Trạng thái đa ngữ xã hội và tình hình sử dụng ngôn ngữ tại địa bàn dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang
No.16_June 2020|Số 16 – Tháng 6 năm 2020|p.12-23
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO
ISSN: 2354 - 1431
TRẠNG THÁI ĐA NGỮ XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
TẠI ĐỊA BÀN DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH TUYÊN QUANG
*
Nguyễn Văn Khanga
a Viện Ngôn ngữ học
*
Email: [email protected]
Thông tin bài viết
Tóm tắt
Bài viết này là kết quả điền đã ngôn ngữ xã hội vào tháng 4 năm 2019 tại tỉnh
Tuyên Quang. Tại đây, chúng tôi đã tiến hành trao đổi, tọa đàm, phỏng vấn sâu
với các cơ quan chức năng liên quan đến công tác dân tộc của tỉnh, một số huyện,
xã và thôn bản; quan sát việc sử dụng ngôn ngữ ở các bối cảnh giao tiếp khác
nhau; trao đổi với người có uy tín và người dân tại các thôn bản; đồng thời, khảo
sát bằng phiếu hỏi (anket). Từ thực tế điền dã, bài viết chỉ ra năng lực ngôn ngữ
và tình hình sử dụng ngôn ngữ ở các địa bàn dân tộc thiểu số của tỉnh. Từ thực
trạng cũng như ý kiến đề xuất nguyện vọng của người dân, bài viết muốn nêu ra
một số vấn đề ngôn ngữ nhằm góp phần vào phát triển bền vững của tỉnh nói
chung, tại các địa bàn dân tộc thiểu số nói riêng.
Ngày nhận bài:
20/4/2020
Ngày duyệt đăng:
10/6/2020
Từ khóa:
Đa ngữ xã hội, năng lực
ngôn ngữ, sử dụng ngôn
ngữ, dân tộc thiểu số, tỉnh
Tuyên Quang, phát triển
bền vững.
1. Mở đầu
1.1. Trong xu thế di dân và toàn cầu hóa, đa ngữ viết muốn nêu ra một số vấn đề về ngôn ngữ nhằm góp
phần vào phát triển bền vững của tỉnh cũng như tại các
xã hội đã và đang là hiện tượng phổ biến trên thế giới.
Ở Việt Nam, tại các vùng dân tộc thiểu số (DTTS), đa
ngữ xã hội với việc cộng cư nhiều dân tộc từ lâu vốn đã
đa dạng, nay dưới tác động của hàng loạt các nhân tố
xã hội - ngôn ngữ, lại càng đa dạng hơn. Vì là hiện
tượng phổ biến mang tính xu thế thời đại nên đa ngữ xã
hội trở thành đối tượng quan tâm nghiên cứu không chỉ
của ngôn ngữ học mà của các ngành khoa học liên quan
địa phương DTTS.
Tư liệu bài viết là kết quả điền đã ngôn ngữ học xã
hội vào tháng 4 năm 2019 tại tỉnh Tuyên Quang (thuộc
Đề tài mã số DTDL-XH-06/18). Tại đây, chúng tôi đã
tiến hành trao đổi, tọa đàm, phỏng vấn sâu với các cơ
quan chức năng liên quan đến công tác dân tộc từ tỉnh
đến một số huyện, xã và thôn bản; quan sát việc sử
như xã hội học, dân tộc học, văn hóa học, v.v. Ở góc độ dụng ngôn ngữ của người DTTS; tiếp xúc, trao đổi với
người có uy tín và người dân tại các thôn bản; đồng
thời, khảo sát bằng phiếu hỏi (anket). Để giữ đúng lời
hứa khi phỏng vấn, trao đổi, trong bài viết này chúng
tôi chỉ dẫn ra ý kiến và để trong ngoặc kép mà không
nêu tên cụ thể (chỉ lưu giữ trong tư liệu khảo sát).
ngôn ngữ học, một trong những vấn đề quan tâm nhất
của đa ngữ xã hội là việc sử dụng ngôn ngữ trong cộng
đồng (“cộng đồng” với nghĩa rộng là cả thế giới, khu
vực hay quốc gia, v.v.; “cộng đồng” với nghĩa hẹp là
xã, thôn bản,v.v., thậm chí là nhóm người với các đặc
điểm giai tầng xã hội khác nhau).
2. Trạng thái đa ngữ xã hội ở các địa bàn dân tộc
thiểu số tỉnh Tuyên Quang
1.2. Bài viết này, từ thực tế điền dã, khảo sát đặc
điểm trạng thái đa ngữ xã hội ở các địa bàn dân tộc thiểu
số (DTTS) tỉnh Tuyên Quang, chỉ ra năng lực ngôn ngữ
và tình hình sử dụng ngôn ngữ của người DTTS nói
riêng, của cộng đồng DTTS nói chung. Từ thực trạng
cũng như ý kiến đề xuất mà chúng tôi nhận được, bài
2.1. Đăc điểm dân số, cư trú và chức năng của các
ngôn ngữ
2.1.1. Đặc điểm thái dân số và cư trú
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
Tuyên Quang là tỉnh miền núi của vùng Đông Bắc. Tuyên Quang đã có thay đổi, chẳng hạn, năm 2015 là
Là tỉnh đa dân tộc, Tuyên Quang không chỉ là vùng đất 760.289 người, năm 2016 là 766.900 người, v.v.). Do
cư trú của các dân tộc “bản địa” mà còn là nơi đất lành hiện nay chưa có con số chính thức của thống kê dân số
chim đậu của các cư dân thuộc nhiều thành phần dân năm 2019 nên chúng tôi sử dụng số liệu năm 2009 (vì
tộc trên cả nước. Theo thống kê của Tổng cục Điều tra đây là số liệu chính thức). Có thể thấy, tình hình số dân
dân số và nhà ở 2009, tỉnh Tuyên Quang có 732.515 của các dân tộc ở Tuyên Quang (tính theo năm 2009) là
người. (Theo một số cống bố khác thì hiện nay dân số như sau:
Bảng 1. Dân số của các dân tộc trong tỉnh Tuyên Quang (2009)
STT
Dân số
Dân tộc và số dân
Kinh: 334.993; Tày: 185.464
1
Trên 100 nghìn người
Dao: 90.618; Sán Chay: 61.343; Mông: 16.974
Nùng: 14.214; Sán Dìu: 12.565
Trên 10 nghìn dưới 60 nghìn
người
2
2
4
Trên 1 nghìn dưới 10 nghìn người Hoa: 5.982
Trên 100 dưới 1.000 người
Mường: 725; Thái: 348; La Chí : 100
Gia Rai (98), Ê Đê (95), Giáy (74), Cơ Lao(69); Pu Péo (48), Ngái
(43), Mnông (35), Khmer (34), Bố Y(18), Cơ Tu (15), Thổ (15),
Ba Na (15), Hrê (12), Lô Lô (11)
5
6
Trên 10 dưới 100 người
Pà Thẻn (8), Xơ Đăng (7), Khơ Mú (5), Tà Ôi (4) , Raglay (4),
Chăm (4), Xinh Mun (3), La Hủ (3), Lào (1), Hà Nhì (1), Xtiêng
(1), Cơ Ho (1)
Từ 1 đến 10 người
Nhận xét:
- Từ góc độ thành phần dân tộc: tính vào thời gian
- Từ góc độ cư trú: cư trú đan xen là đặc điểm phổ
biến ở tỉnh Tuyên Quang từ thành phố, đến huyện, xã
và thôn bản. Tuy nhiên, ở mỗi địa bàn cụ thể, số lượng
dân tộc có khác nhau và có cả một số địa bàn cư trú đơn
dân tộc. Chẳng hạn: Thành phố Tuyên Quang có
khoảng 19 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 3 dân
tộc có số dân đông là dân tộc Kinh, dân tộc Tày và
nhóm Cao Lan thuộc dân tộc Sán Chay. Huyện Hàm
Yên vào thời điểm năm 2010 có 12 dân tộc cư trú,
trong đó gồm: Kinh (45%), Tày (22,56%), Dao
(22,9%), Cao Lan (5,7%), Mông (1,9), Hoa (1,08%),
các DTTS khác (1,08%) [Lịch sử Đảng bộ huyện Hàm
Yên, 210, tr 13]. Trong đó, xã Minh Hương huyện Hàm
Yên vào thời điểm năm 2012 có 8 dân tộc cư trú, trong
đó có các DTTS: Tày (47,8%), Dao (26%), Mông
(12,3%), Nùng (1,1%), Hoa (0,36%), Cao Lan (0,18%).
Huyện Yên Sơn có địa hình bao quanh thành phố Tuyên
Quang có 31 xã, gồm 22 dân tộc sinh sống, trong đó,
người Tày là nhiều nhất. Trong đó, xã Phú Lâm, huyện
Yên Sơn, vào năm 2015 có 6 dân tộc là: Kinh (48,3%),
Cao Lan (44,3%), Tày (4,66%), Dao (0,24%), Mông
(2,04%), Hoa (0,63%), v.v. [Lịch sử đảng bộ xã Phú
năm 2009, Tuyên Quang có 37/54 dân tộc cư trú. Số
liệu này có thể thay đổi chủ yếu ở nhóm (6) và có thể
một ít ở nhóm (5). Chẳng hạn, một số người thuộc các
DTTS miền Trung, miền Nam đến đây vì lí do hôn
nhân hoặc mưu sinh nên rất dễ thay đổi (đến rồi đi và
ngược lại). Xét về số lượng cư dân, nếu lưỡng phân
người dân tộc đa số (người Kinh) với người DTTS thì
người Kinh ở đây có số dân thuộc “thiểu số”. Tuy
nhiên, ở góc độ từng dân tộc, số dân của dân tộc Kinh
là đông nhất, vượt trội so với số dân của các DTTS
khác. Dựa vào số lượng cư dân, có thể xếp các DTTS
từ nhiều đến ít như sau: (1) DTTS có số dân đông
vượt trội là: Tày; (2) Các DTTS có số dân đông: Dao,
Sán Chay, Mông, Nùng, Sán Dìu, Hoa; (3) Các DTTS
có số dân tương đối ít là: Mường, Thái, La Chí; (5)
Các DTTS có số dân ít là: Gia Rai, Ê Đê, Giáy, Cơ
Lao, Pu Péo, Ngái, Mnông, Khmer, Bố Y, Cơ Tu, Thổ,
Ba Na, Hrê, Lô Lô; (6) Các DTTS có số dân rất ít là:
Pà Thẻn, Xơ Đăng, Khơ Mú, Tà Ôi , Raglay, Chăm,
Xinh Mun, La Hủ, Lào , Hà Nhì, Xtiêng, Cơ Ho.
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
Lâm, 2017]. Tuy nhiên, ở địa bàn thôn thì lại có thể là ngữ này phụ thuộc vào tình hình cư trú có tập trung hay
đa dân tộc hoặc đơn dân tộc. Ví dụ, tại xã Minh Hương
huyện Hàm Yên có thôn 9 là thôn “thuần dân tộc
Mông” (vốn là từ Hà Quảng di dân đến đây từ sau năm
1982); trong khi đó, thôn 10 lại có tới 5 dân tộc (Dao,
Mông, Tày, Cao Lan, Kinh).
không. Một số ngôn ngữ DTTS tuy có số dân ít nhưng
do cư dân cư trú tập trung nên bảo tồn và phát huy được
ngôn ngữ của dân tộc mình. Cách cư trú đơn dân tộc
hoặc số đông tại thôn bản cũng là tác nhân mạnh mẽ
cho sự tồn tại và phát huy chức năng giao tiếp của các
ngôn ngữ DTTS. Tuy nhiên, có một vài ngôn ngữ
DTTS ngay cả khi cư trú tập trung thì cũng khó phát
huy được chức năng của mình, theo đó, ngôn ngữ của
họ phụ thuộc vào áp lực ngôn ngữ của cộng đồng.
Từ góc độ kết hôn khác dân tộc: do cộng cư giữa
các dân tộc nên việc kết hôn giữa các dân tộc là xu
hướng và đang trở nên phổ biến. Ví dụ, theo lời của
người uy tín, “trước đây chủ yếu kết hôn cùng dân tộc
nhưng hiện nay kết hôn khác dân tộc nhiều lắm”, ví
dụ: kết hôn giữa người của các dân tộc như Cao Lan
với người Kinh, Tày với Dao, với Kinh, v.v.; riêng kết
hôn khác dân tộc ở người Mông thì ít “thỉnh thoảng có
người kết hôn với người Kinh” [lời của người Mông].
Ví dụ, khảo sát 205 thành phần dân tộc của bố mẹ học
sinh DTTS đã cho kết quả là: 109/205 em có bố mẹ
cùng dân tộc (chiếm 77,6%), 45 em có bố mẹ khác
dân tộc (chiếm 22%), còn 5 em không trả lời.
Đối với những gia đình kết hôn khác dân tộc có các
khả năng xảy ra là: 1/Cả chồng và vợ đều học và biết
ngôn ngữ của nhau và họ là “người tam ngữ trong giao
tiếp nói/ khẩu ngữ” (gồm: tiếng Việt + tiếng đẻ của
mình + tiếng dân tộc của vợ/chồng); 2/ Một trong hai
(vợ hoặc chồng) biết sử dụng tốt ngôn ngữ của chồng
hoặc vợ; 3/ Cả vợ và chồng đều biết ít hoặc không biết
ngôn ngữ của nhau. Khảo sát thực tế cho thấy, đa phần
các gia đình ở trạng thái (3) và tiếp đó là (2), theo đó,
họ hoặc là tìm đến tiếng Việt là ngôn ngữ chung hoặc
vừa tiếng Việt vừa tiếng dân tộc của chồng hay vợ. Việc
chọn tiếng dân tộc của chồng hay vợ phụ thuộc vào nơi
mà họ cư trú.
2.1.2. Chức năng của các ngôn ngữ
Dựa trên đặc điểm về số dân của các dân tộc và cách
cư trú đan xen giữa các dân tộc, có thể đưa ra một đặc
điểm khái quát về chức năng của các ngôn ngữ ở vùng
DTTS Tuyên Quang là như sau:
2.2. Đặc điểm về năng lực ngôn ngữ của người
DTTS
Tiếng Việt vừa với tư cách là ngôn ngữ của dân tộc
Kinh lại là ngôn ngữ quốc gia nên luôn phát huy được
vị thế, chức năng của mình trong giao tiếp trên mọi lĩnh
vực, từ giao tiếp hành chính đến giáo dục trong nhà
trường và trên phương tiện truyền thông; từ giao tiếp
gia đình đến giao tiếp trong đời sống xã hội. Sau tiếng
Việt là tiếng Tày được sử dụng rộng rãi ở Tuyên
Quang. Tiếng Tày không chỉ có số lượng đông là người
Tày sử dụng mà còn nhiều người DTTS khác cũng biết
tiếng Tày và sử dụng trong giao tiếp “tiếng Tày dễ học
nên nhiều người biết lắm” [lời của người dân]. Tiếp đó
là các ngôn ngữ của các DTTS như: Dao, Sán Chay,
Mông, Nùng, Sán Dìu, Hoa cũng phát huy được chức
năng giao tiếp của mình trước hết là trong cộng đồng
dân tộc đó và một phần ở các cộng đồng dân tộc khác.
Cũng cần lưu ý là, đây là cách nhìn từ cộng đồng lớn,
còn xuống từng cộng đồng nhỏ, tình hình lại có thể
khác. Chẳng hạn, thôn Khau Làng, thôn Khau Luông
xã Kiến Thiết huyện Yên Sơn chủ yếu là người Dao
sinh sống, theo đó, tiếng Dao ở đây sẽ đóng vai trò chủ
đạo trong giao tiếp. Đối với các DTTS đang cư trú ở
Tuyên Quang mà có số lượng dân ít (nhóm 5) và rất ít
(nhóm 6) thì chức năng cũng như việc sử dụng các ngôn
2.2.1. Năng lực tiếng mẹ đẻ
- Về năng lực nói tiếng mẹ đẻ: Người DTTS cư trú
tại địa bàn dân tộc, tức là, tại các làng bản thì đều có thể
giao tiếp nói bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Cư trú tập
trung trong thôn bản tạo nên tính cộng đồng chặt chẽ,
nhất là ở các cộng đồng nhỏ tập trung chỉ một dân tộc
hay đa phần là một dân tộc thì tiếng mẹ đẻ của dân tộc
có số dân đông sẽ được bảo tồn và phát huy chức năng
giao tiếp. Ví dụ, người Mông ở thôn 9 xã Minh Hương
huyện Hàm Yên, từ trẻ đến già đều biết tiếng Mông.
“Tất cả đều biết tiếng Mông; giao tiếp hầu như bằng
tiếng Mông; trẻ dưới 6 tuổi chưa đi học thì nói hoàn
toàn tiếng Mông” [lời người Mông]. “Hầu hết (hơn
90%) người Cao Lan dưới 18 tuổi có thể nói được tiếng
Cao Lan”; “Người dân tộc Dao ở địa phương nói được
tiếng Dao (khoảng hơn 70%) [lời người dân ở
huyệnYên Sơn].
Đối với những người DTTS cư trú tại thị trấn, thị
tứ của các huyện, tại trung tâm các xã thì khả năng
tiếng mẹ đẻ có giảm so với những người cư trú tại cộng
đồng các thôn bản. Mức độ biết nhiều, biết ít thậm chí
không biết tùy thuộc nơi họ cư trú (các cộng đồng nhỏ)
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
cũng như tùy thuộc vào từng gia đình. Vì thế, có những 9,8% học sinh (lứa tuổi học sinh) không biết nói tiếng
địa bàn “chỉ có 50% người dưới 20 tuổi nói tiếng dân mẹ đẻ. Như vậy, đại đa số người DTTS đều biết tiếng
tộc” [lời người dân]. Một cách khái quát về năng lực mẹ đẻ, trong đó người dân là 79,3%, học sinh là 76,1%
tiếng mẹ đẻ của người dân tộc, như lời của một người có khả năng giao tiếp bình thường; 16,4% người dân và
dân tộc làm công tác dân tộc là “thế hệ trẻ ít nói tiếng 14,1% học sinh ở mức biết nói một ít. Nhìn khái quát
dân tộc, thế hệ bố mẹ nói nhiều hơn”. Kết quả khảo sát thì năng lực tiếng mẹ đẻ của lứa tuổi học sinh thấp hơn
bằng phiếu (anket) cho thấy, chỉ có 4,3% người dân và so với người dân. Có thể hình dung bằng biểu đồ sau:
Năng lực tiếng mẹ đẻ (TMĐ) của người dân (ND) và
của học sinh (HS)Chart Title
76.1
HS giao tiếp bình thường bằng TMĐ
79.3
ND giao tiếp bình thường bằng TMĐ
14.1
HS biết nói một ít TMĐ
16.4
ND biết nói một ít TMĐ
9.8
HS không biết nói TMĐ
4.3
ND không biết nói TMĐ
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
Series4
Series3
Series2
Series1
Biểu đồ 1. Năng lực nói tiếng mẹ đẻ của người DTTS
- Về năng lực viết mẹ đẻ (biết chữ dân tộc): Nếu như Dao, chữ Nôm Cao Lan; việc dùng chữ Quốc ngữ để
đại đa số người DTTS biết nói tiếng dân tộc của mình ghi lại tiếng Dao, tiếng Cao Lan, v.v. (vì thế, một số
thì ngược lại, không nhiều người biết chữ của dân tộc người cho rằng dùng chữ Quốc ngữ để viết lại tiếng dân
mình. “Người dân tộc hầu hết chỉ nói được, còn chữ tộc chính là chữ viết của dân tộc mình).
viết thì đại đa số không biết” [lời cán bộ dân tộc người
2.2.2. Năng lực tiếng Việt
dân tộc]. Việc biết chữ và mức độ biết chữ dân tộc nhiều
- Về năng lực nói tiếng Việt: Đại đa số người
hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn: chữ viết
DTTS ở Tuyên Quang đều biết nói tiếng Việt và sử
DTTS đó có được dạy, phố biến hay không; chữ viết đó
dụng tiếng Việt trong đời sống. Số người không biết
được người dân xem là khó học hay dễ học; mục đích
tiếng tiếng Việt dao động trong khoảng 5% -10%. Có
học để làm gì; tiếng DTTS đó đã có chữ viết chưa; v.v.
hai cách hiểu về khả năng “không biết nói tiếng Việt”
Ví dụ, “chỉ có thầy cúng mới biết chữ Cao Lan. Thôn,
(cũng như không biết nói tiếng dân tộc): không biết
xã cũng tự mở lớp dạy chữ Cao Lan, nhưng đa phần
hoàn toàn và có khả năng nghe được nhưng không nói
người đến lớp học để rồi làm thầy cúng” [lời người
ra được hoặc chỉ nói được một vài câu đơn giản. Với
dân]. Đối với người Dao thì số người biết chữ Nôm Dao
cách hiểu như vậy, có thể thấy đa phần người DTTS có
rất ít “vì chữ chữ viết của Dao sử dụng chữ Hán” [lời
thể nghe được về đại thể nhưng không nói ra được, nhất
người dân]. Đối với chữ Mông thì ở tỉnh có mở lớp nên
là những người già. Ví dụ, khi gặp những người này có
có một số người biết chữ Mông, nhưng “học xong
thể hỏi họ bằng tiếng Việt nhưng lại nhận được câu trả
không dùng nên nhanh quên” [lời người dân]. Đáng lưu
lời của họ bằng tiếng dân tộc. Khả năng nói tiếng Việt
ý là, ở một vài địa bàn, người dân học chữ và biết “chữ
của người DTTS có thể khác nhau giữa các dân tộc,
Mông Latinh do cha theo đạo Tin Lành dạy”. Do cách
giữa các địa bàn cư trú cũng như trong cuộc sống trong
“hiểu” về chữ dân tộc còn có chỗ khác nhau nên việc
mỗi gia đình. “Chỉ có khoảng vài phần trăm người dân
nhận định khả năng biết chữ dân tộc cũng khác nhau.
tộc không biết tiếng Việt, tập trung ở người Mông. Số
Chẳng hạn, việc cùng tồn tại các loại chữ khác nhau cho
người không biết này chủ yếu là người cao tuổi, và
cùng một ngôn ngữ, ví dụ: chữ Tày Latinh với chữ Nôm
thường là phụ nữ vì họ ít giao lưu với mọi người bên
Tày, chữ Mông hiện hành và chữ Mông từ bên ngoài
ngoài [lời người dân tộc, đang làm công tác dân tộc của
vào (cách gọi khác “chữ Mông quốc tế”), chữ Nôm
huyện]. Kết quả khảo sát năng lực tiếng Việt của người
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
dân (không khảo sát học sinh vì học sinh đương nhiên đa số người dân đều biết tiếng Việt ở mức độ “giao tiếp
phải biết tiếng Việt) cho thấy, trừ 15,4% không trả lời, bình thường” (chiếm 77,9%). Có thể hình dung bằng
chỉ có 3,2% người DTTS không biết nói tiếng Việt, còn biểu đồ sau:
Năng lực tiếng Việt (TV) của người DTTS
90
80
77.6
70
60
50
40
30
20
10
0
15.4
3.6
3.2
Không biết nói TV
Biết nói một ít TV
Giao tiếp bình
thường bằng TV
Từ chối trả lời
Series1
Series2
Series3
Biểu đồ 2. Năng lực nói tiếng Việt của người DTTS
- Năng lực viết tiếng Việt (biết chữ Quốc ngữ)
nghĩa của từ này và chúng tôi tôn trọng, không gặng
hỏi).
Số người DTTS biết chữ Quốc ngữ là đa số, vì,
ngay từ sau 1945 nhất là từ sau 1954, việc học chữ Quốc
ngữ được đẩy mạnh ở cả nước nói chung và ở vùng
DTTS nói riêng. Tuy nhiên, vì nhiều lí do mà ở vùng
DTTS Tuyên Quang cũng như các vùng DTTS khác,
hiện tượng mù chữ và tái mù vẫn diễn ra, theo đó, công
việc xóa mù, xóa tái mù vẫn tiếp tục đẩy mạnh. Theo
tác giả Hải Bình “Tính đến năm 2018, tỷ lệ biết chữ độ
tuổi 15 - 60 là 97,57%, trong đó, tỷ lệ biết chữ của nữ
giới là 97,32%, của người dân tộc thiểu số là 92,55%.
Tỷ lệ biết chữ độ tuổi 15 - 35 là 98,87%, trong đó, tỷ lệ
biết chữ của nữ giới là 98,7%, của người dân tộc thiểu
số là 96,38” [Giáo dục và Thời Đại, 28/10/2019]. Thực
tế khảo sát cũng cho thấy, vẫn gặp những người không
biết chữ. Ví dụ, trên đường đi khảo sát, do đường quá
lầy lội, chúng tôi phải xuống đi bộ và có vào một nhà
dân người Mông để nhờ sự giúp đỡ. Chúng tôi có đưa
2.2.3. Năng lực tiếng dân tộc khác
Do cộng cư nên một số người DTTS có thể biết tiếng
của các DTTS khác, trong đó có cả người Kinh. “Có
không ít người ngoài tiếng mẹ đẻ, tiếng của dân tộc
mình, còn biết tiếng của một số dân tộc khác cùng
chung sống” [lời người Tày làm công tác dân tộc].
Đáng chú ý là, Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg của Thủ
tướng Chính phủ “Về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng
tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công
tác ở vùng dân tộc, miền núi” đã thúc đẩy việc dạy -
học tiếng nói chữ viết dân tộc ở các tỉnh đa dân tộc nói
chung và Tuyên Quang nói riêng. “ Cán bộ được học
tiếng dân tộc Mông khi có nhu cầu” [lời của một cán
bộ tại huyện Yên Sơn]. Đối với học sinh, nhất là học
sinh ở các trường dân tộc nội trú thì cơ hội biết tiếng
DTTS khác nhiều hơn, vì các em được học tập, sinh
giấy giới thiệu, chứng minh nhân dân, thẻ nhà báo và hoạt cùng nhau một cách thường xuyên, theo đó, số em
các giấy tờ khác để “làm chứng”, nhưng cả ba phụ nữ biết tiếng DTTS khác cũng khá nhiều. Kết quả khảo sát
cụ thể bằng phiếu (anket) cho thấy, tỉ lệ biết nói tiếng
DTTS khác khá thấp, trong đó, lứa tuổi học sinh biết
nói tiếng DTTS khác cao hơn so với người dân (14,1%
ở học sinh so với 5,3%), trong đó, số người có khả năng
giao tiếp bình thường ở người dân là 3,9% cao hơn học
sinh là 2,4%.
người Mông (khoảng 30 tuổi) đều lắc đầu trả lời là “
không biết vì không biết chữ” (nhưng họ tin chúng tôi
và giúp đỡ chúng tôi rất nhiệt tình). Kết quả khảo sát
trực tiếp bằng phiếu về năng lực viết tiếng Việt cho
thấy, tỉ lệ không biết chữ chỉ chiếm 1,8%, biết một ít là
3,9%, còn biết nhiều là 79,3%. Trong số này có 15%
không trả lời, tức là khi hỏi “có biết chữ hay không” họ
“không nói”; khi đưa một trang viết ra để họ đọc thì họ
chỉ “cười (chúng tôi hiểu đây là “cười trừ” với đúng
2.3. Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
Vì tuyệt đại đa số là người song ngữ (tiếng mẹ Việt là chủ yếu đã tác động đến việc sử dụng ngôn ngữ
đẻ/tiếng dân tộc - tiếng Việt) và một số ít là người tam trong gia đình; “khi giao tiếp trong các gia đình hiện
ngữ (tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ - tiếng DTTS khác) nên nay, không ít gia đình thường sử dụng tiếng Kinh bởi
người DTTS có thể linh hoạt sử dụng ngôn ngữ trong đa số người dân tộc trong xã đều có thể nói tiếng Kinh
giao tiếp nói.
2.3.1. Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình
thành thạo” [lời người dân]; 3/Do có sự kết hôn khác
dân tộc của thành viên trong gia đình nên sử dụng ngôn
ngữ cũng khá đa dạng; “trong gia đình tôi có 4 anh em,
trong có có 3 người lấy vợ người Kinh, một người lấy
vợ Cao Lan; trong gia đình, các anh em giao tiếp với vợ
bằng tiếng phổ thông, riêng cặp cả hai vợ chồng là
người Cao Lan thì tùy lúc, lúc nói tiếng Kinh, lúc nói
tiếng Cao Lan [lời người dân]; “vợ chồng tôi là người
Cao Lan nên khi nói chuyện đều dùng tiếng Cao Lan;
còn dâu, rể là người Kinh nên khi nói với các cháu thì
dùng tiếng Việt” [lời người dân]; “tôi là người Tày lấy
vợ Kinh, cả nhà tôi đang ở đây (TP. Tuyên Quang) nên
giao tiếp với nhau chủ yếu bằng tiếng phổ thông” [lời
người dân]. Nhiều khi, không chỉ là việc lựa chọn giữa
tiếng dân tộc với tiếng Việt mà còn là lựa chọn giữa
hai tiếng dân tộc (của chồng hay của vợ). Việc lựa chọn
này phụ thuộc vào điều kiện cư trú, tức là cộng đồng
của nơi gia đình đó đang cư trú sử dụng ngôn ngữ nào;
“trong gia đình chủ yếu giao tiếp bằng tiếng Tày, có lúc
nói tiếng Dao mặc dù tôi người Dao; nói tiếng Tày vì
tiếng Tày ở vùng này phổ biến hơn, là tiếng của chồng
tôi” [lời của người dân]. Khảo sát bằng bảng hỏi cho
kết quả như sau:
Khi giao tiếp với các thành viên trong gia đình,
người DTTS chủ yếu dùng tiếng mẹ đẻ. Nói là “chủ
yếu” vì việc dùng hoàn toàn tiếng mẹ đẻ hay đa phần
dùng tiếng mẹ đẻ, thậm chí ít dùng tiếng mẹ đẻ phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Ví dụ, ở các gia đình “thuần”
một dân tộc lại cư trú tại các thôn bản với hầu hết là
người cùng dân tộc thì việc dùng tiếng mẹ đẻ có thể coi
là tuyệt đối, nhất là các thôn bản người Mông. Tuy
nhiên, ở các gia đình khác do cư trú đan xen hoặc do cư
trú ở trung tâm, thị trấn, thị tứ thì lại khác, như: “chủ
yếu dùng tiếng mẹ đẻ”, “vừa tiếng mẹ đẻ vừa tiếng
Kinh”, thậm chí, “nhiều gia đình 100% là người dân
tộc, như gia đình tôi, thì vẫn giao tiếp bằng tiếng Việt”
[lời người dân]. Thường thấy, có các trường hợp như:
1/ Giao tiếp với người lớn tuổi (ông bà) thì dùng tiếng
dân tộc còn giao tiếp với người trẻ (con cái) “thì dùng
tiếng Kinh”; “trong gia đình, khi nói chuyện với bố mẹ
thì nói tiếng Cao Lan, nhưng khi nói chuyện với vợ con
thì dùng tiếng Kinh, có pha trộn một chút tiếng Cao
Lan” [lời người dân]; 2/ Do ngoài xã hội sử dụng tiếng
Bảng 2. Ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp gia đình, xét theo lứa tuổi
Ngôn ngữ sử dụng
18 tuổi
trở xuống
19-30 tuổi
31-50 tuổi
51 tuổi trở lên
Tiếng mẹ đẻ /dân tộc
Tiếng Việt
45
16,1%
51,4%
58
20,7%
38,6%
92
74
32,9%
26,4%
110
68
39,3%
24,3%
144
16
108
Tiếng mẹ đẻ có xen
tiếng Việt
5,7%
5,4%
37
21
13,2%
7,5%
38
22
13,6%
7,9%
24
14
8,6%
5%
Tiếng Việt có xen tiếng
mẹ đẻ
15
Chọn nhiều
22
38
7,9%
24
32
8,6%
2
0.7%
7,9%
19
45
6,8%
phương án
Không trả lời
Tổng
13,6%
11,4%
22
16,1%
280 (100%)
Nhận xét: Kết quả trên phản ánh việc sử dụng ngôn dụng tiếng dân tộc tăng dần theo lứa tuổi, chẳng hạn, ở
ngữ trong gia đình dưới tác động của nhân tố tuổi: sử lứa tuổi dưới 18 là 16,1%; ở lứa tuổi 19 -30 là 20,7%;
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
ở lứa tuổi 31-50 là 32, 9%; ở lứa tuổi 51 trở lên là ở các địa bàn xã đa dân tộc, phương tiện ngôn ngữ phổ
39,3%. Ngược lại, việc sử dụng tiếng Việt giảm dần biến nhất dùng để làm việc là tiếng Việt. Kết quả khảo
theo lứa tuổi: ở lứa tuổi dưới 18 là 51,4%; ở lứa tuổi sát bằng phiếu hỏi cho thấy, trong các cuộc họp ở thôn,
19-30 là 38,6%; ở lứa tuổi 31-50 là 26,4%; ở lứa tuổi xã, tiếng Việt luôn là ngôn ngữ chính và tăng dần từ
51 trở lên là 24,3%. Như đã nêu, vì đại đa số các thành họp thôn lên họp xã (66,8% khi họp thôn và 82,5% khi
viên trong gia dình là người song ngữ nên họ có thể họp xã). Ngôn ngữ dân tộc vẫn được sử dụng với số
chọn nhiều phương án khi giao tiếp như: chỉ sử dụng lượng ít và giảm dần từ thôn lên xã (8,9% ở thôn và
tiếng mẹ đẻ, chỉ sử dụng tiếng Việt, sử dụng tiếng mẹ 2,1% ở xã). Có khoảng 20% sử dụng đan xen giữa hai
đẻ có xen tiếng Việt, sử dụng tiếng Việt có xen tiếng ngôn ngữ, trong đó, tỉ lệ sử dụng tiếng dân tộc có xen
mẹ đẻ; tuy nhiên, mức độ sử dụng tiếng dân tộc xen thêm tiếng Việt cao hơn nhiều so với sử dụng tiếng dân
thêm tiếng Việt cao hơn ít nhiều so với sử dụng tiếng tộc có xen thêm tiếng Việt. Đặc điểm này ngược lại với
Việt có xen tiếng dân tộc.
giao tiếp trong gia đình (sử dụng tiếng dân tộc có xen
thêm tiếng tiếng Việt cao hơn so với sử dụng tiếng Việt
có xen thêm tiếng dân tộc).
2.3.2. Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hành chính
Ngôn ngữ hành chính là tiếng Việt nên từ công văn
giấy tờ, đến các cuộc họp, trao đổi công việc đến tiếp
dân, ngôn ngữ chủ đạo là tiếng Việt. Nhưng, trên thực
tế, khi làm việc trong phạm vi chỉ có một hoặc một vài
người cùng dân tộc thì tiếng dân tộc vẫn được phát huy.
Ở địa bàn cấp xã và thôn bản, cán bộ xã thôn luôn kết
hợp tiếng Việt, tiếng dân tộc khi làm việc với dân. Lí
do là vì, để giúp cho người dân dễ hiểu các nội dung
cần nói, mặt khác cũng là để “cận dân” hơn. Khảo sát
cho thấy, không ít cuộc họp thôn, khi đọc xong văn bản
tiếng Việt, cán bộ xã, thôn phải dùng tiếng dân tộc tóm
tắt, diễn giải lại để bà con trong thôn bản nắm được;
hoặc “cán bộ phải đọc trước ở nhà , đến cuộc họp phổ
biến trực tiếp bằng tiếng dân tộc” [lời trưởng thôn]. Còn
Xét theo lứa tuổi, chúng tôi tiến hành khảo sát việc
sử dụng ngôn ngữ tại ba cuộc họp thuộc ba lứa tuổi khác
nhau là các cuộc họp của người cao tuổi, của thanh niên,
của thiếu niên. Kết quả cho thấy: tỉ lệ dùng tiếng Việt
trong các cuộc họp vẫn là chủ đạo (từ khoảng 60 % -
80%); trong đó, các cuộc họp của thanh niên chiếm tỉ
lệ cao nhất (73,9%), tiếp đến là các cuộc họp thiếu niên
(68,2%), thấp nhất là các cuộc họp của người cao tuổi
(57,9%). Tỉ lệ dùng thuần tiếng dân tộc rất ít (5,4% ở
các cuộc họp người cao tuổi, 1% ở các cuộc họp của
thanh niên và thiếu niên). Việc dùng đan xen giữa các
ngôn ngữ trong các cuộc cũng chiếm một tỉ lệ thấp (5%
trở xuống).
Bảng 3. Ngôn ngữ sử dụng trong các cuộc họp của người cao tuổi, thanh niên và thiếu niên
Ngôn ngữ sử dụng Người cao tuổi Thanh niên Thiếu niên
Tiếng Việt 162 57,9%
207
3
73,9%
191
3
68,2%
Tiếng dân tộc
15
10
5,4%
3,6%
1,1%
0,4%
1,1%
0,7%
Tiếng dân tộc chính, xen tiếng
Việt
1
5
2
1
Tiếng Việt chính, xen tiếng dân
tộc
15
5,4%
1,8%
0,4%
Chọn nhiều phương án
Không trả lời
4
1,4%
4
1,4%
3
1,1%
74
26,4%
60
21,4%
80
28,6%
Tổng số
280
( 100%)
2.3.2. Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp đời sống
xã hội
Nếu so với việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
hành chính thì trong giao tiếp đời thường, người dân sử
dụng ngôn ngữ “thoải mái” hơn nhiều, tức là họ có thể
rất linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ “tiện tiếng nào thì
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
nói tiếng ấy” [lời người dân]. Gặp người cùng dân tộc tiếng Việt?”, chúng tôi đã nhận được câu trả lời như:
thì nói tiếng dân tộc, gặp người Kinh, người dân tộc “bây giờ ít ru con lắm”, “vỗ vỗ một lúc là nó ngủ thôi”,
khác thì nói tiếng Việt; hoặc nếu người Kinh biết nói “ru bằng tiếng Việt”, “cũng có lúc ru bằng tiếng dân
tiếng dân tộc thì nói tiếng dân tộc; v.v.. Dưới đây là một tộc”, v.v.. Khảo sát bằng phiếu hỏi, kết quả thu được
số bối cảnh giao tiếp cụ thể:
là: ru con bằng tiếng Việt chiếm 37,9%, ru con bằng
tiếng dân tộc chiếm 27,9%, trong đó có tới gần 30 %
từ chối trả lời.
(i) Giao tiếp ở chợ: Quan sát trong giao tiếp ở chợ
cho thấy, người đi chợ đang nói tiếng dân tộc với người
cùng dân tộc, nhưng có người Kinh đến mua hàng thì
họ lập tức chuyển sang nói tiếng Việt. Việc dùng ngôn
ngữ nào, dùng nhiều hay ít còn phụ vào từng địa bàn
cụ thể. Chẳng hạn, “khi ra chợ, chủ yếu dùng tiếng Tày
vì đa số người dân tộc khác và người Kinh cũng có thể
nói tiếng Tày” [lời một người dân ở huyện Hàm Yên].
Khảo sát bằng phiếu hỏi cho kết quả là: khi giao tiếp ở
chợ với người cùng dân tộc, tỉ lệ dùng tiếng mẹ đẻ và
tiếng Việt tương đương nhau và tỉ lệ dùng tiếng dân tộc
xen tiếng Việt tương đối cao (19, 3%) và cao hơn hẳn so
với tỉ lệ dùng tiếng Việt xen tiếng dân tộc (chỉ là 4,3%).
Lí giải về điều này, người dân cho biết, có nhiều mặt
hàng phải dùng đến tiếng Việt cũng như “khi trả tiền
nói tiếng Việt tiện hơn”. Khi giao tiếp với người Kinh
và những người DTTS khác thì hầu như dùng tiếng Việt
(78,9% với người DTTS khác và 88% với người Kinh);
còn việc dùng tiếng dân tộc để giao tiếp chiếm tỉ lệ cực
thấp (trung bình là khoảng 1,5%). Đáng chú ý là, khi
nói tiếng Việt có xen tiếng dân tộc chiếm tỉ lệ cao
3. Thái độ ngôn ngữ của người DTTS đối với việc
sử dụng ngôn ngữ
Thái độ ngôn ngữ (languae attitude) có thể được
hiểu là sự đánh giá về giá trị và khuynh hướng hành vi
của một cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ
hoặc một hiện tượng ngôn ngữ nào đó, theo đó, biết
được thái độ ngôn ngữ từ đó có thể biết được cũng như
có thể dự đoán về hành vi ngôn ngữ của cá nhân hay
cộng đồng. Như vậy, việc cần tìm hiểu ở đây là thái độ
ngôn ngữ của người DTTS đối với các ngôn ngữ như
tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ, tiếng DTTS khác và ngoại ngữ.
Riêng với tiếng Việt, qua tìm hiểu chúng tôi được biết
100% người DTTS đều cho rằng cần phải biết tiếng
Việt vì đó là ngôn ngữ quốc gia, là ngôn ngữ chung của
toàn quốc, vì thế, dưới đây chỉ tập trung vào các ngôn
ngữ còn lại.
3.1. Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng mẹ đẻ
Đại đa số người DTTS cho rằng cần phải biết tiếng
hơn( 6,8%) so với việc dùng tiếng dân tộc xen tiếng của dân tộc mình (90% người dân và 95,6% học sinh).
Khi được hỏi “vì sao lại cần biết tiếng dân tộc mình”,
các ý kiến nêu ra nhiều lí do, trong đó lí do hàng đầu là
“để hiểu và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc”, “để
truyền lại cho đời sau”, tiếp đó là “để giao tiếp với
người cùng dân tộc, trước hết là ông bà, cha mẹ của
mình”. Có những ý kiến khẳng định rằng, việc biết tiếng
dân tộc mình là đương nhiên, không cần phải bàn. Tổng
hợp qua phiếu khảo sát cho kết quả là: 91,8% người
dân và 86,3% học sinh cho rằng cần biết tiếng dân tộc
mình để “giữ gìn, thêm yêu dân tộc mình”; 99,6%
người dân và 91,2% học sinh cho biết cần biết tiếng
dân tộc mình để “giữ gìn, bảo tồn được tiếng nói phong
tục của dân tộc mình”; 90,4% người dân và 50,7% học
sinh coi biết tiếng dân tộc mình là “biết thêm văn hóa -
văn nghệ dân tộc”; 80,4% người dân và 72,2% học sinh
cho rằng, việc biết tiếng dân tộc sẽ “dễ dàng nói
chuyện” với người cùng dân tộc; người dân cho rằng,
cần biết tiếng dân tộc để “thuận lợi trong việc cúng bái,
trong các nghi lễ ” (66,8 %) và “dễ dàng trong việc lấy
vợ, lấy chồng” (47,1%).
Việt (0,4%). Tìm hiểu lí do, chúng tôi được biết, việc
dùng xen tiếng dân tộc khi nói tiếng Viêt chủ yếu là
tên gọi của sản phẩm hoặc tên gọi địa phương.
(ii) Trong các lễ nghi truyền thống: đối với các nghi
lễ truyền thống như cúng bái ở các đám hiếu, đám hỉ,
tết nhất, lễ hội, v.v. ngôn ngữ là tiếng dân tộc; còn khi
trao đổi, trò chuyện trong các đám xứ thì có thể vừa
tiếng dân tộc vừa tiếng Việt: “Trong các bài cúng thì
sử dụng ngôn ngữ của các thầy cúng”; “Trong thực hiện
nghi lễ thì dùng tiếng Cao Lan, tiếng riêng của dân tộc
mình”; “Các đám ma, lễ ăn hỏi, lúc chúc rượu,v.v.
dùng tiếng dân tộc” [ lời của một số người dân].
(iii) Khi giao tiếp nói trên điện thoại (gọi theo ngôn
ngữ đời thường “nói chuyện điện thoại”): nếu là cùng
dân tộc thì tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ được dùng tỉ lệ gần
như ngang nhau (tiếng Việt là 39,6%, tiếng mẹ đẻ là
34,6%); còn với người Kinh và người DTTS khác thì
hầu như là tiếng Việt (91,8 với người Kinh và 85% với
người DTTS khác).
(iv) Khi ru con: Các bà mẹ trẻ (có cả các ông bố
trẻ) khi được hỏi “lúc ru con thì dùng tiếng dân tộc hay
Tuy nhiên, ngược với ý kiến trên về “cần biết tiếng
dân tộc mình” là ý kiến “không cần biết tiếng dân tộc
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
mình”. Tuy số lượng thấp, nhưng “thể hiện băn khoăn” người dân và 11,2 % học sinh “không có ý kiến gì” hoặc
thì nhiều. Đây chính là “tâm tư” của người DTTS, nhất “ bỏ trống “ không trả lời” (3,9% người dân và 20,5%
là thế hệ trẻ, làm thế nào để có thể biết được, giữ gìn
được tiếng dân tộc mình, trong khi cần phải biết tốt
tiếng Việt để mưu sinh, phát triển cuộc sống (đấy là
chưa kể cần phải biết tiếng nước ngoài/ngoại ngữ nữa).
Chẳng hạn, lí do không cần biết tiếng mẹ đẻ vì: “tiếng
dân tộc ít sử dụng” (29,6%); “số người dùng tiếng mẹ
đẻ ngày một ít” (19,6%); “đã có tiếng Việt rồi”
(16,1%); biết tiếng mẹ đẻ “ảnh hưởng đến việc học, sử
dụng tiếng Việt” (5,7%); “không mang lại lợi ích về
kinh tế, việc làm” (11,8%).
học sinh).
Lí do về việc người Kinh cần biết tiếng DTTS là vì:
để thuận lợi trong giao tiếp, tạo sự gần gũi, thuận lợi
trong công việc, hiểu thêm được cuộc sống, nhất là đời
sống văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc anh em ở
nơi mình đang sống và làm việc, v.v.. Lí do về việc
người Kinh không cần biết tiếng dân tộc là vì, như lời
của một số người dân: “đã có tiếng Việt rồi”; “người
dân tộc đã biết tiếng Việt rồi” ;“cán bộ là người Kinh
không cần biết tiếng dân tộc khi đi làm việc bởi lẽ người
dân tộc hiện nay đa số đều thông thạo tiếng Kinh”; biết
thêm tiếng dân tộc cũng “không giúp được gì nhiều cho
đời sống và công việc”, tiếng dân tộc “khó học”, “chưa
có chính sách phù hợp” cho những người Kinh biết
tiếng dân tộc, v.v..
3.2. Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng DTTS khác
Cộng cư giữa các dân tộc là điều kiện tốt để người
các DTTS có thể biết tiếng của nhau. 77% ý kiến cho
rằng, biết thêm được tiếng dân tộc khác thì tốt, chủ yếu
là để hiểu nhau hơn. Tuy nhiên, họ đều có chung một
chia sẻ là, việc biết tiếng DTTS khác còn tùy theo hoàn
cảnh, khả năng của mỗi người. Ví dụ, khi lấy chồng hay
lấy vợ về một dân tộc khác mà ở đó “chủ yếu nói tiếng
dân tộc của họ (không phải tiếng của dân tộc mình) thì
phải nhất định phải biết”, hoặc do yêu cầu của công
việc, v.v. Có những người không có nhu cầu nhưng họ
lại biết vì khả năng ngôn ngữ của họ, v.v.. Nói chung,
các ý kiến cho rằng “biết thêm được thì càng tốt,
nhưng không dễ chút nào” [lời của người dân].
3.4. Thái độ ngôn ngữ của người DTTS đối với
ngoại ngữ
Khi được hỏi người DTTS có cần biết ngoại ngữ
không thì đại đa số các ý kiến (86,1% ở người dân và
93,7% ở học sinh) cho rằng, trong thời đại hiện nay, dù
là ai ở đâu cũng cần biết ngoại ngữ. Dù có thể chỉ dừng
lại ở mong muốn nhưng có thể coi đây là một cách nhìn
hiện đại, cởi mở của người DTTS ở Tuyên Quang. Trao
đổi lí do cần biết ngoại ngữ, chúng tôi đã nhận được
những cách chia sẻ khác nhau nhưng tập trung là biết
ngoại ngữ để mở rộng tầm nhìn, giao lưu với thế giới,
tiếp nhận những cái hay cái đẹp của thế giới và quan
trọng là hướng đến tương lại. Dưới đây là tổng hợp một
số lí do được đa số người hỏi ý kiến thống nhất, gồm:
“Thuận lợi trong công việc”; “Làm việc với người nước
ngoài”; “Giao lưu với người nước ngoài”; “Để xem,
nghe ca nhạc nước ngoài trên TV, đài phát thanh”; “Để
3.3. Thái độ ngôn ngữ của người Kinh đối với
tiếng DTTS
Câu hỏi đặt ra là, người Kinh ở các địa bàn DTTS
có cần biết tiếng DTTS không? Để có một cái nhìn
khách quan về vấn đề này, chúng tôi đã khảo sát trực
tiếp và nhận được các ý kiến phản hồi cả “thuận chiều”
“và cả “trái chiều”, cụ thể: 81,7% ý kiến người dân và
66,3% học sinh cho rằng, người Kinh cần biết tiếng dân
tộc; 5,7% ý kiến người dân và 2% học sinh cho rằng
người Kinh không cần biết tiếng dân tộc, còn lại 9,3% hi vọng ra nước ngoài”.
Bảng 4. Lí do, mục đích của việc biết ngoại ngữ
(*Ghi chú: một người có thể nêu vài lí do)
Lí do
Ý kiến của người dân
218/280
Ý kiến của học sinh
Thuận lợi trong công việc
Làm việc với người nước ngoài
Giao lưu với người nước ngoài
77,9%
63,9%
71,4%
169/205
82,4%
179/280
=====
======
75,1%
200/280
154/205
Để xem, nghe ca nhạc nước ngoài trên
178/280
137/208
63,6%
48,9%
120/205
104/205
58,5%
50,7%
TV, đài phát thanh
Để hi vọng ra nước ngoài
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
Tiếp theo, khi tìm hiểu “nên cần biết ngoại ngữ nhiều lĩnh vực khác”; “nên học tiếng Anh, vì tiếng Anh
nào” thì đa số các ý kiến cho rằng, cần biết tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế” [lời của một số người]. Đối với
(87,9% ý kiến của người dân và 93,2% của học sinh): các ngoại ngữ khác thì ý kiến của cả người dân và học
“Nên ưu tiên tiếng Anh vì tiếng Anh có ảnh hưởng đến sinh đều ở tỉ lệ thấp.
Bảng 5. Những ngoại ngữ cần biết
(*Ghi chú: một người có thể nêu vài lí do )
Ngoại ngữ cần biết
Tiếng Anh
Người dân
246/280
66/280
Học sinh
87,9%
23,6%
10,7%
10,4%
191/205
65/205
23/205
30/205
93,2%
31,7%
11,2%
14,6%
Tiếng Trung Quốc phổ thông
Tiếng Trung Quốc địa phương
Tiếng Pháp
30/280
19/280
Tiếng Hàn
73/280
26,1% 77/205
22,5% 69/205
37,6%
33,6%
Tiếng Nhật
23/280
- Đối với chữ Tày, chữ Dao: “Mong muốn có chữ
viết Tày Latinh để dễ dàng thuận lợi trong việc học
chữ”; “cần có chữ Dao Latinh thì mới học được”.
4. Thay cho kết luận: những kiến nghị đề xuất
1. Một số ý kiến đề xuất của người dân tộc thiểu
số ở Tuyên Quang
- Đối với chữ Mông: Hiện ở Tuyên Quang đang tồn
tại hai loại chữ viết Mông là chữ Mông của Việt Nam
và chữ Mông quốc tế (còn goi là Mông Latinh). “Người
dân thích học chữ Mông Latinh và thường dùng trong
đời sống người Mông hàng ngày; chữ Mông này giúp
cho người Mông đọc, học Kinh thánh (đạo Tin Lành)”.
Vì thế, cần cân nhắc “thống nhất chữ Mông để dễ phổ
biến đến bà con hơn”.
Trong quá trình khảo sát điền dã, tiếp xúc với các
cấp chính quyền cũng như bà con ở vùng DTTS tại tỉnh
Tuyên Quang, chúng tôi đã thu nhận được các ý kiến
xung quanh vấn đề ngôn ngữ. Chúng tôi tổng hợp lại
thành một số nội dung như sau:
Thứ nhất, về tình hình sử dụng ngôn ngữ nói chung:
Ở vùng DTTS có nhiều ngôn ngữ, nhưng cần ưu tiên
hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của mỗi dân
tộc. Theo đó, cần có biện pháp để nâng cao khả năng sử
dụng hai ngôn ngữ này của mọi người DTTS. Nếu cần
biết thêm một ngoại ngữ thì nên là tiếng Anh để giao
lưu hội nhập.
Thứ tư, về sử dụng ngôn ngữ của người công tác
tại vùng DTTS
- Đối với cán bộ người Kinh: “Cán bộ người Kinh
phải học tiếng dân tộc để thuận lợi trong công việc ở
vùng dân tộc, để dễ tiếp cận dân”.
Thứ hai, về tiếng dân tộc: Nhiều ý kiến cho rằng
“ cứ theo đà này, 30-40 năm nữa tiếng dân tộc sẽ nguy
cơ mai một”; “hiện nay lứa tuổi từ 50 trở xuống biết ngôn
ngữ dân tộc ngày càng ít”, vì thế, cần có chính sách và
biện pháp bảo tồn và phát huy tiếng dân tộc, trước hết là
“nên có sự ưu ái đào tạo con em dân tộc để con em vùng
dân tộc trở về phục vụ đồng bào mình”.
- Đối với các địa bàn có dân tộc Mông: “Cán bộ cần
biết tiếng Mông để dễ dàng hơn trong công việc, nhất
là trong tuyên truyền đường lối”, giúp người Mông dần
tránh được những tin đồn xấu, tránh tà đạo (đạo bất hợp
pháp).
Thứ năm, về dịch một số văn bản sang tiếng DTTS:
Một số văn bản tuyên truyền, hướng dẫn nên dịch ra
tiếng dân tộc (chủ yếu là tiếng Mông).
Thứ ba, về chữ viết dân tộc
Thứ sáu, về vấn đề dân tộc
- Đối với chữ Cao Lan: “mong muốn có chữ Cao
Lan Latinh để thuận lợi trong việc học tiếng, giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc”, tức là “muốn học chữ Cao
Lan bằng chữ Latinh, vì học theo chữ Nho rất khó
học”.
- Nên có chính sách cho các dân tộc sống xen kẽ, để
các dân tộc có cơ hội giao lưu trao đổi với nhau, tránh
sống biệt lập, dễ bị kẻ xấu lợi dụng, cán bộ tiếp cận dân
cũng gặp nhiều khó khăn.
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
- Mong muốn được tách Cao Lan thành dân tộc khăn, nên tiếng DTTS “pha” với nhiều biến thể tiếng
riêng, vì “tiếng nói giữa Cao Lan và Sán Chí không Việt phương ngữ đang xuất hiện ở các địa bàn khác
giống nhau”. “Đây là hai dân tộc có tiếng nói khác nhau.
nhau, phong tục tập quan khác nhau. Trước đây, Cao
Từ những đặc điểm trên, câu hỏi đặt ra là, làm sao
Lan, Sán Chí cũng là 2 dân tộc”.
người DTTS một mặt vẫn “bảo tồn và phát huy” tiếng
Thứ bảy, về vấn đề dạy tiếng dân tộc
nói chữ viết của mình lại sử dụng tốt tiếng Việt để phục
vụ cho cuộc sống của họ là cả một vấn đề. Thiết nghĩ,
trên cơ sở của chính sách chung, cần có những giải pháp
cụ thể cho từng địa bàn cụ thể, cho ngôn ngữ DTTS
cụ thể. Chẳng hạn, việc xây dựng chữ viết dân tộc nên
căn cứ vào nguyện vọng của người dân, muốn vậy cần
có những khảo sát vừa tổng thể vừa cụ thể; việc dạy -
học tiếng DTTS cần thiết thực hơn, làm sao có hiệu
quả sử dụng; phát huy nhiều hơn vai trò của truyền
thông (phát thanh truyền hình) bằng tiếng dân tộc tại
các địa bàn, v.v..
Dạy tiếng Mông là cần thiết, nhưng không nên chỉ
dạy và cấp chứng chỉ tiếng Mông mà cần dạy và cấp
chứng chỉ cho một số tiếng DTTS khác; Cần chú trọng
tới giáo viên dạy tiếng DTTS (cấp chứng chỉ “hành
nghề” và chú ý chế độ đãi ngộ cho họ, v.v..).
2 Một số nhận xét rút ra
Qua một số điểm khảo sát tại các địa bàn DTTS ở
tỉnh Tuyên Quang cho thấy một thực tế là, tiếng mẹ đẻ
của người DTTS và tiếng Việt là hai ngôn ngữ được
cùng linh hoạt sử dụng trong giao tiếp ở các lĩnh vực,
bối cảnh giao tiếp cụ thể. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện
nay, có thể thấy một số vấn đề về ngôn ngữ tại các địa
bàn DTTS đang nổi lên là:
_________________
*Bài viết thuộc sản phẩm của Đề tài mã số ĐTĐL-
XH-06/18
- Số người biết ít hoặc không biết tiếng Việt đang
lùi dần theo lứa tuổi (tập trung ở người cao tuổi), trong
khi đó, ngược lại, số người biết ít hoặc không biết tiếng
mẹ đẻ lại tăng lên ở lứa tuổi trẻ. Đô thị hóa và toàn cầu
hóa gắn với mưu sinh đang làm cho giới trẻ thích nghi
với cuộc sống hiện đại, và đây là lí do chủ yếu đang làm
cho họ xa dần tiếng mẹ đẻ, nhất là giới trẻ DTTS ở tỉnh
thành, thị trấn, thị tứ, trung tâm của xã, ở những khu
công nhiệp, nơi giao thương, v.v..
TÀI LỆU THAM KHẢO
1.Wolff, Ekkehard (2000), Language and Society;
In: Bernd Heine and Derek Nurse (Eds.) African
Languages
- An Introduction, 317. Cambridge
University Press .
2. Nguyễn Văn Khang (2015), Chính sách ngôn ngữ
và lập pháp ngôn ngữ ở Việt Nam. NXB Khoa học xã
hội.
- Với tư cách pháp lí và thực tế là “ngôn ngữ quốc
gia”, chức năng của tiếng Việt đang ngày một được mở
rộng, theo đó, làm thu hẹp bớt chức năng giao tiếp của
các ngôn ngữ DTTS. Nếu như trước đây, ngôn ngữ
trong giao tiếp gia đình phải là tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ
DTTS) thì giờ đây đã thay đổi. Cũng vì biến động về
chức năng mà vốn từ, cách nói của các ngôn ngữ
DTTS dường như “chững lại”, trong đó, có không ít từ
ngữ, cách nói của tiếng DTTS đang dần được thay thế
bởi các từ ngữ, cách nói của tiếng Việt (từ “song
dụng” đến “thay thế”). Cũng vì không có chữ viết
hoặc chữ viết ít được sử dụng nên việc ghi lại “cho
3. Nguyễn Văn Khang (2019), Ngày quốc tế Tiếng
mẹ đẻ và một số vấn đề về tiếng mẹ đẻ từ thực tế ở vùng
dân tộc thiếu số hiện nay”. Tạp chí Ngôn ngữ & Đời
sống, số 2/2019.
4. Nguyễn Văn Khang (2019), Cơ sở lý thuyết và
thực tiễn liên quan đến nghiên cứu tình hình sử dụng
ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số: Một số vấn đề về đa
ngữ xã hội. Tạp chí Dân tộc, số 3.2019
5. Trần Trí Dõi (2015), Ngôn ngữ các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.
6. Các tư liệu thu thập được trong đợt điền dã tại
chính xác” ngôn ngữ của các DTTS đang gặp khó Tuyên Quang tháng 4/2019.
N.V.Khang/ No.16_June 2020|p.12-23
The situation of societal multilingualism
and using language in area of ethnic minorities in Tuyen Quang province
Nguyen Van Khang
Article info
Abstract
Recieved:
20/4/2020
Accepted:
10/6/2020
This article reveals the findings from a study on sociolinguistics in April 2019 in
Tuyen Quang province where conversations and in-depth interviews with
responsible agencies related to the ethnic affairs of the province, some districts,
communes and villages were conducted. Moreover, the situation of language use in
different contexts of communication were observed. In addition, conversations and
interviews with prestigious people and the locals in the localities were implemented;
besides, a survey questionnaire (anket) was employed as another instrument for the
study. From the ethnography, the article uncaps linguistic competence and language
use in ethnic minority areas in the province. The situation of the people’s language
use and wishes found from the study poses some linguistic issues, thereby,
suggesting some solutions to the sustainable development of the province in general,
and ethnic minority localities in particular.
Keywords:
Societal multilingualism,
language competence,
language use, ethnic
minorities, Tuyen Quang
province,
development
sustainable
Bạn đang xem tài liệu "Trạng thái đa ngữ xã hội và tình hình sử dụng ngôn ngữ tại địa bàn dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
trang_thai_da_ngu_xa_hoi_va_tinh_hinh_su_dung_ngon_ngu_tai_d.pdf

