Một cách định nghĩa từ “Đoạn trường/ 断肠” bằng thơ

NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
33  
MỘT CÁCH ĐỊNH NGHĨATỪ “ĐOẠN TRƯỜNG/ 断肠”  
BẰNG THƠ  
Phạm Ngọc Hàm*  
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội  
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 06 tháng 12 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 12 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 15 tháng 03 năm 2021  
Tóm tắt: Thiên tịnh sa – Thu tứ (天净沙 – 秋思) của Mã Trí Viễn là một bài tản khúc vịnh  
cảnh ngụ tình đặc sắc. Với nhịp 2:2 hầu như xuyên suốt toàn văn, mỗi nhịp là một cảnh vật đơn lẻ, cô  
liêu nhưng lại gắn kết với nhau, tạo nên một bức tranh toàn cảnh chiều thu đượm buồn cùng nỗi niềm  
tha hương của người lữ thứ, khiến độc giả cảm kích đến mức đứt ruột xé lòng. Có thể nói, tản khúc  
này là một cách định nghĩa đầy đủ nhất về nghĩa của từ đoạn trường. Bài viết chủ yếu sử dụng phương  
pháp phân tích, so sánh đối chiếu, làm nổi rõ tính độc đáo của tác phẩm và tài hoa sáng tạo nghệ thuật  
của Mã Trí Viễn, khẳng định Thiên tịnh sa – Thu tứ là một cách định nghĩa bằng thơ của từ đoạn  
trường.  
Từ khóa: đoạn trường, Thu tứ, định nghĩa, vịnh cảnh ngụ tình, tản khúc  
1. Đặt vấn đề*  
Thiên nhiên và con người có mối  
cũng như của nhân loại, loạt bài thơ nhan  
đề xuân tứ, hạ tứ, thu tứ, đông tứ của các  
văn nhân xưa ra đời, trong đó cảm hứng về  
mùa thu thường là sâu đậm nhất. Số lượng  
bài thơ về mùa thu bao gồm những bài nhan  
đề thu tứ, thu hứng cũng nhiều hơn so với  
mùa khác trong năm. Riêng thơ Đường có  
thể kể đến hàng loạt bài như Thu tứ của  
Trương Tịch (张籍), Thu tứ của Vũ Nguyên  
Hoành (武元衡), Thu tứ của Vương Xương  
Linh (王昌龄), Thu tứ của Đỗ Mục (杜牧),  
Thu tứ của Hoàng Đào (黄滔), Thu tứ của  
Bào Dung (鲍溶), Thu tứ của Bạch Cư Dị  
(白居易), Thu tứ của Hứa Hồn (许浑)... Thơ  
vịnh cảnh mùa thu đời Tống phải nói đến  
chùm thơ Thu tứ của Lục Du (陆游) viết  
theo thể thất ngôn luật Đường. Ở Việt Nam,  
các nhà thơ xưa cũng thích viết về mùa thu,  
tiêu biểu là Thu tứ cùng với chùm thơ Thu  
hứng, Thu điếu, Thu vịnh của Nguyễn  
Khuyến, Thu tứ của Tô Thùy Yên... Thời  
Nguyên, tản khúc đạt thành quả xuất sắc,  
được coi là thể tài tiêu biểu của thơ ca  
Trung Quốc thời kỳ này.  
liên hệ mật thiết và là đề tài vô cùng vô tận  
của rất nhiều loại hình sáng tạo nghệ thuật,  
trong đó có văn học, thể hiện sinh động  
quan niệm thiên, địa, nhân nhất thể của  
người xưa. Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông  
mỗi mùa một vẻ, mùa xuân ấm áp, tràn đầy  
dương khí, vạn vật sinh sôi gợi cho con  
người niềm hứng khởi và hy vọng một năm  
mới hạnh phúc đủ đầy. Mùa hạ với những  
buổi trưa rực lửa, được ví với nhiệt huyết  
căng đầy. Mùa thu đến bất chợt, những cơn  
gió se lạnh khiến không gian lắng xuống,  
lòng người cồn lên, man mác buồn, gợi một  
nỗi nhớ xa xăm. Mùa đông lạnh giá, có  
những khi tuyết trắng lả tả rơi trở thành  
nguồn thi hứng. Các nhà thơ đa tình xưa  
mượn bốn mùa để diễn tả nỗi lòng của mình  
* Tác giả liên hệ  
Địa chỉ email: [email protected]  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
34  
Nói đến tản khúc thời Nguyên,  
người ta luôn đặt Thiên tịnh sa – Thu tứ của  
Mã Trí Viễn trước Thiên tịnh sa – Thu của  
Bạch Phác, và coi đó là hai kiệt tác về mùa  
thu. Hai tác phẩm này đã thu hút sự quan  
tâm của giới nghiên cứu từ những góc độ  
khác nhau. Trước hết phải nhắc đến bài viết  
của Vương Tĩnh (Wang, 2016) nhan đề  
“Nghiên cứu so sánh “Thiên tịnh sa – Thu  
tứ” của Mã Trí Viễn với “Thiên tịnh sa –  
Thu” của Bạch Phác” (马致远的《天净沙·秋  
思》与白朴的《天净沙·秋》的对比研究) đăng  
trên tạp chí Giáo dục thời đại (时代教育) số  
3 năm 2016. Qua nghiên cứu, tác giả khẳng  
định hai tác phẩm tuy cùng thời, chung đề  
tài mùa thu và cùng thuộc thể loại tản khúc  
thời Nguyên, nhưng thủ pháp nghệ thuật,  
phong cách ngôn ngữ, tâm thế sáng tác  
cũng như góc độ thẩm mỹ khác nhau, để lại  
trong lòng độc giả những cảm xúc khác  
nhau về cảnh và tình mùa thu. Tiếp đó, Ống  
kính Nhân văn (人文镜) công bố bài “Thiên  
tịnh sa – Thu tứ” của Mã Trí Viễn và  
“Thiên tịnh sa – Thu” của Bạch Phác ai  
cao hơn một bậc (马致远的《天净沙·秋思》  
与白朴的《天净沙·秋》谁更胜一等). Từ việc  
phân tích vẻ đẹp của bức tranh mùa thu qua  
hai lăng kính Mã Trí Viễn và Bạch Phác,  
tác giả đã khẳng định Thiên tịnh sa - Thu tứ  
của Mã Trí Viễn đương nhiên đứng ở vị trí  
hàng đầu, song Thiên tịnh sa - Thu của  
Bạch Phác cũng không hề thua kém. Điều  
đó cho phép ta khẳng định giá trị của hai  
đỉnh cao về nghệ thuật khắc họa bức tranh  
vịnh cảnh ngụ tình mùa thu thể tản khúc  
thời Nguyên. Thịnh Lan Phương (Sheng,  
2000) trong bài viết nhan đề Cảm xúc về  
bức tranh tuyệt diệu: hoàng hôn thu buồn  
qua tản khúc nhớ quê của người con xa xứ -  
‘Thiên tịnh sa - Thu tứ’: Mã Trí Viễn (游子  
思乡的典范之曲黄昏悲秋的绝妙之图——有感马  
致远: 天净沙·秋思) đã đi sâu phân tích vẻ  
đẹp thi họa giao hòa, qua đó toát lên nỗi  
nhớ quê hương của người lữ thứ. Trong  
khuôn khổ bài viết này, trên tinh thần tiếp  
thu và kế thừa thành quả nghiên cứu hữu  
quan của các học giả đi trước, chúng tôi chủ  
yếu sử dụng phương pháp phân tích, so  
sánh đối chiếu, làm nổi rõ tính độc đáo của  
bài tản khúc và tài hoa sáng tạo nghệ thuật  
của Mã Trí Viễn, khẳng định Thiên tịnh sa -  
Thu tứ là một cách định nghĩa bằng thơ của  
từ đoạn trường.  
2. Thiên tịnh sa - Thu tứ: bức tranh  
“buồn tàn thu” gợi nỗi đoạn trường  
2.1. Đôi nét về tác giả và bối cảnh ra đời  
Thiên tịnh sa – Thu tứ  
Trước hết, phải khẳng định Thiên  
tịnh sa – Thu tứ là tâm sự của Mã Trí Viễn  
cũng như những người cùng cảnh ngộ. Mã  
Trí Viễn sinh năm 1250, mất vào khoảng  
mùa thu năm 1321 đến 1324, tự Thiên Lí,  
hiệu Đông Li, dân tộc Hán, quê ở Đại Đô  
(Bắc Kinh ngày nay). Thời trai trẻ, Mã Trí  
Viễn một lòng một dạ theo đuổi sự nghiệp.  
Tuy nhiên, chính sách dân tộc của giai cấp  
thống trị nhà Nguyên khiến con đường công  
danh của ông đầy chông gai, trắc trở.  
Không được toại nguyện, ông trở về sống  
ẩn dật, vui thú điền viên. Hơn hai mươi  
năm phiêu bạt, ông đã nếm trải và chứng  
kiến đủ mọi đắng cay, vinh nhục trong đời  
người lữ thứ giang hồ muôn nơi. Cái tên  
Mã Trí Viễn (马致远), tự Thiên Lí (千里)  
nghĩa là tuấn mã đưa ta tới những phương  
trời xa vạn dặm thật đúng như thân phận  
của ông một đời chân mây góc bể. Ông dốc  
tâm huyết vào sự nghiệp sáng tác nghệ  
thuật và để lại cho đời sau 15 loại Tạp kịch  
và trên 120 bài tản khúc.  
Những năm tháng quẫn bách, thiếu  
thốn đủ đường trong đời người con xa xứ  
ấy chẳng khác gì chuỗi ngày cuối thu úa  
vàng sắp qua, báo hiệu một đông tàn lại tới.  
Thiên tịnh sa – Thu tứ được sáng tác trên  
bước đường rong ruổi đầy gian truân và trĩu  
nặng nỗi ưu sầu, từng câu từng chữ đều thốt  
lên từ đáy lòng tác giả, tình cảm của người  
lữ thứ ở đây hết sức chân thực. Vì vậy, sức  
truyền cảm càng trở nên mạnh mẽ. Vẻ đẹp  
hòa quyện giữa thi và họa, cảnh và tình  
trong tác phẩm chỉ vẻn vẹn với 5 câu 28  
chữ Hán đã thể hiện sinh động và đầy đủ  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
35  
tâm trạng bất đắc chí cũng như thiên tài của  
nhà tản khúc thời Nguyên: Mã Trí Viễn.  
những khoảng trống, khoảng trắng, nốt lặng  
vô hình trong kết cấu, trong tương quan các  
con chữ, người đọc càng hiểu hơn về thế  
giới tâm hồn của nhà thơ được dồn nén vào  
trong đó. Đúng như nhà thơ Vương Quốc  
Duy trong Nhân gian từ thoại (人间词话) đã  
viết, “nhất thiết cảnh ngữ giai tình dã” (一切  
景语皆情也: cảnh phải hòa quyện trong tình).  
Tính độc đáo của tác phẩm thể hiện rõ nét  
tài hoa sáng tạo nghệ thuật của Mã Trí  
Viễn. Bốn câu đầu theo nhịp 2:2 lần lượt  
dẫn ra trước mắt độc giả 9 cảnh vật tuy  
riêng lẻ nhưng lại đan xen vào nhau, cùng  
với trời chiều bóng ngả về tây, tất cả tạo  
nên một không gian sâu lắng chất chứa nỗi  
ưu sầu của người lữ thứ. Để cảm nhận được  
một cách đầy đủ sự tinh tế của tác phẩm,  
trước hết người đọc phải ngắt nhịp đúng, từ  
đó thấy được về mặt hình thức ngôn ngữ,  
mỗi nhịp là một từ hoặc cụm từ trong  
khung cảnh động tĩnh đan xen. Thoáng  
nghe, người ta có thể cảm thấy những từ và  
cụm từ ấy rất bình dị, thông thường như lời  
ăn tiếng nói, cách gọi tên sự vật hằng ngày,  
nhưng lắng sâu trong sự bình dị đó là cả  
một bầu trời nghệ thuật vịnh cảnh ngụ tình  
vô cùng đặc sắc. Trước cảnh vật ấy, không  
gian và thời gian ấy, tác giả kết lại một câu  
Đoạn trường nhân tại thiên nha (đau xé  
lòng người ở chốn chân mây). Lời kết này  
chính là hệ quả của việc vịnh cảnh, là phản  
xạ tâm lí của những người lữ khách xa nhà,  
cũng là quan hệ nhân quả giữa cảnh và tình,  
tình và cảnh. Lối nói tức cảnh sinh tình (即  
景生情/ 触景生情) trong tiếng Hán và tiếng  
Việt đã được chứng minh bằng tản khúc  
này. Vì vậy, Thiên tịnh sa – Thu tứ cùng tên  
tuổi Mã Trí Viễn đã đi vào tâm khảm của  
nhiều thế hệ độc giả, trở thành tản khúc  
xuất sắc trong thơ ca cổ Trung Quốc nói  
chung và thơ ca đời Nguyên nói riêng.  
Khô đằng// lão thụ// hôn nha, (枯藤老树昏鸦)  
Tiểu kiều// lưu thủy// nhân gia, (小桥流水人家)  
Cổ đạo// tây phong// sấu mã. (古道西风瘦马)  
Tịch dương// tây hạ, (夕阳西下)  
Đoạn trường nhân// tại thiên nha. (断肠人在  
(Dây leo khô, cây cổ thụ, tiếng quạ kêu chiều,  
Nhịp cầu nhỏ, dòng nước chảy, nhà ai đó,  
Đường xưa, gió tây, ngựa gầy,  
Bóng chiều tà ngả về tây,  
Đứt ruột xé lòng người nơi chân mây góc bể)  
2.2. “Vịnh cảnh ngụ tình”, cảnh tình hòa  
quyện tạo nên nỗi sầu nhân thế  
Thiên tịnh sa – Thu tứ là một bài tản  
khúc chuẩn mực, trong đó, các câu dài ngắn  
khác nhau đan xen một cách tự nhiên, mang  
đậm tính nhạc. Về hình thức, tản khúc là  
thể thơ mới xuất hiện sau thể loại thơ và từ,  
rất thịnh hành vào thời nhà Nguyên và kế  
thừa được những nét tinh tế của thơ, từ. Tản  
khúc kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố  
trang nhã và thông tục, vừa tiện cho việc  
truyền miệng, vừa gây hứng thú cho người  
thưởng thức. Thiên tịnh sa - Thu tứ khắc  
họa sinh động khung cảnh mùa thu lúc  
hoàng hôn dưới góc nhìn của một người lữ  
thứ trong tâm thế buồn thương, nhung nhớ  
nhưng tuổi đã cao, sức lực đã cùng kiệt vẫn  
phiêu bạt nơi đất khách, luôn canh cánh  
một nỗi niềm hướng về quê hương xứ sở.  
Cảnh và tình trong tác phẩm đạt tới đỉnh  
cao của sự hòa quyện, trong cảnh có tình,  
trong tình có cảnh. Vì vậy, có thể nói, Thiên  
tịnh sa - Thu tứ là định nghĩa đầy đủ nhất  
về từ, đúng hơn là khái niệm đoạn trường,  
cũng là nỗi niềm buồn tủi của người lữ thứ  
bất đắc chí với thời cuộc. Mã Trí Viễn đã  
đặt tâm hồn mình vào khoảng thời gian và  
không gian vô tận. Nỗi sầu từ sự ý thức  
giữa cái hữu hạn của kiếp người và cái vô  
cùng của tạo vật đã thành mạch chảy suốt  
tản khúc thường gợi chứ không tả. Từ  
Sự xuất hiện của 9 cảnh vật trong  
không gian chiều cuối thu là một nhân tố  
quan trọng làm nên thành công của tác  
phẩm. Theo quan niệm của người Việt Nam  
và người Trung Quốc, số 9 là số dương cao  
nhất mang nghĩa ẩn dụ chỉ trời và công ơn  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
36  
cha mẹ. Trong tiếng Hán và tiếng Việt có  
khá nhiều từ ghép chứa chữ số 九 cửu (chín)  
như cửu trùng (九重), cửu thiên (九天), cửu  
đỉnh (九鼎), Cửu Châu (九州), cửu tộc (九族  
), cửu tuyền (九泉), cửu thu (九秋), cửu  
khiếu (九窍)... Trong đó, Cửu Châu là 9 khu  
vực của đất nước Trung Quốc cổ đại,  
thường gặp trong truyền thuyết gồm Ký  
Châu, Duyện Châu, Thanh Châu, Từ Châu,  
Dương Châu, Kinh Châu, Lương Châu,  
Ung Châu và Dự Châu, sau dùng làm tên  
gọi khác chỉ Trung Quốc cổ đại. Cửu thu  
dùng để chỉ 90 ngày của mùa thu. Cửu thiên  
là tầng trên cùng, cao nhất của tầng không,  
tương đương với trời cao. Cửu đỉnh chỉ  
chín cái vạc tượng trưng cho chín châu,  
cũng là biểu tượng của quyền lực chính trị  
cao nhất thời Hạ, Thương, Chu của Trung  
Quốc cổ đại. Cửu khiếu chỉ chín cửa thông  
với bên ngoài trên cơ thể người, như đôi  
mắt, hai lỗ mũi, hai lỗ tai, miệng... Đặc biệt  
là trong tiếng Việt có lối nói cù lao chín  
chữ, chín chữ cao sâu dùng để chỉ công lao  
sinh thành dưỡng dục của cha mẹ mà phận  
làm con phải ghi nhớ và đền đáp. Trong  
Kiều có câu Nhớ ơn chín chữ cao sâu, một  
ngày một ngả bóng dâu tà tà (Nguyễn Du).  
Từ nguồn cảm hứng về “cái cầu thang chín  
bậc” của dân tộc Tày Bắc Thái, nhà thơ  
Trần Văn An đã sáng tác bài Chín bậc cầu  
thang, sau đổi thành Chín bậc tình yêu và  
được nhạc sĩ An Thuyên phổ nhạc, bài thơ  
với âm hưởng dân ca ngọt ngào, đằm thắm  
chắp cánh bay đi muôn nơi. Số 9 ở đây  
mang ý nghĩa sâu sắc, biểu trưng cho tình  
yêu nhen nhóm rồi đơm hoa kết trái, là quá  
trình thai nghén chín tháng mười ngày trong  
lòng người mẹ cho đứa con bé bỏng – kết  
quả của tình yêu ra đời. Mã Trí Viễn chọn  
đúng 9 cảnh vật không hơn không kém,  
khiến độc giả cảm nhận được một cách đầy  
đủ nhất không gian chiều thu tàn úa. Mối  
liên hệ giữa cảnh vật, không gian, thời gian  
ấy với quê hương, gia đình, người thân, vì  
vậy càng trở nên tự nhiên hơn, sâu nặng hơn.  
lý giải. Thứ nhất, với âm đọc tứ thì 秋思 Thu  
tứ được hiểu là Ý tứ của mùa thu, các dịch  
giả Việt Nam thường chuyển dịch tiêu đề 秋  
思 trong thơ chữ Hán thành Ý thu trong  
tiếng Việt, cũng như Xuân tứ (Ý xuân), Hạ  
tứ (Ý hạ), Đông tứ (Ý đông). Thứ hai, 思 có  
thể đọc là tư và Xuân tư được hiểu là Nỗi  
tương tư mùa xuân, cũng như Hạ tư, Thu  
tư, Đông tư. Theo chúng tôi, tương tư vốn  
nghĩa là nhớ nhau, phần lớn dùng trong  
trường hợp cảm xúc (phản ứng tâm lý) nảy  
sinh khi đôi bên nam nữ yêu nhau nhưng do  
cách trở không được gần nhau, hơn nữa,  
căn cứ vào nội dung mà mỗi bài thơ mang  
tên 秋思 thu tứ, 春思 xuân tứ, 夏思 hạ tứ, 冬  
思 đông tứ thể hiện thì nên đọc là tứ và hiểu  
theo nghĩa ý thu, ý xuân, ý hạ, ý đông sẽ  
hợp lý hơn. Dù hiểu theo cách nào, tinh  
thần của tác phẩm đều là sự thể hiện tình  
cảm của nhà thơ qua cảnh sắc từng mùa.  
Nhờ tâm hồn người nghệ sỹ rung động  
trước thiên nhiên mà cảnh vật mỗi mùa trở nên  
sống động, có hồn và mang sắc thái riêng.  
Thiên tịnh sa – Thu tứ đạt đến đỉnh  
cao của nghệ thuật vịnh cảnh ngụ tình,  
trong đó, không gian và thời gian, thi và  
họa hòa quyện hết sức tinh tế. Với nhịp 2:2  
hầu như xuyên suốt toàn văn, mỗi nhịp là  
một cảnh vật đơn lẻ, cô liêu nhưng lại gắn  
kết với nhau, tạo nên một bức tranh toàn  
cảnh chiều thu đượm buồn cùng nỗi niềm  
tha hương của người lữ thứ, khiến độc giả  
phải đứt ruột xé lòng. Đối chiếu với cách  
định nghĩa trong Từ điển quy phạm tiếng  
Hán hiện đại (现代汉语规范词典) của Lý Bảo  
Gia, Đường Chí Siêu (Li & Tang, 2001),  
Đoạn trường (断肠): hình dung sự đau xót,  
thương tâm đến cực điểm (形容伤心、悲痛到  
极点), có thể thấy từ đoạn trường mà Mã  
Trí Viễn sử dụng ở đây rất đắc địa. Một  
điều đáng lưu ý là các bộ từ điển khác như  
Tân hiện đại Hán ngữ từ điển (新现代汉语词  
典) của Vương Đồng Ức (Wang, 1993), Từ  
điển tiếng Hán hiện đại (现代汉语词典) của  
Phòng biên tập từ điển, Viện Ngôn ngữ  
thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc  
Về chữ 思 trong các tiêu đề thơ ca  
vịnh bốn mùa, đến nay vẫn tồn tại hai cách  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
(Zhongguo Shehuikexueyuan  
37  
chúng lại gắn bó xoắn xuýt với nhau. Với  
góc nhìn toàn cục, độc giả sẽ cảm nhận  
được đây là bức tranh thiên nhiên giàu tính  
gợi cảm, hết sức tinh tế, trong đó, mỗi sự  
vật lại có quan hệ tương tác, thống nhất cao  
độ với nhau. Trong buổi chiều hoàng hôn,  
đàn quạ dừng chân trên những cành cổ thụ  
mà nơi đó, những dây leo dù đã héo khô  
vẫn cố quấn lấy thân cây già nua, cành đã  
khô, lá đã rụng, thỉnh thoảng lại cất lên  
tiếng kêu thê lương ai oán. Dưới chân cầu  
nho nhỏ, nước vẫn rì rầm trôi, và những  
ngôi nhà ai đó bên cầu đang tỏa khói chuẩn  
bị cho bữa cơm chiều. Trên đường xưa mỏi  
mòn, một chú ngựa gầy vẫn uể oải từng  
bước trong gió tây heo hắt. Ánh hoàng hôn  
không chiều lòng người lại đang từng phút  
từng giây lặng thầm khuất nẻo phía tây, để  
lại phía sau là màn đêm vô vọng và cả một  
nỗi lòng buồn thương, nhung nhớ đong đầy  
của người lữ thứ nơi đất khách. Đặc biệt là  
tiếng quạ thường được dùng làm hình ảnh  
ước lệ cho sự chết chóc, thương đau. Khung  
cảnh chiều cuối thu ấy kết hợp nhuần  
nhuyễn giữa động và tĩnh, vẻ tĩnh lặng làm  
cho âm thanh dù nhỏ cũng trở nên rõ nét và  
âm thanh dù nhỏ cũng khiến cho vẻ tĩnh  
lặng của không gian càng thêm sâu thẳm.  
Mặc dù trong bốn câu thơ ấy không xuất  
hiện một từ nào miêu tả con người, nhưng  
ta có thể hình dung được một dáng hình  
người xa xứ đã vào tuổi xế chiều, sức cùng  
lực kiệt đang cố lê từng bước theo dấu chân  
ngựa gầy mà không nỡ cưỡi trên mình nó,  
chân vẫn bước mà không biết về đâu. Độc  
giả Việt Nam đa tình một khi cảm nhận  
được chiều sâu tâm hồn của người lữ thứ sẽ  
bất giác cất tiếng hát “Đi về đâu hỡi em,  
khi trong lòng không chút nắng, giấc mơ  
đời xa vắng, bước chân không chờ ai đón.  
Một đời em mãi lang thang...” (Đời gọi em  
biết bao lần, Trịnh Công Sơn). Sau thời  
khắc hoàng hôn ngắn ngủi đó là cả một màn  
đêm lạnh giá cô liêu rộng lớn và chìm trong  
không gian sâu thẳm đó chỉ có một người  
con xa xứ lẻ bóng đơn côi, theo đó là nỗi  
nhớ quê hương da diết dâng trào. Tất cả  
Yuyanyanjiuyuan cidian bianjishi, 2012)...  
khi giải nghĩa từ đoạn trường thường dẫn ra  
hai câu cuối trong Thiên tịnh sa - Thu tứ  
của Mã Trí Viễn tịch dương tây hạ, đoạn  
trường nhân tại thiên nha (夕阳西下,断肠人  
在天涯) làm ví dụ minh họa, điều đó đủ thấy  
mức độ nổi tiếng của tác phẩm cũng như tính  
chuẩn mực về ngữ cảnh của từ đoạn trường.  
Vương Phu Chi (Wang, 1976), nhà  
triết học, nhà văn đời Thanh trong cuốn  
bình luận về thơ ca mang tên Khương trai  
thi thoại (姜斋诗话) có viết: “Tình và cảnh  
tuy tên gọi là hai nhưng thực chất là một  
thực thể không thể tách rời” (情景名为二,而  
实不可离). Cảnh sắc mùa thu trong Thiên  
tịnh sa - Thu tứ được Mã Trí Viễn thể hiện  
bằng các từ có chức năng mô tả, hình dung  
tính chất sự vật như 枯 khô, 老 lão,昏 hôn,古  
cổ, 瘦 sấu... là cảnh chiều tà, lá rụng về cội,  
để lại cành khô, dây héo. Khung cảnh mùa  
thu với sắc thu úa vàng, vạn vật như bó hẹp  
lại cho trời cao hơn, nước sâu hơn, con  
người càng nhỏ nhoi, không gian càng lắng  
xuống, lòng người trào lên những nỗi niềm  
một thời xa vắng mà ở đó, cảnh vật đìu hiu  
khiến cho tình người đạt đến cực điểm của  
nỗi buồn: nỗi đoạn trường.  
Bốn câu đầu là hình ảnh của không  
gian cô liêu đan xen trên nền thời gian  
chiều cuối thu. Không gian ấy gồm 9 cảnh  
vật tổ hợp thành. Đó là khô đằng (枯藤: cây  
dây leo đã khô héo), lão thụ (老树: cây cổ  
thụ), hôn nha (昏鸦: tiếng quạ kêu chiều),  
tiểu kiều (小桥: nhịp cầu nhỏ), lưu thủy (流  
水: dòng nước chảy hoài), nhân gia (人家:  
ngôi nhà ai đó), cổ đạo (古道: đường xưa),  
tây phong (西风: gió tây hiu hắt), sấu mã (瘦  
马: ngựa gầy), và thời gian là hôn (昏: buổi  
chiều tà/ lúc hoàng hôn), tịch dương tây hạ  
(夕阳西下: mặt trời đã dần khuất sau rặng  
núi phía tây). Về hình thức, mỗi cảnh vật  
riêng lẻ này được thể hiện bằng một từ song  
âm tiết có cấu trúc tương đồng, gồm định tố  
phía trước nối kết với danh từ trung tâm ở  
phía sau, ngắt theo nhịp 2:2, tuy nhiên,  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
38  
không gian và thời gian ấy đều gợi cho bản  
thân tác giả một nỗi đau xé lòng, đứt ruột,  
một nỗi khát khao tìm về tổ ấm, quê hương  
gia đình của mình. Ai mà không trải tấm  
lòng nhớ thương da diết về nơi chôn nhau  
cắt rốn. Nhất là vào những buổi hoàng hôn,  
giữa khói sóng và mây chiều bồng bềnh trôi,  
miên man giữa cõi lòng Nhật mộ hương  
quan hà xứ thị. Yên ba giang thượng sử  
nhân sầu” (Hoàng Hạc Lâu, Thôi Hiệu) (日  
暮乡关何处是,烟波江上使人愁:Quê hương  
khuất bóng hoàng hôn. Trên sông khói sóng  
cho buồn lòng ai) (Tản Đà dịch). Thiên tịnh  
sa - Thu tứ thêm một lần giúp ta khẳng định  
sự phát hiện tinh tế trong quan hệ nhân quả  
giữa cảnh và tình của đại thi hào Nguyễn  
Du người sầu cảnh cũng đeo sầu, người  
buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Truyện  
Kiều).  
hoạch sau quá trình gieo hạt, chăm bón, vun  
trồng, đồng thời 秋 thu cũng biểu trưng cho  
sự tiêu điều, già cỗi. Điều đó chứng tỏ,  
nghĩa của 秋 thu mang tính hai mặt: tích cực  
và tiêu cực. Vì vậy, người Trung Quốc  
không chỉ gắn cho 秋 thu màu vàng như  
người Việt Nam, mà còn coi màu trắng là  
màu biểu trưng cho mùa thu. Từ miền  
nguồn là CẢNH VẬT TIÊU ĐIỀU, THU  
ánh xạ lên miền đích TUỔI GIÀ mãn chiều  
xế bóng. Phép tư duy liên tưởng đó đã tạo  
nên ý nghĩa ẩn dụ của 秋 thu, điều đó “trong  
một mức độ nhất định đã phản ánh thế giới  
quan, nhân sinh quan, đồng thời cũng thể  
hiện quan niệm truyền thống thiên địa nhân  
nhất thể của người xưa” (Phạm, 2020).  
Căn cứ vào mối quan hệ giữa hình  
dạng và ý nghĩa của chữ 秋 thu, chúng tôi  
cho rằng, đây là chữ hội ý kết cấu trái phải,  
một bên là bộ 禾 hòa (cây lúa), một bên là  
bộ 火 hoả (lửa) hợp thành. Sau thời kì sinh  
trưởng và phát triển, cây cối đơm hoa kết  
trái và bước vào độ chín. Mỗi khi thu về,  
sắc vàng của ánh nắng yếu ớt (âm trong  
dương) khiến cho thời tiết trở nên mát mẻ,  
vạn vật trong không gian cũng nhuốm sắc  
vàng của trời thu, bông lúa chín ngả màu  
vàng, lá cây già ngả màu vàng, hoa cúc  
khoe sắc vàng. Mùa thu hoạch gợi cho con  
người cảm giác ấm cúng, đủ đầy. Theo tập  
quán của nghề trồng lúa, mỗi độ mùa về,  
người ta gặt hái, đem hạt về sử dụng và làm  
hạt giống để mùa sau, phần rơm rạ thì đốt  
đi, tro tàn gieo vào lòng đất, góp năng  
lượng chuẩn bị cho mùa sau. Như vậy, chữ  
秋 thu gắn liền với đặc điểm tri nhận về  
cảnh sắc mùa thu và tập quán gieo trồng  
của người xưa. Trong niềm vui thu hoạch,  
người ta không khỏi có chút bâng khuâng,  
vương vấn trước khoảnh khắc giao mùa.  
Những nước khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt  
đới như Việt Nam và Trung Quốc, một năm  
có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Mùa hạ  
nóng nực qua đi, mùa đông lạnh giá tới.  
Giữa khoảng hạ chí và đông chí sẽ là mùa  
thu mát mẻ, cuối thu tiết trời se lạnh. Mùa  
thu đến bất chợt với không gian đặc biệt,  
2.3. Nghệ thuật chơi chữ, tĩnh động tương  
hỗ tạo nên "ngôn hữu hạn, ý vô cùng"  
cho nỗi cô đơn của văn nhân trí quân  
trạch dân không thành hiện thực càng  
thêm trĩu nặng  
Xét về mặt tính chất biểu ý của chữ  
Hán, chữ 秋 thu và chữ 愁 sầu lại có quan hệ  
mật thiết với nhau. Trong phần lớn các bộ  
từ điển tiếng Hán, chữ 秋 thu gồm 禾 hòa  
(cây lúa/ hoa màu) và 火 hỏa (lửa) tạo  
thành. Trong đó, hai thành tố 禾 hòa và 火  
hỏa có thể hoán đổi vị trí cho nhau. Thuyết  
văn giải tự giải thích rằng, thu nghĩa là lúa  
chín, do bộ 禾 hòa (cây lúa/ hoa màu) và  
chữ “䒅 thu” đã lược bỏ 亀 quy hợp thành,  
âm đọc là /thu/ (禾穀孰也。从禾,䒅省聲。七  
由切: hòa cốc thục dã, tòng hòa, quy tỉnh  
thanh, thất du thiết) (Xu, 2012). Từ điển  
quy phạm tiếng Hán hiện đại đưa ra 6 nghĩa  
của 秋 thu gồm: (1) mùa thứ 3 trong một  
năm; (2) thời kỳ hoa màu vào độ chín; (3)  
chỉ thời đoạn: năm; (4) phiếm chỉ một thời  
kỳ nào đó; (5) chỉ lúa, hoa màu chín rộ vào  
mùa thu; (6) danh từ riêng: họ Thu (Li  
&Tang, 2001).  
Ý nghĩa biểu trưng của 秋 thu là sự  
thành thục, viên mãn, gắn liền với mùa thu  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
39  
bầu trời như cao xanh hơn, nước như trong  
hơn. Vương Bột trong lời tựa của bài Đằng  
vương các tự (滕王阁序) đã miêu tả mùa thu  
bằng mười bốn chữ, “Lạc hà giữ cô vụ tề  
phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”  
(ráng chiều cùng bay với cánh cò, nước  
mùa thu cùng trời mùa thu một màu: 落霞与  
孤鹜齐飞,秋水共长天一色). Với mười bốn  
chữ, bốn sự vật (ráng chiều, cánh cò, nước  
mùa thu, trời mùa thu), tác giả đã tái hiện  
một cách cô đọng nhất khung cảnh mùa thu  
với bao cảm xúc dâng đầy. Không gian  
càng rộng mở, con người càng cảm thấy  
nhỏ nhoi, trống trải, vì vậy mà đượm buồn.  
Trong bài thơ Hạnh Thiên Trường hành  
cung, Trần Nhân Tông cũng khắc họa cảnh  
sắc mùa thu trời nước hài hòa bằng câu  
Thủy hữu thu hàm thiên hữu thu (Trời mùa  
thu lồng trong nước mùa thu: 水有秋,含天  
有秋) ở khổ thơ sau, tương ứng với câu  
Cảnh thanh u, vật diệc thanh u (Cảnh tĩnh  
lặng, vật cũng tĩnh lặng: 景清幽,物亦清幽)  
ở khổ thơ trước. Bài thơ Tiếng thu của Lưu  
Trọng Lư đã trở thành truyền kỳ về nghệ  
thuật khắc họa mùa thu đến bất chợt khiến  
người ta ngỡ ngàng bằng thủ pháp kết hợp  
tinh tế giữa động và tĩnh, lấy âm thanh nhẹ  
đến bâng khuâng để miêu tả không gian  
lặng lẽ của mùa thu. Chùm thơ mùa thu với  
ba bài Thu ẩm (uống rượu mùa thu), Thu  
điếu (câu cá mùa thu) và Thu vịnh (ngâm  
vịnh mùa thu) của Nguyễn Khuyến đều tái  
hiện khung cảnh mùa thu với những thú vui  
tao nhã và đượm buồn. Có thể nói, trong  
thơ ca, mùa thu, nhất là chiều thu thường là  
hình ảnh ước lệ để diễn tả tâm trạng bâng  
khuâng, nỗi buồn man mác của con người.  
chúng tôi cho rằng 愁 sầu là chữ hội ý kiêm  
hình thanh, hội hợp hai bộ thủ 秋 thu và 心  
tâm biểu thị tâm trạng con người và cảnh  
vật mùa thu bắt gặp, hòa quyện, thống nhất  
với nhau ở nơi “cung trầm” sâu lắng nhất.  
“Sầu” thường đi liền với “ưu” (懮) tạo thành  
từ ghép “ưu sầu” diễn tả nỗi niềm của con  
người khi bất lực không đạt được ý nguyện  
chân chính của mình trong cuộc đời. Đặc  
biệt là khi tuổi cao, sức yếu, cơ hội ngày  
càng khép lại, nỗi lòng càng trào dâng, tâm  
trạng u buồn càng trĩu nặng. Khi 秋 thu là  
danh từ chỉ thời gian một năm thì nó cũng  
thường gắn với nỗi buồn thương, nhung  
nhớ, mong chờ. Câu nhất nhật bất kiến nhi  
tam thu hề (một ngày không gặp mà ngỡ ba  
thu/ ba năm: 一日不见而三秋兮) là câu thơ  
diễn tả nỗi nhớ khắc khoải của những người  
yêu nhau nhưng không gian cách trở. 秋 thu  
còn mang ý nghĩa biểu trưng cho sự chết  
chóc, chia lìa, như yên giấc ngàn thu, thiên  
thu vĩnh quyết... là những cụm từ được đề  
lên bức trướng phúng viếng người quá cố.  
Cảnh tiễn khách bên bến Tầm Dương được  
nhà thơ đời Đường Bạch Cư Dị thể hiện  
bằng câu phong diệp địch hoa thu sắt sắt  
(quạnh hơi thu lau lách đìu hiu: 枫叶荻花秋  
瑟瑟) trong bài Tỳ bà hành (琵琶行), trong  
đó, 秋 thu đã trở thành “dấu hiệu” biểu  
trưng cho nỗi buồn và sự chia li. Trong tác  
phẩm Thuốc, Lỗ Tấn đã lấy thời điểm nửa  
đêm về sáng một ngày mùa thu (秋天的后半  
夜) làm bối cảnh của câu chuyện mua bánh  
bao nhân máu người làm thuốc chữa bệnh  
lao cho con của ông Thuyên, điều đó cũng  
không nằm ngoài dụng ý mượn nghĩa ẩn dụ  
của từ chỉ thời gian để thể hiện tư tưởng  
chủ đề tác phẩm. Khung cảnh mùa thu lụi  
tàn – đêm trước của cách mạng là hình ảnh  
mở đầu, cũng là hình ảnh xuyên suốt tác  
phẩm, góp phần làm nên thành công của tác  
giả. Trong văn học Việt Nam, từ thu dùng  
để chỉ năm cũng mang ý nghĩa buồn  
thương, chia li, mong đợi, trái ngược hoàn  
toàn với xuân, như thiên thu vĩnh quyết.  
Câu Ba thu dồn lại một ngày dài ghê  
(Truyện Kiều – Nguyễn Du), đã khiến cho  
Cũng có lẽ vì thế mà chữ 秋 thu kết  
hợp với 心 tâm thành chữ 愁 sầu, và 愁 sầu  
chính là tình thu, ý thu, nỗi niềm của mùa  
thu. Những chữ Hán có chứa 心 tâm làm  
thành tố biểu ý thường tập trung vào hai  
khu vực nghĩa, đó là tình cảm và tư duy.  
Với chữ 愁 sầu, phần lớn các bộ từ điển đều  
chú giải đây là chữ hình thanh, gồm 心 tâm  
biểu nghĩa và 秋 thu biểu âm. Tuy nhiên,  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
40  
nỗi niềm tương tư của Kim Trọng càng trở  
nên da diết, sâu lắng.  
phải cảm thấy đứt ruột xé lòng: 一枝红艳露  
凝香,云雨巫山枉断肠) trong bài Thanh bình  
điệu (清平调) của Lý Bạch. Đặng Trần Côn  
trong Chinh phụ ngâm cũng có câu Dương  
liễu na tri thiếp đoạn trường (Dương liễu  
nào hay thiếp xé lòng: 杨柳那知妾断肠). Và  
bài tản khúc Thiên tịnh sa - Thu của Bạch  
Phác sáng tác cùng thời cũng với 28 chữ  
Hán Cô thôn// lạc nhật// tàn hà, khinh yên//  
lão thụ// hàn nha. Nhất điểm phi hồng ảnh  
hạ, thanh sơn// lục thủy, bạch thảo// hồng  
diệp// hoàng hoa. (xóm nhỏ cô liêu, trời  
chiều, ráng lẻ, khói nhẹ bay, vẳng tiếng quạ  
kêu chiều lạnh lẽo bên cây cổ thụ. Thoáng  
bóng cánh nhạn lướt qua, non xanh, nước  
biếc, cỏ úa, lá đỏ, hoa vàng: 孤村落日残霞,  
轻烟老树寒鸦。一点飞鸿影下,青山绿水,白草  
红叶黄花) cũng là bức tranh cảnh vật với  
đầy đủ sắc màu chỉ riêng mùa thu mới có,  
đượm buồn nhưng không đến mức gợi nỗi  
đoạn trường. Hai bài tản khúc cùng thời,  
cùng đề tài mùa thu nhưng được sáng tác  
bởi hai nghệ sỹ với hai tâm thế khác nhau,  
góc nhìm thẩm mỹ khác nhau, do đó mối  
liên hệ giữa cảnh và tình cũng khác nhau.  
Tuy nhiên, với Thiên tịnh sa – Thu tứ câu  
kết là hệ quả của cảnh vật, là tâm sự của  
người lữ thứ gửi hồn vào cảnh, hay nói một  
cách khác, sự hòa quyện giữa không gian,  
thời gian và cảnh vật ấy là ngữ cảnh để tạo  
dựng nên một câu văn hoàn chỉnh có chứa  
từ đoạn trường. Thiên tịnh sa – Thu tứ quả  
là một cách định nghĩa từ đoạn trường bằng  
thơ. Nét đặc sắc của Thiên tịnh sa – Thu tứ  
chính là ở mối liên hệ nhân quả giữa bốn  
câu đầu (vịnh cảnh – nhân) và câu cuối  
cùng (ngụ tình – quả). Tức cảnh sinh tình,  
tình và cảnh trong Thiên tịnh sa – Thu tứ  
càng khăng khít bởi vì tâm thái của tác giả  
và cảnh chiều tà cuối thu đã đạt được đỉnh  
cao của sự đồng điệu.  
Về nguồn gốc của từ 断 肠 đoạn  
trường, truyền thuyết thời Đông Tấn kể  
rằng, có một vị đại quan nhà Tấn họ Hoàn  
(桓) trên đường bơi thuyền đến đất Thục,  
khi thuyền tới đoạn Tam Hiệp Trường  
Giang thì một thủ hạ vô tình bắt được một  
chú vượn con, vượn mẹ thương con chạy  
dọc bờ sông hàng trăm dặm van xin tha  
mạng nhưng không được, vượn mẹ liều  
mình nhảy xuống thuyền ứng cứu, vì mệt  
mỏi và quá xót thương con nên đứt hơi mà  
chết. Lạ thay khi mổ bụng vượn mẹ, người  
ta thấy ruột vượn mẹ lìa ra từng khúc. Sau  
khi biết chuyện, vị quan họ Hoàn vô cùng  
thương cảm bèn ra lệnh xử phạt kẻ thủ hạ  
gây ra cảnh nhà vượn mẹ con chia lìa. Từ  
đó, đoạn trường được sử dụng với nghĩa  
bóng biểu thị nỗi đau đớn đến tột đỉnh khi  
những người yêu dấu phải phân li. Truyện  
Kiều, kiệt tác gắn liền với tên tuổi đại thi  
hào Nguyễn Du, còn có tên gọi khác là  
Đoạn trường tân thanh (tiếng kêu đứt ruột:  
断肠新声) nói về nỗi niềm mười lăm năm  
lưu lạc của người con gái tài sắc vẹn toàn  
cũng là một ví dụ giúp chúng ta hiểu sâu  
hơn về nghĩa của từ đoạn trường.  
Từ đoạn trường xuất hiện khá nhiều  
trong các tác phẩm văn thơ cổ ở cả Trung  
Quốc và Việt Nam. Sau Đoạn trường tân  
thanh, phải nói đến câu Niệm quân khách  
du tư đoạn trường, thiết thiết tư quy luyến  
cố hương (Nhớ chàng xa xứ muốn đứt ruột,  
mong ngóng trở về với quê xưa: 念君客游思  
断肠,慊慊思归恋故乡) trong Yên ca hành (燕  
歌行) của Tào Phi; tiếp đó là Đương quân  
hoài quy nhật, thị thiếp đoạn trường thì  
(Khi chàng mong ngày trở về chính là lúc  
thiếp nhớ thương đến xé lòng, đứt ruột: 当君  
怀归日,是妾断肠时) trong Xuân tứ (春思)  
của Lý Bạch; hay như câu Nhất chi hồng  
diễm lộ ngưng hương, vân vũ Vu sơn uổng  
đoạn trường (Dương Quý Phi như cành hoa  
hồng thắm đọng sương đêm thơm ngát,  
khiến cho nữ thần của vua nước Sở khi gặp  
Thiên tịnh sa – Thu tứ ngôn ngữ tinh  
luyện, ý tứ sâu xa, chứa đựng giá trị nhân  
văn to lớn. Toàn văn không hề xuất hiện bất  
kỳ một chữ 秋 thu nào, nhưng khung cảnh  
mùa thu cô liêu lại được tái hiện một cách  
hoàn mỹ đầy sức gợi cảm, vô cùng độc đáo  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
41  
và không thể lẫn với bất kỳ một mùa, một  
không gian, một nỗi niềm nào khác. Chính  
vì thế, khi giải thích nghĩa của từ đoạn  
trường, nhiều cuốn từ điển tiếng Hán đã  
dẫn ra hai câu cuối của bài tản khúc này  
làm ví dụ. Thiên tịnh sa – Thu tứ không chỉ  
cần được chọn làm tác phẩm tiêu biểu minh  
họa cho thành tựu văn thơ thời Nguyên  
trong văn học cổ đại Trung Quốc mà còn  
cần được dẫn ra làm ví dụ minh họa cho ý  
nghĩa của từ đoạn trường trong quá trình  
giảng bình các tác phẩm như Xuân tứ (春思)  
của Lý Bạch, Thứ vận hồi văn (次韵回文)  
của Tô Thức, Mục dương ai thoại (牧羊哀话  
) của Quách Mạt Nhược... (văn học Trung  
Quốc), Chinh phụ ngâm của Đặng Trần  
Côn hay Truyện Kiều của Nguyễn Du...  
(văn học Việt Nam). Đương nhiên, chuyên  
đề thơ ca chủ đề mùa thu: cảnh và tình càng  
không thể thiếu sự hiện diện của Thiên tịnh  
sa – Thu tứ. Trong quá trình dẫn dắt sinh  
viên tìm hiểu chân giá trị của tác phẩm,  
giảng viên cần chọn một hình ảnh tiêu biểu  
minh họa, chẳng hạn như bức tranh được  
dẫn trong bài viết này. Đồng thời, sau khi  
hoàn thành việc giảng bình tác phẩm, giảng  
viên có thể khuyến khích sinh viên tái hiện  
tinh thần tác phẩm ngôn từ này bằng hình  
thức hội họa, qua đó làm nổi rõ chất thơ ca  
trong hội họa và chất hội họa trong thơ ca.  
Thiên tịnh sa – Thu tứ nếu được khai thác  
hợp lý và tinh tế sẽ giúp cho sinh viên cảm  
nhận được cái hay cái đẹp, nhất là giá trị  
nhân văn của tác phẩm, từ ngôn ngữ đến  
văn chương, từ cảnh đến tình, qua đó vừa  
nâng cao trình độ lý giải, cảm thụ ngôn ngữ  
– văn học, vừa từng bước nâng cao tri thức  
văn chương và năng lực thẩm mỹ cũng như  
giáo dục nhân cách cho sinh viên.  
đặc biệt là tâm thế sáng tác và góc nhìn  
thẩm mỹ của tác giả hòa quyện vào nhau  
hết sức tinh tế, chân thực. Sức cảm hóa của  
tác phẩm vì thế mà càng trở nên sâu sắc.  
Với thành công của tác phẩm này, Mã Trí  
Viễn đã được sánh cùng Quan Hán Khanh,  
Bạch Phác, Trịnh Quang Tổ, trở thành bốn  
nhà tản khúc tiêu biểu thời Nguyên Trung  
Quốc. Thiên tịnh sa – Thu tứ là một minh  
chứng hùng hồn cho quan niệm văn học là  
nhân học và mùa thu khi cảnh vật hòa nhịp  
với tâm hồn sẽ trở thành không gian nghệ  
thuật rộng lớn đến khôn cùng. Việc lựa  
chọn hết sức chuẩn xác, tinh tế 9 cảnh vật  
chiều cuối thu trong không gian và thời  
gian tĩnh động đan xen đã làm nên bức  
tranh vịnh cảnh ngụ tình bằng ngôn từ xuất  
chúng. Hệ quả giữa cảnh và tình trong tác  
phẩm cho phép ta khẳng định, Thiên tịnh sa  
– Thu tứ chính là một cách định nghĩa về từ  
đoạn trường bằng thơ, xứng đáng được  
trích giảng và đồng thời làm dẫn chứng tiêu  
biểu, độc đáo, hỗ trợ đắc lực cho việc giảng  
bình những bài thơ vịnh cảnh ngụ tình, thể  
hiện tâm trạng hoài cổ và nỗi cô đơn của  
văn nhân xưa. Khai thác yếu tố ngữ trong  
văn và văn trong ngữ một cách khéo léo sẽ  
giúp cho việc dạy học ngữ văn nói chung và  
giảng bình các tác phẩm thơ ca nói riêng  
càng thêm cuốn hút, từ đó phát huy giá trị  
thẩm mỹ và giá trị nhân văn trong quá trình  
giáo dục tri thức ngôn ngữ – văn học, nâng  
cao hiệu quả trau dồi khả năng tư duy liên  
tưởng và tình yêu thiên nhiên, đất nước, con  
người cho sinh viên.  
Tài liệu tham khảo  
Li, B. J., & Tang, Zh. Ch. (2001). Duanchang. In  
Xiandai Hanyu guifan cidian (p. 261). Jilin  
daxue chubanshe.  
Phạm, N. H. (2020). Đặc điểm nghĩa của nhóm chữ  
Hán có chứa “竹” (Trúc) trong hệ thống  
văn tự Hán. Nghiên cứu Nước ngoài, 36(2),  
145-155.  
3. Kết luận  
Thiên tịnh sa – Thu tứ của Mã Trí  
Viễn là một chuẩn mực về thể tản khúc thời  
Nguyên, là tác phẩm nghệ thuật xuất sắc về  
chủ đề mùa thu vịnh cảnh ngụ tình, trong  
đó, cảnh và tình, không gian và thời gian,  
Sheng, L. F. (2000). Youzi si xiang de dianfan zhi  
qu huanghun bei qiu de juemiao zhi tu –  
yougan Ma Zhiyuan “Tianjingsha – qiusi”.  
Xinjiang Shiyou jiaoyu xueyuan xuebao, (2), 96.  
NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI, TẬP 37, SỐ 2 (2021)  
42  
Wang, F. (1976). Jiangzhai shihua. Taiwan  
Xu, Zh. (2010). Hanyu da zidian. Hubei Changjiang  
chubanjituan deng chubanshe danwei  
chuban.  
Zhonghua shuju.  
Wang, J. (2016). Ma Zhiyuan “Tianjingsha - qiusi”  
yu Baipu “Tianjingsha – qiu” de duibi  
yanjiu. Shidai jiaoyu, (3), 119-141.  
Yang, F. (2001). Yuanren xiaoling shangxi. Anhui  
wenyi chubanshe.  
Wang, T. Y. (1993). Duanchang. In Xiandai Hanyu  
cidian (p. 386). Hainan chubanshe.  
Zhongguo Shehuikexueyuan Yuyanyanjiuyuan  
cidian bianjishi. (2012). Xiandai Hanyu  
cidian. Shangwuyinshuguan.  
Wang, W. (1985). Yuan qu ji shi. Renmin chubanshe.  
Xu, Sh. (2012). Shuowen jiezi. Zhonghua shuju.  
THE DEFINITION OF“BROKEN HEART” (断肠)  
IN CHINESE POETRY  
Pham Ngoc Ham  
VNU University of Languages and International Studies,  
Pham Van Dong, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam  
Abstract: Sunny Sand – Autumn Thoughts (Qiu si) by Ma Zhi Yuan is a Chinese sanqu poetry  
that evokes feelings through the beauty of scenery. The rhythm 2:2 can be found nearly everywhere in  
the text and each of them describes a single traveller in the isolated landscape. Those landscapes form  
a big picture of an autumn afternoon filled with sadness and homesickness of those who live far away  
from home, which makes the reader heart-broken. The Chinese sanqu poetry is regarded as a  
definition that fully carries the meanings of “broken heart”. The article primarily uses analytical  
methods with comparison and contrast to emphasize the uniqueness of the work as well as the artistic  
creativity of Ma Zhi Yuan, asserting that Sunny Sand – Autumn Thoughts is a poetic definition of  
“broken heart”.  
Keywords: broken heart, Autumn Thoughts, definition, evocation of feelings through scenic  
beauty, Chinese sanqu poetry  
pdf 10 trang baolam 25860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một cách định nghĩa từ “Đoạn trường/ 断肠” bằng thơ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_cach_dinh_nghia_tu_doan_truong_bang_tho.pdf