Một số biểu hiện của nhân sinh quan phật giáo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
MỘT SỐ BIỂU HIỆN CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO  
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ  
Phạm Văn Hóa  
Khoa Ngữ văn và Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 12/4/2021; Ngày nhận chỉnh sửa: 04/5/2021; Ngày duyệt đăng: 14/5/2021  
Tóm tắt  
Văn hóa Phật giáo ảnh hưởng khá sâu đậm đối với văn hóa Việt Nam truyền thống. Văn học trung đại  
Việt Nam chịu tác động của văn hóa Phật giáo trong các giai đoạn phát triển. Từ “Truyền kỳ mạn lục” của  
Nguyễn Dữ, bài viết phân tích một số biểu hiện của nhân sinh quan Phật giáo như báo ứng nhân quả, tu nhân  
tích đức, kiếp khác và địa ngục... ảnh hưởng đối với nội dung, hình thức nghệ thuật của tác phẩm truyền  
kỳ. Trong bài viết này, bằng nỗ lực phân tích một số biểu hiện nhân sinh quan Phật giáo trong “Truyền kỳ  
mạn lục”, người viết mong góp phần lý giải những phẫn uất đầy cảm giác bất lực trong lời gào thét lên án  
thời cuộc của Nguyễn Dữ.  
Từ khóa: Đầu thai, địa ngục, nhân duyên, nhân quả, Truyền kỳ mạn lục, văn hóa Phật giáo.  
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
SOME STATUS CHARACTERISTICS OF BUDDHIST OUTLOOK  
ON LIFE IN THE COLLECTION OF STRANGE TALES  
Pham Van Hoa  
Faculty of Literature and History Studies, Dalat University  
Article history  
Received: 12/4/2021; Received in revised form: 04/5/2021; Accepted: 14/5/2021  
Abstract  
Buddhist culture has a great impact upon Vietnamese ancient culture. Vietnamese central literature is  
affected by Buddhist culture in the stages of development. This paper studied the ideas of karma, reincarnation  
and hell and their influence on the content and art form of truyen ky tales (strange/mythical tales) associated  
with Buddhist outlook on life in the Collection of Strange Tales (Nguyen Du). This article, on analyzing the  
manifestation of the Buddhist outlook on life in the Collection of Strange Tales, contributes to justifying the  
feeling of helpless resentment in the screams of Nguyen Du.  
Keywords: Buddhist culture, collection of strange tales, conditional causation, hell, karma, reincarnation.  
Trích dẫn: Phạm Văn Hóa. (2021). Một số biểu hiện của nhân sinh quan Phật giáo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ.  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 10(6), 56-63.  
56  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 56-63  
1. Đặt vấn đề  
sĩ khoa Bính Thìn đời Hồng Đức (1496), làm quan  
đến Thượng thư Bộ Hộ. Dữ từ nhỏ đã nổi tiếng học  
rộng nhớ nhiều, có thể lấy văn chương nối nghiệp  
nhà. Ông đỗ Hương tiến, nhiều lần thi Hội, trúng  
Tam trường, được bổ chức Tri huyện Thanh Tuyền,  
mới được một năm, lấy cớ nơi làm việc xa xôi, xin  
về phụng dưỡng (cha mẹ ?). Sau vì nguỵ Mạc thoán  
đoạt, thề không đi làm quan nữa; ở làng dạy học,  
không đặt chân đến chốn thị thành, viết Truyền kỳ  
mạn lục 4 quyển, văn từ thanh lệ, người đương thời  
rất khen” (Viện Sử học, 1977, tr. 51). Nguyễn Dữ  
sinh ra gặp buổi đất nước loạn lạc thời kỳ Lê - Mạc,  
cảm nhận một cách sâu sắc sự khủng hoảng của tư  
tưởng Nho giáo, nhận thức rõ nét tình trạng xã hội  
đen tối và tai họa chiến tranh, trong sáng tác của mình  
ông bộc lộ thái độ bất mãn với thời cuộc. Nguyễn  
Dữ được phỏng đoán đã viết Truyền kỳ mạn lục vào  
những năm 1509-1547 và tác phẩm được người đời  
sử dụng cụm từ “phát phẫn mà viết sách” để mô tả.  
Tác giả sáng tác tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, trên  
cơ sở khai thác từ văn học dân gian Việt Nam cùng  
với việc tiếp nhận thành tựu truyện truyền kỳ Trung  
Quốc. Trong Truyền kỳ mạn lục, ông nhiều lần dùng  
hình thức kỳ ảo, hoang đường để phản ánh hiện thực  
xã hội, hướng đến trừng phạt kẻ xấu, thương người  
nghèo xót kẻ oan khuất. Đó cũng là cách nhà nho biểu  
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm,  
khoảng thế kỷ thứ I trước Công nguyên. Đến thời  
kỳ độc lập (từ thế kỷ X), Phật giáo đã phát triển cực  
thịnh, ảnh hưởng mọi phương diện đời sống của  
người Việt Nam. “Phật giáo từ Hậu Lê đến thời hiện  
đại thường được cho rằng là thời kỳ suy yếu của Phật  
giáo Việt Nam, thực tế là người Việt Nam thời kỳ này  
đã thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Phật giáo hóa thành  
máu thịt, tâm hồn của người Việt. Với một số hoạt  
động thực tiễn như tín ngưỡng Quan âm, niệm Phật,  
phóng sinh, ăn chay,... Phật giáo không còn bị xem  
là tôn giáo ngoại lai, mà là tôn giáo của người Việt.  
Hơn nữa Phật giáo còn làm thoả mãn “cầu được ước  
thấy” mang lại một số lợi ích thực tế của nhân dân.  
Sự hòa hợp của tín ngưỡng Phật giáo, Đạo giáo và tín  
ngưỡng dân gian có mối quan hệ mật thiết với cuộc  
sống của nhân dân” (Nguyễn Công Lý và Đoàn Lê  
Giang, 2016, tr. 194). Thời Truyền kỳ mạn lục ra đời,  
các nhà nho tìm đến Phật giáo là tìm đến một triết  
lý sống, một chỗ dựa tinh thần cho cuộc sống nhiều  
đau khổ, đối với người dân, Phật giáo tồn tại như  
một dòng suối mát thỏa mãn cơn khát tinh thần và  
là một chỗ dựa tâm linh để lánh nạn. Đối với những  
vấn đề mà Nho giáo không thể cho được một giải  
đáp thỏa đáng, một nhà nho như Nguyễn Dữ cũng đã  
cố tìm lời giải đáp trong thế giới của tư tưởng Phật lộ chính kiến của mình tránh bị chính quyền phong  
giáo. Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực và nhân kiến chú ý. Thủ pháp phản ánh hiện thực của Truyền  
đạo sâu sắc, những quan điểm lý giải số phận nhân kỳ mạn lục khá đặc thù. Tác phẩm này có mối quan  
vật lại thấm đẫm màu sắc nhân sinh quan Phật giáo.  
Tất cả các truyện trong Truyền kỳ mạn lục về cơ bản  
“đề cao cái tốt và trừng phạt cái xấu” (khuyến thiện  
trừng ác), mệnh đề đóng vai trò cơ bản đối với một  
thể loại truyện chữ Hán được xem là “sách đạo đức”  
(thiện thư) này. Trong bài viết này, bằng nỗ lực  
phân tích một số biểu hiện nhân sinh quan Phật giáo  
trong Truyền kỳ mạn lục, người viết mong góp phần  
lý giải những phẫn uất đầy cảm giác bất lực trong lời  
gào thét lên án thời cuộc của Nguyễn Dữ.  
hệ với tư tưởng Tam giáo đương thờivà văn hóa  
dân gian truyền thống, trong đó liên quan đến nhân  
sinh quan Phật giáo có một số truyện sau: Chuyện Lý  
tướng quân, Chuyện gã trà đồng giáng sinh, Chuyện  
Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào, Chuyện chức phán  
sự đền Tản Viên, Cây gạo, Chuyện yêu quái ở Xương  
Giang, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện oan nghiệp  
của Đào thị, Từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện tướng Dạ  
Xoa, Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện  
cái chùa hoang ở huyện Đông Triều, Chuyện người  
con gái Nam Xương, Chuyện nàng Lệ Nương. Một  
số biểu hiện của nhân sinh quan Phật giáo được thể  
hiện trong tập truyện Truyền kỳ mạn lục trên các  
phương diện sau.  
2. Nội dung  
2.1. Tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền  
kỳ mạn lục  
Văn học thế kỷ XVI ghi nhận bước đột khởi của  
văn xuôi tự sự chữ Hán qua một tập truyện được Vũ  
Khâm Lân đánh giá là “thiên cổ kỳ bút”: Truyền kỳ  
mạn lục. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục có giới  
thiệu về Nguyễn Dữ: “Nguyễn Dữ người xã Đỗ Tùng  
huyện Gia Phúc. Cha là Nguyễn Tường Phiêu, Tiến  
2.2. Nội dung nhân sinh quan Phật giáo trong  
Truyền kỳ mạn lục  
2.2.1. Quan niệm “Nghiệp Báo - Nhân Quả” -  
tìm đến sự công bằng  
Theo Thích Đức Nghiệp, “thuyết Nghiệp Báo  
57  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Ngược lại, nội dung truyện Chuyện gã trà đồng  
giáng sinh lại điển hình cho triết lý “Thiện nghiệp”  
của Phật giáo. Do con người hành thiện từ tiền kiếp  
dẫn đến quả ở kiếp sau: Dương Đức Công làm quan  
thanh liêm, công bằng, nhân từ. Đến 50 tuổi, ông ta  
chưa có con trai, ốm nặng mà chết. Nhưng vì nhân  
đức nên trời cho ông sống lại, cho một trà đồng đầu  
thai làm con trai. Người con trai có tên là Tích Thiên.  
Như vậy, ở đây triết lý nghiệp báo, quả báo có màu  
sắc siêu hình của Phật giáo gặp gỡ tư tưởng Nhân quả  
ít nhiều mang màu sắc thực tiễn, thực tế của người  
dân Việt “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, “Cây  
xanh thì lá cũng xanh, cha mẹ hiền lành để đức cho  
con”, “Gieo gió gặt bão”, “Ở hiền gặp lành”...  
cũng là một tên gọi khác của quy luật nhân quả báo  
ứng. Lý do: Nghiệp = Nhân; Báo = Quả. Nghiệp hàm  
chứa: Thiện nghiệp (kasala), Ác nghiệp (akusala)”  
(Thích Đức Nghiệp, 1995, tr. 143-144). “Nguyên tắc  
của nghiệp là “gieo gió gặt bão” và nguyên tắc ấy chi  
phối toàn thể đời sống của Phật tử; bởi vì, sự thực, cái  
dựng lên cá biệt tính của một người không có gì khác  
hơn chính là nghiệp của y” (Daisetz Teitaro Suzuki,  
1992, tr. 403). “Tất cả các loại hữu tình sinh ra theo  
nghiệp của chúng: Thiện nhân sinh thiên đường, ác  
nhân sinh địa ngục và ai thực hành chánh đạo thì  
chứng đắc niết bàn. Do tu tập lục độ nên có thể làm  
ích lợi chúng sinh bằng nhiều đường hướng, và chắc  
chắn sẽ được hưởng phước lạc, không những chỉ đời  
này mà cả đến đời sau. Nghiệp có thể chỉ có hai loại:  
Tư (catara) hay nội tâm và tư sở tác (Cetayitva) phát  
hiện bằng lời và bằng vận động của thân” (Daisetz  
Teitaro Suzuki, 1992, tr. 403).  
Trong truyện Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi  
Thiên Tào, chính nhân vật Dương Trạm - thầy học  
của Tử Hư - đã đúc rút rằng “Trồng dưa được dưa,  
trồng đậu được đậu. Lưới trời thênh thang thưa nhưng  
chẳng lọt” (Nguyễn Dữ, 1999, tr. 113), “trời đất báo  
ứng, luân hồi” (Nguyễn Dữ, 1999, tr. 113). Trong  
xã hội phong kiến Việt Nam, nhất là xã hội của thời  
đại Nguyễn Dữ, bọn thống trị bất nhân, lừa lọc, hại  
người. Thời đại có bao nhiêu nước mắt thảm sầu, bao  
nhiêu con người bị oan trái, bao nhiêu mối tình hờn  
tủi, vợ con ly tán, cửa nát nhà tan…, khiến cho con  
người phải băn khoăn về cái lẽ sống chết của mình.  
Nội dung quan niệm về nghiệp chỉ rõ, con người  
tạo nghiệp tốt cho quả báo tốt, tạo nghiệp xấu cho  
quả báo xấu và “chuyển nghiệp” chính là chỉ việc  
con người có thể chuyển biến nghiệp theo hướng  
tốt hay hướng xấu. Nếu đứng từ nội dung này thì rõ  
ràng nhiều truyện trong Truyền kỳ mạn lục khi miêu  
tả cuộc đời nhân vật chịu ảnh hưởng quan niệm về  
chữ nghiệp của Phật giáo.  
Ở những truyện trên, “Nghiệp Báo - Nhân Quả”  
không chỉ biểu hiện trong nội dung của tác phẩm, mà  
nó trở thành hình thức nghệ thuật phát triển tình tiết  
truyện, tức là thông qua “Nghiệp Báo - Nhân Quả”  
khiến tình tiết câu chuyện thay đổi đồng thời thúc  
đẩy câu chuyện phát triển. Trong Chuyện nghiệp oan  
của Đào thị, sau một loạt biến cố trong đó Đào thị là  
nạn nhân, sau đó cô ta dạt vào chùa Pháp Vân. Tại  
đây nghiệp chướng của cô trở nên nặng nề khi tiếp  
tục tư thông với sư Vô Kỵ. Và câu chuyện tiếp tục  
với cái chết của hai người, rồi sự trả thù của Đào thị  
với gia đình viên quan Nhược Chân. Xây dựng nên  
tình huống nghệ thuật và cuộc đời nhân vật như thế,  
Nguyễn Dữ mới thỏa mãn được nỗi lòng căm giận  
của mình đối với xã hội phong kiến đương thời. Vận  
dụng triết lý đạo Phật “Nghiệp báo” để nói lên tầm  
quan trọng của việc thực hành đức hạnh Khổng giáo  
và cũng là cách Nguyễn Dữ xoa dịu và an ủi nỗi khổ  
đau của con người. Khi con người đang sợ hãi trước  
một cuộc sống đầy rẫy bất công thì triết lý đạo Phật  
mang chất bi quan yếm thế lại trỗi dậy trong tâm trạng  
Chuyện Lý tướng quân là một truyện điển hình  
của “Ác nghiệp”. Truyện kể về nhân vật Lý Hữu Chi  
được tiến cử làm tướng quân của vua Giản Định. Khi  
có chức trọng quyền cao, chuyên làm điều càn rỡ,  
bạc ác kết cục không thể tránh được “ác giả ác báo”  
- xuống âm phủ chịu đủ loại cực hình “lấy nước sôi  
rửa ruột”, “lấy lưỡi chuỷ thủ moi ruột”,... “Nghiệp  
Báo - Nhân Quả” là tư tưởng cơ bản của Phật giáo  
nói rõ tất cả các mối quan hệ trong thế giới. Tư tưởng  
này gần gũi với tư duy “quả báo” của dân gian. Và  
phải chăng, Nguyễn Dữ tâm đắc với Phật giáo nên  
lấy chữ Nghiệp của đạo Phật bổ sung cho chữ Mệnh  
của Nho giáo để kết án: Tự mình gieo mầm khổ ở  
kiếp trước, thì tự mình phải chịu lấy quả khổ ở kiếp  
này. Nguyên tắc của “Nghiệp Báo - Nhân Quả” là:  
Hình phạt nhất định đi theo tội đã gây ra, chính là định  
mệnh mà không tháo gỡ được. Đã là định mệnh thì  
con người không thể biết trước được, và đối với tội  
mà mình gây ra, thì nhất định có ứng báo tương ứng  
với tội đó. Nội dung truyện Chuyện Lý tướng quân  
thể hiện rõ điều đó.  
58  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 56-63  
bất an của con người, nhất là phụ nữ, nạn nhân cực Nhân vật Thúc Khoản trong Chuyện Lý tướng quân  
được miêu tả như một con người biết tu tâm tích đức.  
Nhận thức được việc làm của cha mình là gây nghiệp,  
anh ta đã thay đổi lối sống, tu tâm dưỡng tính khiến  
phúc phận trở lại. Phật giáo cho rằng để tránh mọi  
bi kịch trong cuộc đời, con người phải đi theo giải  
pháp “diệt dục”, một trong bốn phạm trù cơ bản của  
Phật giáo. “Bốn lời dạy bảo thiêng liêng”, “Tứ diệu  
đế” - bốn phạm trù cơ bản của triết lý Phật giáo: Khổ,  
Tập, Diệt, Đạo, đã khuyên con người hãy từ bỏ, hãy  
tiêu diệt mọi dục vọng, mọi ước muốn trần tục của  
cá nhân. Con người không biết tiêu diệt những dục  
vọng “tội lỗi” để đi vào con đường “tu”, tất nhiên sẽ  
phải gánh lấy hậu quả “sống đoạ thác đày”.  
khổ nhất của xã hội phong kiến, cũng là nạn nhân khổ  
cực nhất của thời đại Nguyễn Dữ.  
2.2.2. Tư tưởng “Phật tại tâm”, “Tu nhân tích  
đức” - con đường giải thoát  
Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đã mô tả  
nhiều tình tiết, sự kiện đậm chất nhân sinh quan Phật  
giáo, như: Sự nghiệt ngã của cuộc đời người phụ nữ  
được bắt đầu từ cuộc hôn nhân định mệnh (Chuyện  
người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện nàng Lệ  
Nương...), sự gặp gỡ đầy nghiệp chướng giữa Đào  
thị và sư Vô Kỵ (Chuyện nghiệp oan của Đào thị),  
lời tiên báo của quan đại phu họ Thạch (Chuyện gã  
trà đồng giáng sinh), sự hồi sinh từ cái chết (Chuyện  
Lý tướng quân, Chuyện người con gái Nam Xương,  
Chuyện tướng Dạ Xoa...), cuộc hội ngộ với chồng  
(Chuyện đối tụng ở Long cung, Chuyện người con  
gái Nam Xương...), hình ảnh các nhà sư không có  
đức của Phật tử, chùa chiền không còn là chốn thanh  
tịnh (Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều,  
Chuyện nghiệp oan của Đào thị)... Cuộc đời là bể  
khổ. Cuộc sống của người dân dưới chế độ phong  
kiến quân chủ thế kỷ XVI chìm trong khổ ải, hạnh  
phúc của mỗi một cá nhân đều bị đe doạ. Tuy nhiên,  
điều này được xem như “Nghiệp báo - Nhân quả” từ  
kiếp trước, và họ tin rằng nếu kiếp này tu nhân tích  
đức thì kiếp sau sẽ được hưởng ân phúc. Phật tại tâm  
tức là ăn uống, ngủ nghỉ, đi đứng, làm lụng đều là  
thiền cả. Tư tưởng “Phật tại tâm”, “Tu nhân tích đức”  
khuyên người ta cố gắng tu tâm, bỏ đi những điều  
ân oán, hận thù. Con người có thể tu Phật tại tâm và  
tìm được hạnh phúc ngay ở cuộc sống đời thường.  
Triết lí sống này lại gần với tư tưởng tu thân của Nho  
giáo và với triết lí sống vô vi, ẩn dật của Lão Trang.  
Ở truyện Chuyện nghiệp oan của Đào thị tác giả  
trực tiếp đề cập đến chùa chiền, đến tầng lớp tăng lữ  
với hình ảnh sư Vô Kỵ không nghe lời dạy của Pháp  
giới, lại cứ dấn sâu vào mê muội trong dục vọng bản  
năng. Do đó, dù thân họ có ở cõi thiền nhưng tâm  
không tịnh độ thì vẫn bị cái xấu xa, dục vọng, bản  
năng mời gọi. Quan niệm Phật giáo đã được Nguyễn  
Dữ chuyển tải qua tác phẩm: Cát, hung, họa, phúc  
là thứ sẵn có trong tâm, phải tu hành thì phúc mới  
đến, do tình cảm với con người tục thế mà sư Vô  
Kỵ rơi vào bể khổ ải, và sư cũng đang đón nhận và  
cam chịu nó như một định mệnh đời mình. Ở đây,  
tư tưởng Phật giáo hòa quyện trong triết lý dân gian  
rằng mọi việc thiện ác phúc họa ở đời đều xuất phát  
từ tâm, và khuyên rằng con người nên từ bỏ cái ác  
phục tòng điều thiện. Thực tế là sau khi triều Lê độc  
tôn Nho học, Phật giáo một mặt phải sống trong tâm  
của người bình dân nơi làng xóm, một mặt trở nên  
suy yếu, tăng lữ không theo Phật pháp khiến xã hội  
không ổn định.  
Trong Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều,  
tác giả ngang nhiên công kích: “Than ôi! Cái thuyết  
nhà Phật thật vô ích mà có hại quá lắm. Nghe lời nói  
Chính vì vậy để tu tâm tích đức, người ta thấy  
trong Truyền kỳ mạn lục, các nhân vật rất xem trọng  
trung thành, hiếu thảo, trinh tiết, nghĩa tình. Những năng thì từ bi, quảng đại, tìm sự ứng báo thì bắt gió  
mơ hồ. Dân kính tin theo đến nỗi có người phá sản  
để cúng cho nhà chùa. Nay xem cái dư nghiệt ở trong  
một ngôi chùa nát còn gớm ghê như thế” (Nguyễn Dữ,  
1999, tr. 160). Tinh thần phê phán những dục vọng  
xấu xa trong xã hội phong kiến thối nát đã làm cho  
ngòi bút hiện thực của ông biến hóa vô cùng sắc sảo.  
giá trị đạo đức Nho giáo này giúp duy trì trật tự gia  
đình và xã hội phong kiến thời bấy giờ có nguồn mạch  
liên kết với thuyết luân hồi, với quan niệm từ bi, bác  
ái, tích thiện của Phật giáo. Thiền tông Việt Nam đề  
cao tinh thần “Phật tại tâm” rất phù hợp với đạo lý,  
tập quán của người Việt. Đặc biệt, tinh thần bình dị và  
thiết thực của nó phù hợp với óc thực tiễn của người  
Việt Nam, gần gũi với nhân sinh quan của con người  
Việt Nam trong xã hội xưa nay “Ở hiền thì lại gặp  
lành/ Những người nhân đức trời dành phúc cho”...  
Thông qua những truyện như Cây gạo, Chuyện  
kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện yêu quái ở Xương Giang,  
Chuyện Lý tướng quân, Chuyện nghiệp oan của Đào  
thị,... Nguyễn Dữ thể hiện nhận thức về dục tính như  
59  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
là nguồn cơn của tội lỗi, và đỉnh cao của thanh khiết có kết cấu truyện (Chuyện yêu quái ở Xương Giang,  
khả năng tái sinh con người. Đây là một tầm mức tư Chuyện gã trà đồng giáng sinh, Chuyện oan nghiệp  
của Đào thị, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên,  
Chuyện người con gái Nam Xương, Cây gạo, Chuyện  
Lý tướng quân, Chuyện tướng Dạ Xoa, Chuyện đối  
tụng ở Long cung,...). Kiểu mô hình kết cấu “chuyển  
kiếp” “vòng tròn cái chết, đi vào thế giới địa ngục rồi  
lại tái sinh” (Nguyễn Thị Kim Ngân, 2017, tr. 181),  
nhân vật truyền kỳ sau khi đã làm được nhiều việc  
tốt trong đời sống, và vì thế sau cái chết, họ được tái  
sinh hoặc lên thiên đường trong tư thế của một vị thần  
(Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Chuyện tướng Dạ  
Xoa, Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Chuyện  
gã trà đồng giáng sinh, Chuyện người con gái Nam  
Xương). Kiểu mô hình kết cấu hồn ma “chuyển kiếp”  
tái sinh để trả thù (Chuyện oan nghiệp của Đào thị,  
Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang, Chuyện yêu quái  
ở Xương Giang,...) biểu trưng cho nỗi sợ hãi của  
con người khi đối diện với sự độc ác chớm nở trong  
tâm hồn. Không chỉ tạo bước ngoặt quan trọng trong  
phát triển tình tiết câu chuyện, kiểu mô hình kết cấu  
“chuyển kiếp” trong Truyền kỳ mạn lục còn đem đến  
tác dụng khác, đó là nhấn mạnh số phận khốn khổ  
con người trong xã hội phong kiến.  
duy mới về bản chất sự sống và cái chết trong truyện  
truyền kỳ. Những câu chuyện trong Truyền kỳ mạn  
lục cũng cho thấy triết lý vô thường của Phật giáo:  
Rằng cuộc đời là một giấc mộng, những tháng năm  
tươi đẹp chẳng qua là chớp mắt, tất cả chỉ là ảo tưởng,  
nên con người hãy giữ cho con tim mình trong sạch,  
an bình. Theo quan niệm phương Đông, để có tâm tính  
như thế thì con người không ngừng tu sửa bản thân.  
Nho, Phật, Lão đã đề ra những phương pháp tu tâm  
khác nhau, nhưng cả ba học thuyết đều có chung một  
ý tưởng, đó là “diệt dục”, diệt trừ những ham muốn  
trong con người chúng ta. Nguyễn Dữ tâm đắc với  
quan niệm của nhà Phật để có một cái nhìn, một cách  
giải thích hiện thực, căn nguyên của tình trạng xã hội  
đảo điên. Mâu thuẫn xã hội được giải thích bằng mâu  
thuẫn siêu hình của triết lý Phật giáo phải chăng là  
cách nhà nho phản ánh hiện thực nhưng không bị liệt  
vào loại “yêu thư, yêu ngôn”. Và ông hy vọng nó sẽ  
mang lại một giá trị nhân sinh.  
2.2.3. Tư tưởng “Nhân duyên”, “Luân hồi  
chuyển kiếp” và khát vọng hạnh phúc  
Phật giáo cho rằng linh hồn của con người là bất  
diệt, linh hồn có thể rời bỏ thể xác mà tồn tại độc lập.  
Sinh là sự kết hợp giữa linh hồn và hình thể mới, chết  
là linh hồn rời bỏ hình thể cũ. Một con người sau khi  
chết, thần linh dựa vào quy luật “nhân quả báo ứng”  
đầu thai trở lại, gọi là “đầu thai chuyển kiếp”. “Đầu  
thai chuyển kiếp” có thể là người, cũng có thể là vật,  
quỷ, thần. Nho giáo không quan tâm đến vấn đề con  
người sau khi chết, Đạo giáo thì chỉ chú ý đến cuộc  
sống hiện thế. Phật giáo cho rằng con người trên con  
đường chuyển kiếp đó phải trải qua 5 kiếp nạn khổ  
ái luân hồi. Phật giáo nói “chuyển kiếp” là để nói rõ  
thuyết nhân quả, con người hiểu được nhân quả là có  
thật, từ đó mà né tránh việc ác hướng về điều thiện,  
đồng thời cuối cùng là thoát khỏi nỗi thống khổ của  
luân hồi sinh tử.  
Việc “chuyển kiếp” quyết định ở “duyên”. Chữ  
Duyên (hàm nghĩa là duyên khởi, duyên sinh, nhân  
duyên) trong tiếng Sanskrit là pratĩtyasamutpãda  
(chữ Hán: 缘起). Nguyên gốc chữ “Duyên” bắt nguồn  
từ chữ Sanskrit “paccaya” có hàm nghĩa vô cùng rộng  
lớn: chuyển động, nương nhờ, nâng đỡ, nguyên do,  
nền tảng của mọi sinh tồn và chuyển hóa. Thuật ngữ  
Thập nhị nhân duyên là bài học vỡ lòng vĩnh viễn  
cho những ai hướng về đạo Phật, thuật ngữ này có  
mặt trong bộ thứ 7 của tạng Thắng pháp, gọi là bộ  
Pathãna. Bộ này có hai phần: Duyên hệ (hỗ trợ cho  
các pháp sinh được vững mạnh) và Duyên sinh (từ  
cái này, cái kia có). Chữ Duyên cốt tuỷ là một định  
danh triết học về đời sống, nhưng bản thân nó không  
đóng đinh trên đài kinh điển mà đi vào đời sống, biến  
triết học tư tưởng thành triết lý đời sống. Chữ Duyên  
đi vào cuộc sống Việt Nam gần gũi và đượm màu thế  
tục, không chỉ còn cắt nghĩa một vòng đời đau đớn  
của vô minh và luân hồi mà còn tự sản sinh ra một  
mối tình với các trạng thái tinh thần khác - “nhân  
duyên”. Điều này cho thấy triết lý Phật giáo tồn tại  
bền bỉ và sâu thẳm trong cuộc sống người dân Việt  
xưa. Nguyễn Dữ với các truyện Từ Thức lấy vợ tiên,  
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Cây gạo,  
Tư tưởng luân hồi kiếp khác của Phật giáo và  
tâm lí trọng sinh tử của người Việt Nam có điểm  
tương đồng. Lấy Truyền kỳ mạn lục xem xét, chúng  
ta thấy “chuyển kiếp” không chỉ trở thành nội dung  
chủ yếu của yêu cầu tự sự trong câu chuyện, hơn  
nữa nó trở thành một kiểu kết cấu tình tiết truyện.  
Nói cách khác, “chuyển kiếp” trong nhiều truyện  
Truyền kỳ mạn lục trở thành điểm then chốt trong  
60  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 56-63  
duyên, chuyển kiếp của Phật giáo phù hợp với sự bất  
lực của con người với hiện thế và niềm ngóng trông  
tương lai. Con người dựa vào lí tưởng của bản thân  
vận dụng lí giải theo một cách khác tư tưởng của Phật  
giáo hay mượn tư tưởng Phật giáo khoác lên hàm ý  
nội dung mới. Điều này khiến tư tưởng nhân duyên,  
giải thoát, chuyển kiếp của Phật giáo được thể hiện  
thành một thủ pháp biểu đạt tình cảm con người.  
Chuyện yêu quái ở Xương Giang, Chuyện kỳ ngộ ở  
trại Tây, Chuyện oan nghiệp của Đào thị,... đề cập  
đến chữ “nhân duyên”. Các truyện Cây gạo, Chuyện  
yêu quái ở Xương Giang, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây,  
Chuyện oan nghiệp của Đào thị kể về “nhân duyên”  
giữa người với ma quỷ.  
Các truyện Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái  
Châu, Từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện nàng Lệ Nương  
lại kể về “nhân duyên” giữa con người với nhau,  
con người với thần tiên. Ở các truyện trên, luân hồi  
chuyển kiếp là chỗ dựa của tình cảm bền lâu. Năm  
tháng đi qua, sinh tử vô tình, u minh trăm lối, nhưng  
tất cả đều không thể chia cắt nổi tình cảm chân thành  
giữa nhân gian. Các truyện Cây gạo, Chuyện yêu quái  
ở Xương Giang, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây, Chuyện  
oan nghiệp của Đào thị, Từ Thức lấy vợ tiên lại nhấn  
mạnh “nhân duyên” của hai thế giới, là tình cảm chân  
thành tha thiết không đổi thay giữa giới hạn người  
với thần tiên, người với ma quỷ. “Nhân duyên” nam  
nữ giữa con người với lực lượng thần kỳ được nói  
đến trong các truyện của Truyền kỳ mạn lục là thứ  
tình cảm vượt qua không gian và thời gian. Với hình  
thức “chuyển kiếp” và “nhân duyên” tình yêu được  
biểu hiện lên thật đẹp đẽ và cảm động lòng người. Ở  
đây, có thể thấy rằng, tư tưởng Phật giáo trong truyện  
truyền kỳ của Nguyễn Dữ đã có những thay đổi căn  
bản. Trong Truyền kỳ mạn lục, thế giới quan, nhân  
sinh quan Phật giáo với nhân duyên, chuyển kiếp,  
giải thoát đã có những điểm gần gũi với nhân sinh  
quan của người dân Việt, gắn với Phật giáo thế tục  
hóa. Một mặt, phản ánh thời kỳ Lê - Mạc là thời kỳ  
Phật giáo thế tục hóa. Phật giáo đi sâu vào đời sống  
hiện thế của người dân Việt. Chỗ quan tâm của con  
người thời kỳ này không phải là giải thoát, xuất thế,  
mà là đem Phật giáo làm trung gian để khẩn cầu lợi  
ích hiện thế. Con người mượn tín Phật, cầu Phật để  
đạt được hạnh phúc hiện thế, tiến lên một bước cầu  
mong vinh hoa an lạc thế giới bên kia. Dưới tâm lý  
chung như thế, sắc màu thế tục của nhân sinh quan,  
thế giới quan Phật giáo được nhấn mạnh.  
2.2.4. Thế giới địa ngục Phật giáo và giá trị  
phản ánh hiện thực  
Truyền kỳ mạn lục chủ yếu viết về con người  
trong các mối quan hệ xã hội nên không gian trần thế  
chiếm vị trí quan trọng. Tuy nhiên, trong tác phẩm,  
nhân vật ma quỷ cũng chiếm một số lượng không ít  
nên không gian kỳ ảo mà ở đây là địa ngục cũng được  
tác giả chú ý. Thế giới quan Phật giáo cho là có 6 cõi  
luân hồi: Cõi trời (tiếng Phạn: deva), Cõi thần (tiếng  
Phạn: asura), Cõi người (tiếng Phạn: manussa), Cõi  
súc sinh (tiếng Phạn: tiracchānayoni), Cõi ngạ quỷ  
(tiếng Phạn: petta), Cõi địa ngục (tiếng Phạn: niraya).  
Đặc điểm chung của các cõi luân hồi là vô thường,  
chúng sinh sau khi chết sẽ được tái sinh vào một  
trong 6 cõi này. Con người không thể thoát khỏi quy  
luật sinh tử, luân chuyển trong 6 cõi đó như bánh xe  
vĩnh viễn không thoát ra được. Luân hồi do nghiệp  
tạo thành. Do đó, nếu con người hành thiện sẽ lưu  
chuyển trong 3 cõi thiện, nếu con người làm việc ác  
sẽ rơi vào 3 cõi ác. Địa ngục là tầng thấp nhất trong  
3 cõi ác, là nơi phán xét cuối cùng. Người làm việc  
ác có thể trốn tránh báo ứng trong hiện thế, nhưng  
không thể thoát khỏi sự trừng phạt ở địa ngục sau khi  
chết. Trong quan niệm của người Việt Nam từ xưa,  
địa ngục của Phật giáo gắn với thế giới tối tăm sau  
khi chết, với hồn ma và bóng quỷ. Thế giới địa ngục  
trong Truyền kỳ mạn lục được miêu tả là nơi phát sinh  
những câu chuyện sau cái chết của con người. Ở đó  
có 24 toà Phong Đô, ngục Cửu U lạnh lẽo tối tăm,  
nơi đày đoạ kẻ ác trầm luân kiếp kiếp (Chuyện chức  
phán sự đền Tản Viên, Chuyện tướng Dạ Xoa, Chuyện  
Lý tướng quân, Chuyện trà đồng giáng sinh, Chuyện  
yêu quái ở Xương Giang). Các câu chuyện trên đã ít  
nhiều miêu tả thế giới địa ngục với các cực hình ghê  
rợn. Cùng với tư tưởng “nhân quả báo ứng” là lời cảnh  
báo nhân thế nếu làm việc ác sẽ nhận được cực hình  
tàn khốc, sự hành hạ, đoạ đày đích đáng nơi địa ngục,  
vĩnh viễn không có ngày giải thoát. Chúng ta chứng  
kiến quang cảnh các phiên toà xử tội những người  
Một mặt, Truyền kỳ mạn lục miêu tả những hiện  
thực thời Lê - Mạc với triều đại đổi thay, xã hội rối  
loạn bất an, người dân khốn cùng lưu lạc trong nội  
chiến. Hiện thực rối ren khiến con người chịu đựng  
bao khổ đau đã bắt đầu tìm kiếm sự an ủi tinh thần.  
Cuộc đời này không thể gặp nhau, niềm hy vọng hạnh  
phúc sẽ được gửi gắm vào kiếp khác. Tư tưởng nhân  
61  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
độc ác ở trần gian với các hình phạt khủng khiếp ở được phản ánh trong truyện thể hiện mơ ước về một  
Cửu U và lời tuyên của các vị thần về trầm luân kiếp thế giới hiện thực công minh, bình đẳng. Thế giới  
kiếp không bao giờ thoát ra được của viên quan họ  
Lý (Chuyện Lý tướng quân), của lũ ma quỷ (Chuyện  
tướng Dạ Xoa), của tên giặc họ Thôi (Chuyện chức  
phán sự đến Tản Viên),... Kinh Địa tạng bồ tát bổn  
nguyện miêu tả thế giới địa ngục với rất nhiều cực  
hình khủng khiếp đáng sợ, giảng giải rất nhiều về việc  
làm điều ác mà rơi vào địa ngục tối tăm, từ đó cảnh  
cáo chúng sinh, cũng như khuyên con người nên dốc  
lòng hướng thiện. Nguyễn Dữ mượn thế giới địa ngục  
để làm nổi bật sự tối tăm, thối nát của hiện thực nhân  
gian và cũng là cảnh báo với con người.  
nhân gian không có bình đẳng thì mượn thế giới địa  
ngục để thực hiện “nhân quả báo ứng”. Ở đây, nhân  
quả báo ứng của Phật giáo gần gũi với triết lý hành  
động của nhân dân, một triết lý công bằng, giàu tính  
nhân văn, hợp lẽ tự nhiên. Nguyễn Dữ đã cho thấy  
cái hợp lý ẩn dưới cái phi lý, nội dung xã hội dần dần  
lấn bước khái niệm siêu hình, hình tượng văn học ca  
ngợi khát vọng sống của nhân dân, phê phán những  
thế lực phong kiến hủ bại, suy đồi. Trong xung đột,  
trong đấu tranh, bài ca thắng lợi thuộc về lực lượng  
chính nghĩa và tiến bộ. Ở đây địa ngục chứng minh  
nhân quả báo ứng, quan trọng hơn là tương phản để  
làm nổi bật thế giới đen tối, bất công của hiện thực  
Trong Truyền kỳ mạn lục, địa ngục không chỉ  
là để giảng giải về thuyết quả báo, quan trọng hơn,  
địa ngục là một hình ảnh thu nhỏ của thế giới hiện nhân gian và khát vọng hạnh phúc.  
thực. Thế giới địa ngục là một cách phản ánh thế giới  
hiện thực cuộc sống trần thế. Vì thế, thế giới địa ngục  
không phải khi nào cũng được hình dung như một  
không gian trừng phạt sau cái chết với những dòng  
sông đưa đón linh hồn, với quỷ dữ canh gác và hằng  
hà sa số các loại nhục hình. Nguyễn Dữ còn xây dựng  
hình ảnh địa ngục là một thế giới đem lại điều “tốt  
đẹp” cho người sống “tu nhân tích đức”. Địa ngục  
trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Chuyện  
tướng Dạ Xoa, Chuyện Lý tướng quân,... là đối ảnh  
của hiện thực. Địa ngục là nơi thay đổi thân phận,  
số phận của con người (Cây gạo, Chuyện Phạm Tử  
Hư lên chơi thiên tào, Chuyện người con gái Nam  
Xương, Chuyện tướng Dạ Xoa). Tại địa ngục, những  
kẻ sĩ khảng khái, chính trực kiên quyết chống gian  
tà có cơ hội thẳng thắn vạch trần tội ác của thế lực  
ma quỷ với đầy đủ chứng cớ và được ban thưởng, tái  
sinh, trọng dụng (Văn Dĩ Thành - Chuyện tướng Dạ  
Xoa, Ngô Tử Văn - Chuyện chức phán sự đền Tản  
Viên). Ở đây, kẻ mang tội ác đã bị đền tội, người  
oan khuất được minh oan, mang lại công bằng cho  
người chính trực. Trong Truyền kỳ mạn lục, nhiều  
trường hợp con người tìm đến địa ngục là tìm đến sự  
giải thoát cho bản thân. Trong thế giới địa ngục, có  
một nhân vật chúng ta phải nhắc tới là Diêm Vương.  
Diêm Vương là người đứng đầu Minh ti, trực tiếp  
phán xử vụ án oan khuất ở trần gian. Với tư cách là  
“thẩm phán” phiên toà, Diêm Vương đã suy xét mọi  
chuyện và nghị án một cách công bằng. Qua nhân  
vật Diêm Vương, chúng ta có thể thấy một thế giới  
địa ngục thanh bình, nhân tâm thị tài là một cách phủ  
định thế giới hiện thực. Thế giới của Diêm Vương  
3. Kết luận  
Tóm lại, dấu ấn nhân sinh quan Phật giáo trong  
Truyền kỳ mạn lục là một dấu ấn đương nhiên trong  
thời đại Nguyễn Dữ sống (một thời đại gây phiền não  
sâu sắc về tinh thần của con người). Sự thấm trải triết  
lý Phật giáo của nhà Nho này ở chiều sâu của cảm thức  
dân gian và suy nghiệm cá nhân. Ông đã đem triết lý  
nhân sinh lĩnh hội từ Phật giáo hòa vào sáng tác của  
mình, khiến tác phẩm giàu dư vị triết học sâu xa và  
có giá trị hiện thực sâu sắc. Đúng như nhận định của  
Trần Ích Nguyên: “Nguyễn Dữ mượn Truyền kỳ mạn  
lục để trữ phát niềm cô phẫn, thổ lộ nỗi bất bình đau  
đớn với giới cầm quyền đương thời và với tình hình  
xã hội loạn lạc; tác phẩm của ông không chỉ hạn hẹp  
ở chỗ khuyên răn người đời mà còn ngụ nỗi đau đời”  
(Trần Ích Nguyên, 2000, tr. 7). Có thể nhận thấy nhân  
sinh quan Phật giáo có ảnh hưởng rất quan trọng quan  
niệm sáng tạo, nội dung và hình thức của tác phẩm  
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Nhân sinh quan  
Phật giáo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ,  
một kiệt tác văn học ra đời trong bối cảnh xã hội Việt  
Nam thời kỳ đất nước loạn lạc, tư tưởng Nho giáo  
khủng hoảng sâu sắc, bản thân ông nhận thức rõ nét  
tình trạng xã hội đen tối và tai họa chiến tranh, cho  
thấy thái độ bất mãn với thời cuộc của nhà Nho và là  
một diễn ngôn của “giải thoát”. Thông qua sáng tác  
của mình, Nguyễn Dữ khẳng định lại những giá trị  
nhân sinh như nhân quả ứng báo, khuyến thiện trừng  
ác, tu nhân tích đức... trong tâm linh người Việt Nam  
cũng chính là mong muốn duy trì, phát triển văn hóa  
truyền thống của xã hội Việt Nam. Do vậy, trong tác  
62  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 6, 2021, 56-63  
phẩm Truyền kỳ mạn lục các tư tưởng triết lí Phật Narada Thera. (2009). Phật giáo yếu lược (Thích Trí  
giáo được phản ánh khi thẩm thấu qua văn hóa, xã  
hội Việt Nam có những tiếp biến đổi thay. Những ý  
nghĩa triết lí của tư tưởng Phật giáo đã góp phần biểu  
hiện ra một cách nổi bật tinh thần thế tục Việt Nam.  
Chơn (dịch). Thành phố Hồ Chí Minh: NXB  
Phương Đông.  
Nguyễn Dữ. (1999). Truyền kỳ mạn lục (Ngô Văn  
Triện (dịch). Thành phố Hồ Chí Minh: NXB  
Văn nghệ.  
Ghi chú:  
Chữ dùng của Kenneth DeWoskin và Nguyễn Công Lý và Đoàn Lê Giang. (2016). Văn học  
J.I.Crump. (1996). In search of the Supernatural:  
The Written Record (Sưu thần ký). Stanford: Stanford  
University Press, 52.  
Phật giáo Việt Nam: thành tựu và định hướng  
nghiên cứu mới. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB  
Khoa học Xã hội.  
Xét về yếu tố thời đại, khi nhà Mạc lên ngôi, Nguyễn Thị Kim Ngân. (2017). Folklore và văn học  
luân lí phong kiến Việt Nam thời trung đại bị khủng  
hoảng trầm trọng. Khi sự kiềm toả của Nho giáo bị rạn  
nứt thì các tôn giáo khác như Phật giáo, Đạo giáo, tư  
tưởng Lão Trang, có cơ phục hồi và phát triển trở lại.  
Đó là chưa kể Nho giáo không thâm nhập sâu được  
vào đời sống của quần chúng nhân dân Việt Nam.  
viết nghiên cứu từ góc độ dịch chuyển không  
gian trong truyện cổ tích và truyện truyền kỳ.  
Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Thích Đức Nghiệp. (P.L: 2539 - 1995). Đạo Phật Việt  
Nam. Thành phố Hồ Chí Minh: Thành hội Phật  
giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành.  
Thời kỳ Lê - Mạc, Phật giáo bị đẩy lùi về  
nông thôn, người Việt chủ yếu chỉ tiếp thu Tịnh độ  
tông. Phái này thờ Phật A-di-đà và chủ trương nếu cứ  
niệm tên ngài (Nam mô A-di-đà Phật) thật nhiều lần  
thì đến một độ nào đó sẽ đạt được giác ngộ. Tịnh độ  
tông chủ trương một cuộc sống hiện thế lương thiện,  
lành mạnh, trong sạch phù hợp với người bình dân  
Việt vốn thực tế, thực dụng.  
Trần Ích Nguyên. (2000). Nghiên cứu so sánh Tiễn  
đăng tân thoại & Truyền kỳ mạn lục (Phạm Tú  
Châu, Trần Băng Thanh, Nguyễn Thị Ngân  
(dịch). Hà Nội: NXB Văn học.  
Trần Ngọc Vương (chủ biên). (2018). Văn học Việt  
Nam thế kỷ X - XIX những vấn đề lí luận và lịch  
sử. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia.  
Vũ Thanh. (2018). Thể loại truyện kỳ ảo Việt Nam  
thời trung đại - quá trình nảy sinh và phát triển  
đến đỉnh điểm. Trong Trần Ngọc Vương (chủ  
biên), Văn học Việt Nam thế kỷ X - XIX những  
vấn đề lí luận và lịch sử (770-809). Hà Nội:  
NXB Đại học Quốc gia.  
Tài liệu tham khảo  
Daisetz Teitaro Suzuki. (1992). Thiền luận (Quyển  
trung). Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Thành  
phố Hồ Chí Minh.  
Kneneth DeWoskin và J.I. Crump. (1996). In search  
of the Supernatural: The Written Record (Sưu  
thần ký). Stanford: Stanford University Press.  
Viện Sử học. (1977). Lê Quý Đôn - Kiến văn tiểu lục.  
Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.  
63  
pdf 8 trang baolam 29080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số biểu hiện của nhân sinh quan phật giáo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bieu_hien_cua_nhan_sinh_quan_phat_giao_trong_truyen_k.pdf