Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh trong đọc hiểu văn bản văn học

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh  
trong đọc hiểu văn bản văn học  
Nguyễn Thị Thanh Nga  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam  
Email: ngavninc[email protected]  
TÓM TẮT: Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn mới hướng tới mục  
tiêu phát triển phẩm chất và năng lực người học, trong đó có năng lực sáng  
tạo.Từ định hướng trên, bài viết tập trung làm rõ cấu trúc năng lực sáng tạo  
của học sinh trong đọc hiểu văn bản văn học. Bài viết trình bày tổng quan một  
số quan niệm về năng lực sáng tạo, năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn.  
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra quan niệm về năng lực sáng tạo trong đọc  
hiểu văn bản văn học, đề xuất cấu trúc năng lực sáng tạo trong đọc hiểu văn  
bản văn học với các thành tố và chỉ số cụ thể. Tác giả bài viết đồng thời đã  
thiết lập được bảng mô tả đường phát triển năng lực sáng tạo của học sinh  
trong đọc hiểu văn bản văn học với các mức độ từ thấp đến cao.  
TỪ KHÓA: Chương trình; năng lực sáng tạo; cấu trúc năng lực sáng tạo; đọc hiểu; văn bản  
văn học; trường trung học cơ sở.  
Nhận bài 10/11/2018 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 16/12/2018 Duyệt đăng 25/01/2019.  
thụ động nghe giảng. Để giải quyết thực trạng trên, chúng tôi  
cho rằng cần làm rõ bản chất khái niệm sáng tạo, NLST thể  
1. Đặt vấn đề  
Theo chương trình (CT) giáo dục phổ thông (GDPT) môn  
Ngữ văn, mục tiêu hướng tới của môn Ngữ văn ngoài việc phát hiện trong môn Ngữ văn, trong đọc hiểu VBVH, phân giải cấu  
triển những phẩm chất cao đẹp cho học sinh (HS), còn: “Góp  
phần giúp HS phát triển các năng lực (NL) chung như NL tự  
chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề  
và sáng tạo. Đặc biệt, CT môn Ngữ văn giúp HS phát triển NL  
ngôn ngữ và NL thẩm mĩ thông qua các hoạt động đọc, viết,  
nói và nghe; cung cấp hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng  
về văn học và tiếng Việt, để góp phần phát triển vốn học vấn  
căn bản của một người có văn hoá; hình thành và phát triển con  
người nhân văn, biết tiếp nhận, cảm thụ, thưởng thức, đánh giá  
các sản phẩm ngôn từ và các giá trị cao đẹp trong cuộc sống”  
[1]. Như vậy, CT môn Ngữ văn đã bắt kịp xu hướng quốc tế  
trong việc hướng tới phát triển NL người học. Ngoài các NL  
chuyên môn đặc thù như NL ngôn ngữ và NL văn học, môn  
Ngữ văn còn nhằm phát triển các NL chung trong đó có NLST.  
Đây là một trong những NL quan trọng, không thể thiếu của  
công dân thế kỉ XXI.  
trúc của NLST từ đó xây dựng đường phát triển NLST của HS  
trong môn Ngữ văn với các chỉ báo cụ thể. Trên cơ sở đó, GV  
có những biện pháp tác động phù hợp nhằm phát triển NLST  
của người học và giúp cho việc đánh giá đạt hiệu quả.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn  
Theo kinh nghiệm của các nước, khi xác định các NL trong  
môn học cần thể hiện được: quan niệm về NL, các thành tố  
của NL, các chỉ số biểu hiện cụ thể của từng thành tố và  
theo các mức độ khác nhau, từ đó thiết lập đường phát triển  
NL. Đây chính là cơ sở để xác định mạch nội dung và thiết  
lập chuẩn đầu ra NL của môn học. Theo đó, để xác định  
được cấu trúc của NLST trong môn Ngữ văn, cần làm rõ  
khái niệm NLST.  
Môn học nào cũng cần có nhiệm vụ phát triển NLST người  
học. Tuy nhiên, do đặc thù môn học, với mỗi lĩnh vực lại có  
những đặc trưng riêng. Khác với các môn khoa học, cảm thụ  
nghệ thuật bắt đầu từ sự tái tạo lại hình tượng văn học để rồi đi  
đến những sự sáng tạo rất riêng ở mỗi một đối tượng tiếp nhận.  
Từ Truyện Kiều của Nguyễn Du, mỗi người có một nàng Kiều  
của riêng mình, và ở cùng một con người nàng Kiều của ngày  
hôm nay có thể khác nàng Kiều của nhiều những năm sau đó.  
“Sáng tạo trong văn chương vì vậy là vô hạn” và cũng là bắt  
buộc, là đặc thù bởi bản chất của cảm thụ văn chương là sáng  
tạo. Chính vì vậy, một trong những trách nhiệm của người thầy  
là làm sao khơi nguồn được sự sáng tạo, thổi bùng lên ngọn  
lửa sáng tạo và phát triển NLST đó ở người học. Nhưng làm  
thế nào để phát triển được NLST của người học trong môn  
Ngữ văn. Thực tế qua việc giảng dạy và dự giờ ở nhà trường  
phổ thông cho thấy môn học này đang thiếu đi sự sáng tạo khi  
2.1.1. Khái niệm năng lực sáng tạo  
Nghiên cứu về NLST ở các lĩnh vực khác nhau xuất hiện  
khá nhiều trong những năm gần đây. Các tác giả đã cố gắng  
làm rõ và đưa ra những cách diễn đạt khác nhau về NLST.  
Nghiên cứu về NLST, tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng:  
“NLST là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải quyết  
vấn đề một cách mới mẻ của con người” [2]. Cùng quan  
điểm trên, tác giả Trần Thị Bích Liễu đã đưa ra quan điểm:  
“NLST được xem là khả năng của một người sản sinh các  
ý tưởng mới, nhìn nhận vấn đề theo cách mới, phát hiện cái  
mới trong cấu trúc cũ của sự vật hiện tượng để tạo ra các  
sản phẩm mới. Sản phẩm của sáng tạo là ý tưởng, vật dụng  
mới, cấu trúc mới” [3].  
Tác giả Hoàng Thị Thúy Hương cho rằng: “NLST là  
phương pháp dạy học chủ đạo của GV vẫn là thuyết trình, HS NL tìm thấy những ý nghĩa mới, những mối quan hệ mới,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
66  
Nguyễn Thị Thanh Nga  
những ý tưởng mới, là NL chứa đựng sự khám phá, sự phát theo cách sáng tạo. Qua quá trình rèn luyện từ thấp đến cao,  
minh, sự đổi mới độc đáo...khi giải quyết vấn đề và giải HS có được khả năng đề xuất ý tưởng và tạo ra sản phẩm  
quyết vấn đề một cách hiệu quả” [4].  
mới trong học tập và cuộc sống, suy nghĩ không theo lối  
Theo tác giả Phạm Thị Bích Đào: “NLST là khả năng mòn, nhờ đó đề xuất được các giải pháp phù hợp với bối  
thực hiện được những điều sáng tạo, là quá trình hình thành cảnh” [1]. Như vậy, NLST trong môn Ngữ văn được thể  
những ý tưởng mới, tạo ra sản phẩm mới hoặc đưa ra những hiện ở cả tạo lập văn bản và tiếp nhận văn bản. Với tạo lập  
cách thức mới nhận xét sự vật. NLST của mỗi cá nhân thể văn bản, NLST thể hiện trong nói và viết, với tiếp nhận văn  
hiện ở chỗ cá nhân đó có thể mang lại những giá trị mới,  
những sản phẩm mới có ý nghĩa” [5].  
bản, NLST thể hiện chủ yếu trong đọc.  
Chưa có nhiều những nghiên cứu về cấu trúc NLST trong  
môn Ngữ văn. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân trên cơ sở  
phân tích các biểu hiện của NLST trong môn Ngữ văn đã  
đề xuất mô hình cấu trúc NLST trong môn Ngữ văn theo  
các thành phần NL và các chỉ số được thể hiện như sau [6]  
(Xem Hình 1).  
Sắp xếp các chỉ số trong sơ đồ ở Hình 1 theo mức độ từ  
thấp đến cao, tác giả cũng đã đồng thời đưa ra bảng mô tả  
đường phát triển NLST của HS trong môn học Ngữ văn.  
Chúng tôi cơ bản đồng ý với đề xuất của tác giả. Chúng  
tôi cũng cho rằng cấu trúc của bất kì một NL nào cũng được  
xác định dựa trên ba thành tố cốt lõi của NL đó là: Kiến  
thức, kĩ năng, phẩm chất (động cơ, thái độ, ý chí...) của  
người học. Bởi vậy cấu trúc của NLST cũng sẽ bị chi phối  
bởi nhiều yếu tố ảnh hưởng. Theo chúng tôi, có bốn yếu tố  
ảnh hưởng đến NLST của người học trong môn Ngữ văn:  
đặc điểm nhiệm vụ học tập, môi trường và bối cảnh, kiến  
thức nền của người học, nhân cách người học. Để có khả  
năng sáng tạo ra cái mới trong môn Ngữ văn nói chung và  
Tuy cách diễn đạt có phần khác nhau nhưng các tác giả đã  
có những điểm chung trong nỗ lực định nghĩa về NLST với  
các từ chìa khóa như: khả năng làm ra cái mới, riêng biệt,  
độc đáo, ý tưởng, giải pháp, hiệu quả, hữu ích...Như vậy,  
có thể khẳng định: NLST chính là khả năng làm ra cái mới  
gồm ý tưởng mới, giải pháp mới, sản phẩm mới ở những  
mức độ khác nhau, là cách giải quyết vấn đề trong học tập,  
cuộc sống theo một cách riêng biệt, mới mẻ và có hiệu quả  
dựa trên nền tảng kiến thức, kĩ năng và phẩm chất.  
Cũng như các NL khác, NLST được thể hiện và đo lường  
thông qua hành động. Không ít ý kiến cho rằng NLST chỉ  
có ở những thiên tài và mang tính bẩm sinh. Tuy nhiên, với  
quan niệm trên về NLST, chúng tôi cho rằng NLST không  
phải là điều thần bí, xa vời mà sẵn có ở mỗi người, ở mọi  
lứa tuổi và biểu hiện ở những mức độ khác nhau.  
2.1.2. Cấu trúc năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn  
CT GDPT mới đề cập đến NLST như một trong những  
NL chung cần được hình thành và phát triển ở mỗi người đọc hiểu nói riêng, HS phải được trang bị kiến thức nền về  
học, qua các môn học. Với môn Ngữ văn, NLST được thể tác giả, tác phẩm, hiểu thấu đáo nội dung, ý nghĩa và đặc  
hiện như sau: “Môn Ngữ văn trong CT giáo dục mới đề cập điểm nghệ thuật của tác phẩm đó. Mặt khác, HS cần có môi  
đến vai trò HS với tư cách là bạn đọc tích cực, chủ động trường sáng tạo. HS sẽ sáng tạo hơn khi GV tạo cơ hội,  
không chỉ trong tiếp nhận mà còn trong việc tạo nghĩa cho khích lệ, động viên bằng những hành động, lời nói cụ thể.  
văn bản. Qua việc học môn Ngữ văn, HS có kĩ năng viết, Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến môi trường vật chất và  
bắt đầu từ việc hình thành ý tưởng và triển khai ý tưởng môi trường tinh thần trong lớp học. Ngoài ra, NLST còn bị  
Hình 1: Mô hình cấu trúc NLST trong môn Ngữ văn  
Số 13 tháng 01/2019  
67  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
quyết vấn đề của CT GDPT tổng thể, bảng mô tả cấu trúc NL  
đọc hiểu của tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền [7], chúng tôi đề  
xuất bảng mô tả cấu trúc NLST trong đọc hiểu VBVH như sau  
(xem Bảng 1).  
chi phối bởi yếu tố nhân cách người học. HS không chỉ có  
khả năng nhận thức mà còn có niềm say mê, óc tò mò, ham  
tìm tòi khám phá. Một yếu tố nữa cũng không kém phần  
quan trọng thúc đẩy sự sáng tạo của người học là đặc điểm  
nhiệm vụ học tập. Với môn Ngữ văn, để phát triển NLST  
của HS, nhiệm vụ học tập cần hứng thú, hấp dẫn. Các tác  
phẩm văn học cần có nhiều vấn đề, nhiều khoảng trống để  
người đọc sáng tạo, đưa ra những ý kiến, quan điểm riêng  
cá nhân mình.  
2.4. Đường phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong  
dạy học đọc hiểu văn bản văn học  
Sắp xếp các chỉ số trong sơ đồ theo các mức độ từ thấp  
đến cao, chúng tôi thiết lập được bảng mô tả đường phát triển  
NLST của HS trong đọc hiểu VBVH như sau (xem Bảng 2).  
Đối chiếu với các mức độ phát triển NL thì HS tiểu học có  
thể đạt mức 3; trung học cơ sở có thể đạt mức 4, thậm chí  
mức 5 và trung học phổ thông có thể đạt mức 5 hoặc trên  
mức 5. Tuy nhiên, với những HS xuất sắc, các em có thể đạt  
mức độ cao hơn so với trung bình của cấp, thậm chí vượt cả  
mức 5 song cũng có em chưa thể đạt được mức 1. Vì vậy,  
đường phát triển NL nói chung thường được mô phỏng bởi  
mũi tên hai chiều, để có thể tiếp tục mô tả và điều chỉnh sao  
2.3. Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh trong đọc hiểu  
băn bản văn học  
NLST của HS trong đọc hiểu văn bản văn học (VBVH) là  
việc làm ra cái mới, có ý nghĩa từ văn bản đối với bản thân (giá  
trị mới) và xã hội. Cái mới đó là cách nhìn mới, giá trị mới, sự  
vận dụng mới mẻ vào giải quyết những vấn đề đời sống và xã  
hội, là sáng tạo ra sản phẩm mới trên cơ sở gợi ý của văn bản.  
Dựa trên bảng cấu trúc NLST trong môn Ngữ văn của tác  
giả Nguyễn Hồng Vân, bảng mô tả cấu trúc NLST và giải cho phù hợp với đối tượng được đánh giá.  
Bảng 1: Cấu trúc NLST của HS trong đọc hiểu VBVH  
NLST của HS trong đọc hiểu VBVH  
Thành tố  
Chỉ báo  
Biểu hiện  
1. Hình dung lại thế 1.1. Dựng lại được thế giới nghệ - Nắm được nội dung cốt lõi của văn bản.  
giới nghệ thuật của thuật trong VBVH  
văn bản theo cảm  
nhận của cá nhân  
- Dựng lại được thế giới nghệ thuật trong văn bản bằng ngôn ngữ của cá nhân.  
- Tái hiện lại được một phần thế giới nghệ thuật trong văn bản bằng các hình thức  
khác (vẽ, viết, kịch...).  
1.2. Có cách diễn đạt thế giới - Sử dụng những ngôn ngữ riêng (từ ngữ, cách diễn đạt) của bản thân để kể lại được  
nghệ thuật mới mẻ theo ngôn văn bản.  
ngữ, cách nhìn của cá nhân  
- Tái tạo lại thế giới nghệ thuật trên cơ sở rút gọn, tóm tắt một số chi tiết trong văn  
bản.  
- Tái tạo lại thế giới nghệ thuật của văn bản trên cơ sở tưởng tượng thêm một số  
chi tiết mới.  
2. Phát hiện và lí giải 2.1. Phát hiện vấn đề mới lạ - Nhận ra cái mới trong nghệ thuật thể hiện (chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ...).  
theo cách riêng của trong văn bản, tự đặt câu hỏi về - Phát hiện ra sự độc đáo trong cách nhìn, ý tưởng, quan niệm của tác giả thể hiện  
mình về các yếu tố các vấn đề đó  
của văn bản (Nội  
trong văn bản.  
- Tự đặt ra các câu hỏi thể hiện băn khoăn, suy nghĩ của cá nhân về vấn đề.  
dung và Nghệ thuật)  
2.2. Xem xét vấn đề của tác phẩm - Đưa ra các kiến giải khác nhau về vấn đề đặt ra trong văn bản.  
dưới nhiều chiều, nhiều góc nhìn - Có sự so sánh, đối chiếu khi nhìn nhận một vấn đề.  
2.3. Nêu quan điểm riêng, cách - Mạnh dạn đưa ra quan điểm riêng của cá nhân.  
nhìn riêng của cá nhân về các - Không e ngại khi đưa ra những quan điểm trái chiều, khác biệt.  
yếu tố trong văn bản  
- Chấp nhận những phản hồi khác nhau về quan điểm của cá nhân mình.  
3. Phát hiện giá trị văn 3.1. Xác định được các thông tin - Xác định được các thông tin cốt lõi về nội dung văn bản.  
bản theo quan điểm có giá trị từ văn bản  
cá nhân  
- Xác định được các yếu tố nghệ thuật quan trọng của văn bản.  
3.2. Phân tích, kết nối được các - Phân tích các thông tin.  
thông tin theo cách nhìn riêng  
- So sánh, đối chiếu các thông tin.  
- Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản theo quan điểm cá nhân.  
3.3. Đánh giá, phân tích, khẳng - Đánh giá giá trị của văn bản về nội dung theo quan điểm cá nhân.  
định giá trị của văn bản về nội - Đánh giá giá trị nghệ thuật của văn bản theo cách nhìn riêng của cá nhân.  
dung và nghệ thuật theo quan - So sánh giữa văn bản này và văn bản khác thể hiện phát hiện sâu về nội dung và  
điểm cá nhân và so sánh văn nghệ thuật.  
bản này với văn bản khác để thể - Rút ra bài học, giá trị riêng cho bản thân từ văn bản.  
hiện phát hiện sâu về nội dung và  
nghệ thuật của văn bản  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
68  
Nguyễn Thị Thanh Nga  
NLST của HS trong đọc hiểu VBVH  
Thành tố Chỉ báo  
Biểu hiện  
4. Vận dụng sáng tạo 4.1. Vận dụng sáng tạo giá trị - Liên hệ, so sánh, đánh giá văn bản với các văn bản khác cùng đề tài, chủ đề.  
giá trị của VBVH vào của VB vào giải quyết các nhiệm - Giải quyết được theo cách riêng của cá nhân các vấn đề liên quan đến văn bản  
đời sống cá nhân  
vụ học tập  
trong các nhiệm vụ học tập.  
4.2. Vận dụng sáng tạo các giá -Vận dụng những giá trị của văn bản để có thái độ, cách ứng xử đúng đắn, phù hợp  
trị của văn bản vào giải quyết trong hành động thực tiễn.  
các vấn đề đời sống (ứng xử, - Vận dụng giá trị của văn bản trong việc làm thay đổi suy nghĩ, hành vi, hình thành  
hành động, quan điểm sống, giá trị sống của bản thân.  
nhân cách...)  
5. Có ý tưởng sáng 5.1. Ý tưởng chuyển thể văn bản - Chuyển thể VBVH sang loại hình khác (thơ, truyện...).  
tạo sản phẩm mới VH sang các loại hình khác (thơ, - Sân khấu hóa tác phẩm văn học.  
kịch, truyện..) - Các hình thức nghệ thuật khác.  
5.2. Ý tưởng sáng tạo sản phẩm - Ý tưởng sáng tác tác phẩm văn học mới lấy cảm hứng, chủ đề từ văn bản.  
mới trên cơ sở cảm hứng từ văn - Ý tưởng sáng tạo các sản phẩm nghệ thuật khác trên cơ sở cảm hứng từ văn  
bản (sáng tác thơ, truyện, kịch, bản (vẽ tranh, thiết kế thời trang, điêu khắc, sáng tác âm nhạc, làm phim...).  
phim, hội họa...)  
Bảng 2: Đường phát triển NLST của HS trong dạy học đọc hiểu VBVH  
Mức độ  
Biểu hiện  
5. Có ý tưởng tạo ra sản phẩm mới mang Có ý tưởng về việc tạo ra sản phẩm mới sau khi tiếp nhận văn bản như chuyển thể được văn bản  
dấu ấn cá nhân  
sang các thể loại khác theo cách riêng của mình; sáng tạo các sản phẩm mới trên cơ sở gợi ý của  
văn bản đã đọc; sản phẩm mới phải mang màu sắc riêng của cá nhân, có ý nghĩa và có cách trình  
bày mới lạ, độc đáo.  
4. Đánh giá, khẳng định được giá trị của tác HS xác định được thông tin có giá trị từ văn bản; kết nối các thông tin theo cách nhìn riêng; biết  
phẩm theo cách nhìn riêng từ đó vận dụng đánh giá và khẳng định giá trị của văn bản theo quan điểm cá nhân. Biết so sánh văn bản với các  
linh hoạt sáng tạo vào đời sống và học tập văn bản khác. Từ đó HS biết vận dụng giá trị của văn bản vào giải quyết các nhiệm vụ nảy sinh  
trong học tập và đời sống.  
3. Lí giải, phân tích, đánh giá theo cách HS có thể đặt được nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận thông tin một chiều; không  
riêng về các yếu tổ trong văn bản  
thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; có sự lí giải đánh giá theo quan điểm riêng về một số vấn  
đề đặt ra trong văn bản.  
2. Phát hiện các yếu tố mới, có vấn đề HS phát hiện được các yếu tố mới, có vấn đề trong văn bản; có những băn khoăn, thắc mắc và mạnh  
trong văn bản dạn đặt ra được các câu hỏi xung quanh vấn đề có trong văn bản.  
1. Hình dung lại thế giới nghệ thuật trong HS tri giác ngôn ngữ, bước đầu hiểu văn bản, từ đó hình dung, tái tạo lại được thế giới nghệ thuật  
văn bản theo cảm nhận của cá nhân  
trong văn bản theo cách riêng của mình. HS diễn đạt lại thế giới hình tượng của nhà văn theo ngôn  
ngữ riêng, mang màu sắc cá nhân.  
học đọc hiểu VBVH phát triển được NLST của HS, cụ thể với  
3. Kết luận  
Trên đây mới chỉ là những phác thảo ban đầu về cấu trúc và  
đường phát triển NLST trong đọc hiểu VBVH. Trên thực tế,  
NL là một khái niệm trừu tượng, NLST cũng là một phạm trù  
không dễ đong đếm nên việc diễn giải và mô tả NL theo những  
HS THCS cần tiếp tục phân tích, xác định những nhiệm vụ  
học tập cụ thể tương ứng với mỗi mức độ NL và theo từng lớp;  
đồng thời xây dựng các tiêu chí chất lượng, có minh họa bằng  
biểu hiện cụ thể là một việc làm không dễ dàng. Để việc dạy các ví dụ để minh họa và đánh giá được các biểu hiện NL.  
Số 13 tháng 01/2019  
69  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình giáo dục  
phổ thông môn Ngữ văn, dự thảo ngày 19 tháng 11 năm  
2018.  
[2] Huỳnh Văn Sơn, (2009), Tâm lí học sáng tạo, NXB Giáo  
dục Việt Nam, Hà Nội.  
[5] Phạm Thị Bích Đào, (2015), Phát triển năng lực sáng tạo  
cho học sinh trong dạy học hóa học hữu cơ chương trình  
Trung học phổ thông nâng cao”, Luận án Tiến sĩ Giáo  
dục học, Trường Đại học Sư phạm Nội.  
[6] Nguyễn Thị Hồng Vân, Xác định cấu trúc và đường phát  
triển một số năng lực trong môn Ngữ văn ở trường phổ  
thông, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 137, tháng 02,  
tr.50.  
[7] Đoàn Thị Thanh Huyền, (2016), Phát triển năng lực đọc  
hiểu văn bản cho học sinh trung học phổ thông trong dạy  
học ngữ văn (qua dữ liệu lớp 10), Luận án Tiến sĩ, Trường  
Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[3] Trần Thị Bích Liễu, (2013), Giáo dục phát triển năng lực  
sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam.  
[4] Hoàng Thị Thúy Hương, (2015), Xây dựng và sử dụng  
hệ thống bài tập hóa học vô cơ nhằm phát triển năng lực  
sáng tạo trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở  
trường trung học phổ thông chuyên, Luận án Tiến sĩ Giáo  
dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
STRUCTURE OF STUDENTS’ CREATIVE COMPETENCY  
IN READING LITERARY TEXTS  
Nguyen Thi Thanh Nga  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
101 Tran Hung Dao, Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam  
Email: ngavninc[email protected]  
ABSTRACT: The general education program of new Literature aims to develop  
the quality and competency of learners, including creative competency. From  
this orientation, the article has focused on clarifying the structure of students’  
creative capacity in reading literary texts. The article presented some concepts  
of creative competence as well as creative competence in Literature. On  
that basis, the author has provided the concept and the structure of creative  
competence in reading literary texts with specific elements and indicators. The  
author also set up a table describing the development process of students’  
creative competency in reading literary texts from low to high level.  
KEYWORDS: Curriculum; creative competence; creative competence structure; reading  
comprehension; literary text; junior high school.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
70  
pdf 5 trang baolam 17140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh trong đọc hiểu văn bản văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcau_truc_nang_luc_sang_tao_cua_hoc_sinh_trong_doc_hieu_van_b.pdf