Một số nhận xét về khái niệm tục ngữ và việc phân loại chúng trong giới học thuật Trung Quốc và giới học thuật Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 7 (2021): 1233-1241  
Vol. 18, No. 7 (2021): 1233-1241  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ KHÁI NIỆM TỤC NGỮ  
VÀ VIỆC PHÂN LOẠI CHÚNG TRONG GIỚI HỌC THUẬT TRUNG QUỐC  
VÀ GIỚI HỌC THUẬT VIỆT NAM  
Vương Bân  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Vương Bân – Email: 43413637@qq.com  
Ngày nhận bài: 23-4-2021; ngày nhận bài sửa: 25-5-2021; ngày duyệt đăng: 21-7-2021  
TÓM TẮT  
Tục ngữ là thể loại văn học dân gian phổ biến nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân  
dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền miệng. Giới  
học thuật Trung Quốc và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ. Bằng các  
phương pháp nghiên cứu miêu tả – phân tích và so sánh – đối chiếu, bài viết bàn về khái niệm tục  
ngữ trong học thuật Trung Quốc và Việt Nam, chỉ ra những đặc điểm và xác lập khái niệm nhằm  
đạt được sự hiểu biết khách quan về tục ngữ. Kết quả nghiên cứu cho thấy những định nghĩa về  
khái niệm tục ngữ trong giới học thuật Trung Quốc và Việt Nam tương đối giống nhau, nhưng về  
loại hình tục ngữ thì khác nhau rất nhiều (loại hình tục ngữ tiếng Trung Quốc gồm 3 loại: ngạn  
ngữ, yết hậu ngữ và quán dụng ngữ; loại hình tục ngữ tiếng Việt có bốn kiểu câu tiêu biểu). Đây là  
một nền tảng khoa học và có ý nghĩa nhất định về nghiên cứu tục ngữ trong tiếng Trung Quốc và  
tiếng Việt.  
Từ khóa: giới học thuật; khái niệm; tiếng Trung Quốc; tục ngữ; tiếng Việt  
1.  
Đặt vấn đề  
Tục ngữ là thể loại văn học dân gian phổ biến nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức  
của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ  
thuộc. Tục ngữ là một hình thức ngôn ngữ đặc biệt đã được hình thành từ lâu, giới học  
thuật Trung Quốc và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ từ các bình  
diện khác nhau, nhưng cho đến nay vẫn chưa đạt được sự đồng thuận về bản chất, phạm vi  
và phân loại tục ngữ. Do đó, việc tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này là rất ý  
nghĩa cả về mặt lí thuyết cũng như nhận diện và phân loại. Từ lí do trên, bài viết “Một số  
nhận xét về khái niệm tục ngữ trong giới học thuật Trung Quốc và giới học thuật Việt Nam”  
trình bày một số khái niệm tục ngữ trong học thuật Trung Quốc và Việt Nam, xác lập khái  
niệm nhằm bổ sung cách hiểu về tục ngữ, đồng thời chỉ ra những đặc điểm giống và khác  
nhau của tục ngữ trong hai nền học thuật Trung Quốc và Việt Nam.  
Cite this article as: Wang Bin (2021). A view on the concept and classification of folk adage in Chinese and  
Vietnamese academics”. Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, 18(7), 1233-1241.  
1233  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1233-1241  
2.  
Giải quyết vấn đề  
2.1. Tục ngữ trong tiếng Trung và tiếng Việt  
Tục ngữ phản ánh những kinh nghiệm sống, tư tưởng truyền thống, đạo lí làm  
người…, trong đó, biểu hiện trước hết ở những quan niệm về nhân sinh quan và thế giới  
quan. Hiểu khái niệm, phân tích bản chất và đặc điểm của những câu tục ngữ là nhiệm vụ  
đầu tiên của việc nghiên cứu về nó; từ đó, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt, tìm  
hiểu ý nghĩa văn hóa giữa những câu tục ngữ Trung Quốc và Việt Nam, giúp độc giả hiểu  
sâu hơn văn hóa xã hội của hai nước.  
2.1.1. Tục ngữ trong tiếng Trung  
Là một đơn vị đúc kết kinh nghiệm, tục ngữ được tồn tại trong tiếng Trung từ lâu.  
Trong các cuốn Văn Hiến của thời Tiên Tần đã có nhiều tài liệu ghi chép về tục ngữ. Song  
thời đó không gọi là tục ngữ, mà được gọi là “Ngạn”. Đến thời Tây Hán, từ tục ngữ xuất  
hiện lần đầu trong cuốn Sử kí1 của Tư Mã Thiên với: “Ngôn luận lưu truyền phổ biến trong  
dân gian” (Si, p.108). Nhưng trong cuốn Thuyết uyển2 của Lưu Hướng, ý nghĩa của khái  
niệm tục ngữ có phần khác với cách minh định của Tư Mã Thiên, là: “Cụm từ cố định lưu  
truyền trong dân gian” (Liu, p.84). Bởi không có cách hiểu thống nhất, trong một thời gian  
dài, những tên gọi của tục ngữ thường bị nhầm lẫn với những khái niệm gần gũi như: tục  
ngôn, tục ngạn, lí ngữ, ngạn ngữ, tục đàm...  
Việc nghiên cứu tục ngữ thời cổ đại và hiện đại của Trung Quốc đã đạt được một số  
thành tựu nhưng vẫn ở tình trạng khá phân tán về tên gọi, cấu tạo và cả chức năng. Bước  
vào thế kỉ XX, các văn bản chuyên nghiên cứu về tục ngữ bắt đầu xuất hiện. Vị trí của tục  
ngữ trong hệ thống từ vựng tiếng Trung Quốc dần dần được xác định. Những nhận xét về  
tục ngữ của giới học thuật Trung Quốc có thể lược qua như sau:  
Trong cuốn Từ điển tiếng Hán hiện đại, tục ngữ được giải thích: “Những câu cố định  
thông tục và được sử dụng rộng rãi, có câu ngắn gọn và được hình tượng hóa, hầu hết được  
tạo ra bởi người dân lao động và phản ánh nguyện vọng của mọi người.”3 (Dictionary,  
2000, p.1203).  
Trong Sổ tay tục ngữ thường dùng của Từ Tông Tài và Ứng Tuấn Linh có viết:  
Tục ngữ cũng được gọi là tục thoại. Đó là những câu cố định thông tục và được sử dụng rộng  
rãi trong nhân dân, nó được tạo ra bởi người dân trong lao động sản xuất và thực tiễn xã hội,  
đó là một bản tóm tắt về sự kinh nghiệm thành công, những kiến thức khoa học và cảm nhận  
1 司马迁(西汉):《史记·滑稽列传》,卷一二十六,第 108 页。  
Tư Mã Thiên (triều đại Tây Hán), quyển một trăm hai mươi sáu của Sử kí - Cổ kê liệt truyện, tr.108.  
2 刘向(西汉):《说苑·贵德》,卷五,第 84 页。  
Lưu Hướng (triều đại Tây Hán), quyển năm của Thuyết uyển – Quý đức, tr.84.  
3 中国社科院语言研究所词典编辑室,《现代汉语词典》,商务印书馆,2000 年,第 1203 页。  
Phòng Biên tập từ điển - Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ - Viện Khoa học xã hội Trung Quốc (2000). Từ điển  
tiếng Hán hiện đại. NXB Thương vụ ấn thư quán, tr.1203.  
1234  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Vương Bân  
kinh nghiệm cuộc sống của quần chúng nhân dân. (Xu, & Ying, 1987, p.8)4  
Trong công trình Một số vấn đề liên quan với tục ngữ, Trương Thanh Trường đã  
chỉ ra:  
Ngôn ngữ thông tục, phản ánh nguyện vọng của nhân dân, đã được ghi lại đời sống xã hội và  
kinh nghiệm, những lời này đã được quần chúng nhân dân sử dụng rộng rãi lâu đời, đạo lý  
sâu sắc, ý nghĩa rõ ràng, lời nói sống động, ngắn gọn súc tích, những câu nói như vậy vừa cố  
định vừa linh hoạt, mọi người gọi đó là tục ngữ, tục thoại, lão tục thoại, đại tục thoại.  
(Zhang, 1988, p.11)5.  
Trong phần dẫn nhập cuốn Tục ngữ Trung Quốc của Vương Kiệt, Từ Kiến Hoa, Điêu  
Ngọc Minh đã chỉ ra:  
Khái niệm tục ngữ có nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Nghĩa rộng của tục ngữ bao gồm ngạn ngữ,  
yết hậu ngữ, quán dụng ngữ, li ngữ, phương ngôn thổ ngữ và cả thành ngữ thông tục... Đó đã  
cấu thành câu nói và cụm từ cố định và thông tục dưới dạng văn hóa dân gian, cũng được gọi  
tên khác là thuật ngữ thông tục dân gian”. Còn về nghĩa hẹp: “Những câu nói cố định khuôn  
mẫu mô tả con người theo một cách phổ biến và sinh động, thường được sử dụng biện pháp  
tỉ dụ, so sánh, khoa trương hoặc giải thích trực tiếp để mô tả những điều gì đang diễn ra và  
như thế nào. (Wang, Xu, & Diao, 1992, p.5)6  
Trong Đại Từ điển tục ngữ Trung Quốc, Lã Thúc Tương đã thừa nhận: “Những câu  
tục ngữ điển hình được gọi là ngạn ngữ.” (Lu, 1989, p.2)7. Ông cũng cho rằng tục ngữ nên  
bao gồm cả yết hậu ngữ.  
Đại Từ điển tục ngữ do học giả Ôn Đoan Chính chủ biên, lại giải thích tục ngữ là:  
“Những câu nói ngắn gọn súc tích, được tạo ra bởi quần chúng và lưu truyền theo phương  
thức truyền miệng, có cấu trúc tương đối định hình. Nó nên bao gồm các câu ngạn ngữ, yết  
hậu ngữ và quán dụng ngữ.” (Wen, 2015, p.2)8. Các công trình nghiên cứu liên quan tới tục  
ngữ sau này của ông, đều theo quan điểm này. Các học giả khác trong giới nghiên cứu tục  
ngữ phần lớn đều tán đồng ý kiến này.  
Việc phân loại của tục ngữ trong tiếng Trung Quốc, phải hiểu đặc điểm “ngữ” là  
“đơn vị ngôn ngữ có tính kể chuyện”, sau đó được chia thành ba loại theo nội dung và hình  
thức, là: ngạn ngữ, yết hậu ngữ và quán dụng ngữ. Thông qua các bảng dưới đây có thể  
thấy rõ hơn về sự phân loại tục ngữ trong tiếng Trung Quốc.  
4 徐宗才、应俊玲,《常用俗语手册》,北京语言学院出版社,1987,第 8 页。  
Từ Tông Tài , Ứng Tuấn Linh (1987). Sổ tay tục ngữ thường dùng. NXB Học viện Ngôn ngữ Bắc Kinh, tr.8.  
5 张清常,《关于俗语的一些问题》,《语言研究论丛》,1988,第 11 页。  
Trương Thanh Trường (1988). Một số vấn đề liên quan với tục ngữ. Nghiên cứu Ngôn ngữ, tr.11.  
6 王捷、徐建华、刁玉明《中国俗语》,上海文艺出版社,1992 年,第 6 页。  
Vương Kiệt, Từ Kiến Hoa, Điêu Ngọc Minh (1992). Tục ngữ Trung Quốc. NXB Văn nghệ Thượng Hải, tr.6.  
7 吕叔湘,《中国俗语大辞典·序言》,上海辞书出版社,1989 年,第 2 页。  
Lã Thúc Tương (1989). Đại từ điển tục ngữ Trung Quốc-Dẫn nhập. NXB Từ thư Thượng Hải, tr.2.  
8 温端政,《俗语大词典》,商务印书馆,2015 年,第 2 页。  
Ôn Đoan Chính (2015). Đại từ điển tục ngữ. NXB Thương vụ ấn thư quán, tr.2.  
1235  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1233-1241  
a) Ngạn ngữ  
“Ngạn ngữ đúc kết tri thức, bao gồm các tri thức về những điều khách quan và các  
kinh nghiệm đã hình thành trong thực tiễn xã hội.” (Wen, 2015, p.3)9. Bảng 1 sau đây gồm  
những câu tục ngữ trong tiếng Trung Quốc được phân loại theo ngạn ngữ:  
Bảng 1. Tục ngữ trong tiếng Trung Quốc phân loại theo ngạn ngữ  
Phân loại  
Tính chất  
Ngạn ngữ  
Ngữ diễn đạt  
STT  
Tục ngữ tiếng Trung Quốc  
浪子回头金不换 (Lãng tử hồi đầu kim bất hoán)  
1
Nghĩa: Người lầm đường lạc lối biết hối cải thật đáng quý  
大人不记小人过 (Đại nhân bất kí tiểu nhân quá)  
Nghĩa: Người lớn không chấp lỗi của người nhỏ  
宝剑锋从磨砺出,梅花香自苦寒来  
2
3
(Bảo kiếm phong tòng ma lệ xuất, mai hoa hương tự khổ hàn lai)  
Nghĩa: Mũi kiềm nhọn do mài đá ráp mà nhọn, mùi thơm hoa mai là tự tiết trời rét  
lạnh mà thơm  
b) Yết hậu ngữ  
“Yết hậu ngữ được bao gồm hai phần: Phần dẫn và phần tả” (Wen, 2015, p.4)10. Phần  
trước gọi là yết diện là hình ảnh ví von, phần sau gọi là yết để là phần giải thích thuyết  
minh cho phần trước (xem Bảng 2).  
Bảng 2. Tục ngữ trong tiếng Trung Quốc phân loại theo yết hậu ngữ  
Phân loại  
Tính chất  
Yết hậu ngữ  
Ngữ diễn đạt  
STT  
Tục ngữ tiếng Trung Quốc  
小葱拌豆腐 - 一青(清)二白  
(Tiểu thông bạn đậu hủ – nhất thanh nhi bạch)  
Nghĩa: Cây hành trộn đậu phụ - một xanh hai trắng. Chỉ một người rất trong sạch,  
4
không có vết bẩn  
泥菩萨过河 - 自身难保 (Nê Bồ tát quá hà - tự thân nan bảo)  
Nghĩa: Bồ tát lội qua sông - thật khó để tự bảo vệ mình  
Ví về việc thật khó để tự bảo vệ, làm sao mà có thể bảo vệ người khác được  
5
6
打破沙锅 - 问到底 (Đả phá sa oa - vấn đáo để)  
Nghĩa: Phá vỡ nồi cát - hỏi đến cùng  
Ví kiên trì hỏi rõ vấn đề đến cuối cùng, hỏi đến ngành đến ngọn  
9 温端政,《俗语大词典》,商务印书馆,2015 年,第 3 页;  
Ôn Đoan Chính (2015). Đại từ điển tục ngữ. NXB Thương vụ ấn thư quán, tr.3.  
10 温端政,《俗语大词典》,商务印书馆,2015 年,第 4 页。  
Ôn Đoan Chính (2015). Đại từ điển tục ngữ. NXB Thương vụ ấn thư quán, tr.4.  
1236  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Vương Bân  
c) Quán dụng ngữ  
“Quán dụng ngữ là mô tả hình thái của con người hoặc vật, và các tính đặc điểm của  
hành động đó không có kiến thức” (Wen, 2015, p.4)11. Đó là cụm từ cố định thường dùng  
mang đậm tính hình tượng và nghĩa ví von (xem Bảng 3).  
Bảng 3.Tục ngữ trong tiếng Trung Quốc phân loại theo quán dụng ngữ  
Phân loại  
Tính chất  
Quán dụng ngữ  
Ngữ diễn đạt  
STT  
Tục ngữ tiếng Trung Quốc  
化干戈为玉帛 (Hóa can qua vi ngọc bạch)  
Nghĩa: Dùng biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp  
“Can qua” là hai thứ vũ khí cổ, “ngọc bạch” là tơ lụa quý là các thứ lễ vật để hai nước  
dùng dâng tặng nhau  
7
人尽其才,物尽其用 (Nhân tần kì tài, vật tần kì dụng)  
8
9
Nghĩa: Người dùng đúng việc, vật dùng đúng chỗ  
Sử dụng hết tài năng của con người, phát huy hết tác dụng của cải  
海阔凭鱼跃,天高任鸟飞  
(Hải khoát bằng ngư dược, thiên cao nhậm điểu phi)  
Nghĩa: Biển rộng tùy ý cá nhảy, trời cao mặc sức chim bay.  
Dùng chỉ có một lĩnh vực rộng lớn được cho những người bản lĩnh phát huy tài năng  
tối đa  
Thông qua sự so sánh phân loại hình thức của tục ngữ tiếng Trung Quốc nêu trên, có  
thể hiểu rõ hơn các loại hình và đặc điểm của nó. Việc này có ý nghĩa quan trọng trong  
nghiên cứu tục ngữ tiếng Trung Quốc. Trên cứ liệu 500 đơn vị tục ngữ, dựa vào công trình  
do Ôn Đoan Chính chủ biên, chúng tôi thống kê như sau (xem Bảng 4):  
Bảng 4. Số lượng thống kê của cấu trúc hình thức về tục ngữ trong tiếng Trung  
Cấu trúc hình thức  
Ngạn ngữ  
Tỉ lệ  
63%  
20%  
17%  
Yết hậu ngữ  
Quán dụng ngữ  
Ngạn ngữ đã chiếm phần lớn trong những câu tục ngữ trong tiếng Trung Quốc. Đặc  
điểm chính là mang tính thông tục và tính truyền miệng. Đây là một cấu trúc hình thức  
được ghi chép sớm nhất trong quá trình vận dụng tục ngữ trong đời sống, tiếp theo là quán  
dụng ngữ và yết hậu ngữ. Trải qua sự lưu truyền của nhiều thế hệ, từ vựng và cách sử dụng  
đã được thay đổi theo sự phát triển xã hội, nhưng các chức năng và đặc trưng về cấu trúc  
hình thức của tục ngữ đều không thay đổi.  
11 温端政,《俗语大词典》,商务印书馆,2015 年,第 4 页。  
Ôn Đoan Chính (2015). Đại từ điển tục ngữ. NXB Thương vụ ấn thư quán, tr.4.  
1237  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1233-1241  
2.1.2. Tục ngữ trong tiếng Việt  
Cũng như trong tiếng Trung Quốc, khối lượng tục ngữ trong tiếng Việt do nhân dân  
lao động sáng tạo và lưu truyền, được tích lũy từ lâu đời và rất phong phú. Tục ngữ được  
dùng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, trong ngôn ngữ văn chương với hình thức biểu hiện  
súc tích, có tính khái quát cao.  
Trong cuốn sách Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Vũ Ngọc Phan định nghĩa như  
sau: “Tục ngữ là một câu tự diễn tả trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một  
luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán.” (Vu, 2016, p.6). Giáo trình Văn học dân  
gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn cũng đã nhấn mạnh:  
“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo  
nên và lưu truyền qua nhiều thế kỉ. Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời  
sống, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân dân lao động.” (Dinh, Chu, & Vo, 1997, p.28).  
Bài viết “Đạo lí trong tục ngữ” của Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Tục ngữ là những  
câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức, kinh nghiệm và quan niệm dân gian  
về một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã hội.” (Nguyen, 1987, p.57-  
66). Ở một bài khác cùng tác giả có tựa đề “Vài nhận xét về đặc điểm cú pháp của tục ngữ”  
đã nêu: “Tục ngữ là những đơn vị ngôn ngữ ổn định về hình thức, phản ánh những lối nói,  
lối suy nghĩ đặc thù của một dân tộc. Nó phản ánh các quan niệm, những suy nghĩ, những  
tri thức và cách tư duy của một dân tộc về các hiện tượng, các quy luật tự nhiên và xã hội.”  
(Nguyen, 1989, p.9-10).  
Trong quyển Từ điển tiếng Việt do Nguyễn Kim Thản chủ biên, đã giải thích: “Tục  
ngữ là câu nói ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo  
đức của nhân dân được truyền tụng trong dân gian từ đời này sang đời khác.” (Nguyen,  
Ho, & Nguyen, 2005, p.1253). Nguyễn Lân trong Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam  
cũng đã nhìn nhận rằng: “Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn, nói lên  
hoặc một nhận xét về tâm lí, hoặc một lời phê phán, khen hay chê, hoặc một câu khuyên  
nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội.” (Nguyen, 2015, p.267).  
Trong Từ điển tục ngữ Việt, Nguyễn Đức Dương đã lần lượt kê ra từng kiểu câu đã  
gặp trong kho tục ngữ Việt theo khuôn Đề ngữ – Thuyết ngữ như sau (Nguyen, 2010,  
p.946-952):  
a) Kiểu câu thứ nhất  
Kiểu câu tục ngữ này có đầy đủ cả hai phần đề ngữ và thuyết ngữ, chiếm đại đa số  
trong kho tục ngữ Việt. Một số ví dụ tiêu biểu được trình bày ở Bảng 5 sau đây:  
Bảng 5. Một số câu tục ngữ tiếng Việt có cả hai phần đề ngữ và thuyết ngữ  
STT  
10  
Đề ngữ  
Vịt già,  
Thuyết ngữ  
gà tơ.  
11  
Chiêm hơn chiêm sít,  
Thứ nhất thịt bò tái,  
mùa ít mùa nở.  
thứ nhì gái đương tơ.  
12  
1238  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Vương Bân  
STT  
13  
Đề ngữ  
Ác tắm  
Thuyết ngữ  
thì ráo,  
Đề ngữ  
sao tắm  
Thuyết ngữ  
thì mưa  
ắt phải vững  
là tiền đẻ  
14  
Người có chí  
Tiền ở trong nhà  
ắt phải nên,  
là tiền chửa,  
nhà có nền  
tiền ra khỏi cửa  
15  
b) Kiểu câu thứ hai  
Kiểu câu tục ngữ này bị ẩn phần đề ngữ, còn phần thuyết ngữ thường được biểu thị  
bằng một ngữ vị từ với trung tâm là các vị từ tình thái. Bảng 6 sau đây trình bày một số câu  
tục ngữ trong tiếng Việt bị ẩn phần đề ngữ:  
Bảng 6. Những câu tục ngữ tiếng Việt bị ẩn phần đề ngữ  
STT  
Tục ngữ  
Ý nghĩa bổ sung  
Lệ thường chỉ nên ép dầu...; chứ đừng  
16  
Ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên  
nên ép duyên....  
Nên làm khi khỏe mạnh để còn có cái mà  
ăn khi ốm đau  
Lệ thường chỉ thấy người ta giúp lời, chứ  
đâu thấy ai giúp của  
17  
18  
Làm khi lành để dành khi đau.  
Giúp lời, không ai giúp của;  
giúp đũa, không ai giúp cơm  
c) Kiểu câu thứ ba  
Kiểu câu tục ngữ này khuyết hẳn phần thuyết ngữ, nên trên cấu trúc bề mặt chỉ còn  
phần đề ngữ (xem Bảng 7).  
Bảng 7. Những câu tục ngữ trong tiếng Việt khuyết phần thuyết ngữ  
STT  
19  
Đề ngữ (Danh từ/vị từ)  
Chim, thu, nhụ, đé  
Thuyết ngữ (khuyết hẳn)  
-
20  
Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên  
Đau đẻ, ngứa ghẻ, hờn ghen  
Đề ngữ (Tiểu cú)  
-
21  
-
STT  
22  
Thuyết ngữ (khuyết hẳn)  
Gái khéo vá vai, trai tài phủ nóc  
Lớn chuối hột, bé hạt tiêu  
-
-
-
23  
24  
Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống  
d) Kiểu câu thứ tư  
Kiểu câu tục ngữ này là câu ngoại đề, câu có một phần đề ngữ nữa, do “ai” diễn đạt,  
phần này được gạch chân trong các dẫn chứng được nêu, vốn không nằm trong cấu trúc cú  
pháp của câu. Kiểu câu tục ngữ này ít gặp hơn hết trong kho tục ngữ Việt (bài viết chỉ tìm  
được một vài câu như trong Bảng 8).  
Bảng 8. Những câu tục ngữ trong tiếng Việt có một phần đề ngữ  
STT  
25  
Đề ngữ  
Đề ngữ (nữa)  
ai có nhà  
ai có duyên  
ai lỡ  
Thuyết ngữ  
thì chống  
thì được  
thì ăn  
Ráng mỡ gà,  
26  
Bạc tỉnh Tuyên Quang,  
Cơm hàng chó chợ,  
27  
1239  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 7 (2021): 1233-1241  
Bốn kiểu quan hệ cú pháp được thể hiện trong bốn kiểu câu tiếng Việt của tục ngữ  
vừa miêu tả bên trên, có thể coi là những mô hình tiêu biểu của tục ngữ tiếng Việt.  
Rõ ràng các học giả Trung Quốc và Việt Nam có sự hiểu biết và nghiên cứu về các  
đặc điểm cơ bản trong hai ngôn ngữ và có thể hiểu: Tục ngữ là thể loại văn học dân gian  
nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn,  
súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền.  
3.  
Kết luận  
Với tư cách là đơn vị nhận thức, được đúc kết kinh nghiệm từ tự nhiên - xã hội, từ  
kinh nghiệm của chính mình, tục ngữ gắn liền với tập quán văn hóa của một cộng đồng  
diễn ngôn, vừa có tính khái quát, vừa có tính đặc thù.  
Những vấn đề được trình bày ở đây về nhận diện, miêu tả, phân loại trên một số bình  
diện của tục ngữ dựa vào kết quả nghiên cứu của giới học thuật Trung Quốc và Việt Nam.  
Tục ngữ Trung Quốc và tục ngữ Việt Nam, về khái niệm tương đối giống nhau, nhưng  
khác nhau khá nhiều về loại hình. Những phát hiện này có thể là những tư liệu quan trọng,  
hữu ích dành cho những người nghiên cứu về văn học, ngôn ngữ Trung Quốc và Việt Nam.  
Tuyên bố về quyền lợi: Tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Dictionary Editing Office, Institute of Language Studies, Chinese Academy of Social Sciences  
(2000). Xian dai Han yu ci dian [Modern Chinese dictionary]. Beijing: Commercial Press.  
Dinh, G. K., Chu, X. D. & Vo, Q. N. (1997). Van hoa dan gian Viet Nam [Folk Literature of  
Vietnam]. Hanoi: Education Publishing House.  
Li, X. (Western Han Dynasty). Shuo yuan·Gui de [Say Yuan - Gui de], (5).  
Lu, S. X. (1989). Zhong guo Su yu Da ci dian · Xu yan [The preface of Chinese folk adage  
dictionary]. Shanghai: Dictionary Press.  
Nguyen, D. D. (1987). Dao li trong tuc ngu [The dogma in folk adage]. Journal of Literary, 5, 57-66.  
Nguyen, D. D. (1989). Vai nhan xet ve dac diem cu phap của tuc ngu [Some comments on the  
syntactic characteristics of folk adage]. Journal of Linguistics, 3, 9-10.  
Nguyen, D. D. (2010). Tu dien tuc ngu Viet [Dictionary of Vietnamese folk adage]. Ho Chi Minh  
City: General Publishing House.  
Nguyen, K. T., Ho, H. T., & Nguyen, D. D. (2005). Tu dien tieng Viet [Vietnamese Dictionary].  
Ho Chi Minh City: Literature Publishing House, 1253.  
Nguyen, L. (2015). Tu dien thanh ngu va tuc ngu Viet Nam [Dictionary of Vietnamese idioms and  
folk adage]. Hanoi: Education Publishing House.  
Si, M. Q. (Western Han Dynasty). Shi ji – Hua ji lie zhuan [Historical Records - The funny  
biographies], (26).  
1240  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Vương Bân  
Vu, N. P. (2016). Tuc ngu ca dao dan ca Viet Nam [Folk adage, folk songs of Viet Nam]. Ho Chi  
Minh City: Literature Publishing House, 6.  
Wang, J., Xu, J. H., & Diao, Y. M. (1992). Zhong guo Su yu [Chinese folk adage]. Shang hai:  
Literature and Art Publishing House.  
Wen, D. Z. (2015). Su yu Da ci dian [Dictionary of Folk adage]. Beijing: Commercial Press.  
Xu, Z. C., & Ying, J. L. (1987). Chang yong Su yu shou ce [Handbook of Common Folk adage].  
Beijing: Beijing Language and Culture University Press.  
Zhang, Q. C. (1988). Guan yu Su yu de yi xie wen ti [Some questions about folk adage]. Tianjin:  
Nankai University Press.  
A VIEW ON THE CONCEPT AND CLASSIFICATION OF FOLK ADAGE IN CHINESE  
AND VIETNAMESE ACADEMICS  
Wang Bin  
University of Social Sciences and Humanities, Vietnam National University, Ho Chi Minh City, Vietnam  
Corresponding author: Wang Bin – Email: [email protected]  
Received: April 23, 2021; Revised: May 25, 2021; Accepted: July 21, 2021  
ABSTRACT  
Folk adage is a concise common language with cultural connotations, aimed at  
consolidating people's experiences and knowledge in the form of short, concise, rhythmic, easy to  
remember and oral sayings. Chinese and Vietnamese academics have done many researches on folk  
adage. Using descriptive analysis, and compare and contrast, this article will discuss the concepts  
of folk adage in Chinese and Vietnamese academics, identify the characteristics of folk adage, and  
conceptualise folk adage for common understanding. The results show that the concept of folk  
adage in Chinese and Vietnamese academics are defined similarly. However, they are very different  
as regards types. Chinese folk adage includes proverbs, postscripts, and contemplations while  
Vietnamese proverbs have four typical sentence types. The study provides a scientific foundation  
for understanding folk adage in Chinese and Vietnamese.  
Keywords: academia; concept; Chinese; folk adage; Vietnamese  
1241  
pdf 9 trang baolam 25540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số nhận xét về khái niệm tục ngữ và việc phân loại chúng trong giới học thuật Trung Quốc và giới học thuật Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_nhan_xet_ve_khai_niem_tuc_ngu_va_viec_phan_loai_chung.pdf