Một số phương thức hình thành kí hiệu của người điếc Việt Nam

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Một số phương thức hình thành kí hiệu  
của người điếc Việt Nam  
Lê Thị Tố Uyên  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
TÓM TẮT: Để trở thành một ngôn ngữ độc lập và mang tính hệ thống rõ nét,  
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam  
Email: touyenan@gmail.com  
ngôn ngữ kí đã hiệu trải qua những nấc thang phát triển phong phú. Trong quá  
trình hình thành và phát triển, ngôn ngữ kí hiệu phản ánh phần nào kiểu tư duy  
của người điếc. Ngôn ngữ kí hiệu ở cấp độ từ vị có nhiều kiểu hình thành khác  
nhau giúp người điếc có thể truyền tải, lưu giữ những thông điệp từ đơn giản  
đến phức tạp nhất và nó thực sự trở thành một phương tiện giao tiếp, công cụ  
tư duy hữu hiệu của người điếc. Bài viết nhằm trình bày 6 kiểu hình thành ngôn  
ngữ kí hiệu được xem như là một sự tổng hợp thành “quy luật” hình thành kiểu  
ngôn ngữ rất đặc thù này.  
TỪ KHÓA: Ngôn ngữ kí hiệu; kí hiệu; người điếc; hình thành.  
Nhận bài 06/4/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 05/6/2020 Duyệt đăng 15/9/2020.  
và học tập của người điếc thông qua một số đề tài nghiên  
1. Đặt vấn đề  
cứu và một số dự án được thực hiện tại nước ta. Hiện nay,  
NNKH đang dần phát triển và trở thành một trong những  
tiếp cận chính trong giáo dục trẻ điếc và ngày càng được lan  
tỏa trong cộng đồng [2].  
Đằng sau quá trình hình thành và phát triển của NNKH  
là sự phản ánh quá trình biến chuyển của tư duy con người,  
từ tư duy hành động trực quan đến tư duy hình tượng trực  
quan, cùng với sự phát triển của tư duy sáng tạo, tư duy trực  
giác - ý niệm, đó là cả một quá trình phát triển nhận thức lâu  
dài của con người để có được tư duy khái niệm [3].  
Người điếc tiếp nhận thông tin qua kênh chính yếu là  
thị giác và biểu đạt suy nghꢀ qua đôi bàn tay [4]. NNKH  
là “tiếng mẹ đẻ” của người điếc. Không giống như ngôn  
ngữ nói, NNKH không chuyển tải thông điệp qua phương  
tiện truyền âm mà qua phương tiện hình ảnh còn được gọi  
là ngôn ngữ thị giác. NNKH được “phát âm” bằng cử chỉ  
được thực hiện qua đôi tay với những quy tắc nhất định.  
Các kí hiệu bằng tay được bổ sung thêm và được bổ nghꢀa  
bởi cách thể hiện trên nét mặt và cử động của cơ thể. Người  
Ngôn ngữ kí hiệu (NNKH) là ngôn ngữ bẩm sinh và tự  
nhiên của cộng đồng người điếc. Nó là phương tiện giao  
tiếp phức tạp và toàn diện như bất cứ một ngôn ngữ nào.  
Nó được mã hóa truyền tải thông tin và bị chi phối bởi các  
quy tắc ngữ pháp độc lập rất độc đáo. Để trở thành một  
ngôn ngữ độc lập có tính hệ thống, ngôn ngữ kí hiệu trải  
qua những nấc thang phát triển phong phú. Như bất kì một  
ngôn ngữ của cộng đồng nào đó trên thế giới, quá trình hình  
thành NNKH là kết quả của quá trình vận động tư duy, từ  
trực trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. NNKH ở  
cấp độ từ vị có nhiều kiểu hình thành khác nhau giúp người  
điếc có thể truyền tải, lưu giữ những thông điệp từ đơn giản  
đến phức tạp nhất. Bài viết này trình bày một số kiểu hình  
thành NNKH của người điếc ở cấp độ từ vị, qua đó phần  
nào phản ánh sự hình thành một phương tiện giao tiếp, một  
công cụ tư duy hữu hiệu của người điếc ở Việt Nam.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Vài nét về ngôn ngữ kí hiệu  
NNKH là ngôn ngữ sử dụng hình dạng bàn tay, chuyển điếc cần đến những cơ sở hình tượng đầu tiên của thế giới  
động cơ thể, cử chỉ, điệu bộ và sự thể hiện trên khuôn mặt để làm cơ sở hiện thực cho sự phản ánh và khái quát ngày  
trao đổi kinh nghiệm, suy nghꢀ, nhu cầu và cảm xúc [1]. Ở càng cao của mình. Đây là cơ sở để người điếc xây dựng hệ  
Việt Nam, NNKH được sử dụng chính thức khi cha Azemar thống các kí hiệu nhằm biểu đạt và giao tiếp dưới dạng vỏ  
mở trường dạy trẻ điếc vào năm 1886 tại Lái Thiêu với vốn hình thức vật chất của tư duy. Thông qua đó, các hình thái  
kí hiệu được học hỏi từ Pháp. Quá trình phát triển NNKH của đời sống tinh thần trực tiếp hoặc gián tiếp biểu hiện ra  
trước những năm 1975 tại Miền Nam có những bước thăng bên ngoài.  
trầm. Có giai đoạn phát triển đỉnh cao khi trường Điếc  
2.2. Các phương thức hình thành kí hiệu  
2.2.1. Số lượng các phương thức hình thành kí hiệu  
Có nhiều phương thức khác nhau để tạo kí hiệu. Trong số  
Lái Thiêu có đến 600 học sinh điếc (giai đoạn 1903-1905)  
học văn hóa bằng NNKH. Song giai đoạn từ 1960, khi Sơ  
Nguyễn Thị Phúc sau khi học phương pháp nghe nói từ  
Pháp trở về, NNKH ít được chú trọng. Từ năm 1975, một đó, các phương thức phổ biến nhất được chúng tôi ghi nhận  
số cơ sở giáo dục trẻ điếc ở miền Bắc bắt đầu phát triển. gồm: 1/ Chỉ trực tiếp (trực chỉ); 2/ Mô phỏng; 3/ Phản ánh  
Tuy nhiên, phương pháp dạy học cho trẻ điếc trong những và phân tích đặc trưng; 4/ Phái sinh, 5/ Vay mượn; 6/ Chữ  
cơ sở đó chủ yếu là phương pháp nghe nói. Sau này, NNKH cái và chữ số ngón tay. Các phương thức này là kết quả của  
dần khẳng định được vai trò trong việc phát triển giao tiếp sự quan sát, so sánh, phân loại các kí hiệu của chúng tôi về  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
30  
Lê Thị Tố Uyên  
sự hình thành kí hiệu của người điếc. Việc tìm hiểu, tổng  
hợp và minh họa các kiểu hình thành kí hiệu góp phần tạo  
dựng cơ sở để người điếc phát triển nguồn kí hiệu của mình  
ngày càng phong phú, đảm bảo được cái gốc (điểm thống  
nhất) để vùng miền nào cũng có thể “suy luận” và hiểu ý  
nghꢀa của kí hiệu mới khi giao tiếp.  
Kí hiệu: mắt Kí hiệu: tóc Kí hiệu: tay Kí hiệu: tai  
Trong Bảng 1, chúng tôi sử dụng 408 từ ngữ được biểu  
đạt bằng 408 kí hiệu thống nhất sử dụng của cộng đồng  
người điếc đại diện cho 3 vùng miền Bắc, Trung, Nam  
của nước ta thuộc Dự thảo chuẩn quốc gia về ngôn ngữ kí  
hiệu (MoET, 2019) để xem xét sự phân bổ về các kiểu hình  
thành kí hiệu. Đây là 408 kí hiệu thống nhất đầu tiên tại  
Việt Nam mang tính pháp lí (NNKH có sự khác biệt rất lớn  
giữa các vùng miền nước ta và trước đó, các kí hiệu được  
thu thập chỉ mang tính vùng miền). Đây là các kí hiệu cơ  
bản được dùng trong giao tiếp hàng ngày và trong học tập  
của người điếc.  
Hình 2: Kí hiệu chỉ bộ phận cơ thể  
- Kí hiệu chỉ trang phục: quần, áo, … (xem Hình 3):  
Kí hiệu: quần  
Kí hiệu: áo  
Hình 3: Kí hiệu chỉ trang phục  
Bảng 1: Các kiểu hình thành kí hiệu  
- Đại từ nhân xưng: tôi, bạn. (xem Hình 4):  
STT  
Kiểu hình thành kí hiệu  
Trực chỉ  
Số lượng  
15  
Tỉ lệ (%)  
3,7  
1
2
Mô phỏng  
166  
126  
8
40,7  
30,9  
2,0  
3
Phản ánh, phân tích đặc trưng  
Phái sinh  
4
5
Vay mượn  
77  
18,8  
3,9  
6
Chữ cái, chữ số ngón tay  
16  
Tổng số  
408  
100  
Kí hiệu: tôi  
Kí hiệu: bạn  
Hình 4: Kí hiệu đại từ nhân xưng  
Có thể nhận thấy, kí hiệu được hình thành bằng cách mô  
phỏng và phản ánh, phân tích đặc trưng chiếm tỉ lệ cao hơn  
so với các phương thức khác. Phương thức phái sinh xuất  
hiện rất ít trong quá trình hình thành các khái niệm cơ bản.  
- Bên cạnh đó, trạng từ chỉ vị trí, các mạo từ xác định  
“này, kia, ấy, đó”: cái này, cái kia, người này, người kia, cô  
ấy, anh ấy… (xem Hình 5):  
2.2.2. Phân tích các kiểu hình thành kí hiệu  
a. Kí hiệu hình thành bằng cách chỉ trực tiếp (trực chỉ)  
Bằng cách này, người làm kí hiệu sẽ chỉ, chạm trực tiếp  
vào đối tượng hoặc vị trí đặc trưng của đối tượng muốn nói  
đến. Hình dạng bàn tay thực hiện kí hiệu bằng cách này có  
thể là chỉ, chạm bằng ngón trỏ, bằng ngón trỏ và ngón cái  
hoặc cả bàn tay. Đây là cách hình thành kí hiệu mang tính  
trực quan của người điếc. Chính vì thế, nhiều người nghe  
nghꢀ rằng, đó không phải là NNKH mà chỉ là các cử chỉ  
thông thường. Song với tiêu chí đơn giản và thuận tiện,  
cách hình thành kí hiệu bằng cách trực chỉ này mang lại  
hiệu quả giao tiếp nhanh chóng. Trong NNKH, các nhóm  
từ hình thành bằng cách trực chỉ gồm:  
Kí hiệu: này  
Kí hiệu: kia  
Hình 5: Kí hiệu về trạng từ chỉ vị trí  
b. Kí hiệu hình thành bằng cách mô phỏng  
Người điếc sử dụng cách mô phỏng để tái hiện lại hình  
ảnh thế giới xung quanh qua đôi bàn tay một cách rất hiệu  
quả. Hình thành kí hiệu theo kiểu này bao gồm:  
- Kí hiệu chỉ bộ phận cơ thể: đầu, mắt, mũi, miệng, tay,  
… (xem Hình 2):  
- Sử dụng những cử chỉ điệu bộ đã tồn tại trong xã hội với  
một ý nghꢀa nhất định. Với người nghe, thông điệp không  
Số 33 tháng 9/2020  
31  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
chỉ được truyền tải thông qua lời nói mà cử chỉ điệu bộ có người cho là hành động sủa của chúng nhưng cũng có  
góp phần làm rõ ràng và sinh động hơn cho thông điệp mà  
chủ ngôn muốn truyền tải. Một vài cử chỉ, điệu bộ cũng  
được người điếc đưa vào sử dụng trong hệ thống NNKH.  
Mọi kênh giao tiếp đều nhằm một mục đích trước tiên đó là  
người nhận thông tin có thể hiểu được một cách chính xác  
nhất thông điệp (xem Hình 6):  
người cho là đặc trưng với đôi tai vểnh. Cho nên, có thể  
cùng lúc tồn tại hai kí hiệu hoặc các kí hiệu mang tính cộng  
đồng nhóm nhỏ hoặc tính vùng miền. Dù là đặc trưng nào  
thì sự tồn tại của một kí hiệu là do cộng đồng người điếc  
quyết định sử dụng và cũng không thể phủ định kí hiệu nào  
càng phản ánh đúng nhất bản chất của sự vật, hiện tượng  
nhất sẽ có sức sống lâu bền nhất.  
- Các kí hiệu chỉ con vật (xem Hình 9):  
Kí hiệu: chào Kí hiệu: im lặng Kí hiệu: tốt Kí hiệu: bắn  
Kí hiệu: con Kí hiệu: con  
mèo (đặc khỉ (đặc trưng voi (đặc trưng đà điểu (đặc  
trưng là vuốt là gãi mặt và  
râu) thân)  
Kí hiệu: con Kí hiệu: con  
Hình 6: Sử dụng những cử chỉ điệu bộ đã tồn tại trong xã  
hội với một ý nghĩa nhất định  
là chiếc vòi) trưng là đầu,  
cổ và dáng  
đi)  
- Dùng kí hiệu diễn tả lại các hành động thường nhật của  
con người trong cuộc sống như: Ăn, uống, đi, chạy, nhảy,  
ngủ,… (xem Hình 7).  
Hình 9: Kí hiệu chỉ con vật  
- Các kí hiệu chỉ hoa quả (xem Hình 10):  
Kí hiệu: uống Kí hiệu: đi  
Kí hiệu: hát Kí hiệu: chạy  
Hình 7: Dùng kí hiệu diễn tả lại các hành động thường  
nhật của con người  
Kí hiệu: chùm Kí hiệu: quả Kí hiệu: quả Kí hiệu: quả  
nho (đặc trưng cam (đặc dưa hấu (đặc ớt (đặc trưng  
là nhiều quả  
nhỏ)  
trưng là vắt trưng là miếng là nhỏ, miệng  
lấy nước) dưa bổ ra màu cắn và cay)  
đỏ)  
Dùng kí hiệu mô phỏng hình dáng, hoạt động của sự  
vật xung quanh như các kí hiệu chỉ đồ dùng học tập: sách,  
thước, tẩy, bút, giấy… các kí hiệu chỉ đồ dùng trong gia  
đình: kéo, bát, đũa, thìa, nồi, chảo,…, các kí hiệu chỉ sự vật  
tự nhiên: sông, núi, đồi… (xem Hình 8):  
Hình 10: Kí hiệu chỉ hoa quả  
- Các kí hiệu khác (xem Hình 11):  
Kí hiệu: ảo  
thuật (đặc  
trưng là  
hành động  
hô biến)  
Kí hiệu:  
bác sĩ (đặc  
trưng là mũ trưng là hình (đặc trưng là  
chữ thập  
trên trán)  
Kí hiệu: cái  
võng (đặc  
Kí hiệu:  
buổi sáng  
Kí hiệu: sách Kí hiệu: bát Kí hiệu: đũa Kí hiệu: núi  
Hình 8: Dùng kí hiệu mô phỏng hình dáng, hoạt động  
của sự vật xung quanh  
dáng cong và mặt trời nhô  
đưa đi đưa lại) lên)  
c. Kí hiệu hình thành bằng cách phản ánh đặc trưng hoặc Hình 11: Kí hiệu khác  
phân tích đặc trưng  
Với những khái niệm trừu tượng, người điếc diễn giải,  
phân tích nội dung rồi chọn lựa những nét đặc thù nhất để  
làm kí hiệu, có thể là sự kết hợp các hành động mang nét  
đặc thù với nhau để diễn tả nghꢀa của khái niệm cần biểu  
Người điếc chọn ra 1 đặc điểm nổi bật nào đó của sự  
vật, hiện tượng để thực hiện kí hiệu [1]. Đó có thể là một  
bộ phận, hành động hoặc tính chất đặc thù của sự vật, hiện  
tượng đó. Những đặc trưng này phụ thuộc vào nhãn quan  
chủ quan của chúng ta. Ví dụ như đặc trưng của con chó đạt. Ví dụ (xem Hình 12):  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
32  
Lê Thị Tố Uyên  
Pháp. Năm 1880, cha gửi một thanh niên câm điếc sang  
Pháp để học về phương pháp dùng kí hiệu ngôn ngữ. Khi  
anh này về nước, cha Azemar mở Trường Câm Điếc Lái  
Thiêu (tiền thân của Trung tâm Giáo dục Trẻ khuyết tật  
Thuận An là cái nôi nuôi dưỡng và đào tạo người khiếm  
thính) vào năm 1886. Vì thế, NNKH của Việt Nam cũng  
xuất phát từ Pháp [3].  
Kí hiệu: Bắc Kí hiệu: anh Kí hiệu: chân Kí hiệu: cảnh  
cực hùng dung sát giao thông  
Hình dáng quả (1. Tượng  
địa cầu. 2. Tay trưng cho  
(1. Mang ý (1. Mang nghꢀa  
nghꢀa chụp cảnh sát, đặc  
Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, NNKH Việt Nam  
có lúc hưng thịnh, có lúc suy tàn. Hiện nay, NNKH phát  
triển khá mạnh mẽ, đặc biệt giai đoạn từ năm 2012 - 2015  
với dự án Giáo dục trẻ khiếm thính trước tuổi đến trường  
(IDEO).  
chỉ lên phía người. 2. Ý ảnh. 2. Mang trưng là ngôi  
trên – phương nghꢀa mạnh ý nghꢀa phần sao trên trán  
Bắc)  
mẽ)  
ngang người) và chiếc súng.  
2. Mang nghꢀa  
phương tiện  
giao thông)  
NNKH Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chứa đựng  
nhiều kí hiệu tương tự hoặc gần giống với các kí hiệu Mꢀ.  
Một dấu mốc đáng chú ý đó là Việt Nam đã có một người  
điếc đầu tiên - Nguyễn Trần Thủy Tiên - giành học bổng  
“Lãnh đạo người điếc thế giới” - World Deaf Leadingship  
và đã tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi của Trường Đại học  
Hình 12: Kí hiệu với những khái niệm trừu tượng  
d. Kí hiệu phái sinh (kí hiệu cùng gốc)  
Kí hiệu phái sinh là cách người ta dùng 1 kí hiệu cơ bản  
có tính tượng trưng chung cho một số sự vật, sự việc - làm  
kí hiệu gốc - từ kí hiệu gốc đó nếu bổ sung vào một lớp Gallaudet (Washington, Mꢀ) năm 2016. Sau khi về nước,  
nghꢀa riêng thì sẽ tạo nên 1 kí hiệu mới [5]. Ví dụ (xem  
Hình 13):  
Tiên tạo được ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng người điếc  
Việt Nam.  
Kí hiệu gốc là “nhà”, các kí hiệu phái sinh như: Nhà văn  
hóa, ngân hàng, trường học, bến xe…  
Đối với các kí hiệu vay mượn, nhiều kí hiệu được người  
điếc Việt Nam vay mượn hoàn toàn, cũng có một số kí hiệu  
vay mượn một phần và một phần được biến đổi để phù hợp  
với văn hóa, ngôn ngữ của cộng đồng người điếc Việt Nam.  
Ví dụ (xem Hình 15):  
Kí hiệu:  
Kí hiệu:  
Kí hiệu:  
Kí hiệu:  
nhà  
nhà văn hóa  
nhà sàn  
bến xe  
Hình 13: Kí hiệu phái sinh từ kí hiệu gốc “nhà”  
Hoặc kí hiệu gốc là “nữ”, các kí hiệu phái sinh như: chị,  
em gái, dì, bác gái, mợ, cô giáo, … kí hiệu gốc là “nam”,  
các kí hiệu phái sinh như: anh, em trai, bác trai, thầy giáo,  
chú… Ví dụ (xem Hình 14):  
Kí hiệu Việt: cảm ơn  
Kí hiệu Mꢀ: cảm ơn  
Kí hiệu Việt: Kí hiệu Mꢀ: Kí hiệu Việt: Kí hiệu Mꢀ:  
tên tên giúp đỡ giúp đỡ  
Kí hiệu:  
nữ  
Kí hiệu:  
chị gái  
Kí hiệu:  
em gái  
Kí hiệu:  
cô giáo  
Hình 15: Kí hiệu vay mượn  
Hình 14: Kí hiệu phái sinh từ kí hiệu gốc “nữ”  
f. Kí hiệu bằng chữ cái và chữ số ngón tay  
e. Kí hiệu vay mượn  
Thông thường, chữ cái ngón tay và chữ số ngón tay cho  
phép diễn đạt một cách chính xác các thông tin như là tên,  
tuổi, địa chỉ, biểu thức… Trong một số trường hợp, chữ cái  
và chữ số ngón tay được sử dụng như một kí hiệu hoặc bổ  
sung, làm rõ cho việc diễn giải nội dung thông điệp của từ,  
Giống như nhiều nước trên thế giới, NNKH được du  
nhập vào Việt Nam bằng con đường là các tu sꢀ học tập  
ở nước ngoài, chủ yếu tại Pháp, trong các cơ sở giáo dục  
dành cho người khiếm thính trở về nước dạy tại các cơ  
sở giáo dục dành cho trẻ điếc. Ở Việt Nam, Cha Azemar  
(còn được gọi là cha Lực) cũng có thời gian tu nghiệp tại ngữ nào đó. Ví dụ (xem Hình 16):  
Số 33 tháng 9/2020  
33  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
đường khác nhau để dần hoàn thiện phương tiện giao tiếp  
và công cụ tư duy của một cộng đồng người với nhiều nét  
văn hóa đặc trưng. Ở bài viết này, chúng tôi bước đầu liệt  
kê và miêu tả 6 kiểu hình thành NNKH, đó là: 1/ Chỉ trực  
tiếp; 2/ Mô phỏng; 3/ Phản ánh và phân tích đặc trưng; 4/  
Phái sinh; 5/ Vay mượn; 6/ Dùng chữ cái và chữ số ngón  
tay. Mọi phương thức thể hiện NNKH của người điếc đều  
nhằm mục đích truyền tải thông điệp một cách thuận tiện  
và hiệu quả nhất tới người tiếp nhận. NNKH Việt Nam  
vẫn đang tiếp tục trên con đường tự hoàn thiện để dần trở  
thành một ngôn ngữ mang tính hệ thống và độc lập một  
cách rõ nét. Có thể nói, NNKH là một hệ thống biểu trưng  
kí hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động  
Kí hiệu: chu vi Kí hiệu: định Kí hiệu: phòng Kí hiệu: quản  
(lần lượt làm lí (lần lượt làm y tế (tay phải lí (tay phải lần  
chữ cái ngón chữ cái ngón lần lượt làm lượt làm chữ  
tay C, V)  
tay Đ, L)  
chữ cái ngón cái ngón tay  
tay Y, T) Q, L)  
Hình 16: Kí hiệu bằng chữ cái và chữ số ngón tay  
3. Kết luận  
NNKH của người điếc được hình thành bằng nhiều con đến tư duy trừu tượng.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Sandy Niemann, Devorah Greestein, Darlena David,  
(2006), Giúp đỡ trẻ điếc, NXB Lao động - Xã hội.  
[2] Nguyễn Thị Hoàng Yến, (2005), Đại cương giáo dục trẻ  
khiếm thính, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
[3] Đỗ Minh Thảo, (12/2012), Vai trò của ngôn ngữ hình  
tượng trong văn hóa nguyên thủy và đặc điểm phát triển  
ngôn ngữ hình tượng ở người Việt cổ, Tạp chí Khoa học  
Xã hội Việt Nam, tr.51-61.  
những đặc tính của ngôn ngữ kí hiệu ở Thái Lan và Việt  
Nam, Trong là người điếc trong nhiều cách: Những biến  
đổi toàn cầu trong những cộng đồng Điếc, Biên tập Leila  
Mohagan, Constanze Schmaling, Karen Nakamura và  
Graham H. Turner, tr.283-301. Wasshington, D.C, NXB  
Đại học Gallaudet.  
[5] Cao Thị Xuân Mꢀ, (2010), Tìm hiểu quy luật diễn đạt  
bằng kí hiệu giao tiếp của người khiếm thính Việt Nam,  
Đề tài cấp Bộ, mã số B.2010 - 19 - 62.  
[4] Woodward, James, (2003), Những Ngôn ngữ kí hiệu và  
SOME METHODS OF FORMING SIGNS OF VIETNAMESE DEAF PEOPLE  
Le Thi To Uyen  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
ABSTRACT:To become an independent and systematic language, sign  
52 Lieu Giai, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam  
language has undergone extensive development. In the process of  
Email: touyenan@gmail.com  
formation and development, the sign language partly reflects the deaf’s  
thinking. The sign language at the word level has many different types of  
formation that help the deaf people convey and store messages which  
are from the simplest to the most complex. It really became a means of  
communication, a tool of thinking of the deaf people. The paper aims to  
present 6 types of sign language formation that are considered to be a  
combination of the “rules” that form this very specific language.  
KEYWORDS: Sign language; sign; the deaf people; formation.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
34  
pdf 5 trang baolam 23420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số phương thức hình thành kí hiệu của người điếc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_phuong_thuc_hinh_thanh_ki_hieu_cua_nguoi_diec_viet_na.pdf