Phân tích cấu trúc đề của hợp đồng kinh tế tiếng Việt từ quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 7 (2021): 1312-1322  
Vol. 18, No. 7 (2021): 1312-1322  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
PHÂN TÍCH CẤU TRÚC ĐỀ CỦA HỢP ĐỒNG KINH TẾ TIẾNG VIỆT  
TỪ QUAN ĐIỂM NGỮ PHÁP CHỨC NĂNG HỆ THỐNG  
Nguyễn Thị Nhật Linh  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Nhật Linh – Email: [email protected]  
Ngày nhận bài: 03-6-2021; ngày nhận bài sửa: 08-7-2021; ngày duyệt đăng: 24-7-2021  
TÓM TẮT  
Bài viết đề cập cấu trúc đề (thematic structure) của các hợp đồng kinh tế tiếng Việt dựa trên  
lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống về đề và thuyết. Cụ thể, bài viết tập trung nghiên cứu đề các  
loại, đề và tỉ lệ phân bổ của nó trong các hợp đồng kinh tế tiếng Việt bao gồm đề chủ đề, đề liên  
nhân và đề văn bản; đề đơn, đề đa; đề đánh dấu và đề không đánh dấu. Mục đích của bài viết  
nhằm khám phá các đặc trưng nổi bật của cấu trúc chủ đề trong các hợp đồng kinh tế - một thể  
loại văn bản pháp luật. Kết quả nghiên cứu cho thấy đề chủ đề chiếm ưu thế nhất, sau đó là đề văn  
bản và không có sự xuất hiện của đề liên nhân. Kết quả này cũng thể hiện đề đơn và đề không đánh  
dấu là loại đề chủ đạo trong ngữ liệu được lựa chọn để phân tích.  
Từ khóa: hợp đồng kinh tế; ngôn ngữ luật; cấu trúc đề; ngữ pháp chức năng hệ thống  
1.  
Đặt vấn đề  
Ngữ pháp chức năng hệ thống (SFG) được xây dựng bởi M.A.K. Halliday trong công  
trình của ông năm 1961 về các hạng mục lí thuyết ngữ pháp (Categories of the Theory of  
Grammar). Ngữ pháp chức năng tập trung vào ba chức năng của ngôn ngữ là chức năng tư  
tưởng, chức năng liên nhân và chức năng văn bản. Cấu trúc chủ đề là một trong những đặc  
trưng hiện thực hóa của chức năng văn bản của ngôn ngữ. Trong quá trình hình thành diễn  
ngôn, việc người nói chọn đối tượng nào để làm xuất phát điểm thông tin không phải là sự  
lựa chọn ngẫu nhiên. Trong một diễn ngôn, đề ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo  
ra liên kết, duy trì và phát triển chủ đề, tạo tiêu điểm thông tin nhằm hướng dẫn người đọc  
trong việc tiếp nhận văn bản (Butt, et al., 2001). Theo Halliday, Đề – Thuyết là cấu trúc cơ  
bản của một cú giúp hiện thực hóa chức năng “cú như một thông điệp”; do đó, ông cho  
rằng việc lựa chọn và tổ chức Đề chính là cốt lõi ý tưởng cho toàn bộ văn bản.  
Có thể nói, hợp đồng kinh tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động  
kinh doanh của doanh nghiệp. Một phần vì nó là căn cứ để pháp lí xác lập quyền và nghĩa  
Cite this article as: Nguyen Thị Nhat Linh (2021). Thematic structure of economic contracts in Vietnamese  
from the systemic functional grammar perspective. Ho Chi Minh City University of Education Journal of  
Science, 18(7), 1312-1322.  
1312  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Nhật Linh  
vụ của các bên trong hợp đồng. Mặt khác, nó là minh chứng có sức thuyết phục nhất khi  
giải quyết tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng. Và vì lí do đó, việc soạn thảo hợp đồng  
luôn luôn phải là ưu tiên hàng đầu cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đó chính  
là lí do chúng tôi chọn hợp đồng kinh tế làm ngữ liệu cho nghiên cứu của mình. Với việc  
phân tích đặc trưng cấu trúc đề trong các hợp đồng kinh tế, hi vọng bài viết này sẽ là nguồn  
tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, người làm việc trong lĩnh vực pháp luật và những  
ai quan tâm đến việc nghiên cứu cấu trúc đề trong văn bản hợp đồng tiếng Việt.  
2.  
Nội dung  
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu  
Mặc dù cấu trúc Đề – Thuyết và việc phân tích cấu trúc đề của văn bản đóng vai trò  
hết sức quan trọng trong việc phân tích diễn ngôn, nhưng đến nay, các công trình nghiên  
cứu cấu trúc Đề – Thuyết trong tiếng Việt dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống vẫn còn  
rất hạn chế. Việc áp dụng cấu trúc Đề – Thuyết trong phân tích tiếng Việt có thể kể đến bài  
viết của Nguyễn Thị Thu Hiền (2006) về phân tích cấu trúc đề thuyết trong diễn ngôn bình  
luận báo chí tiếng Việt và tiếng Anh (Nguyen, 2006). Bài viết này nghiên cứu cấu trúc Đề  
– Thuyết trong phần bình luận báo chí tiếng Anh và tiếng Việt, mối quan hệ của nó với ba  
siêu chức năng của Halliday. Đây là những đóng góp nhất định trong việc áp dụng lí thuyết  
ngữ pháp chức năng hệ thống vào phân tích tiếng Việt về cấu trúc Đề – Thuyết. Nghiên  
cứu này cũng trình bày những quan điểm nhất định của tác giả trong việc phân tích đề của  
cú tiếng Việt. Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Thị Thu Hiền (2007) cũng đề cập vai  
trò của cấu trúc đề ngữ trong bản tin chính trị tiếng Anh nhằm khẳng định vai trò của nó  
trong việc phân tích diễn ngôn (Nguyen, 2007).  
Về ngôn ngữ pháp luật nói chung và ngôn ngữ hợp đồng nói riêng, các công trình  
nghiên cứu cấu trúc đề dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống còn hạn chế. Lí do cơ bản là  
ở Việt Nam, ngữ pháp chức năng hệ thống vẫn còn khá mới mẻ, mặc dù thành công trong  
phân tích ngôn ngữ trên nguồn ngữ liệu là tiếng Anh, nhưng việc vận dụng ngữ pháp chức  
năng vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt vẫn còn gặp những khó khăn nhất định. Tiếng Anh  
và tiếng Việt là hai loại hình ngôn ngữ khác nhau nên chúng chắc chắn cũng sẽ khác nhau  
về hệ thống. Những sự khác nhau này có thể đến từ các phạm trù ngữ pháp như thì, số, giới  
tính (Thai, 2004). Ví dụ, trong tiếng Anh có thì, còn tiếng Việt thì không; do đó, việc  
nghiên cứu áp dụng ngữ pháp chức năng trong tiếng Việt nói chung và trong nghiên cứu  
ngôn ngữ hợp đồng nói riêng hứa hẹn sẽ khám phá nhiều điều mới có ý nghĩa cũng cố  
thêm lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống và những đóng góp nhất định trong quá trình  
soạn thảo, thực hiện cũng như giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng.  
Có thể nói, nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật nói chung và ngôn ngữ hợp đồng nói  
riêng, đặc biệt là phân tích cấu trúc Đề – Thuyết dựa trên lí thuyết ngữ pháp chức năng còn  
khá mới mẻ. Chính vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu các đặc trưng của cấu trúc Đề trong  
hợp đồng kinh tế tiếng Việt nhằm góp phần củng cố thêm lí thuyết của Halliday trong phân  
tích tiếng Việt, làm rõ các đặc trưng cơ bản về cấu trúc Đề trong các hợp đồng.  
1313  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1312-1322  
2.2. Cơ sở lí luận về Đề và chức năng văn bản theo ngữ pháp chức năng hệ thống  
Trong SFG, một cú (clause) là một thực thể kết hợp hoặc là một đơn vị đa chức năng  
của ngôn ngữ (Fries, 1995). Cấu trúc chủ đề của cú được chia thành hai loại chức năng: Đề  
và Thuyết. Đề là yếu tố trong cú, xác định những gì người nói muốn người nghe hiểu.  
Ngược lại, Thuyết cấu thành các thành phần của cú mà ở đó Đề được phát triển hơn  
(Eggins, 2004). Vì vậy, có thể nói, Đề đóng vai trò như một chỉ dẫn cho xuất phát điểm  
của người nói và Thuyết được coi như là một điểm đến tạm thời (Halliday, & Matthiessen,  
2004). Trong ví dụ: Ngài công tước tặng cô tôi chiếc ấm trà thì Ngài công tước là xuất  
phát điểm của thông tin, hay còn gọi là phần Đề. Phần còn lại tặng cô tôi chiếc ấm trà là  
phần Thuyết (Halliday, 1998). Trong hợp đồng, Đề là nơi quy định phạm vi có hiệu lực và  
đối tượng chịu tác động của các quy định tại phần Thuyết. Hay nói cách khác, Đề là yếu tố  
trong cú mà ở đó bên soạn thảo hợp đồng thể hiện quan điểm và mục đích của họ khi thiết  
lập các điều khoản trong hợp đồng cũng như cách thức để các điều khoản đó được thể hiện.  
Theo Halliday (2004), trong tiếng Anh, Đề luôn luôn đứng trước và Thuyết đứng sau  
tạo thành một cấu trúc không đổi là Đề – Thuyết (Halliday, & Matthiessen, 2004). Cần lưu  
ý rằng khái niệm cấu trúc chủ đề khác với khái niệm cấu trúc thông tin. Cấu trúc thông tin  
bao gồm hai yếu tố Cũ (Given) và Mới (New) và trật tự trong cú có thể là Cũ – Mới hoặc  
Mới – Cũ. Điều đó có nghĩa là không phải lúc nào Đề cũng là thông tin cũ và Thuyết là  
thông tin mới, mà trật tự này hoàn toàn có thể đảo ngược (Fontaine, 2013).  
Cũng theo Halliday, mỗi cú thực hiện ba chức năng về nghĩa hay còn gọi là siêu chức  
năng đó là cú như là một thông điệp, cú như là sự trao đổi và cú như là sự thể hiện, tương  
ứng với siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng văn bản. Mỗi  
siêu chức năng có hệ thống riêng nổi bật của nó, đó là cấu trúc chuyển tác, cấu trúc thức và  
cấu trúc chủ đề. Do mỗi siêu chức năng đều có cấu trúc riêng của nó nên mỗi cú có thể  
được phân tích dựa trên từng siêu chức năng nhất định (Halliday, & Matthiessen, 2004).  
Theo Eggins (2004), có ba dạng đề chính: đề chủ đề, đề liên nhân và đề văn bản.  
Trong một cú, đề chủ đề là bắt buộc, hai loại đề còn lại có thể có cũng có thể không. Đề  
chủ đề đại diện cho người tham gia, quá trình, chu cảnh của cú và do đó nó hiện thực hóa  
chức năng kinh nghiệm hay chức năng tư tưởng của cú. Do đó, Đề chủ đề có thể là chủ  
ngữ, vị ngữ, bổ ngữ hoặc phụ ngữ của cú. Đề liên nhân thể hiện quan điểm và đánh giá của  
người nói, và do đó, đóng góp cho nghĩa liên nhân của cú. Đề liên nhân có thể bao gồm  
động từ hữu định, phụ ngữ thức, phụ ngữ xưng hô, phụ ngữ cực và phụ ngữ bình luận. Đề  
văn bản góp phần giúp tạo ra sự liên kết cho diễn ngôn. Nó có thể bao gồm đề ngữ chuyển  
tiếp (continuative) đề ngữ cấu trúc (structural) và đề ngữ liên hợp (conjunctive) (Halliday,  
& Matthiessen, 2004). Khi cả ba loại đề này cùng xuất hiện trong một cú, nó thường được  
sắp xếp theo trật tự văn bản-liên nhân-chủ đề. Tuy nhiên, trật tự này không phải là duy  
nhất mà sự sắp xếp theo các trật tự khác đều có thể xảy ra (Eggins, 2004). Ví dụ:  
Well, but then Anne, surely wouldn’t the best idea be to join the group.  
1314  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Nhật Linh  
(Ồ, nhưng thế thì Anne ạ, điều chắc chắn là ý kiến hay nhất không phải là tham gia  
vào nhóm hay sao.)  
well  
but then Anne Surely wouldn’t  
the best idea  
be to join the group  
Chuyển Cấu Liên Xưng Tình  
Hữu định Chủ đề  
tiếp  
trúc hợp  
hô  
thái  
Thuyết ngữ  
Văn bản  
Liên nhân  
Kinh nghiệm  
Đề ngữ  
Đề có thể được chia thành Đề đơn và Đề đa. Cú có chứa một đề thì đề đó được gọi là  
đề đơn và đề này chính là đề chủ đề. Cú có chứa nhiều hơn một đề thì các đề đó hợp lại  
thành đề đa. Đề đa (multiple Theme) bao gồm đề chủ đề và hoặc đề liên nhân hoặc đề văn  
bản hoặc cả hai. Trong phần phân tích phía trên, ví dụ: Ngài công tước tặng cô tôi chiếc  
ấm trà là đề đơn và ví dụ: Ồ, nhưng thế thì Anne ạ, điều chắc chắn là ý kiến hay nhất  
không phải là tham gia vào nhóm hay sao là đề đa. Khi Đề chủ đề đồng thời là chủ ngữ  
của thức tuyên bố nó được gọi là đề không đánh dấu. Ngược lại, Đề được đại diện bởi một  
yếu tố không phải là chủ ngữ được gọi là đề đánh dấu. Yếu tố này có thể là phụ ngữ chu  
cảnh, bổ ngữ hoặc vị ngữ. Ví dụ: Merrily we roll along (Vui vẻ chúng tôi tiếp tục đi) thì  
Merrily là đề ngữ đánh dấu (Halliday, & Matthiessen, 2004). Chúng ta có thể trình bày ví  
dụ trên như sau:  
Merrily  
we roll along  
Thuyết  
Đề ngữ đánh dấu  
Vui vẻ  
Chúng tôi tiếp tục đi  
Thức của cú quyết định yếu tố nào sẽ được đề hóa. Điều đó có nghĩa là đề chủ đề trong  
cú tuyên bố sẽ khác với đề chủ đề trong cú cầu khiến hoặc nghi vấn (Bloor, & Bloor, 2013). Vì  
vậy, việc xác định sự đánh dấu của Đề phải dựa trên thức của cú (Thai, 2004). Do nguồn ngữ  
liệu của nghiên cứu là hợp đồng nên chúng tôi chỉ tập trung phân tích cấu trúc chủ đề của thức  
tuyên bố để thấy được sự tồn tại đa dạng của nó trong văn bản hợp đồng.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu  
2.3.1. Mô tả ngữ liệu  
Theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015, “Hợp đồng là sự  
thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”  
(The National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam, 2015, p.106). Khái niệm  
trên cho thấy tính chất thỏa thuận, tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng nhưng nó lại  
tạo ra sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ pháp lí. Cho tới nay chưa có văn bản chính thức  
nào trong các văn bản pháp luật còn hiệu lực định nghĩa về hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên,  
căn cứ vào khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005 có định nghĩa: “Hoạt động thương  
mại là hoạt động của thương nhân nhằm mục đích sinh lợi” (The National Assembly of the  
Socialist Republic of Vietnam, 2005, p.7). Căn cứ vào khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp  
2020: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá  
1315  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1312-1322  
trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm  
mục đích tìm kiếm lợi nhuận” (The National Assembly of the Socialist Republic of  
Vietnam, 2020, p.8). Do đó, hợp đồng kinh tế có thể được định nghĩa như sau: Hợp đồng  
kinh tế là sự thỏa thuận giữa các thương nhân về việc thực hiện các hoạt động kinh doanh  
nhằm mục đích sinh lợi.  
Về cơ bản, hợp đồng kinh tế bên cạnh những đặc trưng của hợp đồng nói chung còn  
có những đặc điểm riêng như chủ thể kí kết hợp đồng là các chủ thể kinh doanh; nội dung  
của hợp đồng liên quan đến việc thực hiện các công việc kinh doanh trên thực tế của các  
chủ thể kinh doanh; được kí kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng; mục đích là sinh lợi;  
hình thức hợp đồng có thể là lời nói, văn bản hoặc các hình thức tương đương văn bản.  
Tuy nhiên, trong phạm vi của nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập nguồn ngữ liệu là hợp  
đồng bằng văn bản. Có hai đặc trưng cơ bản phân biệt hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân  
sự đặc trưng về chủ thể và mục đích kí kết hợp đồng. Hay nói cách khác, hợp đồng kinh tế  
được kí kết bởi các chủ thể kinh doanh, còn hợp đồng dân sự được kí kết giữa những cá  
nhân. Mục đích của hợp đồng kinh tế là mục đích kinh doanh hay sinh lợi, còn hợp đồng  
dân sự là phục vụ các nhu cầu hằng ngày của tổ chức, cá nhân. Ngữ liệu cho nghiên cứu là  
10 hợp đồng kinh tế được chọn lọc (xem Bảng 1):  
Bảng 1. Ngữ liệu cho nghiên cứu  
Kí hiệu  
Hợp đồng  
Hợp đồng về sửa chữa sà lan giữa công ti TNHH DVTVTC và công ti TNHH MTV cơ  
khí MH  
HĐ1  
Hợp đồng về cung ứng dịch vụ bảo vệ giữa HTX CBTACN BM và công ti TNHH MTV  
DV bảo vệ - vệ sĩ TP  
HĐ2  
HĐ3  
HĐ4  
Hợp đồng về cung ứng dịch vụ vệ sinh hằng ngày giữa DNTN SH và NH BIDV DK  
Hợp đồng về thiết kế Website giữa công ti TNHH MTV LX và công ti TNHH LMVN  
Hợp đồng về dịch vụ vận chuyển sơn giữa công ti TNHH SJT VN và công ti TNHH  
TMDV MPC  
HĐ5  
HĐ6  
Hợp đồng mua bình ắc quy các loại giữa công ti TNHH MTV DVMD SB VN và công ti  
Cổ phần PAQ MN  
Hợp đồng về vận chuyển phân bón giữa công ti Cổ phần Phân bón và Hóa chất CT và  
công ti TNHH xuất nhập khẩu PH  
HĐ7  
HĐ8  
HĐ9  
Hợp đồng về thuê văn phòng giữa công ti Cổ phần GEMADEPT và NH TMCP BV  
Hợp đồng về hợp đồng thuê mặt bằng giữa công ti Cổ phần DT PT GD DNA và công ti  
Cổ phần thương mại VV  
Hợp đồng về cho thuê xe tự lái giữa công ti TNHH MTV DVBVVS TP và Hộ kinh  
doanh dịch vụ thuê xe tự lái TG  
HĐ10  
Nguồn: Tác giả thu thập ngữ liệu  
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phân tích cấu trúc Đề trong văn bản pháp luật trong nghiên cứu này được thực hiện ở  
cấp độ câu. Cụ thể, nghiên cứu dựa trên việc phân loại cấu trúc đề thuyết của Halliday và  
Matthiessen’s (2004) để xác định các thuộc tính Đề trong các văn bản hợp đồng tiếng Việt.  
Chúng tôi cũng dùng các định nghĩa về đề chủ đề, đề đa và đề đánh dấu giống như các định  
1316  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Nhật Linh  
nghĩa dành cho tiếng Anh. Để thuận tiện trong việc trình bày, chúng tôi quy định cách trình  
bày như sau: các phần thuộc phần Đề sẽ được gạch chân, còn phần Thuyết thì giữ nguyên.  
Cụ thể hơn, đề chủ đề sẽ được in đậm, đề văn bản in nghiêng và đề liên nhân được VIẾT  
HOA. Các câu được chọn phân tích chúng tôi kí hiệu như sau K1Đ3HĐ1 trong đó K1  
nghĩa là khoản 1, Đ3 nghĩa là Điều 3, HĐ1 là hợp đồng 01. Vì vậy K1Đ3HĐ1 nghĩa là  
khoản 1 Điều 3 của hợp đồng số 01 (xem Bảng 2).  
Bảng 2. Số lượng các loại đề chủ đề trong các hợp đồng  
Đề  
HĐ1  
60  
HĐ2  
48  
HĐ3  
53  
HĐ4  
35  
HĐ5  
78  
HĐ6  
103  
85%  
14  
HĐ7  
33  
HĐ8  
63  
HĐ9  
56  
HĐ10  
96  
TB  
62,5  
78%  
13,2  
17%  
0
CN  
(72%)  
18  
76%  
12  
74%  
16  
74%  
8
82%  
15  
70%  
12  
82%  
12  
82%  
8
81%  
17  
PN  
HĐ  
BN  
T
(22%)  
0
19%  
0
22%  
0
17%  
0
16%  
0
12%  
0
26%  
0
16%  
0
12%  
0
14%  
0
(0%)  
5
(0%)  
3
(0%)  
3
(0%)  
4
(0%)  
2
(0%)  
4
(0%)  
2
(0%)  
2
(0%)  
4
(0%)  
5
(0%)  
3,4  
(6%)  
83  
5%  
63  
4%  
72  
9%  
47  
2%  
95  
3%  
121  
4%  
47  
3%  
77  
6%  
68  
4%  
118  
5%  
79,1  
(100%) (100%) (100%) (100%) (100%) (100%) (100%) (100%) (100%) (100%) (100%)  
Nguồn: Tác giả thống kê  
Bảng 3. Số lượng đề đánh dấu và không đánh dấu  
Đề  
HĐ1  
23  
HĐ2  
15  
HĐ3  
19  
HĐ4  
12  
HĐ5  
17  
HĐ6  
18  
HĐ7  
14  
HĐ8  
14  
HĐ9  
12  
HĐ10  
22  
TB  
16,6  
21%  
Đánh  
dấu  
28%  
24%  
26%  
26%  
18%  
15%  
30%  
18%  
18%  
19%  
Không  
đánh  
dấu  
60  
48  
53  
35  
78  
103  
33  
63  
56  
96  
62,5  
79%  
72%  
76%  
74%  
74%  
82%  
85%  
70%  
82%  
82%  
81%  
Nguồn: Tác giả thống kê  
Bảng 4. Số lượng đề đơn và đề đa  
Trung  
Đề  
HĐ1 HĐ2  
HĐ3  
HĐ4  
HĐ5  
HĐ6  
HĐ7  
HĐ8  
HĐ9  
HĐ10  
bình  
80  
96%  
3
46  
96%  
2
50  
94%  
3
33  
94%  
2
73  
94%  
5
99  
96%  
4
31  
96%  
2
61  
97%  
2
53  
95%  
3
91  
95%  
5
61,7  
95%  
3,1  
Đề  
đơn  
Đề  
4%  
4
4%  
6%  
6%  
4%  
4%  
3%  
5%  
5%  
5%  
đa  
Nguồn: Tác giả thống kê  
3.  
Phân tích và thảo luận  
3.1. Đề chủ đề  
Bảng 2 cho thấy số lượng các đề chủ đề trong mười hợp đồng kinh tế dựa trên vai trò  
chuyển tác. Vì việc phân tích đề thuyết dựa trên cấp độ câu nên số lượng câu là số lượng  
đề chủ đề trong mỗi hợp đồng. Bảng 2 cũng cho thấy các thành phần có thể đóng vai trò là  
đề chủ đề bên cạnh thành phần chủ ngữ. Số liệu phân tích cho thấy các hợp đồng đều giống  
nhau ở chỗ hầu hết các đề chủ đề đều được hiện thực hóa bằng các chủ ngữ, trung bình  
1317  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1312-1322  
chiếm 78%. Hơn thế nữa, ngữ liệu nghiên cứu cũng cho thấy các chủ ngữ này đa dạng bởi  
các yếu tố ngữ pháp như danh từ riêng để chỉ các bên trong hợp đồng (công ti TNHH dịch  
vụ Tiếp vận Toàn cầu); đại từ nhân xưng chỉ các bên trong hợp đồng (chúng tôi), cụm danh  
từ (bên A, bên B). Ví dụ:  
(1) K1Đ5HĐ1: Bên B cung cấp toàn bộ năng lượng vật tư phụ và điện năng phục vụ thi  
công.  
Ngôn ngữ là một phần vô cùng quan trọng trong soạn thảo văn bản pháp lí, đặc biệt  
là hợp đồng (Child, 1988); vì vậy, các bên cần cân nhắc trong việc lựa chọn từ và cấu trúc  
cú pháp phù hợp (Bhatia, 2014). Đặc biệt, việc lựa chọn ngôn ngữ phải làm cho hợp đồng  
trở nên rõ ràng và dễ hiểu (Butt, 2013) .Việc lựa chọn xuất phát điểm để xây dựng đề là  
chủ ngữ, phụ ngữ hay bổ ngữ là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên trong việc giao  
kết hợp đồng (Fries, 1995). Theo Halliday, nó không ảnh hưởng đến nội dung của cú, tuy  
nhiên, nó ảnh hưởng đến cách các bên xây dựng điều khoản theo ý chí của mình. Nếu lựa  
chọn chủ ngữ là đề chủ đề, các bên có xu hướng lựa chủ thể là các bên trong hợp đồng là  
xuất phát điểm thông tin của cú.  
Sau chủ ngữ, phụ ngữ là thành phần xếp thứ hai trong số lượng các đề chủ đề trong  
phần ngữ liệu nghiên cứu, chiếm khoảng 17%. Những phụ ngữ này có thể là ngữ đoạn  
(Trong quá trình thi công); cụm danh từ (Trường hợp do bên B gây biến động giá cả tăng),  
mệnh đề trạng ngữ (Khi xảy ra mất an toàn lao động, ô nhiễm môi trường, cháy nổ), cụm  
trạng ngữ (Trong vòng 03 ngày sau khi kí hợp đồng). Ví dụ:  
(2) K4Đ5HĐ2: Trong trường hợp bên B chậm trễ nghĩa vụ thanh toán từ 07 ngày  
hoặc hơn nữa so với thời hạn thanh toán thì bên B có nghĩa vụ thanh toán thêm cho bên  
A lãi suất quá hạn của tất cả các khoản nợ tồn đọng tính từ ngày đến hạn thanh toán cho  
đến ngày thực trả do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định.  
Đặc trưng nổi bật nhất trong tất cả các hợp đồng được chọn làm ngữ liệu nghiên cứu  
là các cú đóng chức năng đề ngữ, đặc biệt là các câu điều kiện. Ví dụ:  
(3) K2Đ3HĐ1: Nếu Bên B thi công chậm tiến độ hợp đồng sẽ bị phạt.  
Trong ví dụ trên Nếu Bên B thi công chậm tiến độ hợp đồng sẽ bị phạt thì Nếu Bên B  
thi công chậm tiến độ hợp đồng đóng vai trò là một cú thực hiện chức năng đề ngữ chủ đề  
với vai trò là phụ ngữ. Trong các dạng cú phức nêu trên bao gồm một cú chính và một cú  
phụ, Đề ngữ nêu ra giả định các trường hợp sẽ xảy ra trên thực tế mà các thông tin tại phần  
thuyết sẽ có hiêu lực hoặc được áp dụng. Trong ví dụ vừa nêu, phần đề nêu ra giả định nếu  
Bên B thi công chậm tiến độ thì chế tài được nêu ra trong phần thuyết (sẽ bị phạt) sẽ có  
hiệu lực áp dụng. Đặc trưng này xuất phát từ đặc điểm của hợp đồng kinh tế là nơi quy  
định các quyền và nghĩa vụ của, cũng như hướng dẫn các bên xử sự trên thực tế khi rơi vào  
các trường hợp mà hợp đồng đã quy định. Cấu trúc đề thuyết trong ví dụ trên có thể được  
phân tích như sau (Halliday, 1998):  
1318  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Nhật Linh  
Nếu  
Bên B  
thi công chậm tiến độ hợp đồng  
Đề ngữ  
(Bên B)  
sẽ bị phạt  
Thuyết ngữ  
CT  
CĐ  
Thuyết ngữ 2  
CĐ  
Thuyết ngữ 3  
Đề ngữ 2  
Đề ngữ 3  
Nếu Bên B thi công chậm tiến độ hợp đồng sẽ bị phạt  
Xếp thứ ba trong tỉ lệ các đề chủ đề là bổ ngữ, chiếm khoảng 5%, con số này khá  
khiêm tốn. Tuy nhiên, điều này cũng đã được chúng tôi dự đoán ban đầu vì theo Halliday,  
thành phần bổ ngữ là thành phần ít có khả năng thành đề ngữ nhất (Halliday, &  
Matthiessen, 2004). Việc phân tích ngữ liệu cho thấy, bổ ngữ đóng vai trò đề chủ đề có thể  
là các cụm danh từ ví dụ như: Phế liệu trong quá trình sửa chữa. Điều đặc biệt, bảng số  
liệu trên không có đề chủ đề hữu định trong phần ngữ liệu nghiên cứu. Điều này có thể  
được giải thích là do các văn bản hợp đồng chỉ có thức chỉ định (indicative) của các cú  
tuyên bố (declaractive), nên đề chủ đề hữu định không thể tồn tại trong các hợp đồng.  
Ví dụ:  
(4) K3Đ5HĐ01: Phế liệu trong quá trình sửa chữa bên B chịu trách nhiệm thu gom và  
thanh lí theo giá thị trường và khấu trừ trong quyết toán, dưới sự giám sát của bên A.  
Cần lưu ý, vì nội dung của văn bản hợp đồng chủ yếu liên quan đến quyền và nghĩa  
vụ của các bên nên việc chọn chủ ngữ là chủ đề chiếm ưu thế là điều hoàn toàn dễ hiểu.  
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi điều khoản trong hợp đồng đều chọn chủ ngữ  
làm xuất phát điểm thông tin. Mỗi lựa chọn, người soạn thảo phải nhằm thực hiện các mục  
đích nhất định (Doonan, 2001). Thực tế từ nguồn ngữ liệu cho thấy việc lựa chọn các phụ  
ngữ, đặc biệt là các cụm trạng từ chỉ không gian, thời gian, cảnh huống, điều kiện, tình  
huống làm xuất phát điểm thông tin là một lựa chọn cho việc xây dựng các điều khoản. Cụ  
thể, việc xây dựng các điều khoản liên quan đến thiết lập một giả định có thể và sẽ xảy ra  
trên thực tế để các bên bắt buộc phải thực hiện các quy định trong phần thuyết. Hay nói  
cách khác, việc lựa chọn chu cảnh làm đề chủ đề cho cú sẽ phù hợp với các điều khoản  
mang tính dự báo, dự phòng những việc sẽ xảy ra trong tương lai khi hợp đồng xảy ra trên  
thực tế. Đó cũng chính là lí do mà việc lựa chọn này chỉ đứng sau lựa chọn chủ ngữ làm đề  
chủ đề.  
3.2. Đề đánh dấu và không đánh dấu  
Bảng 3 so sánh số lượng đề đánh dấu và đề không đánh dấu trong mười hợp đồng  
được phân tích. Bảng số liệu cho thấy có sự tương đồng giữa các hợp đồng kinh tế trong  
ngữ liệu lựa chọn có sự tương đồng trong số lượng đề đánh dấu và không đánh dấu. Như  
trong phần lí thuyết đã được trình bày, nếu đề chủ đề không phải là chủ ngữ thì đề đó được  
gọi là đề đánh dấu. Do đó, đề đánh dấu trong hợp đồng sẽ là sẽ là phần còn lại sau khi loại  
trừ đi kiểu đề do chủ ngữ đảm nhận. Vai trò của đề đánh dấu nhằm tạo ra tiêu điểm thông  
tin trong cú hay nhằm nhấn mạnh một thông tin nhất định (Hasselgard, 2004). Ví dụ về đề  
đánh dấu và không đánh dấu trong ngữ liệu:  
1319  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1312-1322  
(5) K1Đ5HĐ06: Nếu Bên A đơn phương hủy bỏ Hợp Đồng thì phải trả cho Bên B số  
tiền phạt là 8% giá trị Hợp Đồng.  
(6) K1Đ12HĐ08: Bên Cho Thuê có toàn quyền đặt tên Tòa Nhà bằng bất cứ tên  
gọi nào.  
Tuy nhiên, do tính đơn giản, minh bạch, rõ ràng của hợp đồng, mà lựa chọn đề đánh  
dấu không được sử dụng nhiều trong các hợp đồng được khảo sát. Cụ thể, công trình của  
các nhà nghiên cứu ngôn ngữ luật đều cho rằng ngôn ngữ luật phải chính chính xác, rõ  
ràng, có khả năng tiếp cận đối với nhiều người (Tiersma, Tiersma, & Solan, 2012). Đây là  
một trong những đặc trưng đảm bảo cho hiệu lực của hợp đồng. Tính chính xác và rõ ràng  
đảm bảo cho các điều khoản hợp đồng được hiểu theo một nghĩa, tránh hiện tượng mơ hồ  
nghĩa hay đa nghĩa dẫn đến khó khăn trong việc thực hiện hợp đồng hoặc dễ dẫn đến tranh  
chấp giữa các bên. Đây cũng chính là một trong những đặc trưng của ngôn ngữ pháp luật  
đã được các công trình nghiên cứu trước đó đề cập (Bhatia, 1987), (Maley, 1994).  
Do đó, chỉ trong trường hợp bên soạn thảo muốn nhấn mạnh nghĩa vụ quan trọng thì  
nghĩa vụ đó sẽ được chọn để đánh dấu. Ngoài ra, đề ngữ đánh dấu cũng là lựa chọn trong  
việc xây dựng các chu cảnh, cảnh huống, thời gian, không gian, điều kiện. Mục đích của  
việc lựa chọn những thành phần này làm đề ngữ là để đánh đấu các thông tin về những giả  
định sẽ xảy ra để phần thuyết sẽ có hiệu lực.  
3.3. Đề đơn và đề đa  
Bảng 4 so sánh số lượng đề đơn và đề đa trong 10 hợp đồng được phân tích. Kết quả  
thống kê cho thấy đa phần các loại đề trong các hợp đồng là đề đơn (chiếm 95%). Trong khi  
đó đề đa chiếm số lượng khá khiêm tốn, chỉ 5%. Quá trình xử lí ngữ liệu cũng cho thấy không  
có sự xuất hiện của đề tình thái trong 10 hợp đồng được chọn phân tích. Đó cũng chính là lí  
do đề đa trong các hợp đồng sẽ bao gồm một đề bắt buộc là đề chủ đề và đề văn bản. Đề văn  
bản có vai trò tạo ra liên kết giữa các điều khoản trong hợp đồng (Zulprianto, Fanany, &  
Fanany, 2019). Cũng giống như tiếng Anh, thứ tự trong các đề đa này là đề văn bản sau đó là  
đề chủ đề. Kiểu đề văn bản duy nhất xuất hiện trong các hợp đồng là các phụ ngữ liên hợp  
kiểu bổ sung thuận như “ngoài ra”, “thêm vào đó” hoặc nghịch như “tuy nhiên”.  
Việc vắng mặt của đề tình thái trong hợp đồng có thể được giải thích là do xuất phát  
từ đặc trưng của hợp đồng là sự thỏa thuận, bình đẳng và khách quan, không bên nào có  
thể áp đặt ý chí của mình lên bên còn lại. Do đó, đề ngữ bộc lộ quan điểm, hay thái độ của  
các bên dường như không tồn tại trong hợp đồng. Vì vậy, bên soạn thảo phải chú ý trong  
việc lựa chọn ngôn ngữ, không áp đặt ý chí chủ quan của các bên lên hợp đồng  
4.  
Kết luận  
Bài viết phân tích các đặc trưng của đề trong các văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Việt  
dựa trên ngữ pháp chức năng hệ thống. Ngữ liệu thống kê cho thấy chủ ngữ là thành phần  
ngữ pháp chủ yếu đóng vai trò trong việc hiện thực hóa đề chủ đề, sau đó đến phụ ngữ và  
bổ ngữ. Việc phân tích ngữ liệu cũng cho thấy hầu hết các đề được sử dụng trong hợp đồng  
1320  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Nguyễn Thị Nhật Linh  
là đề chủ đề, còn đề văn bản số lượng rất ít trong mỗi hợp đồng. Đặc biệt, không có sự tồn  
tại của đề liên nhân trong ngữ liệu nghiên cứu. Ngoài ra, kết quả phân tích ngữ liệu cũng  
cho thấy đề đơn và đề không đánh dấu là các đề chủ đạo trong hợp đồng. Các đặc trưng  
trên về đề trong hợp đồng có thể được lí giải là do đặc trưng cơ bản của thể loại văn bản  
này là minh bạch, rõ ràng, khách quan và dễ tiếp cận.  
Mặc dù đề không đóng góp vào nghĩa mệnh đề trong một cú (nội dung) nhưng đề có  
thể ảnh hưởng đến cách thức trình bày nghĩa của mệnh đề (vùng chứa/ hình thức –  
container. Khi một mệnh đề được trình bày theo một cấu trúc đề ngữ nhất định, nó thể hiện  
một sự lựa chọn có ý nghĩa từ bên soạn thảo hợp đồng. Do đó, từ sự phân tích các hợp  
đồng trên, bài viết sẽ hữu ích cho những ai quan tâm về phân tích cấu trúc đề, cho các nhà  
kinh tế, luật học trong công việc soạn thảo và kí kết hợp đồng.  
Tuyên bố về quyền lợi: Tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
Lời cảm ơn:Xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã  
hỗ trợ tài chính cho tác giả. Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Quý doanh nghiệp đã cung  
cấp các mẫu hợp đồng trên thực tế để tác giả hoàn thành nghiên cứu này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bhatia, V. K. (1987). Language of the law. Language teaching, 20(4), 227-234.  
Bhatia, V. K. (2014). Linguistic and socio-pragmatic considerations in legislative drafting. The  
Theory Practice of Legislation, 2(2), 169-183.  
Bloor, T., & Bloor, M. (2013). The functional analysis of English: A Hallidayan approach: Routledge.  
Butt, D., Fahey, R., Feez, S., Spinks, S., & Yallop, C. (2001). Using functional grammar: An  
explorer’s guide. NSW: Macquarie University.  
Butt, P. (2013). Modern legal drafting: a guide to using clearer language: Cambridge University Press.  
Child, B. (1988). Drafting legal documents: materials and problems: West Publishing Company.  
Cloran, C. (1995). Defining and Relating Text Segments: Subject and Theme in Discourse. In R.  
Hasan & P. Fries (Eds.), On subject theme: A discourse functional perspective (pp. 361-  
403). Amsterdam and Philadelphia: John Benjamins Publishing Company.  
Doonan, E. (2001). Drafting: Cavendish Publishing.  
Eggins, S. (2004). Introduction to systemic functional linguistics. New York: Continuum.  
Fontaine, L. (2013). Analysing English grammar: A systemic functional introduction. Cambridge:  
Cambridge University Press.  
Fries, P. (1995). A personal view of Theme. In M. Ghadessy (Ed.), Thematic Development in  
English Text. London and New York: Printer.  
Halliday, M. A. K. (1998). An introduction to functional grammar (V. V. Hoang, Trans.). London:  
Edward Arnold.  
Halliday, M. A. K., & Matthiessen, C. M. I. M. (2004). An introduction to functional grammar  
(Third ed.). London: Edward Arnold.  
Hasselgard, H. (2004). Thematic choice in English and Norwegian. Functions of Language, 11(2),  
187-212.  
1321  
                         
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1312-1322  
Maley, Y. (1994). The language of the law. Language the Law, 1.  
Nguyen, T. T. H. (2006). Cau truc de thuyet trong phan tich dien ngon binh luan tin bao chi tieng Anh  
va tieng Viet [Thematic structure in discourse analysis of press news comments in English and  
Vietnamese]. Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, (7), 24.  
Nguyen, T. T. H. (2007). Vai tro cua cau truc de ngu trong to chuc van ban tin tieng Anh [The roles  
of Theme structure in the organization of English news texts]. Ho Chi Minh City University  
of Education Journal of Science, 7, 61-69.  
Thai, M. D. (2004). Metafunctional profile of the grammar of Vietnamese. In J. R. M. Alice  
Caffarel, Christian M. I. M. Matthiessen (Ed.), Language typology: a functional  
perspective (Vol. 253, pp. 185-254). Amsterdam: John Benjamins Publishing.  
The National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam (2015). Bo Luat Dan su [The Civil  
Code]. Hanoi: Hong Duc Publishing House.  
The National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam (2020). Luat Doanh nghiep [The Law  
on Enterprise]. Hanoi: Truth National Political Publishing House.  
The National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam (2005). Luat Thuong mai [The  
Commercial Law]. Hanoi: Lao Dong Publishing House.  
Tiersma, P. M., Tiersma, P., & Solan, L. (2012). The Oxford Handbook of Language and Law:  
OUP Oxford.  
Trosborg, A. (1997). Rhetorical strategies in legal language: Discourse analysis of statutes and  
contracts (Vol. 424). Germany: Gunter NarrVerlag Tubingen.  
Zulprianto, Fanany, R., & Fanany, I. (2019). Thematic Structures of Paragraph-Initial Sentences in  
Animal Farm and Its Indonesian Translations. In R. Kumaran & A. M. Shakila (Eds.),  
Discourses of Southeast Asia (pp. 209-224): Springer.  
THEMATIC STRUCTURE OF ECONOMIC CONTRACTS IN VIETNAMESE  
FROM THE SYSTEMIC FUNCTIONAL GRAMMAR PERSPECTIVE  
Nguyen Thi Nhat Linh  
University of Social Sciences and Humanities,Vietnam National University Ho Chi Minh City, Vietnam  
Corresponding author: Nguyen Thi Nhat Linh– Email: nhatlinhbp@gmail.com  
Received: June 03, 2021; Revised: July 08, 2021; Accepted: July 24, 2021  
ABSTRACT  
This article refers to the thematic structure of economic contracts in Vietnamese based on  
the systemic functional grammar theory related to Theme and Rheme. The article focuses on theme  
categories and their distributions in economic contracts in Vietnamese, including topic,  
interpersonal and textual themes; single and multiple themes; marked and unmarked themes. The  
purpose of the article is to explore the salient features of thematic structures in economic contracts,  
a genre of legal texts. The research results show that the topic theme is the most dominant,  
followed by the textual theme, There is no interpersonal theme. The research results also show that  
single and unmarked themes are the main ones in the analyzed corpus.  
Keywords: economic contracts; legal language; thematic structure; systematic functional  
grammar  
1322  
             
pdf 11 trang baolam 20380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích cấu trúc đề của hợp đồng kinh tế tiếng Việt từ quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_cau_truc_de_cua_hop_dong_kinh_te_tieng_viet_tu_qua.pdf