độ quyền, đó là không phải lúc nào cũng nghĩ rằng người khuyết  
tật không phải là nhóm đồng nhất. Sự khác biệt giữa các cá nhân khuyết tật là  
rất lớn và có nhiều điều hàm chứa cho các mô hình dịch vụ và sự trợ giúp cho  
người khuyết tật ở nơi làm việc.  
Cách tiếp cận về dịch vụ  
Tạo dựng các dịch vụ về việc làm cho người khuyết tật đã được nhiều  
chính phủ quan tâm thực hiện, coi đó là cách thức triển khai các luật, điều luật  
trong cuộc sống. Dịch vụ này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự  
hòa nhập xã hội của người khuyết tật. Tiếp cận về dịch vụ xã hội cũng là sự  
chuyển hướng trong các nghiên cứu về vấn đề hòa nhập của người khuyết tật  
từ chỗ thuần túy quan tâm đến các chính sách trợ giúp sang các chính sách  
nâng cao năng lực của người khuyết tật thông qua các mô hình đào tạo nghề,  
tạo công ăn việc làm, các dịch vụ tư vấn…  
Trong các quốc gia phát triển, mô hình dịch vụ về việc làm cho người  
khuyết tật ở Úc được coi là những định hướng thành công đối với cuộc sống  
của người khuyết tật và định hướng về hòa nhập xã hội của họ. Định hướng  
này không chỉ giúp đỡ cá nhân người khuyết tật mà còn hướng đến giúp đỡ  
các doanh nghiệp có lao động là người khuyết tật. Cách tiếp cận về dịch vụ  
việc làm cho người khuyết tật ở Úc hướng đến tập trung vào các mục tiêu:  
Loại bỏ những rào cản về mặt dịch vụ cho người khuyết tật; xây dựng các  
hình thức trợ giúp về quyền cho những người khuyết tật vừa rời ghế nhà  
trường để bước chân vào thị trường lao động; tăng cường các nguồn thông tin  
tìm kiếm việc làm ở các vùng sâu xa; quan tâm hơn đến vấn đề giáo dục, đào  
7
tạo và phát triển các kỹ năng; tạo hệ thống phản hồi nhanh đối với các doanh  
nghiệp.  
Ở Úc, Bộ Giáo dục, Đào tạo, Việc làm và Thanh niên là bộ phận quan  
tâm nhiều đến việc đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và đưa ra nhiều chương trình  
về đào tạo và bồi dưỡng kỹ năng làm việc. Các chương trình về dịch vụ việc  
làm cho người khuyết tật từ các hoạt động này khởi đầu từ năm 1991, cho tới  
nay hai lĩnh vực chính về dịch vụ việc làm cho người khuyết tật được xoay  
quanh các vấn đề về: (a) chương trình tiếp cận việc làm với các mô hình về  
Đào tạo, Khởi đầu công việc, Trợ giúp tìm kiếm việc làm; và hoạt động can  
thiệp; (b) Các chiến lược can thiệp dựa trên cộng đồng với mô hình chia sẻ kỹ  
năng. Ngoài các mô hình dịch vụ chung như vậy, chính quyền Úc và các bang  
còn xây dựng các chương trình chuyên biệt về dịch vụ việc làm dành cho  
người khuyết tật ở các mô hình về phục hồi chức năng, các dịch vụ về đào tạo  
nghề và tìm việc làm cho người khuyết tật (các dịch vụ này nhằm gia tăng sự  
độc lập, khả năng làm việc và sự hội nhập cua người khuyết tật ở môi trường  
làm việc; các dịch vụ về đào tạo, việc làm và chuẩn bị cho quá trình làm việc;  
các dịch vụ trợ giúp quá trình chuyển đổi người khuyết tật từ môi trường giáo  
dục-học nghề-làm việc chuyên biệt sang môi trường làm việc hòa nhập). Để  
thực hiện được các chương trình định hướng về mặt dịch vụ này, ngoài hệ  
thống luật pháp đủ mạnh ở cấp quốc gia, các bang cũng có những hệ thống  
quy điều luật cụ thể và có được nguồn hỗ trợ tài chính tập trung và bộ máy  
vận hành, kiểm tra, đánh giá, phản hồi chặt chẽ. Những kết quả đạt được từ  
các mô hình dịch vụ này đã hướng quốc gia Úc tạo dựng được cách tiếp cận  
hòa nhập cho người khuyết tật ở các lĩnh vực đời sống và tạo được mô hình  
xã hội hòa nhập và xã hội phúc lợi cho mọi người.  
Định hướng về mặt xây dựng các dịch vụ việc làm cho người khuyết tật  
hiện được nhiều quốc gia áp dụng và phát triển như ở Anh, Pháp, các quốc gia  
Bắc Âu, Canada, Mỹ… với mục tiêu nâng cao năng lực của chính người  
8
khuyết tật nhằm thay thế dần các chương trình trợ giúp, trợ cấp về mặt tài  
chính. Ngoài ra, các mô hình dịch vụ về tư vấn, định hướng nghề nghiệp, xây  
dựng mạng lưới thông tin việc làm nghề nghiệp cho người khuyết tật cũng  
được hình thành nhằm tạo ra các hoạt động trợ giúp mang tính một tiến trình  
và bền vững hơn là thuần túy tạo việc làm đơn thuần.  
Chính phủ Việt Nam cũng đã có chính sách rõ ràng về NKT. Cụ thể  
như Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) đảm bảo tất cả các  
quyền công dân trong đó bao gồm hỗ trợ của Nhà nước cho NKT; Pháp lệnh  
về người khuyết tật ban hành 30/7/1998 và Luật NKT ban hành năm 2010  
đảm bảo mọi quyền công dân, trong đó bao gồm sự hỗ trợ của nhà nước cho  
NKT. Việt Nam cũng là một quốc gia tham gia mạnh mẽ vào cam kết quốc tế  
và khu vực về quyền của NKT. Liên quan tới Luật lao động và việc làm cho  
người lao động khuyết tật (mục 4 chương XI của Bộ Luật Lao động) đã có  
quy định về chính sách việc làm cho các đối tượng đặc thù trong đó có người  
lao động khuyết tật.  
Mục tiêu của đề án trợ giúp người khuyết tật (Thủ tướng đã phê duyệt)  
là đến năm 2015 sẽ có 250.000 NKT trong độ tuổi lao động còn khả năng lao  
động được học nghề và tạo việc làm phù hợp.  
Có thể nói rằng, chính sách và văn bản pháp quy về việc làm cho NKT  
đã được cơ quan chức năng ban hành khá bài bản. Tuy nhiên, trong thực tế,  
nhằm giải quyết vấn đề việc làm cho NKT một cách hiệu quả (trong giai đoạn  
2012-2020) cần có sự chung tay của toàn xã hội.  
Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề việc làm của PNKT  
cũng như công tác xã hội đối với việc làm của PNKT như:  
Trong năm 2012, Viện Nghiên cứu Phụ nữ thuộc Học viện Phụ nữ Việt  
Nam chủ trì và Lưu Song Hà chủ nhiệm đề tài đã tiến hành dự án Điều tra cơ  
bản thực trạng và phương hướng hỗ trợ phụ nữ khuyết tật trong đào tạo nghề,  
việc làm và chăm sóc sức khỏe. Dự án đã đánh giá được thực trạng việc làm,  
9
những khó khăn, thuận lợi của phụ nữ khuyết tật trong công việc cũng như  
trên con đường tìm kiếm việc làm tại 3 tỉnh đại diện cho 3 miền trên cả nước  
là Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Tây Ninh với tổng số 600 mẫu định  
lượng và 45 mẫu định tính, thời gian khảo sát tháng 6 và tháng 7/2012 và đã  
đưa ra được những đề xuất, khuyến nghị cho một chính sách mang tính đặc  
thù đối với vấn đề việc làm dành cho phụ nữ khuyết tật nói chung.  
Năm 2014, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà  
Nội: Pháp luật về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật ở  
Việt Nam hiện nay của Trần Thị Tú Anh đã khái quát hóa được vấn đề việc  
làm, các quy định của pháp luật lao động về việc làm của lao động khuyết tật  
và giải quyết các vấn đề vướng mắc trong thời kỳ hội nhập.  
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng đã có những phối hợp với bộ Lao  
Động Thương Binh và Xã hội cùng một số tổ chức phi chính phủ: Ban hành  
động vì sự phát triển hòa nhập vì người khuyết tật (IDEA); Phòng Thương  
mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm “Cơ  
hội việc làm cho phụ nữ khuyết tật và bình đẳng giới tại nơi làm việc”. Vấn  
đề việc làm của phụ nữ khuyết tật cũng đã được chỉ ra tầm quan trọng và  
hướng tới các giải pháp thiết thực.  
Tại huyện Sóc Sơn, theo báo cáo tổng kết năm 2016 của Phòng Lao  
động thương binh xã hội huyện Sóc Sơn: Hiện nay, huyện có 330709 dân  
trong đó có 4268 người khuyết tật và số người khuyết tật nữ là 1940 (45.5%)  
với khoảng 1.000 phụ nữ khuyết tật nằm trong độ tuổi lao động. Thế nhưng,  
chủ yếu số phụ nữ khuyết tật này đều thuộc diện hộ nghèo hoặc cận nghèo,  
bởi họ hầu hết không có việc làm, hoặc việc làm không ổn định, không phù  
hợp với sức khỏe hoặc dạng tật.  
Như vậy, phải khẳng định rằng, NKT nói chung và PNKT nói riêng là  
một lực lượng lao động không nhỏ trên địa bàn huyện Sóc Sơn và đòi hỏi phải  
được bảo vệ bằng luật pháp để bảo đảm quyền bình đẳng tham gia vào các  
hoạt động của xã hội, trong đó có quyền bình đẳng về việc làm bền vững.  
10  
Điều này, đòi hỏi cần có nghiên cứu chuyên sâu về CTXH với việc làm của  
PNKT giúp lực lượng lao động nữ khuyết tật trên địa bàn có cơ hội phát triển  
mạnh mẽ.  
Nhìn chung nghiên cứu về vấn đề việc làm cho người khuyết tật hiện  
đang được thực hiện ở nhiều cách tiếp cận: từ khía cạnh kinh tế đến vấn đề  
nhân quyền, từ vấn đề chính sách đến dịch vụ xã hội, từ việc đào tạo đến việc  
tạo cơ hội việc làm. Các nghiên cứu đã tạo được nhiều định hướng mang tính  
gợi mở và tạo dựng được những đề xuất về mặt chính sách và chương trình  
hành động nhằm thay đổi cuộc sống của người khuyết tật hiện nay.  
Tuy nhiên, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về công tác xã hội  
và vấn đề việc làm, nghiên cứu về phụ nữ nói chung , việc làm cho NKT nói  
riêng, nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề CTXH với việc làm  
của PNKT tại huyện Sóc Sơn. Trước tình hình trên, người nghiên cứu nhận  
thấy cần hệ thống hóa lại các lý thuyết, nghiên cứu, các vấn đề về công tác xã  
hội với việc làm của PNKT và vận dụng vào hoàn cảnh của địa phương cụ  
thể. Do vậy, luận văn này đã kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được  
và đồng thời đã đi sâu vào vấn đề công tác xã hội đối với việc làm của phụ nữ  
khuyết tật tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội.  
Vì vậy đề tài này là khá mới mẻ, vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa  
thực tiễn, luận văn là sự bổ sung cần thiết vào khoa học nghiên cứu về vấn đề  
việc làm đối với phụ nữ khuyết tật nói chung và PNKT huyện Sóc Sơn, TP  
Hà Nội nói riêng  
Qua quá trình thu thập các nguồn thông tin tài liệu từ các thư viện,  
website, sách, báo, tạp chí đến thời điểm hiện tại, tác giả cam kết đề tài không  
bị trùng lặp với bất cứ đề tài nào khác và chưa có đề tài nào nghiên cứu về  
công tác xã hội đối với việc làm của phụ nữ khuyết tật tại huyện Sóc Sơn, Hà  
Nội.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 133 trang baolam 22600 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ khuyết tật tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_cong_tac_xa_hoi_trong_ho_tro_viec_lam_doi_voi_phu_n.pdf