Luận văn Hoàn thiện Quy chế trả lương tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Lựa chọn phương thức trả lương phù hợp với tổ chức lao động khoa  
học của doanh nghiệp nói chung là vấn đề quan tâm của chủ sử dụng lao  
động nhằm thu hút và sử dụng người lao động có trình độ chuyên môn kỹ  
thuật cao phù hợp với yêu cầu công việc, tạo động lực lao động và nâng  
cao kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trên thực tế, đã có  
nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã xây dựng và áp dụng những phương thức  
trả lương mới rất thành công, đạt hiệu quả cao trong tổ chức và sử dụng đội  
ngũ nhân lực có chất lượng cao, phát triển năng lực cạnh tranh và tiền  
lương thực sự tạo động lực mạnh mẽ, là công cụ quan trọng trong quản lý  
doanh nghiệp.  
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, Xây dựng đã trở thành một  
ngành kinh tế có đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển nền kinh tế quốc  
dân. Ngành xây dựng đã từng bước được hiện đại hóa trang thiết bị kỹ  
thuật và xây dựng đội ngũ nhân lực có trình độ cao. Tuy nhiên, chính sách  
quản lý sử dụng nhân lực nói chung, chính sách tiền lương nói chung của  
ngành còn nhiều bất cập, hạn chế. Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây  
dựng Phát triển đô thị Hà Nội thuộc Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà  
Hà Nội (Handico) cũng là một trong những doanh nghiệp đang tồn tại  
nhiều hạn chế trong công tác trả lương cho người lao động.  
Do đó, vấn đề “ Hoàn thiện Quy chế trả lương tại Công ty cổ phần  
Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội” được tác giả chọn làm  
đề tài Luận văn tốt nghiệp cao học ngành Quản trị nhân lực tại trường Đại  
học Lao động xã hội vì những lý do sau đây:  
Một là: Xây dựng quy chế trả lương nhằm duy trì và phát triển được  
sức lao động của người lao động Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng  
Phát triển đô thị Hà Nội.  
2
Lao động là một trong những điều kiện cần thiết trong việc tái tạo ra  
của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, là yếu tố quyết định sự tồn tại và  
phát triển của loài người. Một xã hội, một doanh nghiệp được coi là phát  
triển khi lao động có năng suất, chất lượng và đạt hiệu quả cao. Trong  
chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp, yếu tố con người luôn được  
đặt lên hàng đầu. Người lao động chỉ có thể phát huy hết khả năng của  
mình khi sức lao động của họ được bù đắp xứng đáng dưới dạng tiền lương  
và các khoản thu nhập khác. Do đó các tổ chức, doanh nghiệp nói chung và  
Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội cần phải  
có cách chi trả lương hợp lý để không những duy trì mà còn phát triển được  
sức lao động cho người lao động.  
Hai là: Xây dựng quy chế trả lương công bằng, hợp lý là đòn bẩy  
kích thích tinh thần làm việc, gắn kết mọi nghĩa vụ và quyền lợi của cá  
nhân và tập thể.  
Quy chế trả lương hiện nay Công ty đang áp dụng đã và đang bộc lộ  
nhiều hạn chế, tồn tại như trả lương bình quân, dập khuôn, máy móc, chưa  
linh hoạt, chưa cải thiện nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, chưa tạo  
động lực kích thích người lao động làm việc… do bối cảnh kinh tế xã hội  
hiện nay, do môi trường kinh doanh, do yêu cầu công việc…  
Do đó, tiền lương nếu được phân phối một cách minh bạch, công  
bằng sẽ có tác dụng gắn kết mọi nghĩa vụ và quyền lợi của cá nhân với tập  
thể, của cá nhân với kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty. Bên cạnh đó,  
việc trả lương cho người lao động một cách chính xác và kịp thời sẽ là đòn  
bảy kích thích tinh thần làm việc, kích thích sản xuất, đem lại hiệu quả cao  
trong việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời nâng cao đời  
sống người lao động.  
3
Ba là: Xây dựng quy chế trả lương tiến bộ sẽ có tác dụng thu hút  
nhân tài, chống hiện tượng “chảy máu chất xám” và là động lực quan trọng  
để người lao động không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề.  
Tiền lương là một vấn đề hết sức nhạy cảm, là mối quan tâm hàng  
đầu của tất cả người lao động nói chung và của cán bộ công nhân viên  
Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội nói  
riêng. Được nhận mức lương cao, công bằng và xứng đáng với công sức  
lao động hao phí là mong muốn của tất cả người lao động. Do đó, việc xây  
dựng được một quy chế trả lương hội tụ đầy đủ các chức năng cơ bản của  
tiền lương, không trái với các quy định của pháp luật lao động hiện hành và  
có lợi hơn cho người lao động sẽ có tác dụng thu hút những người có trình  
độ chuyên môn tay nghề cao đến làm việc tại Công ty, đồng thời giữ được  
chân người tài, chống hiện tượng “chảy máu chất xám” và là một động lực  
rất quan trọng để người lao động không ngừng nâng cao trình độ chuyên  
môn của bản thân trước sự cạnh tranh gắt gao về nhân lực.  
Bốn là: Vì Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị  
Hà Nội chưa xây dựng được một quy chế trả lương thực sự phù hợp trong  
tình hình hiện nay.  
Hiện nay Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị  
Hà Nội chưa xây dựng được một quy chế trả lương đáp ứng được đầy đủ  
những yêu cầu, đòi hỏi trên. Quy chế trả lương hiện nay Công ty đang áp  
dụng bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, không phù hợp với tình hình thực tế  
của một công ty cổ phần nhà nước nắm giữ 51% vốn điều lệ như nguồn  
việc Công ty phải tự tìm kiếm, tự chủ trong việc quản lý, sử dụng nguồn  
vốn, nhân lực…. Những hạn chế, bất cập này tác giả sẽ làm rõ ở những  
chương sau của Luận văn.  
4
Vì bốn lý do trên , tác giả đã chọn vấn đề: “Hoàn thiện Quy chế trả  
lương tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà  
Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình.  
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận văn  
Trong quá trình nghiên cứu, phân tích, tìm kiếm tài liệu liên quan  
đến vấn đề này, tác giả Luận văn nhận thấy có nhiều tài liệu, văn bản pháp  
luật quy định về chế độ tiền lương, thu nhập và vấn đề về tiền lương cũng  
như các phương thức trả lương đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài  
nước giành thời gian nghiên cứu ở các cấp độ, các hướng tiếp cận khác  
nhau:  
Luật lao động số 10/2012/ QH 13 đã được Quốc Hội nước Cộng hòa  
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18  
tháng 6 năm 2012; Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6  
năm 2006 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Các văn bản quy  
định về chế độ tiền lương – bảo hiểm xã hội năm 2004…  
Trước năm 1992, PGS. TS Trần Đình Hoan – nguyên Bộ Trưởng Bộ  
Lao động Thương binh và Xã hội là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu cấp nhà  
nước “Những vấn đề cơ bản đổi mới chính sách tiền lương ở Việt Nam”.  
Đề tài được nghiên cứu từ năm 1991 đã tổng kết tương đối, toàn diện  
những vấn đề lý luận cơ bản về tiền lương trong thời kỳ xây dựng nền kinh  
tế kế hoạch hóa tập trung và nước đầu tiếp cận các khái niệm, đặc trưng,  
bản chất, vai trò của tiền lương trong nền kinh tế thị trường, trong đó đặc  
biệt chú trọng đến vấn đề cải cách tiền lương vận hành theo nền kinh tế thị  
trường. Điểm đặc biệt nổi bật mà chủ nhiệm đề tài đưa ra là đề xuất xây  
dựng hệ thống thang, bảng lương trong doanh nghiệp nhà nước, là tiền đề  
để nhà nước tiến hành đổi mới hệ thống tiền lương trong cả nước.  
Đến năm 2000 một đề tài cấp nhà nước về tiền lương được nghiên  
cứu do TS Lê Duy Đồng làm chủ nhiệm đề tài “Luận cứ khoa học cải cách  
chính sách tiền lương nhà nước”. Đề tài được nghiên cứu dựa trên những  
5
bài học kinh nghiệp được rút ra từ các cuộc khảo sát, tìm hiểu, học tập tại  
một số nước trong khu vực và trên thế giới. Đề tài đã tổng kết những vấn  
đề lý luận, những quan điểm về tiền lương tối thiểu, những định hướng cho  
việc hình thành cơ chế trả lương trong khu vực hành chính nhà nước, khu  
vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  
Ngoài ra, đề tài còn làm rõ thêm bản chất của tiền lương trong nền kinh tế  
thị trường, vai trò điều tiết của nhà nước và bước đầu định hướng để các  
doanh nghiệp chủ động xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương phù  
hợp với cung cầu lao động trên thị trường và tình hình thực tế của từng  
doanh nghiệp.  
Năm 2005, Tác giả đã hoàn thành Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại  
Trường Đại học Kinh tế quốc dân về: “Một số giải pháp nhằm cải tiến cách  
trả lương khối văn phòng Công ty Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển nhà  
Hà Nội” và Chuyên đề tốt nghiệp tại Trường Đại học Thương Mại năm  
2007 với đề tài: “Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích lao động  
tiền lương tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà  
Nội”. Trong hai chuyên đề tốt nghiệp này, tác giả đã hệ thống hóa các lý  
luận về tiền lương, phát triển và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về  
phương thức cải tiến cách trả lương tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây  
dựng Phát triển đô thị Hà Nội. Tuy nhiên, chuyên đề mới chỉ dừng lại ở  
việc nghiên cứu và tìm ra phương thức cải cách tiền lương đối với CBCNV  
khối văn phòng Công ty chứ chưa đưa ra phương thức trả lương đối với  
người lao động thuộc các bộ phận còn lại của Công ty. Đây cũng đồng thời  
là lý do thôi thúc tác giả tiếp tục nghiên cứu để vừa bổ sung thêm phần lý  
luận, vừa có những đóng góp thiết thực cho việc nâng cao hiệu quả quản lý  
và sử dụng nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ nhân viên nói riêng của  
Công ty trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.  
Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài Luận  
văn, tác giả nhận thấy trong quản lý nhà nước về lao động tiền lương còn  
6
rất thiếu những văn bản hướng dẫn cụ thể cách xây dựng hệ thống thang,  
bảng lương, các tiêu chuẩn kỹ thuật, các mô hình trả lương mẫu cho các  
doanh nghiệp ngoài quốc doanh… Hiện nay Công văn số 4320/LĐTBXH –  
TL ngày 29 tháng 12 năm 1998 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là  
một văn bản duy nhất tính đến thời điểm này hướng dẫn xây dựng quy chế  
trả lương trong doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, điểm hạn chế lớn nhất  
của văn bản là phạm vi áp dụng chỉ trong doanh nghiệp nhà nước và cách  
xây dựng rất chung chung, mơ hồ, nhiều điểm mập mờ, chưa rõ ràng nên  
rất khó áp dụng. Do đó doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong  
xây dựng quy chế trả lương, chưa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trả  
lương. Bên cạnh đó, tác giả cũng chưa thấy có nghiên cứu, tài liệu nào  
viết về quy chế tiền lương tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng  
Phát triển đô thị Hà Nội ngoài dự thảo “Quy chế tạm thời về việc trả  
lương cho CBCNV Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô  
thị Hà Nội” được xây dựng từ năm 2006 nhưng đến nay chưa được áp dụng  
vào thực tế bởi còn tồn tại rất nhiều tranh cãi trong nội bộ Công ty.  
Với sự tâm huyết, sự nghiên cứu nghiêm túc, kỹ lưỡng và những trải  
nghiệm của bản thân qua quá trình công tác tại Công ty , tác giả hy vọng và  
tin tưởng rằng Luận văn sẽ xây dựng được một quy chế trả lương hiệu quả  
cho cán bộ công nhân viên Công ty, dung hoà được quyền lợi, nghĩa vụ của  
các chủ thể trong quan hệ lao động và không trái với các quy định của pháp  
luật về lao động tiền lương hiện hành.  
Với những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả Luận văn mong  
rằng Quy chế trả lương này có thể được các Giáo sư, Tiến sỹ, trong Hội  
đồng xét duyệt Luận văn cao học, các chuyên gia trong lĩnh vực đánh giá  
đạt yêu cầu, có tính khả thi và được lãnh đạo Công ty xem xét lựa chọn để  
có thể áp dụng vào thực tiễn trong tương lai không xa.  
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn  
3.1 Mục đích: Mục đích của Luận văn nhằm:  
7
Làm rõ cơ sở khoa học về quy chế trả lương tại doanh nghiệp nhà  
nước.  
Phân tích và đánh giá thực trạng, phương thức trả lương cho người  
lao động tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà  
Nội. Từ đó chỉ ra những bất cập, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân  
khiến quy chế trả lương hiện nay của Công ty bộc lộ nhiều nhược điểm như  
vậy.  
Ba là: Trên cơ sở tổng kết những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn,  
những tồn tại, hạn chế trả lương tại một số đơn vị trong và ngoài nước,  
Luận văn sẽ đề xuất giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện quy chế trả  
lương tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội  
cũng như các biện pháp nhằm thực hiện quy chế trả lương mới.  
3.2 Nhiệm vụ:  
Để thực hiện được mục đích trên, Luận văn phải thực hiện được  
những nhiệm vụ sau đây:  
Một là: Làm rõ bản chất của vấn đề trả công lao động tại doanh  
nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường, những nguyên tắc, yêu cầu  
cơ bản đối với vấn đề trả công cho người lao động trong tình hình hiện nay,  
quy chế trả lương, những căn cứ xây dựng quy chế trả lương, các nhân tố  
ảnh hưởng đến việc xây dựng quy chế trả lương trong DNNN.  
Hai là: Luận văn sẽ nêu ra thực trạng quy chế trả lương tại Công ty  
cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội. Từ thực trạng  
đó, tác giả đi sâu phân tích, chỉ ra những tồn tại, những nguyên nhân của sự  
yếu kém, sự bất hợp lý trong quy chế trả lương hiện tại cũng như những lý  
do cần phải thay đổi quy chế trả lương hiện nay. Đồng thời chỉ ra tầm quan  
trọng của chế độ trả lương cho người lao động nói chung, từ đó giúp Công  
ty giữ được chân người lao động có trình độ, chống hiện tượng “chảy máu  
chất xám”, thu hút được nhân tài chất lượng cao từ bên ngoài, mang lại  
hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp.  
8
Ba là: Xây dựng những giải pháp nhằm hoàn thiện quy chế trả lương  
hiện nay trong đó có quy chế trả lương cho từng bộ phận, từng đối tượng  
lao động cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của Công ty: Quy chế trả  
lương đối với Ban Giám đốc và Kế toán trưởng, Quy chế trả lương đối với  
bộ phận văn phòng, quy chế trả lương đối với bộ phận trực tiếp sản xuất…  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn  
4.1 Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Quy chế trả lương cho người  
lao động tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà  
Nội. Người lao động tại Công ty bao gồm: Người lao động đang làm việc  
tại các phòng, ban nghiệp vụ; người lao động đang làm việc tại các Trung  
tâm, đơn vị trực thuộc Công ty; người lao động đang trong thời gian thử  
việc; người lao động là cộng tác viên cá nhân hoặc nhóm cộng tác viên;  
người lao động hưởng lương khoán theo công việc được giao; người lao  
động là những người đã nghỉ hưu ký hợp đồng lao động làm việc theo quy  
định tại tiết a điểm 2 mục I Thông tư số 21/2003/ TT- BLĐTBXH ngày 22  
tháng 9 năm 2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi  
hành một số điều của Nghị định số 44/2003/ NĐ- CP ngày 9 tháng 5 năm  
2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều  
của Bộ Luật lao động về hợp đồng lao động. Tuy nhiên, trong khuôn khổ  
nghiên cứu của Luận văn, đối tượng xây dựng quy chế trả lương là những  
người lao động làm việc tại các phòng, ban nghiệp vụ và các Trung tâm,  
đơn vị trực thuộc Công ty, không xét đến đối tượng lao động là công tác  
viên cá nhân và cộng tác viên theo nhóm, đối tượng là người lao động đã  
nghỉ hưu và đối tượng lao động đang trong thời gian thử việc và đối tượng  
lao động hưởng lương khoán theo công việc được giao.  
4.2 Phạm vi nghiên cứu  
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được giới hạn trong Công ty cổ  
phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội trong thời gian 2  
9
năm ( năm 2012 và năm 2013)  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Để hoàn thành Luận văn này, tác giả đã sử dụng phương pháp luận  
nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; nghiên cứu lý luận kết  
ợp với điều tra khảo sát, phân tích, tổng hợp.  
Nguồn số liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm nguồn số liệu sơ  
cấp và số liệu thứ cấp. Số liệu sơ cấp là số liệu thu được từ bảng hỏi  
(Questinonires) do tác giả Luận văn thực hiện. Số liệu thứ cấp chủ yếu từ  
các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và phương hướng sản  
xuất kinh doanh các năm 2010,2011 và năm 2012 của Công ty qua các kỳ  
Đại hội cổ đông thường niên Công ty.  
Ngoài ra, để khảo sát những bất cập trong quy chế trả lương hiện nay  
tại Công ty cũng như sự cần thiết phải xây dựng quy chế trả lương mới, tác  
giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phiếu điều tra) với đối  
tượng điều tra là đại diện Ban lãnh đạo Công ty, đại diện tổ chức Công  
đoàn Công ty, Trưởng các phòng, ban và tương đương, chuyên viên tổ chức  
lao động tiền lương, các cán bộ chuyên viên, kiến trúc sư, kỹ sư, mỗi đơn  
vị sẽ điều tra bằng bảng hỏi 10 phiếu.  
Mỗi phiếu điều tra gồm 15 câu hỏi được chia làm 3 phần. Phần 1 từ  
câu hỏi số 1 đến câu hỏi số 4 có mục đích nhằm xác định một số thông tin  
cá nhân người lao động: chức danh công việc, độ tuổi, số năm kinh nghiệm,  
trình độ cá nhân. Phần 2 từ câu hỏi số 5 đến câu hỏi số 10 với mục đích thu  
thập về điều kiện lao động, tổ chức lao động, ưu nhược điểm của cách trả  
lương hiện tại, ý kiến nhận xét về tổ chức lao động tại Công ty hiện nay.  
Phần 3 từ câu hỏi số 11 đến câu hỏi số 15 với mục đích thu thập ý kiến của  
người lao động về quan điểm xây dựng quy chế trả lương, mong muốn,  
nguyện vọng của người lao động khi xây dựng quy chế trả lương mới và  
các chế độ đãi ngộ khác đối với người lao động, cuối cùng sẽ đưa ra  
phương hướng đề xuất nhằm hoàn thiện quy chế trả lương.  
10  
Bên cạnh đó, để thu thập được những thông tin khách quan và có  
tính chuyên môn, tác giả sẽ điều tra bằng bảng hỏi đối với đối tượng là các  
đồng nghiệp tại một số công ty thuộc cùng lĩnh vực, cùng ngành nghề hoạt  
trong Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà nội và một số học viên lớp  
cao học Quản trị nhân lực 1A thuộc Trường Đại học Lao động Xã hội hiện  
đang làm công tác tổ chức nhân sự tại các doanh nghiệp nhà nước tại Hà  
Nội.  
Do tác giả đã có thời gian công tác tại Phòng Tổ chức Lao động tiền  
lương Công ty gần 10 năm (từ năm 2003 đến cuối năm 2011) nên rất thuận  
tiện cho việc điều tra bằng bảng hỏi và trực tiếp phỏng vấn sâu một số đối  
tượng lao động tại Công ty. Tổng số phiếu điều tra phát ra là 100 phiếu,  
trong đó 80 phiếu được gửi đến cho người lao động tại Công ty (nhóm 1),  
20 phiếu gửi đến các đối tượng khác không phải là người lao động của  
Công ty (nhóm 2). Số phiếu hợp lệ thu về là 92 phiếu, trong đó 75 phiếu  
của nhóm 1 và 17 phiếu của nhóm 2.  
Xử lý kết quả điều tra: Số phiếu hợp lệ thu về sau khi được tổng hợp,  
kết quả sẽ được trình bày ở cuối chương 3 của Luận văn.  
Thời gian điều tra và xử lý số liệu, lập báo cáo tổng hợp được tiến  
hành từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 8 năm 2013.  
6. Đóng góp của Luận văn  
Luận văn sẽ có những đóng góp sau đây:  
- Về mặt lý luận:  
Luận văn đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học về quy chế trả lương tại  
doanh nghiệp nhà nước, trong đó đi sâu phân tích để làm rõ khái niệm về  
tiền lương, bản chất của vấn đề trả công lao động tại doanh nghiệp nhà  
nước trong nền kinh tế thị trường, quy chế trả lương và những nguyên tắc  
khi xây dựng quy chế trả lương cho người lao động trong tình hình hiện  
nay…  
- Về mặt thực tiễn:  
11  
Nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm trả lương cho người lao  
động tại một số đơn vị trong và ngoài nước, qua đó rút ra bài học kinh  
nghiệm cho Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà  
Nội.  
Phân tích đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý,  
nguồn nhân lực, tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh trong 3  
năm gần đây (2010-2011-2012).  
Phân tích và đánh giá thực trạng về tiền lương, các chính sách đãi  
ngộ và phương thức trả lương Công ty đang áp dụng từ đó giúp người đọc  
có cái nhìn bao quát về thực trạng quy chế trả lương hiện nay của Công ty ,  
đưa ra những kết luận về kết quả đạt được và những khó khăn tồn tại,  
những điểm hạn chế lớn cần có biện pháp khắc phục trong cách trả lương  
hiện nay của Công ty.  
Đề xuất các quan điểm, các giải pháp nhằm hoàn thiện được một  
Quy chế trả lương có tính sáng tạo, khuyến khích người lao động có năng  
lực, tâm huyết, yên tâm công tác, từng bước cải thiện đời sống người lao  
động nhưng phải đảm bảo đúng những quy định, những chế độ chính sách  
của Nhà nước về tiền lương và phải phù hợp với tình hình thực tế của Công  
ty.  
7. Ý nghĩa của Luận văn  
Với những đóng góp trên, Luận văn sẽ có giá trị sau:  
Ý nghĩa về mặt khoa học: Trước hết đó là một tài liệu tham khảo,  
một gợi ý tư duy cho tất cả những người làm công tác quản lý nhân sự  
trong các doanh nghiệp nói chung.  
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Hoàn thiện quy chế trả lương cho người  
lao động tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà  
Nội như một sự trợ giúp cho công tác quản lý tiền lương cho Hội đồng  
quản trị, Ban Giám đốc và phòng Tổ chức Lao động tiền lương của Công ty  
cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội.  
12  
8. Bố cục của Luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ luc,  
nội dung chính của Luận văn gồm những phần sau:  
Chương 1: Cơ sở khoa học về quy chế trả lương trong doanh nghiệp  
nhà nước.  
Chương 2: Thực trạng quy chế trả lương tại Công ty cổ phần Tư vấn  
Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội  
Chương 3: Gải pháp hoàn thiện Quy chế trả lương tại Công ty cổ  
phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội  
13  
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG  
TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC  
1.1 Một số khái niệm cơ bản về tiền lương  
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về tiền lương:  
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO -International Labour  
Orgazination), tiền lương (salary) là số tiền mà ngưởi sử dụng lao động trả  
cho người lao động theo một số lượng nhất định không căn cứ vào số giờ  
làm việc thực tế, thường được trả theo tháng hoặc nửa tháng. Tiền công  
(wage) là khoản tiền trả công lao động theo hợp đồng lao động (chưa trừ  
thuế thu nhập và các khoản khấu trừ theo quy định), được tính dựa trên số  
lượng sản phẩm làm ra hoặc số giờ làm việc thực tế [23,tr8].  
Theo từ điển kinh tế thị trường “Tiền lương là tiền trả hàng tháng  
cho một nhân viên làm việc trong văn phòng hay nhân viên quản lý”. Định  
nghĩa này mới chỉ đề cập đến nhóm lao động hay đối tượng lao động là  
nhân viên văn phòng, nhân viên quản lý hay đối tượng lao động gián tiếp  
mà chưa đề cấp đến nhóm đối tượng lao động trực tiếp sản xuất. Mặt khác  
tiền lương không phải nhất thiết phải trả theo tháng, có thể trả theo tuần,  
nửa tháng tùy theo thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao  
động. Với cách hiểu này về tiền lương, có thể thấy trách nhiệm của người  
mua sức lao động là chủ yếu vì tiền lương mà họ phải trả chứ chưa nói lên  
được những gì mà họ nhận được hay nói cách khác định nghĩa chưa nói lên  
trách nhiệm của người lao động đối với người sử dụng lao động trong việc  
mua và bán sức lao động.  
“Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở  
thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp  
đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng phù hợp với quan hệ cung –  
cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với các quy định tiền  
14  
lương của pháp luật lao động. Tiền lương được người sử dụng lao động trả  
cho người lao động một cách thường xuyên, ổn định theo tháng hoặc nửa  
tháng. Tiền công là số tiền người thuê lao động trả cho người lao động để  
thực hiện một khối lượng công việc hoặc trả cho một thời gian làm việc  
(thường theo giờ), trong những hợp đồng thỏa thuận thuê nhân công phù  
hợp với quy định của pháp luật lao động và pháp luật dân sự về thuê mướn  
lao động” [23,tr.8].  
Theo quy định tại Điều 55 Bộ Luật lao động nước Cộng hòa xã hội  
chủ nghĩa Việt nam khóa XIII kỳhọp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm  
2012 thì “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp  
đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả  
công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương  
tối thiểu do Nhà nước quy định”. Tại Điều 56 Bộ Luật lao động ghi “ Mức  
lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho người lao  
động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường có  
thể bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao  
động, mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các  
loại lao động khác”. Qua đó có thể thấy, mức lương tối thiểu là một trong  
những căn cứ quan trọng buộc người sử dụng lao động phải quan tâm khi  
tiến hành trả lương cho người lao động. Mức lương tối thiểu được Nhà  
nước bảo hộ bằng pháp luạt, chống lại sự bóc lột quá mức đối với người lao  
động, hạn chế phân hóa xã hội về thu nhập, Tuy nhiên đây cũng chính là  
nguyên nhân làm giảm tính linh hoạt của thị trường lao động bởi tiền lương  
cũng phải tuân theo quy luật cung cầu lao động, là sự mặc cả sòng phẳng  
giữa người sử dụng lao động và người lao động hay giữa những người đi  
mua hoặc thuê sức lao động và những người bán sức lao động.  
Theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu Tiền lương là số tiền mà  
người sử dụng lao động trả cho người lao động sau khi đã hoàn thành một  
số lượng hoặc khối lượng công việc theo thỏa thuận.  
15  
Tiền lương bao gồm tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế:  
Tiền lương danh nghĩa có thể được hiểu là số lượng tiền tệ mà người  
sử dụng lao động trả cho người lao động căn cứ vào hợp đồng lao động  
bằng văn bản hoặc bằng miệng.  
Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng hàng hóa dịch vụ mà người  
lao động có thể mua được từ tiền lương danh nghĩa mà họ nhận được. Trên  
thực tế, số tiền mà người lao động nhận được từ việc cung ứng sức lao  
động của mình đều là tiền lương danh nghĩa bởi người sử dụng lao động trả  
lương cho người lao động bằng tiền chứ không trả bằng số lượng tư liệu  
sinh hoạt, tư liệu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ.  
Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế có mối quan hệ mật thiết  
với nhau. Tuy nhiên không phải ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời điểm nào  
tăng tiền lương danh nghĩa tỷ lệ thuận với tăng tiền lương thực tế mà phải  
xét đến yếu tố chỉ số giá cả hàng hóa dịch vụ tiêu dùng (CPI). Nếu tăng tiền  
lương danh nghĩa mà CPI không đổi hoặc giảm thì tiền lương thực tế đã  
tăng lên một cách tương đối và ngược lại. Thực tế những năm qua cho thấy,  
khi Chính phủ có sự điều chính tiền lương danh nghĩa thì tốc độ tăng của  
giá cả hàng hóa dịch vụ cũng tăng theo, do đó đôi khi việc tăng tiền lương  
danh nghĩa nhằm cải thiện và nâng cao đời sống người lao động nếu không  
được tính toán kỹ có khi mang lại tác dụng ngược.  
1.2 Bản chất của vấn đề trả lương lao động trong nền kinh tế thị  
trường  
Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương, tiền công chịu sự chi phối  
của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Tiền lương tiền công không chỉ  
bị chi phối bởi quy luật giá trị mà còn bị chi phối bởi quy luật cung cầu lao  
động. Nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động thì tiền lương giảm xuống,  
lúc này một bộ phận lao động không có việc làm hay gọi là thất nghiệp và  
ngược lại nếu cung về lao động ít hơn cầu về lao động thì tiền lương tăng  
lên. Tiền lương thường xuyên biến động xoay quanh giá trị sức lao động,  
16  
phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt. Sự biến động  
đó gọi là sự biến động thể hiện bản chất của tiền lương. Bản chất của tiền  
lương thể hiện dưới hai góc độ: góc độ kinh tế và góc độ xã hội. Ở góc độ  
kinh tế, tiền lương là giá cả sức lao động, là khoản tiền mà người lao động  
nhận được từ người sử dụng lao động khi cung ứng sức lao động. Người sử  
dụng lao động sẵn sàng trả lương cao nếu họ nhận thấy và có khả năng khai  
thác tối đa sức lao động của người lao động nhằm đạt được năng suất và  
chất lượng lao động cao nhất. Như vậy trả lương cao nhưng chi phí cho lao  
động phải giảm đi tương đối. Ở góc độ xã hội, tiền lương là số tiền để  
người lao động mua được tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống bản thân,  
gia đình họ và đảm bảo tái sản xuất sức lao động.  
Tiền lương bao gồm tiền lương cơ bản và các khoản phụ cấp, trợ  
cấp, tiền thưởng, phúc lợi…. Tiền lương cơ bản được xác định căn cứ vào  
mức độ phức tạp công việc và tiêu hao lao động trong các điều kiện lao  
động trung bình của từng ngành nghề. Tiền lương cơ bản là căn cứ quan  
trọng để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp xác định mức lương trả cho  
người lao động của mình. Nhà nước khuyến khích các tổ chức trả lương  
cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu chung. Trong các cơ quan  
hành chính sự nghiệp hoặc một số doanh nghiệp nhà nước, mức lương cơ  
bản do nhà nước quy định là cơ sở để trả lương cho người lao động nhưng  
trong hầu hết doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói chung, mức lương cơ  
bản là căn cứ để đóng bảo hiểm xã hội và các khoản trích nộp khác đối với  
người lao động.  
1.3 Quy chế trả lương và xây dựng quy chế trả lương trong doanh  
nghiệp nhà nước  
1.3.1 Khái niệm  
Quy chế trả lương là văn bản quy định những nội dung, nguyên tắc,  
phương pháp hình thành, sử dụng và phân phối quỹ tiền lương trong cơ  
17  
quan, doanh nghiệp nhằm đảm bảo tính công bằng và tạo động lực trong trả  
lương.  
Quy chế trả lương có thể gọi là quy chế phân phối tiền lương – thu  
nhập, gọi tắt là “Quy chế trả lương” [23, tr 469]  
Quy chế tiền lương trong cơ quan doanh nghiệp do chính cơ quan,  
doanh nghiệp tự xây dựng hoặc thuê đơn vị, tổ chức chuyên về lĩnh vực lao  
động tiền lương tư vấn xây dựng, được áp dụng trong phạm vi cơ quan,  
doanh nghiệp nhưng không trái quy định của pháp luật lao động hiện hành  
và thỏa ước lao động tập thể của cơ quan doanh nghiệp đó, khuyến khích  
áp dụng những điều khoản có lợi hơn cho người lao động.  
1.3.2 Những căn cứ cơ bản khi xây dựng quy chế trả lương trong doanh  
nghiệp nhà nước  
Để xây dựng Quy chế trả lương trong cơ quan, doanh nghiệp nhà  
nước cần phải căn cứ vào những hướng dẫn sau:  
+ Căn cứ Bộ Luật lao động của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt  
Nam hiện hành  
+ Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam hiện hành  
+ Căn cứ các văn bản về tiền lương do Chính phủ, các Bộ, ngành ban  
hành bao gồm những Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng  
dẫn thi hành một số điều của Luật lao động về tiền lương, các Thông tư của  
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện …  
+ Căn cứ hệ thống thang bảng lương do Chính phủ quy định đối với  
từng ngành nghề cụ thể.  
+ Căn cứ Bảng tiêu chuẩn viên chức chuyên môn, nghiệp vụ trong  
các doanh nghiệp nhà nước.  
+ Căn cứ Thỏa ước lao động tập thể được ký kết giữa người sử dụng  
lao động và Ban chấp hành công đoàn doanh nghiệp và được đăng ký với  
cơ quan quản lý có thẩm quyền theo quy định.  
18  
+ Căn cứ vào hợp đồng lao động đã ký kết giữa đại diện doanh  
nghiệp và người lao động.  
+ Căn cứ đặc điểm tổ chức sản xuất, tổ chức lao động tiền lương và  
tình hình thực tế của từng đơn vị doanh nghiệp để xây dựng quy chế trả  
lương cho phù hợp.  
1.3.3 Những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng quy chế trả lương cho  
người lao động trong doanh nghiệp nhà nước trong tình hình hiện nay  
Nguyên tắc 1: Trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau  
trong doanh nghiệp.  
Đây là nguyên tắc đảm bảo sự công bằng, tránh sự bất bình đẳng  
trong công tác trả lương. Nguyên tắc này phải được thể hiện trong các  
thang lương, bảng lương và các hình thức trả lương trong doanh nghiệp.  
Những người thực hiện công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật  
cao, mức độ trách nhiệm lớn hơn, đóng góp nhiều vào hiệu quả sản xuất  
kinh doanh của doanh nghiệp thì được hưởng mức lương cao hơn và ngược  
lại. Những người lao động khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ, kinh  
nghiệm thâm niêm công tác … nhưng làm công việc giống nhau, mức hao  
phí sức lao động như nhau thì phải được trả lương như nhau. Người lao  
động làm công việc gì, giữ chức vụ gì thì hưởng lương của công việc đó,  
chức vụ đó. Khi thay đổi công việc thì tiền lương cũng thay đổi cho phù  
hợp, tránh tình trạng phân phối bình quân, trả lương không gắn với kết quả  
lao động.  
Đây là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được sự công  
bằng, bình đẳng trong trả lương, điều này có tác dụng khuyến khích lớn  
đối với người lao động. Quy chế trả lương phải công bằng, hợp lý sẽ có tác  
dụng từng bước cải thiện, nâng cao đời sống của người lao động trên cơ sở  
làm việc đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả của từng cá nhân và hiệu quả  
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; gắn kết mọi nghĩa vụ và quyền lợi  
của người lao động với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.  
19  
Nguyên tắc 2: Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn  
tốc độ tăng tiền lương bình quân.  
Xét trong các doanh nghiệp, tiền lương tiền công là một trong những  
chi phí đầu vào chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí của doanh  
nghiệp, do đó tăng tiền lương bình quân dẫn đến tăng chi phí sản xuất kinh  
doanh, ngược lại tăng năng suất lao động làm giảm chi phí cho từng đơn vị  
sản phẩm với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi. Một doanh nghiệp  
chỉ thật sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung cũng như chi phí  
cho một đơn vị sản phẩm nói riêng giảm đi, tức là chi phí do tăng năng suất  
lao động phải nhỏ hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân để  
đảm bảo doanh nghiệp có lợi nhuận. Nếu chi phí do tăng năng suất lao  
động bằng với chi phí do tăng tiền lương bình quân trong điều kiện các yếu  
tố khác không thay đổi thì việc tăng năng suất lao động không tạo thêm ra  
lợi nhuận trừ trường hợp doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tối đa hóa doanh  
thu mà trong nhiều trường hợp tối đa hóa doanh thu không đồng nghĩa với  
tối đa hóa lợi nhuận. Tóm lại nguyên tắc này đảm bảo cho doanh nghiệp có  
hiệu quả trong công tác sử dụng tiền lương làm đòn bảy, thể hiện qua hiệu  
quả trong sử dụng chi phí của doanh nghiệp.  
Nguyên tắc 3: Nguyên tắc công khai, dân chủ, minh bạch  
Khi xây dựng quy chế trả lương, lãnh đạo doanh nghiệp phối hợp với  
tổ chức công đoàn phổ biến một cách công khai, dân chủ đến từng bộ phận,  
từng người lao động trong doanh nghiệp. Trong những lý do để người lao  
động quyết định gắn bó với tổ chức, đơn vị như môi trường làm việc, tiền  
lương tiền công, cơ hội thăng tiến, các mối quan hệ xã hội … thì tiền lương  
luôn là mối quan tâm hàng đầu của người lao động. Người lao động cần  
biết rõ quy trình tính lương, cơ chế trả lương, mức lương mà họ sẽ được  
nhận hàng tháng cũng như thời điểm nhận lương và các chế độ phúc lợi  
khác. Cơ chế trả lương càng rõ ràng minh bạch thì tinh thần làm việc và  
động lực làm việc của nhân viên càng cao.  
20  
Hiện nay, trong hầu hết doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì  
thù lao của người lao động luôn là bí mật. Một số doanh nghiệp trong nước  
cũng áp dụng cách trả lương này nhằm hạn chế tối đa những mâu thuẫn có  
thể phát sinh từ việc trả lương cho người lao động. Người lao động chỉ biết  
thu nhập của bản thân mà không biết thu nhập của những người khác là bao  
nhiêu, Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là cơ chế trả lương cũng bí mật.  
Người lao động cần phải biêt họ được trả lương như thế nào và căn cứ vào  
những yếu tố gì …  
Nguyên tắc 4: Xây dựng quy chế trả lương tuân theo những quy định  
pháp luật lao động hiện hành và thỏa ước lao động tập thể của doanh  
nghiệp.  
Thỏa ước lao động tập thể là một văn bản thỏa thuận giữa người lao  
động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động, quyền và nghĩa  
vụ của hai bên trong quan hệ lao động trong đó có thỏa thuận về tiền lương,  
tiền thưởng và phụ cấp lương. Mọi quy định trong thỏa ước lao động tập  
thể không được trái với những quy định của pháp luật. Có thể coi Thỏa ước  
lao động tập thể là một văn bản pháp lý thu nhỏ của doanh nghiệp, do đó  
các điều khoản trong quy chế trả lương cũng không được trái với những  
quy định của Thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT).  
Nguyên tắc 5: Quỹ tiền lương được phân phối trực tiếp cho người  
lao động đang làm việc trong doanh nghiệp, không sử dụng vào mục đích  
khác  
Thực hiện nguyên tăc này nhằm đảm bảo cho người lao động có đầy  
đủ điều kiện nuôi sống bản thân và gia đình họ.  
Nguyên tắc 6: Nguyên tắc thỏa thuận trong trả lương  
Nguyên tắc này xuất phát từ khái niệm về tiền lương là sự thỏa thuận  
giữa người sử dụng lao động và người lao động trong quan hệ về việc làm  
có trả công. Người lao động phải được quyền thương lượng, đàm phán để  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 89 trang baolam 29120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Hoàn thiện Quy chế trả lương tại Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư xây dựng Phát triển đô thị Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_hoan_thien_quy_che_tra_luong_tai_cong_ty_co_phan_tu.pdf