Bài giảng Thương mại quốc tế - Nguyễn Hoàng Ngân

TRƢỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG  
KHOA KINH TẾ  
BÀI GIẢNG  
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ  
(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc Đại học)  
Người biên soạn: Th.S Nguyễn Hoàng Ngân  
Lưu hành nội bộ - Năm 2020  
1
MỤC LỤC  
2
3
4
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ  
1.1. Khái niệm, các hình thức và nguyên nhân dẫn đến thƣơng mại quốc tế  
1.1.1. Khái niệm  
Thương mại (trade) có nghĩa là trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa hai bên. Nếu  
các bên này cư trú tại những quốc gia khác nhau thì những hoạt động thương mại này  
mang tính quốc tế. Thương mại bao gồm thương mại hàng hóa và thương mại dịch  
vụ.  
Thương mại quốc tế (TMQT) có hai đặc điểm:  
Thương mại quốc tế vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia nên chính phủ  
các nước có thể kiểm soát.  
Thương mại quốc tế gắn liền với việc sử dụng đồng tiền của các quốc gia  
khác nhau nên nó liên quan đến vấn đề thanh toán quốc tế và tỷ giá hối  
đoái.  
1.1.2. Các hình thức thƣơng mại quốc tế  
Thương mại quốc tế có thể được thực hiện dưới các hình thức: xuất và nhập  
khẩu hàng hóa và dịch vụ, gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia  
công, tái xuất khẩu, chuyển khẩu và xuất khẩu tại chỗ.  
Xuất và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ: Theo Luật thương mại 2005:  
- Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam  
hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải  
quan riêng theo quy định của pháp luật.  
- Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ  
nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực  
hải quan riêng theo quy định của pháp luật.  
Gia công quốc tế:  
Gia công quốc tế là một bên thực hiện nhận nguyên liệu từ phía nước ngoài để  
sản xuất ra hàng hóa và giao cho họ để nhận được công lao động gọi là phí gia công.  
Gia công quốc tế gồm gia công cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công.  
Tái xuất và chuyển khẩu:  
+ Trong hoạt động tái xuất, người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ  
bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang nước thứ ba với điều kiện hàng  
hóa đó không qua gia công, chế biến.  
+ Trong hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà chỉ thực hiện  
các dịch vụ như vận tải, quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản...  
5
       
Xuất khẩu tại chỗ: là việc bán hàng cho người nước ngoài ở thị trường trong  
nước.  
1.1.3. Nguyên nhân dẫn đến thƣơng mại quốc tế  
Một trong những mục đích của hoạt động thương mại quốc tế là buôn bán  
nhằm kiếm chênh lệch giá. Do có sự khác biệt về giá nên mới có buôn bán quốc tế,  
với giả thuyết là chất lượng hàng hóa như nhau. Buôn bán kiếm chênh lệch quốc tế  
được định nghĩa là sự khai thác hiệu quả sự chênh lệch về giá. Giả sử sản phẩm X  
được bán ở quốc gia 1 với mức giá thấp hơn ở quốc gia 2, nếu chi phí vận chuyển và  
chi phí giao dịch là không đáng kể, thì các nhà kinh doanh sẽ mua sản phẩm X ở  
quốc gia 1 và bán lại nó ở quốc gia 2 để hưởng chênh lệch giá.  
Do thị hiếu của người tiêu dùng ở mỗi quốc gia là khác nhau, để thỏa mãn sở  
thích của mình, họ phải thông qua thương mại quốc tế. Sự khác nhau về tài nguyên là  
một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sở thích của người tiêu dùng.  
Sự khác nhau về nguồn nhân lực và trình độ sử dụng nguồn nhân lực giữa các  
quốc gia cũng là một trong những nguyên nhân của TMQT. Một quốc gia dù giàu có  
đến đâu cũng không thể có đủ tài nguyên và nguồn nhân lực để sản xuất ra tất cả các  
loại sản phẩm, hoặc nếu có thể thì cũng không đạt hiệu quả cao vì có sự khác nhau về  
chi phí sản xuất và giá cả sản phẩm giữa các quốc gia. Do đó, các nước phải trao đổi  
với nhau thông qua con đường TMQT.  
1.2. Lý thuyết thƣơng mại và chính sách TMQT  
1.2.1. Lý thuyết thƣơng mại quốc tế  
Lý thuyết Thương mại quốc tế là các lý thuyết giải thích cơ sở khoa học hình  
thành thương mại quốc tế và lợi ích đạt được của các chủ thể tham gia quá trình này.  
Lý thuyết Thương mại quốc tế phát triển từ đơn giản đến phức tạp và ngày  
càng hoàn thiện. Theo thời gian và theo tiến trình phát triển, có thể chia thành 3  
nhóm lý thuyết: lý thuyết Thương mại cổ điển, lý thuyết Thương mại tân cổ điển và  
lý thuyết Thương mại hiện đại.  
1.2.2. Chính sách thƣơng mại quốc tế  
Theo từ điển chính sách thương mại quốc tế (Walter Goode, 1997), chính sách  
thương mại là “một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm luật lệ, quy định, hiệp định quốc tế  
và các quan điểm đàm phán được chính phủ thông qua để đạt được mở cửa thị trường  
hợp pháp cho các công ty trong nước. Chính sách thương mại cũng nhằm xây dựng  
luật lệ giúp cho các công ty có khả năng dự đoán trước và đảm bảo an toàn cho mình.  
Thành phần chính của chính sách thương mại là đãi ngộ tối huệ Quốc, đãi ngộ quốc  
gia, tính công khai và trao đổi ưu đãi. Để phát huy được hiệu lực, chính sách thương  
6
       
mại cần có sự hỗ trợ của chính sách trong nước để khuyến khích đổi mới và nâng cao  
tính cạnh tranh quốc tế, và cần có đủ linh hoạt và thực dụng trong quá trình thực  
hiện”.  
Theo Hoekman và Kostecke (1995), chính sách thương mại quốc tế là chính  
sách quốc gia dùng để phân biệt đối xử đối với các nhà sản xuất nước ngoài. Nói  
cách khác, chính sách thương mại quốc tế đại diện cho quy mô quốc tế của chính  
sách quốc gia vì lý do nội địa. Căn cứ vào nguyên tắc, các công cụ mà các nước sử  
dụng, các hiệp định giữa các nước đã được ký kết để điều tiết hoạt động thương mại  
quốc tế và các quan điểm của các quốc gia đối với hoạt động xuất nhập khẩu, có thể  
phân chia chính sách thương mại quốc tế đi theo hai xu hướng: xu hướng tự do  
thương mại và xu hướng bảo hộ thương mại.  
Những quan điểm, công cụ, biện pháp khuyến khích, tạo điều kiện cho thương  
mại phát triển gọi là chính sách tự do thương mại.  
Còn những quan điểm, công cụ, biện pháp hạn chế nhập khẩu nhằm bảo hộ  
sản xuất trong nước gọi là chính sách bảo hộ thương mại.  
1.3. Cơ chế điều tiết thƣơng mại quốc tế  
Theo quan hệ cung cầu quốc tế, hàng hóa được đem ra trao đổi, khi mua bán  
làm thỏa mãn bên mua và bên bán; nhưng điều đó không có nghĩa thương mại quốc  
tế là hoàn toàn tự do mà có sự quản lý của nước bán và nước mua. Khi có nhiều nước  
tham gia thương mại quốc tế thì vấn đề buôn bán sẽ phức tạp hơn, chẳng hạn nhiều  
nước có nhu cầu bán và nhiều nước có nhu cầu mua sẽ nảy sinh ra vấn đề cạnh tranh  
và rất nhiều vấn đề khác cần phải được điều tiết và giải quyết. Do đó cần phải có  
hiệp định chung giữa các nước và cao hơn, cần có một tổ chức điều tiết trên quy mô  
toàn cầu. Tổ chức thực hiện việc điều tiết đó là WTO (Tổ chức Thương mại thế giới)  
- cơ quan đề ra luật lệ của thương mại toàn cầu.  
1.4. Tác động của các xu hƣớng phát triển kinh tế đối với thƣơng mại quốc tế  
1.4.1. Xu hƣớng hòa bình hợp tác vì sự tiến bộ và sự phát triển  
Trước đây, chiến tranh là một trong những giải pháp thường được lựa chọn để  
giải quyết các cuộc xung đột, bất đồng giữa các khu vực, quốc gia. Tuy nhiên, từ sau  
chiến tranh thế giới thứ 2, tình thế đã thay đổi. Chiến tranh không còn là giải pháp để  
giải quyết tốt các bất đồng và xung đột. Các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc,  
ngày càng nhận thức được rằng hòa bình, ổn định, đối thoại và hợp tác là con đường  
tốt nhất để giải quyết những bất đồng và xung đột giữa các quốc gia.  
Tuy nhiên, bên cạnh xu hướng hòa bình và ổn định, đối thoại và hợp tác, thế  
giới đang tồn tại không ít nguy cơ. Thứ nhất, đó là cuộc chiến tranh sắc tộc và tôn  
giáo, nổi bật với cuộc chiến tranh kéo dài ở Afghanistan, Iraq, Iran, Israel... Thứ hai,  
7
     
lực lượng phản động dưới các hình thức khác nhau như chủ nghĩa dân tộc cực đoan,  
phát xít, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa khủng bố vẫn tồn tại và hoạt động rải rác ở  
các quốc gia trên thế giới với mức độ mạnh yếu khác nhau. Thứ ba, các tổ hợp quân  
sự hùng mạnh đang nắm giữ, sản xuất và tiêu thụ khối lượng vũ khí to lớn, kích  
động, nuôi dưỡng chiến tranh và gây mất ổn định tình hình thế giới. Thứ tư, các tổ  
chức tội phạm đang hoạt động phá hoại bộ máy nhà nước gây bất ổn chính trị. Cuối  
cùng nguy cơ gây ra ô nhiễm môi trường gây thiệt hại lớn cho kinh tế xã hội. Những  
nguy cơ trên vẫn đang hiện hữu và gây tác động tiêu cực song chúng không thể ngăn  
chặn được xu hướng hòa bình đối thoại và hợp tác vì sự tiến bộ và sự phát triển.  
1.4.2. Xu hƣớng chuyển sang cơ sở công nghệ mới có tính toàn cầu  
Các công nghệ mới có sự thay đổi về chất đã xuất hiện ở những năm gần đây  
theo các hướng sau:  
Các loại sản phẩm mềm, người máy công nghiệp được sản xuất và sử dụng  
trong các ngành công nghiệp, mở ra thời kỳ tự động hóa lao động không  
chỉ trong lao động chân tay mà cả lao động trí óc.  
Công nghệ tin học viễn thông đang phát triển bao gồm: kỹ thuật tin học,  
dây dẫn, cáp quang, vệ tinh viễn thông tạo ra các xa lộ thông tin toàn cầu.  
Công nghệ vật liệu mới có khả năng tái sinh và không gây ô nhiễm môi  
trường, tạo ra những sản phẩm có kích thước nhỏ, tiêu tốn ít năng lượng và  
hàm lượng chất xám trong hàng hóa cao.  
Công nghệ sinh học và các thành tựu về gen, di truyền, lai tạo giống đang  
thúc đẩy các ngành nông nghiệp, y học, sinh học, hóa học phát triển và  
phục vụ thiết thực cho nhu cầu của con người và xã hội.  
Công nghệ vũ trụ, giao thông vận tải mở rộng không gian của các nền kinh  
tế xuống đáy đại dương và trong không gian.  
Nhân loại đang trong quá trình quá độ từ văn minh công nghiệp sang văn  
minh hậu công nghiệp. Cơ sở của văn minh công nghiệp là Điện khí hóa và Cơ khí  
hóa. Còn cơ sở của văn minh hậu công nghiệp là tin học hóa và tự động hóa. Nền văn  
minh này đã làm thay đổi căn bản phương thức quản lý kỹ thuật sản xuất và hoạt  
động buôn bán. Từ đó, thương mại quốc tế sẽ gia tăng quy mô, mở rộng thị trường,  
thay đổi cơ cấu sản phẩm và thu hút nhiều chủ thể tham gia.  
1.4.3. Xu hƣớng khu vực hóa và toàn cầu hóa  
Khu vực hóa và toàn cầu hóa là đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của nền  
kinh tế thế giới hiện đại. Liên kết khu vực là một bước đi của quá trình toàn cầu hóa.  
Quốc tế hóa kinh tế tất yếu dẫn đến sự hình thành nền kinh tế toàn cầu, nền tảng của  
8
   
một thời đại mới thời kỳ văn minh hậu công nghiệp. Xu hướng đó đòi hỏi những yêu  
cầu khách quan là: nền công nghệ toàn cầu ra đời và phát triển, quan hệ kinh tế đầu  
tư vượt ra khỏi biên giới của các quốc gia, các vấn đề toàn cầu xuất hiện ngày càng  
nhiều không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà trên cả lĩnh vực chính trị và an ninh văn hóa  
xã hội. Những yếu tố khách quan trên đã phát triển rất nhanh chóng và đang thúc đẩy  
mạnh mẽ xu hướng khu vực hóa và toàn cầu hóa. Thực chất của khu vực hóa và toàn  
cầu hóa là sự hội nhập khu vực và toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực, mà trước hết là  
lĩnh vực kinh tế. Hiện nay thế giới đang hình thành các thể chế liên minh về chính trị,  
an ninh, văn hóa, xã hội như Liên minh Châu Âu (EU), khu vực mậu dịch tự do Bắc  
Mỹ (NAFTA), diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC)...  
1.4.4. Xu hƣớng chuyển sang kinh tế thị trƣờng và mở cửa  
Chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa đang trở thành xu hướng nổi bật có  
tính toàn cầu. Khi tất cả các quốc gia đều chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa  
thì tác động của xu hướng này đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới nói chung và  
thương mại quốc tế nói riêng rất to lớn.  
1.4.5. Xu hƣớng phát triển và lớn mạnh của các công ty xuyên quốc gia  
Các công ty xuyên quốc gia (TNC) đang trở thành một lực lượng kinh tế quan  
trọng trong đời sống thế giới. Các tập đoàn xuyên quốc gia đã có mặt ở hầu hết khắp  
mọi nơi trên thế giới. Sự bành trướng về quy mô và vai trò ngày càng quan trọng của  
các TNC xuất phát từ những ưu thế như năng lực tổ chức sản xuất lớn và kinh  
nghiệm quản lý tiên tiến, có lợi thế nghiên cứu khoa học, lợi thế to lớn về cạnh tranh  
tiêu thụ sản phẩm, tiềm lực tài chính hùng hậu, được điều phối một cách tự do trên  
quy mô toàn cầu.  
1.4.6. Khu vực châu Á - Thái Bình Dƣơng trở thành trung tâm phát triển kinh  
tế mới của thế giới  
Đây là khu vực hội tụ những điều kiện thuận lợi về mặt tự nhiên: vị trí địa lý  
thuận lợi, nguồn tài nguyên phong phú và nguồn nhân lực dồi dào. Trong những thập  
kỷ qua, đây được đánh giá là khu vực phát triển kinh tế năng động nhất của thế giới.  
1.5. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu TMQT  
1.5.1. Nội dung nghiên cứu TMQT  
Thương mại quốc tế nghiên cứu những vấn đề lớn sau đây:  
1. Những xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới hiện đại và tác động của  
chúng đến thương mại quốc tế.  
2. Lý thuyết Thương mại quốc tế: lý thuyết Thương mại cổ điển, lý thuyết tân  
cổ điển, lý thuyết thương mại với chi phí cơ hội tăng, lý thuyết cung - cầu liên quan  
9
         
đến thương mại và một số lý thuyết khác để làm rõ cơ sở và lợi ích của thương mại  
quốc tế.  
3. Những công cụ trong chính sách thương mại và những định chế quốc tế liên  
quan đến thương mại: thuế quan và các hình thức bảo hộ thương mại khác.  
4. Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội và các  
chiến lược phát triển kinh tế liên quan đến thương mại.  
5. Chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam.  
1.5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu TMQT  
Cũng như kinh tế quốc tế, nghiên cứu môn học Thương mại quốc tế dựa trên  
các phương pháp cơ bản như phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, phương  
pháp trừu tượng hóa khoa học. Trong đó, phương pháp những nhân tố khác không  
đổi được sử dụng khá rộng rãi nhằm tìm hiểu bản chất của các vấn đề kinh tế bằng  
cách giả định rằng trừ vấn đề đang nghiên cứu còn các vấn đề khác không thay đổi.  
Thương mại quốc tế liên quan đến một số các môn học khác như kinh tế học,  
kinh tế quốc tế và địa lý kinh tế thế giới. Trong đó, kinh tế học là quan trọng nhất bởi  
vì đó là cơ sở nền tảng để nghiên cứu những vấn đề lý luận về thương mại quốc tế,  
đồng thời làm phong phú kiến thức của kinh tế quốc tế thông qua thương mại quốc  
tế.  
10  
 
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1. Thương mại quốc tế là gì? Tại sao lại có thương mại quốc tế?  
2. Trình bày khái quát các xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới hiện  
đại?  
3. Những cơ hội và thách thức của Việt Nam dưới tác động của xu hướng khu  
vực hóa và toàn cầu hóa?  
11  
CHƢƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ  
2.1. Lý thuyết cổ điển về thƣơng mại quốc tế  
2.1.1. Quan điểm của trƣờng phái trọng thƣơng  
2.1.1.1. Nội dung  
Trong thế kỷ 17 và 18, một nhóm người bao gồm các thương gia, viên chức  
ngân hàng, công chức và thậm chí là các nhà triết học đã viết các bài luận và một vài  
cuốn sách về thương mại quốc tế. Tất cả những tư tưởng này được biết đến với tên  
gọi là chủ nghĩa trọng thương.  
Chủ nghĩa trọng thương chỉ ra con đường trở thành một quốc gia giàu có và  
hùng mạnh chính là thông qua xuất khẩu hàng hóa chứ không phải nhập khẩu hàng  
hóa. Kết quả của xuất khẩu sẽ tạo ra nhiều vàng bạc cho các quốc gia. Quốc gia càng  
có nhiều vàng bạc thì càng giàu có và hùng mạnh. Chính vì thế, một Chính phủ cần  
làm tất cả những gì để có thể kích thích xuất khẩu và ngăn chặn nhập khẩu (đặc biệt  
là nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng xa xỉ). Tuy nhiên, vì không phải tất cả các quốc gia  
đều có thể tạo ra thặng dư xuất khẩu và số lượng vàng bạc là có hạn nên nếu một  
quốc gia có lợi thì quốc gia khác sẽ bị thiệt.  
Trong bất kỳ trường hợp nào, các nhà trọng thương luôn chủ trương ủng hộ  
việc chính phủ kiểm soát các hoạt động kinh tế và ủng hộ chủ nghĩa kinh tế quốc gia,  
vì họ tin rằng một quốc gia chỉ có lợi ích từ thương mại trên cơ sở chi tiêu của quốc  
gia nhập khẩu. Nói cách khác thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng  
0.  
2.1.1.2. Ưu, nhược điểm  
● Ƣu điểm  
Các quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương cho đến nay vẫn còn giá trị. Khi  
năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì lúc đó việc khuyến khích xuất  
khẩu và hạn chế nhập khẩu là điều một quốc gia cần theo đuổi. Các nhà trọng thương  
cũng có lý khi cho rằng khi cho rằng sự gia tăng lượng vàng bạc trong nền kinh tế sẽ  
có tác dụng kích thích sản xuất trong nước. Ngoài ra, họ đã sớm nhận thức được vai  
trò quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết hoạt động kinh tế thông qua các công  
cụ như thuế quan, lãi suất đầu tư, hạn chế nhập khẩu... Như vậy, lần đầu tiên trong  
lịch sử, lý thuyết về thương mại quốc tế được nâng lên như là một lý thuyết khoa  
học, là cơ sở nền móng cho các lý thuyết khác.  
● Nhƣợc điểm  
12  
     
Các quan điểm của Chủ nghĩa trọng thương còn đơn giản, chưa giải thích  
được bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế. Ngoài ra họ chưa giải thích được  
cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế được xác định như thế nào, chưa thấy  
được tính hiệu quả và lợi ích từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi, đặc  
biệt chưa nhận thức được rằng các kết luận của họ có thể đúng với thực tiễn buôn  
bán bấy giờ của một số nước như Anh, Pháp chứ không phải với tất cả các quốc gia  
khác.  
2.1.2. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith  
2.1.2.1. Nội dung  
Theo Adam Smith, thương mại giữa hai quốc gia được hình thành dựa trên lợi  
thế tuyệt đối. Khi một quốc gia có hiệu quả hơn (gọi là có lợi thế tuyệt đối) trong  
việc sản xuất một mặt hàng nhưng lại ít hiệu quả hơn (gọi là bất lợi thế tuyệt đối) so  
với quốc gia khác trong việc sản xuất mặt hàng còn lại, thì hai quốc gia sẽ có lợi khi  
mỗi quốc gia chuyên môn hóa việc sản xuất mặt hàng mà họ có lợi thế tuyệt đối và  
trao đổi một phần sản lượng của mặt hàng đó với mặt hàng họ không có lợi thế tuyệt  
đối được sản xuất bởi quốc gia kia.  
Thông qua quá trình này, các nguồn lực sẽ được sử dụng một cách hiệu quả  
nhất và tổng sản lượng hai loại hàng hóa của cả hai quốc gia sẽ gia tăng. Sự gia tăng  
về sản lượng đo lường sự gia tăng về lợi ích do chuyên môn hóa tạo ra và được phân  
chia giữa hai quốc gia thông qua thương mại.  
Ví dụ, do điều kiện thời tiết, Canada sản xuất lúa mì hiệu quả nhưng lại bất lợi  
trong việc trồng chuối. Ngược lại Nicaragua có hiệu quả hơn so với Canada về trồng  
chuối nhưng lại bất lợi về sản xuất lúa mì. Vì vậy, Canada có lợi thế tuyệt đối so với  
Nicaragua về sản xuất lúa mì và không có lợi thế tuyệt đối về trồng chuối. Điều này  
xảy ra ngược lại với Nicaragua. Trong tình trạng này, cả hai quốc gia sẽ có lợi thông  
qua việc mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối  
và trao đổi chúng với nhau. Canada sẽ chuyên môn hóa sản xuất lúa mì và trao đổi  
chúng để lấy chuối của Nicaragua. Kết quả là hai bên đều có lợi.  
Adam Smith cũng cho rằng tất cả các quốc gia sẽ có lợi nếu thương mại tự do  
và đề xuất chính phủ đi theo chủ nghĩa ít can thiệp vào nền kinh tế. Thương mại tự  
do sẽ làm cho các nguồn lực thế giới được sử dụng có hiệu quả nhất và tối đa hóa lợi  
ích của thế giới.  
2.1.2.2. Ví dụ minh họa  
Giả sử có hai quốc gia là 1 và 2 sản xuất hai sản phẩm X và Y với năng suất  
như sau:  
13  
 
Năng suất lao động  
(số sp/giờ)  
Quốc gia 1  
Quốc gia 2  
X
Y
6
4
1
5
● Cơ sở của thương mại quốc tế giữa hai nước là lợi thế tuyệt đối.  
Năng suất lao động trong sản xuất X của quốc gia 1 gấp 6 lần của quốc gia 2  
hay quốc gia 1 có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia 2 về sản xuất X.  
Ngược lại năng suất lao động trong sản xuất Y của quốc gia 2 gấp 5/4 năng  
suất sản xuất Y của quốc gia 1 nên quốc gia 2 có lợi thế tuyệt đối so với quốc gia 1  
về sản xuất Y.  
Như vậy quốc gia 1 sẽ chuyên môn hóa sản xuất X còn quốc gia 2 sẽ chuyên  
môn hóa sản xuất Y và hai nước sẽ trao đổi với nhau.  
- Mô hình thương mại quốc tế  
Quốc gia 1 xuất khẩu sản phẩm X, nhập khẩu sản phẩm Y.  
Quốc gia 2 xuất khẩu sản phẩm Y, nhập khẩu sản phẩm X.  
- Phân tích lợi ích của thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối  
Tỷ lệ trao đổi khi không có thương mại của QG1 (trao đổi nội địa) là 6X đổi  
được 4Y.  
Tỷ lệ trao đổi khi không có thương mại của QG2 (trao đổi nội địa) là 5Y đổi  
được 1X.  
Khi có sự chuyên môn hóa và thương mại quốc tế, giả sử tỷ lệ trao đổi giữa  
hai quốc gia là 1X đổi được 1Y thì lợi ích mỗi quốc gia đạt được như sau:  
- QG1 đổi 6X được 6Y. Như vậy QG1 lợi 2Y tương đương với tiết kiệm 1/2  
giờ lao động so với trước khi có thương mại.  
- QG2 muốn sản xuất được 6X phải mất 6 giờ lao động, nhưng nếu QG này  
chuyên môn hóa sản xuất Y, thì trong 6h sẽ sản xuất được 30Y, đổi 6Y  
được 6X. Như vậy QG2 lợi 24Y tương đương với tiết kiệm 4,8 giờ lao  
động so với trước khi có thương mại.  
2.1.2.3. Ưu, nhược điểm  
● Ƣu điểm  
14  
- Khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa trọng thương, lý thuyết lợi  
thế tuyệt đối đã đi đúng hướng là vạch ra cơ sở khoa học để tạo ra giá trị là  
sản xuất chứ không phải là lưu thông.  
- Đề cao vai trò của các cá nhân và doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương  
mại tự do, không có sự can thiệp của chính phủ.  
- Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hóa và phân công lao động quốc  
tế.  
● Nhƣợc điểm  
- Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và  
được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá.  
- Dùng lợi thế tuyệt đối chỉ có thể giải thích được một phần rất nhỏ trong  
mậu dịch thế giới ngày nay, ví dụ như giữa các nước phát triển với các  
nước đang phát triển. Lí thuyết này không thể giải thích được trong trường  
hợp một nước được coi là "tốt nhất", tức là quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối  
để sản xuất tất cả các sản phẩm hoặc một nước được coi là "kém nhất", tức  
là quốc gia đó không có một sản phẩm nào có lợi thế tuyệt đối để sản xuất  
trong nước.  
2.1.3. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo  
Năm 1817, Ricardo đã cho ra đời tác phẩm Nguyên lý của Kinh tế chính trị và  
thuế khoá, trong đó ông đã đề cập tới lợi thế so sánh (Comparative advantage). Khái  
niệm này chỉ khả năng sản xuất của một sản phẩm với chi phí thấp hơn so với sản  
xuất các sản phẩm khác. Lý thuyết của Ricardo được xây dựng trên một số giả thiết,  
nhằm làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên đơn giản và trực tiếp hơn.  
2.1.3.1. Các giả thiết của Ricardo  
● Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xác  
định.  
● Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi 1 quốc gia và không được dịch  
chuyển ra bên ngoài.  
● Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về giá trị lao động.  
● Công nghệ của hai quốc gia như nhau.  
● Chi phí sản xuất là cố định.  
● Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ).  
● Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo.  
15  
 
● Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế.  
● Chi phí vận chuyển bằng không.  
● Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá  
2.1.3.2. Nội dung quy luật lợi thế so sánh  
Quy luật lợi thế so sánh mà Ricardo rút ra là: mỗi quốc gia nên chuyên môn  
hoá vào sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế so sánh và nhập  
khẩu sản phẩm mà quốc gia đó không có lợi thế so sánh.  
Kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, Ricardo đã  
nhấn mạnh: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc  
bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có  
thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì  
mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi  
thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác. Bằng việc chuyên môn hoá sản  
xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng về sản  
phẩm trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại. Như  
vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện  
phân công lao động quốc tế.  
2.1.3.3. Ví dụ minh họa  
Giả sử có hai quốc gia là 1 và 2 sản xuất hai sản phẩm X và Y với năng suất  
như sau:  
Năng suất lao động  
(số sp/giờ)  
Quốc gia 1  
Quốc gia 2  
X
Y
6
4
1
2
● Cơ sở của thương mại quốc tế giữa 2 quốc gia là lý thuyết lợi thế so sánh.  
Trong trường hợp này, QG2 không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất cả hai  
loại hàng hoá là X và Y so với QG1. Tuy nhiên, vì lao động ở QG2 có năng suất lao  
động trong việc sản xuất Y bằng 1/2 của QG1 và có năng suất trong việc sản xuất X  
bằng 1/6 của QG1. Do đó, QG2 có lợi thế so sánh trong việc sản xuất Y. Ngược lại,  
dù QG1 có lợi thế tuyệt đối trong cả hai loại hàng hoá là Y và X nhưng vì lợi thế  
tuyệt đối trong sản xuất X của QG1 (6:1) lớn hơn lợi thế tuyệt đối trong sản xuất Y  
(4:2) nên QG1 có lợi thế so sánh trong việc sản xuất X. Tóm lại, QG1 có cả lợi thế  
16  
tuyệt đối và lợi thế so sánh trong việc sản xuất X. QG2 tuy không có lợi thế tuyệt đối  
về sản xuất sản phẩm nào, nhưng vẫn có lợi thế so sánh trong việc sản xuất Y.  
● Mô hình thương mại quốc tế:  
Theo quy luật lợi thế so sánh, cả hai quốc gia sẽ có lợi từ thương mại quốc tế  
nếu QG1 chuyên môn hóa sản xuất X và xuất khẩu một phần để đổi lấy Y được sản  
xuất tại QG2 (cùng lúc đó, QG2 sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu Y).  
● Khung tỷ lệ trao đổi giữa hai quốc gia:  
Điều kiện để QG1 tham gia TMQT là đổi 6X được nhiều hơn 4Y (6X > 4Y)  
Điều kiện để QG2 tham gia TMQT là đổi 2Y được nhiều hơn 1X (2Y > 1X)  
Do đó khung tỷ lệ trao đổi giữa 2 QG để 2 QG cùng có lợi là: 4Y < 6X < 12Y  
Khoảng cách từ 4Y đến 12Y cho biết tổng lợi ích do thương mại tạo ra khi  
trao đổi lấy 6X. Nếu tỷ lệ trao đổi càng gần với tỷ lệ trao đổi của QG1 trong nội địa  
(6X=4Y) thì QG1 sẽ nhận ít lợi ích hơn và QG2 nhận được nhiều lợi ích hơn. Ngược  
lại, nếu tỷ lệ trao đổi càng gần với tỷ lệ trao đổi trong nội địa của QG2 (2Y=1X) thì  
QG1 sẽ nhận được nhiều lợi ích hơn QG2.  
● Lợi ích TMQT của 2QG  
Có thể xác định các tỷ lệ trao đổi và lợi ích từ thương mại đối với 2 QG theo  
Bảng 2.3.  
Bảng 2.3. Tỷ lệ trao đổi và lợi ích  
Tỷ lệ trao đổi  
6Y <=4X  
6Y = 5X  
Lợi ích của QG1 Lợi ích của QG2  
Kết quả  
Không có TM  
Có TM  
Không có  
1Y  
Có  
7Y  
6Y = 6X  
2Y  
6Y  
Có TM  
6Y = 7X  
3Y  
5Y  
Có TM  
6Y = 8X  
4Y  
4Y  
Có TM  
6Y = 9X  
5Y  
3Y  
Có TM  
6Y = 10X  
6Y = 11X  
6Y >= 12X  
6Y  
2Y  
Có TM  
7Y  
Y
Có TM  
Có  
Không có  
Không có TM  
17  
Từ bảng 2.3 ta thấy chỉ có một tỷ lệ trao đổi duy nhất là 6Y=8X thì lợi ích của  
2QG mới cân bằng. Còn các tỷ lệ khác thì lợi ích của 2QG là khác nhau.  
Như vậy, chúng ta đã chứng minh được rằng TMQT có lợi cho cả hai quốc  
gia, cho dù có 1 QG kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất cả 2 sản phẩm.  
2.1.3.4. Các ngoại lệ của quy luật lợi thế so sánh  
Thực tế tồn tại một ngoại lệ nhưng không phổ biến của quy luật lợi thế so  
sánh. Nó xảy ra khi một quốc gia bất lợi tuyệt đối ở cả hai mặt hàng. Ví dụ nếu một  
giờ lao động ở QG2 sản xuất được 3X thay vì sản xuất được 1X như trước, lúc này  
này QG2 sẽ có năng suất lao động bằng 1/2 của QG1 trong việc sản xuất cả hai mặt  
hàng X và Y. QG1 và QG2 lúc này sẽ không có bất kỳ lợi thế so sánh nào và thương  
mại quốc tế sẽ không tạo ra bất kỳ lợi ích nào cho cả hai quốc gia.  
Điều này khiến cho quy luật về lợi thế so sánh cần chỉnh sửa như sau: “Nếu  
một quốc gia gặp bất lợi thế tuyệt đối về cả hai sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có được  
lợi ích khi tham gia thương mại quốc tế, ngoại trừ việc bất lợi thế tuyệt đối này có tỉ  
lệ giống nhau ở cả hai loại hàng hóa”. Mặc dù ngoại lệ này quan trọng nhưng rất  
hiếm thì xảy ra, và vì thế việc ứng dụng lợi thế so sánh không bị ảnh hưởng nhiều.  
2.1.3.5. Ưu, nhược điểm  
● Ƣu điểm  
- Lý thuyết lợi thế so sánh được coi là lý thuyết cơ bản, đặt cơ sở nền tảng  
cho TMQT và được coi là lý thuyết quan trọng nhất của kinh tế quốc tế.  
- Khắc phục được hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối, mang tính khái  
quát hơn.  
- Chỉ ra được lợi ích của phân công lao động quốc tế.  
● Nhƣợc điểm  
- Vận dụng lý thuyết tính giá trị bằng lao động để nghiên cứu mô hình  
TMQT.  
- Chưa giải thích được nguồn gốc phát sinh lợi thế so sánh của một quốc gia  
đối với một loại sản phẩm nào đó, do đó nó không giải thích được triệt để  
nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại.  
2.1.3.6. Sự phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo  
a. Thương mại trong thế giới có một yếu tố sản xuất  
● Khả năng sản xuất  
Mọi nền kinh tế đều có những nguồn lực hạn chế, do đó có những giới hạn về  
năng lực sản xuất và luôn luôn có sự bù trừ. Để sản xuất một mặt hàng nhiều hơn,  
18  
nền kinh tế phải hy sinh một phần việc sản xuất mặt hàng khác. Điều này được minh  
họa bằng PPF (đường giới hạn khả năng sản xuất). Khi chi phí cơ hội không đổi thì  
PPF là một đường thẳng.  
● Ảnh hưởng của thương mại đối với tỷ lệ lương giữa hai quốc gia  
Xem ví dụ sau:  
Chi phí lao động  
(số giờ/sản phẩm)  
Quốc gia  
A
B
1
3
2
4
Vải (m)  
Rƣợu vang (lít)  
Ta có 1/3 < 1/2  
Do đó QG A có lợi thế so sánh trong sản xuất vải, QG B có lợi thế so sánh  
trong sản xuất rượu vang.  
Mô hình thương mại:  
QG A xuất khẩu vải, nhập khẩu rượu vang  
QG B xuất khẩu rượu vang, nhập khẩu vải  
Để xác định tỷ lệ lương, trước hết lưu ý rằng mức lương của mỗi quốc gia sẽ  
là bao nhiêu khi tính theo mặt hàng mà quốc gia đó sản xuất. Sau khi có thương mại,  
quốc gia A sản xuất vải, do phải mất 1 giờ công lao động ảnh để sản xuất một mét  
vải, mức lương ở quốc gia A là một mét vải trên một giờ lao động. Tương tự, khi sản  
xuất rượu vang, Quốc gia B sẽ cần 4h lao động để có một lít rượu, do đó mức lương  
ở quốc gia B là 1/4 lít rượu trên 1 giờ lao động.  
Để so sánh được mức lương tính theo rượu vang và vải, chúng ta phải sử dụng  
giá tương đối của hai loại hàng hóa trên. Nếu một lít rượu vang có giá trị bằng 1 mét  
vải thì mức lương của quốc gia B (nước ngoài) chỉ bằng 1/4 mức lương quốc gia A  
(nội địa). Vì có mức lương thấp hơn, nước ngoài có lợi thế chi phí trong ngành sản  
xuất rượu vang mặc dù năng suất lao động kém hơn. Mặc dù có mức lương cao hơn,  
nội địa vẫn có lợi thế chi phí trong ngành sản xuất vải, bởi vì mức lương cao được bù  
lại bằng năng suất lao động cao hơn.  
Hiện nay, có một số phương pháp đo lường lợi thế so sánh hoặc cạnh tranh  
quốc gia, và một trong số đó là hệ số lợi thế so sánh trông thấy (Revealed  
comparative advantage - RCA). Hệ số này do nhà kinh tế học Balassa đề xuất năm  
1965 để đo lường lợi thế so sánh theo số liệu xuất khẩu như sau:  
19  
RCAXik = Xik : Xi / Xwk : Xw  
Trong đó:  
RCAXik: Chỉ số lợi thế so sánh trông thấy trong xuất khẩu của nước i đối với  
sản phẩm k  
Xik: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của nước i  
Xi: tổng kim ngạch xuất khẩu của nước i  
Xwk: kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k toàn cầu  
Xw: tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu  
Ý nghĩa của công thức trên cho thấy, nếu tỷ trọng xuất khẩu của nước i đối  
với sản phẩm k lớn hơn tỷ trọng sản phẩm đó trong tổng xuất khẩu của thế giới, tức  
là RCAXik > 1 thì nước i được coi là có lợi thế so sánh đối với sản phẩm k. Chỉ số  
này càng lớn chứng tỏ lợi thế so sánh càng cao. Ngược lại, nếu RCAXik < 1 thì nước  
i không có lợi thế so sánh về sản xuất sản phẩm k. Chỉ số này đã được áp dụng cho  
nhiều quốc gia trên thế giới.  
b. Lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều mặt hàng  
Để tiến dần với thực tế, chúng ta cần phải hiểu lợi thế so sánh hoạt động như  
thế nào trong trường hợp một mô hình có nhiều loại hàng hóa. Chúng ta giả định  
rằng thế giới chỉ có hai nước: nội địa và nước ngoài. Mỗi nước chỉ có một yếu tố sản  
xuất là lao động. Trình độ công nghệ mà mỗi nước sử dụng được phản ánh bằng yêu  
cầu lao động theo đơn vị sản phẩm cho mỗi loại hàng hóa, đó là số giờ lao động để  
sản xuất một đơn vị hàng hóa. Yêu cầu lao động theo đơn vị sản phẩm của nội địa ký  
hiệu là X, yêu cầu lao động theo đơn vị sản phẩm của nước ngoài ký hiệu là Y. Điều  
này được minh họa bằng ví dụ sau:  
Hàng hóa  
Yêu cầu lao đông Yêu cầu lao đông Lợi thế năng suất  
của nội địa (X)  
của nƣớc ngoài  
tƣơng đối của nội  
địa (Y/X)  
(Y)  
1
5
3
6
12  
10  
40  
12  
12  
9
10  
8
4
2
0,75  
Táo  
Chuối  
Cam  
Chà là  
Bánh mì  
Điểm then chốt để xác định lợi thế so sánh trong trường hợp nhiều mặt hàng:  
“nước nào sản xuất hàng hóa gì phụ thuộc vào tỷ lệ lương giữa nội địa và nước  
ngoài. Nội địa sẽ có lợi thế chi phí ở hàng hóa nào có năng suất lao động tương đối  
cao hơn mức lương tương đối của nó, và nước ngoài sẽ có lợi thế ở hàng hóa khác”.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 79 trang baolam 26860 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Thương mại quốc tế - Nguyễn Hoàng Ngân", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_thuong_mai_quoc_te_nguyen_hoang_ngan.pdf