So sánh phân tích công năng ngữ dụng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và tiếng Hán

144  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
5(48) (2021) 144-154  
So sánh phân tích công năng ngữ dụng đại từ nhân xưng  
trong tiếng Việt và tiếng Hán  
A comparison and analysis of functional usage of personal pronouns  
in Vietnamese and Chinese  
Nguyễn Thị Ngọc Chinh*, Nguyễn Phước Tâm  
Nguyen Thi Ngoc Chinh*, Nguyen Phuoc Tam  
Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Trà Vinh, Trà Vinh, 940000, Việt Nam  
School of Foreign Language, Tra Vinh University, Tra Vinh, 940000, Vietnam  
(Ngày nhận bài: 07/7/2021, ngày phản biện xong: 22/7/2021, ngày chấp nhận đăng: 24/10/2021)  
Tóm tắt  
Bài viết tiến hành so sánh phân tích đại từ nhân xưng tiếng Việt và tiếng Hán. Bằng kết quả so sánh phân tích được sẽ  
đưa ra một vài phương án và ý kiến giúp người học giải quyết vấn đề khó khăn gặp phải trong quá trình dịch Hán - Việt  
và Việt - Hán. Phương pháp phân tích chính là đưa ra các ví dụ so sánh đối với mỗi điểm, phản ánh cụ thể sự khác biệt  
giữa đại từ nhân xưng tiếng Việt và tiếng Hán, đồng thời thể hiện rõ chính xác mục đích quan điểm của đề tài. Phạm vi  
nghiên cứu gồm: Đặc trưng cơ bản của đại từ nhân xưng tiếng Việt; đặc trưng ngữ dụng của đại từ nhân xưng tiếng Việt  
thể hiện trong kết cấu từ; và cách dịch đại từ nhân xưng.  
Từ khóa: Tiếng Việt; tiếng Hán; đại từ nhân xưng.  
Abstract  
The article compares and analyzes personal pronouns in Vietnamese and Chinese. The results of the study will help  
learners solve the problems in translating Sino-Vietnamese and Vietnamese-Chinese. The primary analytical method is  
to give comparative examples for each item, showing the differences between Vietnamese and Chinese personal  
pronouns in details, and at the same time clearly expressing the purpose and point of view of the research. The main  
scope includes basic characteristics of Vietnamese personal pronouns, pragmatic characteristics of Vietnamese personal  
pronouns shown in word structures, and how to translate personal pronouns.  
Keywords: Vietnamese; Chinese; personal pronouns.  
1. Đặt vấn đề  
thuộc cho đến sau khi giành lại độc lập tự chủ,  
dân tộc Việt Nam đã có một thời gian dài sử  
dụng chữ Hán đọc theo âm Việt [1]. Theo một  
thống kê vào năm 2004 của Xu Xiaomei, có  
khoảng 70% từ vựng tiếng Việt mượn từ chữ  
Hán [5]. Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu liên  
Hai nước Việt - Trung có mối quan hệ lịch  
sử lâu đời. Văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng rất  
lớn đối với Việt Nam, trong đó bao gồm một số  
phong tục tập quán, tư tưởng - quan niệm, văn  
tự... Về phương diện chữ viết, từ thời kì Bắc  
*Corresponding Author: Nguyen Thi Ngoc Chinh; School of Foreign Language, Tra Vinh University, Tra Vinh,  
940000, Vietnam  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
145  
quan đến ngôn ngữ, văn học, văn hóa Việt Nam  
đưa ra con số là khoảng trên 60% từ vựng tiếng  
Việt có gốc Hán ngữ, gọi là từ Hán Việt. Cho  
nên đối với người Việt Nam, học tiếng Hán  
không quá khó, có thể dễ dàng tiếp nhận và  
hiểu sâu văn hóa Trung Quốc, dễ dàng học  
được từ vựng tiếng Hán.  
2. Đặc trưng cơ bản của đại từ nhân xưng  
Đối với việc khảo sát đặc trưng cơ bản ĐTNX  
tiếng Việt hiện đại, chủ yếu bằng phương pháp  
miêu tả, so sánh, và quy nạp. Vì số lượng ĐTNX  
trong tiếng Việt tương đối nhiều, do đó trong  
phần này chúng tôi lựa chọn ĐTNX số ít làm đối  
tượng mô phỏng, trong quá trình miêu tả sẽ so  
sánh đặc điểm của ĐTNX tiếng Hán, từ đó đúc  
kết lại đặc trưng cơ bản của ĐTNX tiếng Việt.  
Bên cạnh việc phần lớn từ Hán Việt giống  
nhau, cũng có tồn tại sự khác biệt, đó là sự khác  
biệt nhỏ giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Và biểu  
hiện rõ ràng nhất chính là đại từ nhân xưng  
(ĐTNX). Với hơn 15 năm học tập và giảng dạy  
tiếng Hán, chúng tôi phát hiện vấn đề khó khăn  
mà người học Việt Nam gặp phải trong quá  
trình học tiếng Hán chính là dùng sai ĐTNX.  
Bởi vì trải qua thời gian dài thay đổi, một số từ  
Hán Việt đã được Việt hóa, trở thành từ thuần  
Việt. Đây chính là trở ngại khó khăn mà người  
học Việt Nam gặp phải trong lúc học tiếng Hán.  
Vì vậy, chúng tôi quyết định tiến hành so sánh  
và phân tích ĐTNX tiếng Việt và ĐTNX tiếng  
Hán, nhằm hỗ trợ người học Việt Nam trong  
quá trình học ĐTNX tiếng Hán.  
2.1. Đại từ nhân xưng thuần Việt  
Phạm vi sử dụng của ĐTNX thuần Việt rất  
hạn chế. ĐTNX thuần Việt không có sự phân  
biệt giới tính nam nữ. Nhưng lại giống như tiếng  
Hán, cũng có phân biệt số ít, chủ yếu thông qua  
phương thức thêm phụ tố để tạo thành ĐTNX số  
nhiều. Trong tiếng Việt phụ tố để tạo thành số  
nhiều có một số từ, và có ý nghĩa khác nhau,  
trong phần này tạm thời chỉ nói đến hình thức  
ĐTNX thuần Việt số ít, hình thức số nhiều sẽ  
được trình bày cụ thể ở phần tiếp theo.  
Bảng 1. Đại từ nhân xưng thuần trong tiếng  
Việt hiện đại  
Ngôi thứ 1  
tôi, tao, ta, tớ  
(我)  
Ngôi thứ 2  
mày  
(你)  
Ngôi thứ 3  
Hình  
thức  
số ít  
nó  
(他、她、它)  
hắn, y  
(他)  
Chúng  
(他们、她们、它们)  
họ ,chúng nó  
(他们、她们)  
bọn nó  
chúng tôi  
(我们)  
chúng ta  
chúng mày, hội mày, bọn mày  
(你们)  
(我们、咱们)  
Ta  
(咱们)  
bọn tôi, bọn tao  
(我们)  
Hình  
thức số  
nhiều  
(他们、她们)  
hội nó  
(他们、她们)  
bọn ta, bọn tớ  
(我们)  
hội tôi, hội tao  
(我们)  
hội ta, hội tớ  
(我们)  
147  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
2.1.1. Tôi, tao, ta, tớ(我)  
dùng chung với nhau,tạo nên cách xưng hô  
qua lại “tao-mày” .  
(1) “Tôi” thường dùng trong trường hợp:  
(1) Biểu thị tình cảm thân mật giữa hai  
người nói chuyện với nhau:  
- Hai người lần đầu gặp mặt và không có sự  
chênh lệch quá lớn về tuổi tác.  
Ví dụ: Tao với mày luôn luôn là bạn tốt của  
nhau.  
Ví dụ: Tôi là người Việt Nam.  
(我是越南人。)  
( 我和你一直都是彼此的好朋友。)  
- Trong những trường hợp tương đối trang  
trọng (như hội nghị, diễn đàn, nơi công cộng  
v.v...)  
(2) Biểu thị mối quan hệ giữa hai người nói  
chuyện có sự xung đột (thái độ kỳ thị, tức giận  
v.v...):  
Ví dụ: Tôi xin mời đồng chí giám đốc lên  
phát biểu ý kiến.  
Ví dụ: Hành động của mày làm tao rất bực  
mình.  
(请允许我邀请总经理先生上来发表意见。)  
(你的行为让我很生气。)  
- Người nói không muốn thể hiện thái độ  
tình cảm với đối phương.  
2.1.3. Nó (它、他、她); hắn, y(他)  
Ví dụ:Nếu cần giúp đỡ, cứ gọi điện cho  
tôi.  
(1) “Nó” có thể chỉ người hoặc vật. Nhưng  
khi chỉ người thì biểu thị thái độ thân mật hoặc  
coi thường của người nói đối với người được đề  
cập đến, còn khi chỉ vật “nó”(它)lại không  
mang sắc thái tình cảm.  
(需要帮助的话尽管给我打电话吧!)  
(2) “Tao”là một ĐTNX tương đối đặc thù.  
- Người nói tỏ thái độ xem thường người  
nghe.  
Ví dụ:Anh cứ bảo nó ngày mai lên gặp tôi  
nhé  
Ví dụ: Tao không muốn nói chuyện với mày.  
(我不想和你说话。)  
(你叫他(她)明天过来见我吧!)  
Hãy đặt nó lên bàn.  
- Biểu thị một loại xưng hô thân mật.  
(请把它放在桌子上。)  
Ví dụ: Mai mày mang cuốn sách đó đến cho  
(2) “Hắn”, “y” hai đại từ này đều là ĐTNX  
mang nghĩa xấu dành cho nam giới, biểu thị  
thái độ xem thường của người nói đối với đối  
tượng thứ ba được nhắc đến.  
tao nhé.  
(明天你把那本书带给我吧。)  
(3) “Ta” là ĐTNX ngôi thứ nhất số ít, tần  
suất sử dụng trong tiếng Việt hiện đại tương đối  
thấp, nhưng cũng xuất hiện trong thơ ca và một  
vài tác phẩm văn hóa.  
Ví dụ:Mẹ hắn đã bỏ rơi hắn từ khi hắn  
được 2 tuổi  
(他两岁时,已经被他妈妈放弃了。)  
Đây là lần phạm tội thứ ba của y.  
(4) “Tớ” thường dùng giữa bạn bè với nhau  
hoặc người nói muốn nhấn mạnh tính bình đẳng  
với người nghe.  
(这已经是他的第三次作案了。)  
Ví dụ: Mọi người đều bảo tớ hát rất hay.  
2.2. Đại từ nhân xưng hỗn hợp  
(大家都说我唱得很好。)  
Tình trạng sử dụng ĐTNX hỗn hợp trong  
tiếng Việt phức tạp hơn ĐTNX thuần, tần suất  
sử dụng cũng rất cao. Trước khi sử dụng làm  
ĐTNX, chúng đều là những danh từ. Sau khi  
2.1.2. Mày(你)  
“Mày” là ĐTNX số ít ngôi thứ hai duy nhất  
trong đại từ thuần Việt, “mày” và “tao” được  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
148  
làm một ĐTNX, trong tiếng Việt chúng vẫn giữ  
vai trò làm danh từ, vì vậy trong tiếng Việt  
chúng là một loại kiêm ngữ. ĐTNX hỗn hợp  
bất kể là tự xưng “tôi(我)” hay là gọi người  
ĐTNX hỗn hợp đã thay thế ĐTNX thuần, trở  
thành bộ phận chủ chốt của ĐTNX trong tiếng  
Việt, so sánh với cách sử dụng của tiếng Hán,  
đây là một đặc điểm của tiếng Việt.  
khác “bạn (你)”  
hoặc “cô ấy (她), anh ấy  
Bảng 2: Đại từ nhân xưng hỗn hợp thường  
(他)” đều mang sắc thái tình cảm nhất định,  
chúng đã làm thỏa mãn đầy đủ thói quen sử  
dụng ĐTNX trong xã hội Việt Nam, vì vậy  
Chỉ nữ giới  
dùng  
Chỉ nam giới  
ông, bố, cha, anh  
(爷,爸,爹,哥)  
Nam nữ đều dùng  
người ta, cháu, con  
(人家,侄子,儿女)  
bà, mẹ, u  
(奶,妈,娘)  
dì, cô, mợ  
(姨,姑,婶)  
chú, bác, cậu, thầy…  
(叔,伯,舅,老师) (弟/妹,朋友,自己  
人,舅舅)  
em, bạn, mình, cậu  
Hình thức số ít  
tương đương với  
tiếng Hán  
我,你,他,  
bác, chị  
(大妈,姐姐)  
ông ấy, anh ấy  
(那个爷爷,那个哥哥)  
ngươi, mi  
(这个人)  
她 “một từ kiêm  
nhiều chức  
bà ấy, chị ấy  
(那位奶奶,那位姐姐) (那个爷爷,那个哥哥)  
ông ta, anh ta  
năng” tùy vào  
ngữ cảnh  
bà ta, chị ta  
(那位奶奶,那位姐姐)  
lão, gã  
(老头子,家伙)  
cô ta  
(那位姑姑)  
mụ, thị  
(老太婆,氏)  
Các, hội, bọn  
(各, 会, 帮)  
+ hình thức số ít  
Ví dụ:  
Hình thức số  
nhiều tương  
đương với tiếng  
Hán  
我们,你们,  
他们,她们  
“một từ nhiều  
chức năng” tùy  
vào ngữ cảnh  
Các, hội, bọn  
(各, 会, 帮)  
+ hình thức số ít  
Chúng, các, hội, bọn  
(众,各, 会, 帮)  
+hình thức số ít  
Ví dụ:  
Ví dụ:  
các bác  
(各大妈)  
các ông  
(各爷)  
chúng con  
(众儿女)  
hội chị  
(会姐)  
hội anh  
(会哥)  
các cháu  
(各侄子、侄女)  
bọn cô ấy  
(帮那位姑)  
bọn y  
(帮伊)  
bọn em  
(帮弟、妹)  
hội cậu  
(会舅)  
148  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
2.2.1. Đại từ nhân xưng hỗn hợp chuyên chức  
dành cho nam giới  
(2) Dùng với nghĩa xấu có “bà ta, chị ta, cô  
ta, thị…” được dịch trực tiếp là “那 个 奶  
奶,那 个 姐 姐,那 个 姑 姑,氏…” Thể  
hiện sự bất mãn, coi thường đối với người được  
đề cập tới.  
(1) Dùng với nghĩa tốt có “ông, bố, cha, anh,  
chú, bác, cậu, thầy, anh ấy v.v...” được dịch  
trực tiếp thành “爷,爸, 爹,哥, 叔,伯,  
Ví dụ: Bà ta rất kiêu ngạo và ích kỉ.  
舅,老 师,哪  
位
哥
哥”. Khi sử  
dụng,những ĐTNX này đều thể hiện sự tôn  
trọng, thân thiết.  
(她(那个奶奶)又骄傲又很自私。)  
2.3. Đặc trưng cơ bản của đại từ nhân xưng  
tiếng Việt  
Ví dụ: Xin ông hãy coi đây như nhà của  
mình.  
(请(爷)您把这儿当成自己的家一样。)  
Phần trên đã trình bày về hình thức số ít  
trong ĐTNX tiếng Việt, và mô tả trạng thái của  
ĐTNX trong tiếng Việt. Trong quá trình mô tả,  
chúng tôi đã tiến hành so sánh giữa ĐTNX  
tiếng Việt và tiếng Hán, và phát hiện ra ba đặc  
điểm chính về sự khác biệt giữa ĐTNX tiếng  
Việt và tiếng Hán.  
Tôi luôn nhớ những lời anh ấy nói.  
( 我一直惦记(哪位哥哥)他曾经说过的话。)  
(2) Dùng với nghĩa xấu có “ông ta, anh ta,  
gã, lão…” được dịch trực tiếp thành  
“那个爷爷,那个哥哥,家伙,老头子...  
Những ĐTNX mang nghĩa xấu này thường biểu  
đạt tâm trạng bất mãn, ghen ghét của người nói  
khi nói đối với người được đề cập tới.  
Thứ nhất: ĐTNX tiếng Việt bao hàm cả sắc  
thái tình cảm, sắc thái tôn ti trật tự vô cùng rõ  
ràng. Vì vậy, khi sử dụng trong thực tế cần phải  
dựa vào ngữ cảnh cụ thể và đặc điểm đối thoại  
của hai bên để lựa chọn ĐTNX phù hợp.  
Ví dụ:Anh ta luôn làm tôi bực mình.  
((那个哥哥)他总是让我生气。)  
Gã vốn là một người xấu.  
Trong bài viết So sánh từ xưng hô trong  
tiếng Việt và tiếng Hán tác giả Đỗ Thị Kim  
Cương cũng đề cập đến vấn đề này: “Ai cũng  
biết trong cách xưng hô của tiếng Việt có sự  
phân biệt tôn ti trật tự rõ ràng. Cháu bé hỏi  
rằng: Tại sao ông bảo cháu thưa bẩm, thế mà  
cháu gọi ông, ông lại không thưa bẩm cháu.  
Cháu cũng không hiểu sao cha mẹ gọi con thì  
gọi thằng Giáp, con Ất thì được, còn con gọi  
tên cha mẹ thì không”.  
((家伙)他本来是一个坏人。)  
2.2.2. Đại từ nhân xưng hỗn hợp chuyên chức  
dành cho nữ giới  
(1) Dùng với nghĩa tốt có “bà, mẹ, u, dì, mợ,  
cô, bác, chị, bà ấy, chị ấy, cô ấy v.v...”,dịch  
trực tiếp thành tiếng Hán là “奶奶, 妈, 娘, 姨,  
婶, 姑, 大妈, 姐姐, 那位奶奶, 那位姐姐,  
那位姑姑”. Những ĐTNX hỗn hợp này đều  
biểu đạt tình cảm yêu quý, tôn kính của người  
nói đối với người được đề cập tới.  
Tác giả cũng đưa ra ví dụ như sau:  
“Nhanh nhanh lên nào! Coi chừng trễ  
chuyến bay bây giờ. Ông, ông đưa cái ô đây  
cháu cầm cho; còn bố đưa cái xách cho con.  
Còn anh nữa, anh cứ ra xe trước đi để em khóa  
cửa cho. A này… mấy đứa xem giùm mấy cái  
cửa sổ phía sau mẹ đã khóa kỹ chưa? Nhanh  
lên, trời ơi!”. [3]  
Ví dụ: Mẹ ơi, con yêu mẹ  
(妈妈,我爱你(妈妈)。)  
Bà ấy thường kể chuyện cổ tích cho tôi  
nghe.  
(她(那位奶奶)经常给我讲非常好听的童  
话故事。)  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
149  
Chỉ qua mấy câu ngắn như vậy, chúng ta  
thấy người phụ nữ đang nói chuyện với bốn  
năm người khác nhau. Với mỗi người chị làm  
một cuộc hóa thân: với ông chị xưng là “cháu”,  
với bố chị xưng là “con”, với chồng chị xưng là  
“em”, với mấy đứa con chị xưng là “mẹ”.  
thuần và ĐTNX hỗn hợp. Phương thức cấu  
thành hình thức số nhiều đa dạng phong phú.  
Phần lớn ĐTNX đều có đặc trưng phân biệt  
giới tính nam nữ.  
Bài viết Cách xưng hô trong tiếng Việt- Điều  
cần biết khi giao tiếp của tạp chí điện tử Hello!  
Việt Nam cũng đã tóm tắt một bảng cách xưng  
hô khi liên quan đến vấn đề phân biệt giới tính  
nam nữ dựa vào tuổi tác như sau:  
Như vậy có thể thấy với mỗi mối quan hệ  
khác nhau sẽ có sự thay đổi trong tư cách của  
người phát ngôn.  
Thứ hai: Số lượng ĐTNX trong tiếng Việt  
rất nhiều, hình thức phong phú. Có 27 ĐTNX  
Bảng 3: Cách xưng hô theo giới tính và tuổi  
tác [4]  
Phân biệt  
Bên A  
Bên B  
Giới tính  
A lớn hơn B vài tuổi  
A lớn hơn B nhiều tuổi nhưng nhỏ  
tuổi hơn bố mẹ B  
Nam  
anh  
chú  
Nữ  
chị  
cô  
Nam  
Nữ  
em  
cháu  
A lớn hơn bố mẹ của B  
A lớn hơn B nhiều bậc  
A và B cùng thứ bậc  
bác  
Ông  
cháu  
cháu  
bạn/cậu  
bà  
tôi/mình  
Thứ ba: Loại hình ĐTNX trong tiếng Việt  
rất phức tạp, trong đó tần suất sử dụng ĐTNX  
hỗn hợp là một đặc điểm lớn. Trong tiếng Việt,  
ĐTNX hỗn hợp có thể đóng vai trò là đại từ chỉ  
định, cũng có thể được sử dụng như các thuật  
ngữ xưng hô hoặc danh xưng, có đặc điểm của  
“một từ kiêm nhiều chức năng”.  
ĐTNX số nhiều trong tiếng Hán: ĐTNX số  
ít + phụ tố “们” hình thức số nhiều  
Ví dụ: 我 (tôi), 你 (bạn), 他 (anh ấy) + 们  
我们 (chúng tôi), 你们 (các bạn), 他们 (bọn  
họ)。  
Trong ĐTNX của tiếng Việt, ĐTNX ngôi  
thứ ba số nhiều “họ” và “chúng” có thể thể hiện  
số nhiều đơn độc, còn “ta, mình, người ta” thì  
vừa là số nhiều vừa số ít.  
3. Chức năng ngữ dụng của đại từ nhân  
xưng tiếng Việt trong cấu tạo từ  
Tiếng Việt và tiếng Hán đều là ngôn ngữ có  
cấu tạo câu theo kết cấu SVO, đều không có  
thay đổi hình thái và thay đổi “quy cách”. Vì  
vậy, ĐTNX ngôi thứ nhất, thứ hai, thứ ba, bất  
luận là hình thức số ít hay số nhiều, làm chủ  
ngữ, tân ngữ hay định ngữ trong câu đều không  
ảnh hưởng tới động từ, đây chính là điểm chung  
của hai loại ngôn ngữ này. Vì vậy phần này  
thông qua việc nghiên cứu cấu từ ngữ pháp,  
vạch rõ đặc điểm kết cấu từ khác nhau trên  
phương diện ngữ dụng của ĐTNX.  
Ngoài ra phần lớn đại từ số nhiều (bao gồm  
ĐTNX thuần và ĐTNX hỗn hợp) đều phải thêm  
một phụ tố phía trước hình thức số ít mới trở  
thành số nhiều.  
ĐTNX số nhiều trong tiếng Việt: Các(各),  
hội(会), bang(帮), chúng(众)+ hình thức  
số ít hình thức số nhiều.  
Ví dụ: các cháu(各 侄 子),chúng tôi(众  
我)。  
Ý nghĩa bốn phụ tố này cũng có liên quan  
đến ý nghĩa của số nhiều. Trong tiếng Việt, có  
trên 60% từ vựng là từ vay mượn từ tiếng Hán,  
3.1. Phương thức cấu tạo từ của đại từ nhân  
xưng số nhiều trong tiếng Việt  
150  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
ý nghĩa của những phụ tố này cũng là vay  
mượn từ tiếng Hán. Nói từ góc độ nghĩa của  
tiếng Hán, các từ “các”(各), “hội”(会),  
“bang”(帮), “chúng”(众)v.v cũng có biểu  
thị ý nghĩa số nhiều, vì vậy những phụ tố tạo  
nên ĐTNX số nhiều trong tiếng Việt về mặt ý  
nghĩa cho thấy cũng rất hợp lý. Nhưng trong  
cách sử dụng chúng cũng có những điều kiện tổ  
hợp khác nhau, cũng có ý nghĩa ngữ dụng khác  
nhau.  
Ví dụ:  
(1) Tại câu lạc bộ thanh thiếu niên khiếm  
thính Hà nội, các em được học tập và nhận  
được sự quan tâm của toàn xã hội.  
(在河内听觉障碍俱乐部,各弟/妹能够  
学习并收到关心的全社会。)  
在河内听觉障碍俱乐部,他们能够学习并收  
到全社会的关心。  
(2) Hội chợ việc làm lần này chúng em sẽ  
không tham gia.  
3.2. Đặc trưng ngữ dụng của đại từ nhân  
xưng số nhiều  
(招聘会次这众弟/妹会不参加。)  
这次的招聘会我们不会参加的。  
(3) Anh đợi bọn em ở cổng trường nhé!  
(哥等帮弟/妹在大门学校吧!)  
你在大门学校等我们吧!  
3.2.1. Sự khác biệt ngữ dụng của đại từ nhân  
xưng số nhiều với các phụ tố khác nhau  
Trong tiếng Hán phụ tố “们” kết hợp với  
ĐTNX số ít để tạo thành ĐTNX số nhiều  
“我们、你们、他们/她们/它们”, về phương  
diện sử dụng căn cứ vào giới tính của đối tượng  
được nhắc đến hoặc sự khác biệt giữa người và  
vật để phân biệt, nhưng ĐTNX số nhiều trong  
tiếng Việt trên phương diện phương thức cấu  
tạo từ có những lựa chọn khác nhau về phụ tố,  
về phương diện ngữ dụng, những phụ tố khác  
nhau này cũng có những tác dụng biểu đạt khác  
nhau.  
(4) Hội em có định tham gia đợt tập huấn  
này không?  
(会弟/妹参不参加次培训这?)  
你们参不参加这次培训?  
Bảng 4: Sự khác biệt ngữ dụng của hình  
thức số nhiều với các phụ tố khác nhau  
Phụ tố  
Số nhiều  
Nhân xưng  
(NX)  
Sắc thái ngữ  
thể  
Sắc thái tình  
cảm  
Chú ý  
các  
các em  
各弟/妹  
NX thứ 2  
hoặc thứ 3  
khẩu ngữ  
hoặc văn viết  
không rõ ràng  
khi làm NX  
thứ 3 thường  
gặp trong văn  
viết  
chúng  
bọn  
chúng em  
众弟/妹  
bọn em  
帮弟/妹  
hội em  
NX thứ 1  
khẩu ngữ  
hoặc văn viết  
khẩu ngữ  
khẩu ngữ  
tình cảm thân  
mật  
NX thứ 1  
hoặc thứ 2  
NX thứ 1  
tùy  
hội  
tùy  
hoặc thứ 2  
会弟/妹  
lớn, tần suất sử dụng trong giao tiếp cao hơn so  
với ĐTNX thuần. Khi cùng một phụ tố thêm  
vào trước ĐTNX thuần hoặc ĐTNX hỗn hợp để  
chỉ cùng một người, trong hoàn cảnh ngôn ngữ  
cụ thể chúng sẽ tạo ra ngữ nghĩa và giá trị ngữ  
dụng khác nhau.  
3.2.2. Sự khác biệt ngữ dụng của hình thức số  
nhiều giữa đại từ nhân xưng thuần và đại từ  
nhân xưng hỗn hợp  
Khác với ĐTNX trong tiếng Hán, trong  
ĐTNX tiếng Việt, ĐTNX hỗn hợp là một loại  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
151  
Ví dụ:  
(1) “chúng tao”(众我)là hình thức số  
(明天我会告诉给会哥时间开会。)  
明天我会告诉你们开会时间。  
nhiều của ĐTNX thuần, thể hiện thái độ thân  
mật hoặc xem thường của người nói đối với  
người nghe hoặc đối tượng thứ ba. Khi người  
lớn nói với người nhỏ tuổi hơn thường tự xưng  
“chúng tao”(众我), tương ứng cũng có thể chỉ  
đối phương là “chúng mày”(众你)hoặc đối  
tượng thứ ba là “chúng nó”(众他/她).  
(4) Lấy hình thức số nhiều của ĐTNX ngôi  
thứ 3 làm ví dụ, “bọn nó”(帮他/她)và “bọn  
chị”(帮姐). “Bọn nó”(帮他/她)thường  
dùng trong khẩu ngữ, thể hiện sự xem thường  
đối với đối tượng thứ 3.  
“Bọn  
chị”(帮姐)cũng thường dùng trong khẩu  
ngữ, thể hiện thái độ xa lạ của người nói đối với  
đối tượng thứ ba.  
Ví dụ: Chúng tao đều già rồi, chỉ mong sớm  
có cháu nội để bế thôi.  
Ví dụ: Mặc kệ bọn nó, làm sai thì phải chịu  
trách nhiệm.  
(众我 都老了就盼早有孙子抱抱呀。)  
我们都老了就盼有个孙子抱抱呀。  
不管帮他/她做错应该负责任。)  
不管他们了,做错事应该负责任。  
Chuyện này không liên quan đến bọn chị.  
(事这没有关系跟帮姐。)  
(2) Còn ĐTNX hỗn hợp“chúng cháu”(众  
侄 子 /侄 女)lại thể hiện thái độ tôn kính của  
người nói đối với người nghe hoặc đối tượng  
thứ ba. Khi người nhỏ tuổi hơn nói chuyện với  
người lớn thường dùng hình thức này để tự  
xưng.  
这件事跟你们没有任何关系。  
4. Phương pháp dịch đại từ nhân xưng  
4.1. Trở ngại khi dịch thuật  
Ví dụ: Tết này chúng cháu sẽ đến chúc tết  
bác vào ngày mồng một ạ.  
Khi chuyển thể bất kỳ ngôn ngữ nào chúng  
ta luôn gặp phải vấn đề khó khăn trong việc lựa  
chọn ĐTNX cho phù hợp để đạt được hàm ý  
sâu xa của người nói và người viết, nhưng vẫn  
giữ được thái độ khách quan, đó là vấn đề  
chung của bất kỳ ai làm dịch thuật. Cao Xuân  
Hạo trong bài Mấy vấn đề văn hóa trong cách  
xưng hô của người Việt Nam nhận định rằng:  
“Tôi trước đây đã từng làm phiên dịch trong  
một thời gian khá dài, và trong khi dịch những  
tác phẩm văn học cỡ lớn vẫn phải dành khá  
nhiều thì giờ (có nhiều hơn cả thì giờ dành cho  
việc chuyển nghĩa) để nghĩ ra cách dùng đại từ  
sao cho khỏi rơi vào tình trạng lố bịch, và rốt  
cục phải thú nhận rằng trong rất nhiều trường  
hợp mình đã thất bại thảm hại. Qủa nhiên khi  
viết bằng tiếng Việt không có cách gì có được  
một thái độ khách quan, trung lập đối với các  
nhân vật, nhất là trong những văn bản đòi hỏi  
một thái độ như thế”. [2]  
(春节众侄子/侄女会到拜年伯伯于初一。)  
春节我们初一会到您家拜年。  
(3) Trong ĐTNX ngôi thứ 3 cũng tương tự  
như vậy, “hội mày”(会你)và “hội  
anh”(会哥), với từ thứ nhất thường dùng  
trong khẩu ngữ, thường dùng khi nói chuyện  
giữa bạn bè với nhau, là một từ thân mật. Với  
từ thứ hai cũng thường dùng trong khẩu ngữ,  
nhưng từ này về sắc thái tình cảm không thể  
hiện nhiều, người nói thường dùng để chỉ người  
có tuổi tác nhỏ hơn mình hoặc chênh lệch  
không nhiều.  
Ví dụ: Hội mày bàn bạc xong thì gọi điện  
cho tao.  
(会你商量互相之后就打电话给我。)  
你们商量好给我打电话。  
Mai tôi sẽ thông báo cho hội anh thời gian  
họp.  
152  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
Điều đó cho thấy việc lựa chọn ĐTNX phù  
cho việc dịch thuật. Vì vậy, trong quá trình  
phiên dịch danh xưng kết hợp với ĐTNX trong  
tiếng Hán, nếu như dịch một cách tùy tiện, thì  
bản dịch tiếng Việt sẽ rất lủng củng, không phù  
hợp với thói quen biểu đạt trong tiếng Việt.  
hợp là vô cùng quan trọng và không dễ dàng,  
mà vốn dĩ đại từ trong tiếng Việt lại vô cùng  
phong phú đa dạng.  
4.1.1. Trở ngại khi dịch từ Hán sang Việt  
4.1.2. Trở ngại khi dịch từ Việt sang Hán  
(1) Ngữ cảnh trong tiếng Hán biểu đạt không  
rõ ràng, dẫn tới việc dịch sai đại từ nhân xưng  
tiếng Việt.  
(1) Đại từ nhân xưng hỗn hợp trong tiếng  
Việt khi dịch sang tiếng Hán dễ bị chuyển đổi  
một cách máy móc, dẫn tới dịch sai.  
Ví dụ như dịch miệng câu tiếng Hán  
“他/她来了!”(Tā lái le !). Xét về mặt ngữ  
âm, âm “tā” này không biết là nữ giới hay là  
nam giới, tuổi tác thế nào, thân phận ra sao. Vì  
vậy, khi ngữ cảnh không rõ ràng, người dịch  
khi dịch thành tiếng Việt cũng không biết dịch  
thế nào với ĐTNX.  
Ví dụ:  
Cậu đang ở đâu đấy?Ông cụ đi đâu rồi?  
舅/在/哪里?老头子/去/哪里了?  
译成:舅舅在哪里?老头子去哪里去了?  
改译:你在哪里?老头子到哪里去了?  
(2) Quá bám sát nguyên văn dẫn đến ý nghĩa  
của câu mơ hồ không rõ ràng.  
Dịch sai sẽ khiến cho ĐTNX hỗn hợp trong  
tiếng Việt trực tiếp sử dụng thành từ ngữ danh  
xưng. Và trên thực tế, căn cứ vào câu nói này,  
“cậu” không thể dịch thành tiếng Hán là  
“舅舅”, vì trong tiếng Việt đó chỉ là một cách  
gọi thân mật với đối tượng nói chuyện, “cậu”  
này chỉ có thể dịch thành “你”.  
Hiện tượng tỉnh lượt ĐTNX trong tiếng Hán  
là vấn đề thường gặp, khi dịch thành tiếng Việt  
nếu như cứ bám sát vào cách nói tỉnh lược của  
nguyên văn, thì sẽ dẫn đến tình trạng ý của câu  
văn dịch trở nên mơ hồ không rõ ràng, vì vậy  
khi dịch sang tiếng Việt, không chỉ phải thêm  
ĐTNX, còn phải căn cứ vào ngữ cảnh đối thoại  
để xem xét thêm vào một ĐTNX nào đó phù  
hợp, đây cũng chính là một trở ngại trong việc  
dịch sang tiếng Việt.  
(2) Khi ở trong câu đại từ nhân xưng trong  
tiếng Việt có sự thay đổi linh hoạt dễ dẫn đến  
dịch sai.  
Gọi là “thay đổi linh hoạt” là chỉ hiện tượng  
“biến xưng”, “biến tính” và “một từ kiêm  
nhiều chức năng” trong tiếng Việt (đã đề cập  
đến ở phần thứ nhất trong khảo sát đặc trưng  
ngữ dụng của ĐTNX tiếng Việt). Khi dịch từ  
tiếng Việt sang tiếng Hán nếu không phân tích  
ngữ cảnh cụ thể, thì hiện tượng “biến xưng”  
“biến tính” rất dễ làm nhiễu người dịch. Còn  
ĐTNX hỗn hợp “một từ kiêm nhiều chức  
năng”, trong sự thay đổi giữa từ ngữ danh xưng  
và ĐTNX, cũng mang lại khó khăn trong quá  
trình dịch.  
(3) Dịch kết hợp danh xưng với đại từ nhân  
xưng  
Mặc dù ĐTNX trong tiếng Hán không nhiều,  
nhưng chúng đóng một vai trò rất quan trọng  
trong việc kết hợp với danh xưng, những sự kết  
hợp này có sắc thái tình cảm đặc thù, làm  
phong phú thêm hệ thống danh xưng trong  
tiếng Hán. Mỗi một ĐTNX trong tiếng Việt bản  
thân nó đã mang sắc thái tình cảm nhất định, và  
do tổ hợp danh xưng được kết hợp giữa ĐTNX  
và các thành phần khác không nhiều, nên đã tạo  
ra sự không thống nhất giữa tiếng Việt và tiếng  
Hán về ĐTNX và danh xưng kết hợp với  
chúng, điều này cũng mang lại nhiều trở ngại  
4.2. Phương pháp dịch thuật  
Sự khác nhau về công năng ngữ dụng của  
ĐTNX tiếng Hán và tiếng Việt mang lại nhiều  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
153  
trở ngại cho quá trình dịch, trong quá trình dịch  
yêu cầu người dịch phải phát huy tính năng  
động chủ quan, chọn ra một phương pháp dịch  
nhất định. Dựa vào vấn đề phiên dịch có liên  
quan đến ĐTNX đã được nêu ở trên, trong việc  
dịch tiếng Hán và tiếng Việt, chúng tôi xin đề  
xuất những điểm quan trọng cần đặc biệt lưu ý  
trong dịch tiếng Việt và tiếng Hán:  
thích hợp. Khi dịch từ Việt sang Hán, người  
dịch phải dựa vào ĐTNX trong nguyên văn  
tiếng Việt lựa chọn dịch thành danh xưng tương  
ứng trong tiếng Hán hoặc dịch thành ĐTNX  
hoặc trực tiếp lược bỏ. Nhưng như phần trên đã  
đề cập, ĐTNX hỗn hợp trong tiếng Việt khi  
dịch sang tiếng Hán rất dễ bị sử dụng một cách  
máy móc, dẫn tới dịch sai, người dịch phải hiểu  
được ngữ cảnh gốc mới quyết định chọn dịch  
ĐTNX phù hợp hoặc lược bỏ. Như thông  
thường thì, nếu như những ĐTNX hỗn hợp đó  
và tình tiết phát triển trong nguyên văn không  
có mối quan hệ mật thiết, thì có thể xử lý một  
cách chung chung hoặc dịch thành ĐTNX bình  
thường, hoặc lược bỏ không dịch, nhưng khi  
ĐTNX này có ảnh hưởng ngữ dụng một cách rõ  
rệt giữa phần trên và phần dưới của bài viết,  
biểu đạt tình cảm khá rõ ràng hoặc mãnh liệt,  
thì có thể dịch thành từ ngữ danh xưng trong  
tiếng Hán, để sự khác biệt về tình cảm hoặc địa  
vị này được biểu đạt trong tiếng Hán thông qua  
phương thức từ ngữ danh xưng.  
(1) Người dịch trước khi dịch phải hiểu được  
bối cảnh, dụng ý, thời gian của bài viết mà tác  
giả viết, đặc biệt là phong cách của cá nhân tác  
giả, như vậy mới hiểu được chính xác dụng ý  
của tác giả đồng thời nắm bắt phong cách viết  
văn của tác giả, đây đều là những thông tin vô  
cùng quan trọng giúp ích cho quá trình dịch.  
Nhưng trên thực tế, ở không ít trường hợp,  
trước khi chúng ta bắt tay vào dịch một đoạn  
văn, những điều được nhắc đến ở trên chúng ta  
hoàn toàn không nắm được. Khi đó chỉ có thể  
nắm bắt nguyên văn nội dung của bài văn, xuy  
xét vấn đề ở góc độ câu cú, thông qua sắc thái  
tình cảm được biểu đạt bằng giọng điệu, từ ngữ  
trong nguyên văn tiếng Hán, mà từ đó biểu đạt  
sắc thái tình cảm này thông qua ĐTNX trong  
tiếng Việt.  
5. Kết luận  
Xét từ phương thức biểu đạt các loại đặc  
trưng ngữ dụng của ĐTNX tiếng Việt, trong  
tiếng Việt phần lớn sử dụng ĐTNX hỗn hợp  
chứa đựng mối quan hệ thân thuộc là phương  
thức chủ yếu nhất. Trong khi biểu đạt chúng  
không chỉ biểu thị hàm ý thân cận, còn bao hàm  
cả sự phân biệt về đẳng cấp tôn ti trật tự. Sự  
khác biệt về thứ bậc vai vế thân thuộc thể hiện  
rõ trong ĐTNX của tiếng Việt, dẫn dến trong  
sử dụng ĐTNX tiếng Việt, ĐTNX chỉ mối quan  
hệ thân thuộc cũng được dùng nhiều để gọi cấp  
trên hoặc nhân viên chính phủ. Còn trong tiếng  
Hán, sử dụng danh xưng thân thuộc phần lớn  
dùng để biểu thị sự thân mật, khi phân biệt tôn  
ti trật tự thì tác dụng không rõ ràng. Trong tiếng  
Hán coi trọng dùng chức danh, chức vụ để thể  
hiện sự tôn trọng đối với đối phương; xét từ  
công năng biểu đạt của ĐTNX trong tiếng Việt  
thể hiện rõ đặc trưng coi trọng thứ bậc vai vế  
(2) Hiện tượng tỉnh lược ĐTNX trong tiếng  
Hán rất thường gặp, khi dịch sang tiếng Việt,  
người dịch phải dựa vào nội dung tình tiết của  
nguyên văn để thêm ĐTNX phù hợp, để bản  
dịch phù hợp với thói quen hành văn trong  
tiếng Việt. Trong nguyên bản hình thức danh  
xưng xuất hiện có thể hỗ trợ rất lớn cho người  
dịch. Người dịch có thể dùng danh xưng của  
nguyên bản để tham khảo lựa chọn ĐTNX hỗn  
hợp trong tiếng Việt.  
(3) Trong tiếng Việt, mỗi một ĐTNX đều  
chứa đựng một sắc thái tình cảm nhất định, khi  
dịch Hán sang Việt, người dịch phải đặc biệt  
chú ý đến việc lựa chọn ĐTNX. Phải dựa vào  
các yếu tố như thân phận, giới tính, tuổi tác, địa  
vị xã hội của người nói, người nghe và đối  
tượng thứ ba được nhắc tới để lựa chọn ĐTNX  
154  
N. T. N. Chinh, N. P. Tâm / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 5(48) (2021) 144-154  
gia tộc, trong danh xưng tiếng Hán lại thể hiện  
ra đặc trưng coi trọng thứ bậc chức vụ.  
nhất định, vận dụng tối đa đặc điểm biểu đạt  
tình cảm của ĐTNX tiếng Việt để đưa vào dịch  
thuật.  
Trong tiếng Việt, lựa chọn, tổng hợp, biến  
hóa ĐTNX đều có thể có tác dụng biểu đạt tình  
cảm. Trong khi chọn dùng, cùng một cảm xúc  
hoặc mối quan hệ cá nhân có thể lựa chọn  
phương thức khác nhau để biểu đạt, đa dạng  
hóa phương thức cũng mang lại đặc điểm đa  
dạng hóa ngôn ngữ. Trong tiếng Hán, thường  
thông qua phương thức thay đổi từ đồng nghĩa  
hoặc từ gần nghĩa để làm phong phú ngôn ngữ,  
tránh trùng lặp dư thừa từ ngữ, nhưng tác dụng  
của ĐTNX ở trong đó không rõ ràng. Còn trong  
tiếng Việt, chọn dùng những ĐTNX khác nhau  
và cách biểu đạt này cũng đã trở thành một  
phương thức tạo nên sự đa dạng về ngôn từ, vì  
vậy trong khi dịch, chúng ta phải dựa vào đặc  
điểm khác nhau của ĐTNX tiếng Việt và  
ĐTNX tiếng Hán, lựa chọn một phương pháp  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bùi Duy Tân (2005), Theo dòng khảo luận văn học  
trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[2] Cao Xuân Hạo (2020), Mấy vấn đề văn hóa trong  
cách  
xưng  
hô  
của  
người  
Việt,  
vanhoanghean.com.vn,  
-nhung-goc-nhin-van-hoa/13796-may-van-de-ve-  
van-hoa-trong-cach-xung-ho-cua-nguoi-viet.  
[3] Đỗ Thị Kim Cương (2011), So sánh từ xưng hô trong  
tiếng Việt và tiếng Hán, tailieuxanh.com,  
xung-ho-trong-tieng-viet-va-tieng-han.html.  
[4] Tạp chí Hello! Việt Nam (2019), Cách xưng hô trong  
tiếng Việt - Điều cần biết trong giao tiếp, hellovietnam.tw,  
[5]  
阮福心  
(Nguyễn  
Phước  
Tâm)  
(2021),《唐诗对越南李陈汉诗的影响研究》,  
新北市:花木兰文化事业有限公.  
pdf 11 trang baolam 21820 Free
Bạn đang xem tài liệu "So sánh phân tích công năng ngữ dụng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và tiếng Hán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfso_sanh_phan_tich_cong_nang_ngu_dung_dai_tu_nhan_xung_trong.pdf