Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh trong đọc hiểu văn bản văn học
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh
trong đọc hiểu văn bản văn học
Nguyễn Thị Thanh Nga
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Email: ngavninc[email protected]
TÓM TẮT: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn mới hướng tới mục
tiêu phát triển phẩm chất và năng lực người học, trong đó có năng lực sáng
tạo.Từ định hướng trên, bài viết tập trung làm rõ cấu trúc năng lực sáng tạo
của học sinh trong đọc hiểu văn bản văn học. Bài viết trình bày tổng quan một
số quan niệm về năng lực sáng tạo, năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra quan niệm về năng lực sáng tạo trong đọc
hiểu văn bản văn học, đề xuất cấu trúc năng lực sáng tạo trong đọc hiểu văn
bản văn học với các thành tố và chỉ số cụ thể. Tác giả bài viết đồng thời đã
thiết lập được bảng mô tả đường phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
trong đọc hiểu văn bản văn học với các mức độ từ thấp đến cao.
TỪ KHÓA: Chương trình; năng lực sáng tạo; cấu trúc năng lực sáng tạo; đọc hiểu; văn bản
văn học; trường trung học cơ sở.
Nhận bài 10/11/2018 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 16/12/2018 Duyệt đăng 25/01/2019.
thụ động nghe giảng. Để giải quyết thực trạng trên, chúng tôi
cho rằng cần làm rõ bản chất khái niệm sáng tạo, NLST thể
1. Đặt vấn đề
Theo chương trình (CT) giáo dục phổ thông (GDPT) môn
Ngữ văn, mục tiêu hướng tới của môn Ngữ văn ngoài việc phát hiện trong môn Ngữ văn, trong đọc hiểu VBVH, phân giải cấu
triển những phẩm chất cao đẹp cho học sinh (HS), còn: “Góp
phần giúp HS phát triển các năng lực (NL) chung như NL tự
chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề
và sáng tạo. Đặc biệt, CT môn Ngữ văn giúp HS phát triển NL
ngôn ngữ và NL thẩm mĩ thông qua các hoạt động đọc, viết,
nói và nghe; cung cấp hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng
về văn học và tiếng Việt, để góp phần phát triển vốn học vấn
căn bản của một người có văn hoá; hình thành và phát triển con
người nhân văn, biết tiếp nhận, cảm thụ, thưởng thức, đánh giá
các sản phẩm ngôn từ và các giá trị cao đẹp trong cuộc sống”
[1]. Như vậy, CT môn Ngữ văn đã bắt kịp xu hướng quốc tế
trong việc hướng tới phát triển NL người học. Ngoài các NL
chuyên môn đặc thù như NL ngôn ngữ và NL văn học, môn
Ngữ văn còn nhằm phát triển các NL chung trong đó có NLST.
Đây là một trong những NL quan trọng, không thể thiếu của
công dân thế kỉ XXI.
trúc của NLST từ đó xây dựng đường phát triển NLST của HS
trong môn Ngữ văn với các chỉ báo cụ thể. Trên cơ sở đó, GV
có những biện pháp tác động phù hợp nhằm phát triển NLST
của người học và giúp cho việc đánh giá đạt hiệu quả.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn
Theo kinh nghiệm của các nước, khi xác định các NL trong
môn học cần thể hiện được: quan niệm về NL, các thành tố
của NL, các chỉ số biểu hiện cụ thể của từng thành tố và
theo các mức độ khác nhau, từ đó thiết lập đường phát triển
NL. Đây chính là cơ sở để xác định mạch nội dung và thiết
lập chuẩn đầu ra NL của môn học. Theo đó, để xác định
được cấu trúc của NLST trong môn Ngữ văn, cần làm rõ
khái niệm NLST.
Môn học nào cũng cần có nhiệm vụ phát triển NLST người
học. Tuy nhiên, do đặc thù môn học, với mỗi lĩnh vực lại có
những đặc trưng riêng. Khác với các môn khoa học, cảm thụ
nghệ thuật bắt đầu từ sự tái tạo lại hình tượng văn học để rồi đi
đến những sự sáng tạo rất riêng ở mỗi một đối tượng tiếp nhận.
Từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, mỗi người có một nàng Kiều
của riêng mình, và ở cùng một con người nàng Kiều của ngày
hôm nay có thể khác nàng Kiều của nhiều những năm sau đó.
“Sáng tạo trong văn chương vì vậy là vô hạn” và cũng là bắt
buộc, là đặc thù bởi bản chất của cảm thụ văn chương là sáng
tạo. Chính vì vậy, một trong những trách nhiệm của người thầy
là làm sao khơi nguồn được sự sáng tạo, thổi bùng lên ngọn
lửa sáng tạo và phát triển NLST đó ở người học. Nhưng làm
thế nào để phát triển được NLST của người học trong môn
Ngữ văn. Thực tế qua việc giảng dạy và dự giờ ở nhà trường
phổ thông cho thấy môn học này đang thiếu đi sự sáng tạo khi
2.1.1. Khái niệm năng lực sáng tạo
Nghiên cứu về NLST ở các lĩnh vực khác nhau xuất hiện
khá nhiều trong những năm gần đây. Các tác giả đã cố gắng
làm rõ và đưa ra những cách diễn đạt khác nhau về NLST.
Nghiên cứu về NLST, tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng:
“NLST là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết
vấn đề một cách mới mẻ của con người” [2]. Cùng quan
điểm trên, tác giả Trần Thị Bích Liễu đã đưa ra quan điểm:
“NLST được xem là khả năng của một người sản sinh các
ý tưởng mới, nhìn nhận vấn đề theo cách mới, phát hiện cái
mới trong cấu trúc cũ của sự vật hiện tượng để tạo ra các
sản phẩm mới. Sản phẩm của sáng tạo là ý tưởng, vật dụng
mới, cấu trúc mới” [3].
Tác giả Hoàng Thị Thúy Hương cho rằng: “NLST là
phương pháp dạy học chủ đạo của GV vẫn là thuyết trình, HS NL tìm thấy những ý nghĩa mới, những mối quan hệ mới,
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
66
Nguyễn Thị Thanh Nga
những ý tưởng mới, là NL chứa đựng sự khám phá, sự phát theo cách sáng tạo. Qua quá trình rèn luyện từ thấp đến cao,
minh, sự đổi mới độc đáo...khi giải quyết vấn đề và giải HS có được khả năng đề xuất ý tưởng và tạo ra sản phẩm
quyết vấn đề một cách hiệu quả” [4].
mới trong học tập và cuộc sống, suy nghĩ không theo lối
Theo tác giả Phạm Thị Bích Đào: “NLST là khả năng mòn, nhờ đó đề xuất được các giải pháp phù hợp với bối
thực hiện được những điều sáng tạo, là quá trình hình thành cảnh” [1]. Như vậy, NLST trong môn Ngữ văn được thể
những ý tưởng mới, tạo ra sản phẩm mới hoặc đưa ra những hiện ở cả tạo lập văn bản và tiếp nhận văn bản. Với tạo lập
cách thức mới nhận xét sự vật. NLST của mỗi cá nhân thể văn bản, NLST thể hiện trong nói và viết, với tiếp nhận văn
hiện ở chỗ cá nhân đó có thể mang lại những giá trị mới,
những sản phẩm mới có ý nghĩa” [5].
bản, NLST thể hiện chủ yếu trong đọc.
Chưa có nhiều những nghiên cứu về cấu trúc NLST trong
môn Ngữ văn. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân trên cơ sở
phân tích các biểu hiện của NLST trong môn Ngữ văn đã
đề xuất mô hình cấu trúc NLST trong môn Ngữ văn theo
các thành phần NL và các chỉ số được thể hiện như sau [6]
(Xem Hình 1).
Sắp xếp các chỉ số trong sơ đồ ở Hình 1 theo mức độ từ
thấp đến cao, tác giả cũng đã đồng thời đưa ra bảng mô tả
đường phát triển NLST của HS trong môn học Ngữ văn.
Chúng tôi cơ bản đồng ý với đề xuất của tác giả. Chúng
tôi cũng cho rằng cấu trúc của bất kì một NL nào cũng được
xác định dựa trên ba thành tố cốt lõi của NL đó là: Kiến
thức, kĩ năng, phẩm chất (động cơ, thái độ, ý chí...) của
người học. Bởi vậy cấu trúc của NLST cũng sẽ bị chi phối
bởi nhiều yếu tố ảnh hưởng. Theo chúng tôi, có bốn yếu tố
ảnh hưởng đến NLST của người học trong môn Ngữ văn:
đặc điểm nhiệm vụ học tập, môi trường và bối cảnh, kiến
thức nền của người học, nhân cách người học. Để có khả
năng sáng tạo ra cái mới trong môn Ngữ văn nói chung và
Tuy cách diễn đạt có phần khác nhau nhưng các tác giả đã
có những điểm chung trong nỗ lực định nghĩa về NLST với
các từ chìa khóa như: khả năng làm ra cái mới, riêng biệt,
độc đáo, ý tưởng, giải pháp, hiệu quả, hữu ích...Như vậy,
có thể khẳng định: NLST chính là khả năng làm ra cái mới
gồm ý tưởng mới, giải pháp mới, sản phẩm mới ở những
mức độ khác nhau, là cách giải quyết vấn đề trong học tập,
cuộc sống theo một cách riêng biệt, mới mẻ và có hiệu quả
dựa trên nền tảng kiến thức, kĩ năng và phẩm chất.
Cũng như các NL khác, NLST được thể hiện và đo lường
thông qua hành động. Không ít ý kiến cho rằng NLST chỉ
có ở những thiên tài và mang tính bẩm sinh. Tuy nhiên, với
quan niệm trên về NLST, chúng tôi cho rằng NLST không
phải là điều thần bí, xa vời mà sẵn có ở mỗi người, ở mọi
lứa tuổi và biểu hiện ở những mức độ khác nhau.
2.1.2. Cấu trúc năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn
CT GDPT mới đề cập đến NLST như một trong những
NL chung cần được hình thành và phát triển ở mỗi người đọc hiểu nói riêng, HS phải được trang bị kiến thức nền về
học, qua các môn học. Với môn Ngữ văn, NLST được thể tác giả, tác phẩm, hiểu thấu đáo nội dung, ý nghĩa và đặc
hiện như sau: “Môn Ngữ văn trong CT giáo dục mới đề cập điểm nghệ thuật của tác phẩm đó. Mặt khác, HS cần có môi
đến vai trò HS với tư cách là bạn đọc tích cực, chủ động trường sáng tạo. HS sẽ sáng tạo hơn khi GV tạo cơ hội,
không chỉ trong tiếp nhận mà còn trong việc tạo nghĩa cho khích lệ, động viên bằng những hành động, lời nói cụ thể.
văn bản. Qua việc học môn Ngữ văn, HS có kĩ năng viết, Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến môi trường vật chất và
bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng và triển khai ý tưởng môi trường tinh thần trong lớp học. Ngoài ra, NLST còn bị
Hình 1: Mô hình cấu trúc NLST trong môn Ngữ văn
Số 13 tháng 01/2019
67
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
quyết vấn đề của CT GDPT tổng thể, bảng mô tả cấu trúc NL
đọc hiểu của tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền [7], chúng tôi đề
xuất bảng mô tả cấu trúc NLST trong đọc hiểu VBVH như sau
(xem Bảng 1).
chi phối bởi yếu tố nhân cách người học. HS không chỉ có
khả năng nhận thức mà còn có niềm say mê, óc tò mò, ham
tìm tòi khám phá. Một yếu tố nữa cũng không kém phần
quan trọng thúc đẩy sự sáng tạo của người học là đặc điểm
nhiệm vụ học tập. Với môn Ngữ văn, để phát triển NLST
của HS, nhiệm vụ học tập cần hứng thú, hấp dẫn. Các tác
phẩm văn học cần có nhiều vấn đề, nhiều khoảng trống để
người đọc sáng tạo, đưa ra những ý kiến, quan điểm riêng
cá nhân mình.
2.4. Đường phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong
dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Sắp xếp các chỉ số trong sơ đồ theo các mức độ từ thấp
đến cao, chúng tôi thiết lập được bảng mô tả đường phát triển
NLST của HS trong đọc hiểu VBVH như sau (xem Bảng 2).
Đối chiếu với các mức độ phát triển NL thì HS tiểu học có
thể đạt mức 3; trung học cơ sở có thể đạt mức 4, thậm chí
mức 5 và trung học phổ thông có thể đạt mức 5 hoặc trên
mức 5. Tuy nhiên, với những HS xuất sắc, các em có thể đạt
mức độ cao hơn so với trung bình của cấp, thậm chí vượt cả
mức 5 song cũng có em chưa thể đạt được mức 1. Vì vậy,
đường phát triển NL nói chung thường được mô phỏng bởi
mũi tên hai chiều, để có thể tiếp tục mô tả và điều chỉnh sao
2.3. Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh trong đọc hiểu
băn bản văn học
NLST của HS trong đọc hiểu văn bản văn học (VBVH) là
việc làm ra cái mới, có ý nghĩa từ văn bản đối với bản thân (giá
trị mới) và xã hội. Cái mới đó là cách nhìn mới, giá trị mới, sự
vận dụng mới mẻ vào giải quyết những vấn đề đời sống và xã
hội, là sáng tạo ra sản phẩm mới trên cơ sở gợi ý của văn bản.
Dựa trên bảng cấu trúc NLST trong môn Ngữ văn của tác
giả Nguyễn Hồng Vân, bảng mô tả cấu trúc NLST và giải cho phù hợp với đối tượng được đánh giá.
Bảng 1: Cấu trúc NLST của HS trong đọc hiểu VBVH
NLST của HS trong đọc hiểu VBVH
Thành tố
Chỉ báo
Biểu hiện
1. Hình dung lại thế 1.1. Dựng lại được thế giới nghệ - Nắm được nội dung cốt lõi của văn bản.
giới nghệ thuật của thuật trong VBVH
văn bản theo cảm
nhận của cá nhân
- Dựng lại được thế giới nghệ thuật trong văn bản bằng ngôn ngữ của cá nhân.
- Tái hiện lại được một phần thế giới nghệ thuật trong văn bản bằng các hình thức
khác (vẽ, viết, kịch...).
1.2. Có cách diễn đạt thế giới - Sử dụng những ngôn ngữ riêng (từ ngữ, cách diễn đạt) của bản thân để kể lại được
nghệ thuật mới mẻ theo ngôn văn bản.
ngữ, cách nhìn của cá nhân
- Tái tạo lại thế giới nghệ thuật trên cơ sở rút gọn, tóm tắt một số chi tiết trong văn
bản.
- Tái tạo lại thế giới nghệ thuật của văn bản trên cơ sở tưởng tượng thêm một số
chi tiết mới.
2. Phát hiện và lí giải 2.1. Phát hiện vấn đề mới lạ - Nhận ra cái mới trong nghệ thuật thể hiện (chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ...).
theo cách riêng của trong văn bản, tự đặt câu hỏi về - Phát hiện ra sự độc đáo trong cách nhìn, ý tưởng, quan niệm của tác giả thể hiện
mình về các yếu tố các vấn đề đó
của văn bản (Nội
trong văn bản.
- Tự đặt ra các câu hỏi thể hiện băn khoăn, suy nghĩ của cá nhân về vấn đề.
dung và Nghệ thuật)
2.2. Xem xét vấn đề của tác phẩm - Đưa ra các kiến giải khác nhau về vấn đề đặt ra trong văn bản.
dưới nhiều chiều, nhiều góc nhìn - Có sự so sánh, đối chiếu khi nhìn nhận một vấn đề.
2.3. Nêu quan điểm riêng, cách - Mạnh dạn đưa ra quan điểm riêng của cá nhân.
nhìn riêng của cá nhân về các - Không e ngại khi đưa ra những quan điểm trái chiều, khác biệt.
yếu tố trong văn bản
- Chấp nhận những phản hồi khác nhau về quan điểm của cá nhân mình.
3. Phát hiện giá trị văn 3.1. Xác định được các thông tin - Xác định được các thông tin cốt lõi về nội dung văn bản.
bản theo quan điểm có giá trị từ văn bản
cá nhân
- Xác định được các yếu tố nghệ thuật quan trọng của văn bản.
3.2. Phân tích, kết nối được các - Phân tích các thông tin.
thông tin theo cách nhìn riêng
- So sánh, đối chiếu các thông tin.
- Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản theo quan điểm cá nhân.
3.3. Đánh giá, phân tích, khẳng - Đánh giá giá trị của văn bản về nội dung theo quan điểm cá nhân.
định giá trị của văn bản về nội - Đánh giá giá trị nghệ thuật của văn bản theo cách nhìn riêng của cá nhân.
dung và nghệ thuật theo quan - So sánh giữa văn bản này và văn bản khác thể hiện phát hiện sâu về nội dung và
điểm cá nhân và so sánh văn nghệ thuật.
bản này với văn bản khác để thể - Rút ra bài học, giá trị riêng cho bản thân từ văn bản.
hiện phát hiện sâu về nội dung và
nghệ thuật của văn bản
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
68
Nguyễn Thị Thanh Nga
NLST của HS trong đọc hiểu VBVH
Thành tố Chỉ báo
Biểu hiện
4. Vận dụng sáng tạo 4.1. Vận dụng sáng tạo giá trị - Liên hệ, so sánh, đánh giá văn bản với các văn bản khác cùng đề tài, chủ đề.
giá trị của VBVH vào của VB vào giải quyết các nhiệm - Giải quyết được theo cách riêng của cá nhân các vấn đề liên quan đến văn bản
đời sống cá nhân
vụ học tập
trong các nhiệm vụ học tập.
4.2. Vận dụng sáng tạo các giá -Vận dụng những giá trị của văn bản để có thái độ, cách ứng xử đúng đắn, phù hợp
trị của văn bản vào giải quyết trong hành động thực tiễn.
các vấn đề đời sống (ứng xử, - Vận dụng giá trị của văn bản trong việc làm thay đổi suy nghĩ, hành vi, hình thành
hành động, quan điểm sống, giá trị sống của bản thân.
nhân cách...)
5. Có ý tưởng sáng 5.1. Ý tưởng chuyển thể văn bản - Chuyển thể VBVH sang loại hình khác (thơ, truyện...).
tạo sản phẩm mới VH sang các loại hình khác (thơ, - Sân khấu hóa tác phẩm văn học.
kịch, truyện..) - Các hình thức nghệ thuật khác.
5.2. Ý tưởng sáng tạo sản phẩm - Ý tưởng sáng tác tác phẩm văn học mới lấy cảm hứng, chủ đề từ văn bản.
mới trên cơ sở cảm hứng từ văn - Ý tưởng sáng tạo các sản phẩm nghệ thuật khác trên cơ sở cảm hứng từ văn
bản (sáng tác thơ, truyện, kịch, bản (vẽ tranh, thiết kế thời trang, điêu khắc, sáng tác âm nhạc, làm phim...).
phim, hội họa...)
Bảng 2: Đường phát triển NLST của HS trong dạy học đọc hiểu VBVH
Mức độ
Biểu hiện
5. Có ý tưởng tạo ra sản phẩm mới mang Có ý tưởng về việc tạo ra sản phẩm mới sau khi tiếp nhận văn bản như chuyển thể được văn bản
dấu ấn cá nhân
sang các thể loại khác theo cách riêng của mình; sáng tạo các sản phẩm mới trên cơ sở gợi ý của
văn bản đã đọc; sản phẩm mới phải mang màu sắc riêng của cá nhân, có ý nghĩa và có cách trình
bày mới lạ, độc đáo.
4. Đánh giá, khẳng định được giá trị của tác HS xác định được thông tin có giá trị từ văn bản; kết nối các thông tin theo cách nhìn riêng; biết
phẩm theo cách nhìn riêng từ đó vận dụng đánh giá và khẳng định giá trị của văn bản theo quan điểm cá nhân. Biết so sánh văn bản với các
linh hoạt sáng tạo vào đời sống và học tập văn bản khác. Từ đó HS biết vận dụng giá trị của văn bản vào giải quyết các nhiệm vụ nảy sinh
trong học tập và đời sống.
3. Lí giải, phân tích, đánh giá theo cách HS có thể đặt được nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; không
riêng về các yếu tổ trong văn bản
thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; có sự lí giải đánh giá theo quan điểm riêng về một số vấn
đề đặt ra trong văn bản.
2. Phát hiện các yếu tố mới, có vấn đề HS phát hiện được các yếu tố mới, có vấn đề trong văn bản; có những băn khoăn, thắc mắc và mạnh
trong văn bản dạn đặt ra được các câu hỏi xung quanh vấn đề có trong văn bản.
1. Hình dung lại thế giới nghệ thuật trong HS tri giác ngôn ngữ, bước đầu hiểu văn bản, từ đó hình dung, tái tạo lại được thế giới nghệ thuật
văn bản theo cảm nhận của cá nhân
trong văn bản theo cách riêng của mình. HS diễn đạt lại thế giới hình tượng của nhà văn theo ngôn
ngữ riêng, mang màu sắc cá nhân.
học đọc hiểu VBVH phát triển được NLST của HS, cụ thể với
3. Kết luận
Trên đây mới chỉ là những phác thảo ban đầu về cấu trúc và
đường phát triển NLST trong đọc hiểu VBVH. Trên thực tế,
NL là một khái niệm trừu tượng, NLST cũng là một phạm trù
không dễ đong đếm nên việc diễn giải và mô tả NL theo những
HS THCS cần tiếp tục phân tích, xác định những nhiệm vụ
học tập cụ thể tương ứng với mỗi mức độ NL và theo từng lớp;
đồng thời xây dựng các tiêu chí chất lượng, có minh họa bằng
biểu hiện cụ thể là một việc làm không dễ dàng. Để việc dạy các ví dụ để minh họa và đánh giá được các biểu hiện NL.
Số 13 tháng 01/2019
69
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình giáo dục
phổ thông môn Ngữ văn, dự thảo ngày 19 tháng 11 năm
2018.
[2] Huỳnh Văn Sơn, (2009), Tâm lí học sáng tạo, NXB Giáo
dục Việt Nam, Hà Nội.
[5] Phạm Thị Bích Đào, (2015), Phát triển năng lực sáng tạo
cho học sinh trong dạy học hóa học hữu cơ chương trình
Trung học phổ thông nâng cao”, Luận án Tiến sĩ Giáo
dục học, Trường Đại học Sư phạm Nội.
[6] Nguyễn Thị Hồng Vân, Xác định cấu trúc và đường phát
triển một số năng lực trong môn Ngữ văn ở trường phổ
thông, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 137, tháng 02,
tr.50.
[7] Đoàn Thị Thanh Huyền, (2016), Phát triển năng lực đọc
hiểu văn bản cho học sinh trung học phổ thông trong dạy
học ngữ văn (qua dữ liệu lớp 10), Luận án Tiến sĩ, Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội.
[3] Trần Thị Bích Liễu, (2013), Giáo dục phát triển năng lực
sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam.
[4] Hoàng Thị Thúy Hương, (2015), Xây dựng và sử dụng
hệ thống bài tập hóa học vô cơ nhằm phát triển năng lực
sáng tạo trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở
trường trung học phổ thông chuyên, Luận án Tiến sĩ Giáo
dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
STRUCTURE OF STUDENTS’ CREATIVE COMPETENCY
IN READING LITERARY TEXTS
Nguyen Thi Thanh Nga
The Vietnam National Institute of Educational Sciences
101 Tran Hung Dao, Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam
Email: ngavninc[email protected]
ABSTRACT: The general education program of new Literature aims to develop
the quality and competency of learners, including creative competency. From
this orientation, the article has focused on clarifying the structure of students’
creative capacity in reading literary texts. The article presented some concepts
of creative competence as well as creative competence in Literature. On
that basis, the author has provided the concept and the structure of creative
competence in reading literary texts with specific elements and indicators. The
author also set up a table describing the development process of students’
creative competency in reading literary texts from low to high level.
KEYWORDS: Curriculum; creative competence; creative competence structure; reading
comprehension; literary text; junior high school.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
70
Bạn đang xem tài liệu "Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh trong đọc hiểu văn bản văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cau_truc_nang_luc_sang_tao_cua_hoc_sinh_trong_doc_hieu_van_b.pdf

