Một số phương thức hình thành kí hiệu của người điếc Việt Nam
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Một số phương thức hình thành kí hiệu
của người điếc Việt Nam
Lê Thị Tố Uyên
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
TÓM TẮT: Để trở thành một ngôn ngữ độc lập và mang tính hệ thống rõ nét,
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Email: touyenan@gmail.com
ngôn ngữ kí đã hiệu trải qua những nấc thang phát triển phong phú. Trong quá
trình hình thành và phát triển, ngôn ngữ kí hiệu phản ánh phần nào kiểu tư duy
của người điếc. Ngôn ngữ kí hiệu ở cấp độ từ vị có nhiều kiểu hình thành khác
nhau giúp người điếc có thể truyền tải, lưu giữ những thông điệp từ đơn giản
đến phức tạp nhất và nó thực sự trở thành một phương tiện giao tiếp, công cụ
tư duy hữu hiệu của người điếc. Bài viết nhằm trình bày 6 kiểu hình thành ngôn
ngữ kí hiệu được xem như là một sự tổng hợp thành “quy luật” hình thành kiểu
ngôn ngữ rất đặc thù này.
TỪ KHÓA: Ngôn ngữ kí hiệu; kí hiệu; người điếc; hình thành.
Nhận bài 06/4/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 05/6/2020 Duyệt đăng 15/9/2020.
và học tập của người điếc thông qua một số đề tài nghiên
1. Đặt vấn đề
cứu và một số dự án được thực hiện tại nước ta. Hiện nay,
NNKH đang dần phát triển và trở thành một trong những
tiếp cận chính trong giáo dục trẻ điếc và ngày càng được lan
tỏa trong cộng đồng [2].
Đằng sau quá trình hình thành và phát triển của NNKH
là sự phản ánh quá trình biến chuyển của tư duy con người,
từ tư duy hành động trực quan đến tư duy hình tượng trực
quan, cùng với sự phát triển của tư duy sáng tạo, tư duy trực
giác - ý niệm, đó là cả một quá trình phát triển nhận thức lâu
dài của con người để có được tư duy khái niệm [3].
Người điếc tiếp nhận thông tin qua kênh chính yếu là
thị giác và biểu đạt suy nghꢀ qua đôi bàn tay [4]. NNKH
là “tiếng mẹ đẻ” của người điếc. Không giống như ngôn
ngữ nói, NNKH không chuyển tải thông điệp qua phương
tiện truyền âm mà qua phương tiện hình ảnh còn được gọi
là ngôn ngữ thị giác. NNKH được “phát âm” bằng cử chỉ
được thực hiện qua đôi tay với những quy tắc nhất định.
Các kí hiệu bằng tay được bổ sung thêm và được bổ nghꢀa
bởi cách thể hiện trên nét mặt và cử động của cơ thể. Người
Ngôn ngữ kí hiệu (NNKH) là ngôn ngữ bẩm sinh và tự
nhiên của cộng đồng người điếc. Nó là phương tiện giao
tiếp phức tạp và toàn diện như bất cứ một ngôn ngữ nào.
Nó được mã hóa truyền tải thông tin và bị chi phối bởi các
quy tắc ngữ pháp độc lập rất độc đáo. Để trở thành một
ngôn ngữ độc lập có tính hệ thống, ngôn ngữ kí hiệu trải
qua những nấc thang phát triển phong phú. Như bất kì một
ngôn ngữ của cộng đồng nào đó trên thế giới, quá trình hình
thành NNKH là kết quả của quá trình vận động tư duy, từ
trực trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. NNKH ở
cấp độ từ vị có nhiều kiểu hình thành khác nhau giúp người
điếc có thể truyền tải, lưu giữ những thông điệp từ đơn giản
đến phức tạp nhất. Bài viết này trình bày một số kiểu hình
thành NNKH của người điếc ở cấp độ từ vị, qua đó phần
nào phản ánh sự hình thành một phương tiện giao tiếp, một
công cụ tư duy hữu hiệu của người điếc ở Việt Nam.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Vài nét về ngôn ngữ kí hiệu
NNKH là ngôn ngữ sử dụng hình dạng bàn tay, chuyển điếc cần đến những cơ sở hình tượng đầu tiên của thế giới
động cơ thể, cử chỉ, điệu bộ và sự thể hiện trên khuôn mặt để làm cơ sở hiện thực cho sự phản ánh và khái quát ngày
trao đổi kinh nghiệm, suy nghꢀ, nhu cầu và cảm xúc [1]. Ở càng cao của mình. Đây là cơ sở để người điếc xây dựng hệ
Việt Nam, NNKH được sử dụng chính thức khi cha Azemar thống các kí hiệu nhằm biểu đạt và giao tiếp dưới dạng vỏ
mở trường dạy trẻ điếc vào năm 1886 tại Lái Thiêu với vốn hình thức vật chất của tư duy. Thông qua đó, các hình thái
kí hiệu được học hỏi từ Pháp. Quá trình phát triển NNKH của đời sống tinh thần trực tiếp hoặc gián tiếp biểu hiện ra
trước những năm 1975 tại Miền Nam có những bước thăng bên ngoài.
trầm. Có giai đoạn phát triển đỉnh cao khi trường Điếc
2.2. Các phương thức hình thành kí hiệu
2.2.1. Số lượng các phương thức hình thành kí hiệu
Có nhiều phương thức khác nhau để tạo kí hiệu. Trong số
Lái Thiêu có đến 600 học sinh điếc (giai đoạn 1903-1905)
học văn hóa bằng NNKH. Song giai đoạn từ 1960, khi Sơ
Nguyễn Thị Phúc sau khi học phương pháp nghe nói từ
Pháp trở về, NNKH ít được chú trọng. Từ năm 1975, một đó, các phương thức phổ biến nhất được chúng tôi ghi nhận
số cơ sở giáo dục trẻ điếc ở miền Bắc bắt đầu phát triển. gồm: 1/ Chỉ trực tiếp (trực chỉ); 2/ Mô phỏng; 3/ Phản ánh
Tuy nhiên, phương pháp dạy học cho trẻ điếc trong những và phân tích đặc trưng; 4/ Phái sinh, 5/ Vay mượn; 6/ Chữ
cơ sở đó chủ yếu là phương pháp nghe nói. Sau này, NNKH cái và chữ số ngón tay. Các phương thức này là kết quả của
dần khẳng định được vai trò trong việc phát triển giao tiếp sự quan sát, so sánh, phân loại các kí hiệu của chúng tôi về
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
30
Lê Thị Tố Uyên
sự hình thành kí hiệu của người điếc. Việc tìm hiểu, tổng
hợp và minh họa các kiểu hình thành kí hiệu góp phần tạo
dựng cơ sở để người điếc phát triển nguồn kí hiệu của mình
ngày càng phong phú, đảm bảo được cái gốc (điểm thống
nhất) để vùng miền nào cũng có thể “suy luận” và hiểu ý
nghꢀa của kí hiệu mới khi giao tiếp.
Kí hiệu: mắt Kí hiệu: tóc Kí hiệu: tay Kí hiệu: tai
Trong Bảng 1, chúng tôi sử dụng 408 từ ngữ được biểu
đạt bằng 408 kí hiệu thống nhất sử dụng của cộng đồng
người điếc đại diện cho 3 vùng miền Bắc, Trung, Nam
của nước ta thuộc Dự thảo chuẩn quốc gia về ngôn ngữ kí
hiệu (MoET, 2019) để xem xét sự phân bổ về các kiểu hình
thành kí hiệu. Đây là 408 kí hiệu thống nhất đầu tiên tại
Việt Nam mang tính pháp lí (NNKH có sự khác biệt rất lớn
giữa các vùng miền nước ta và trước đó, các kí hiệu được
thu thập chỉ mang tính vùng miền). Đây là các kí hiệu cơ
bản được dùng trong giao tiếp hàng ngày và trong học tập
của người điếc.
Hình 2: Kí hiệu chỉ bộ phận cơ thể
- Kí hiệu chỉ trang phục: quần, áo, … (xem Hình 3):
Kí hiệu: quần
Kí hiệu: áo
Hình 3: Kí hiệu chỉ trang phục
Bảng 1: Các kiểu hình thành kí hiệu
- Đại từ nhân xưng: tôi, bạn. (xem Hình 4):
STT
Kiểu hình thành kí hiệu
Trực chỉ
Số lượng
15
Tỉ lệ (%)
3,7
1
2
Mô phỏng
166
126
8
40,7
30,9
2,0
3
Phản ánh, phân tích đặc trưng
Phái sinh
4
5
Vay mượn
77
18,8
3,9
6
Chữ cái, chữ số ngón tay
16
Tổng số
408
100
Kí hiệu: tôi
Kí hiệu: bạn
Hình 4: Kí hiệu đại từ nhân xưng
Có thể nhận thấy, kí hiệu được hình thành bằng cách mô
phỏng và phản ánh, phân tích đặc trưng chiếm tỉ lệ cao hơn
so với các phương thức khác. Phương thức phái sinh xuất
hiện rất ít trong quá trình hình thành các khái niệm cơ bản.
- Bên cạnh đó, trạng từ chỉ vị trí, các mạo từ xác định
“này, kia, ấy, đó”: cái này, cái kia, người này, người kia, cô
ấy, anh ấy… (xem Hình 5):
2.2.2. Phân tích các kiểu hình thành kí hiệu
a. Kí hiệu hình thành bằng cách chỉ trực tiếp (trực chỉ)
Bằng cách này, người làm kí hiệu sẽ chỉ, chạm trực tiếp
vào đối tượng hoặc vị trí đặc trưng của đối tượng muốn nói
đến. Hình dạng bàn tay thực hiện kí hiệu bằng cách này có
thể là chỉ, chạm bằng ngón trỏ, bằng ngón trỏ và ngón cái
hoặc cả bàn tay. Đây là cách hình thành kí hiệu mang tính
trực quan của người điếc. Chính vì thế, nhiều người nghe
nghꢀ rằng, đó không phải là NNKH mà chỉ là các cử chỉ
thông thường. Song với tiêu chí đơn giản và thuận tiện,
cách hình thành kí hiệu bằng cách trực chỉ này mang lại
hiệu quả giao tiếp nhanh chóng. Trong NNKH, các nhóm
từ hình thành bằng cách trực chỉ gồm:
Kí hiệu: này
Kí hiệu: kia
Hình 5: Kí hiệu về trạng từ chỉ vị trí
b. Kí hiệu hình thành bằng cách mô phỏng
Người điếc sử dụng cách mô phỏng để tái hiện lại hình
ảnh thế giới xung quanh qua đôi bàn tay một cách rất hiệu
quả. Hình thành kí hiệu theo kiểu này bao gồm:
- Kí hiệu chỉ bộ phận cơ thể: đầu, mắt, mũi, miệng, tay,
… (xem Hình 2):
- Sử dụng những cử chỉ điệu bộ đã tồn tại trong xã hội với
một ý nghꢀa nhất định. Với người nghe, thông điệp không
Số 33 tháng 9/2020
31
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
chỉ được truyền tải thông qua lời nói mà cử chỉ điệu bộ có người cho là hành động sủa của chúng nhưng cũng có
góp phần làm rõ ràng và sinh động hơn cho thông điệp mà
chủ ngôn muốn truyền tải. Một vài cử chỉ, điệu bộ cũng
được người điếc đưa vào sử dụng trong hệ thống NNKH.
Mọi kênh giao tiếp đều nhằm một mục đích trước tiên đó là
người nhận thông tin có thể hiểu được một cách chính xác
nhất thông điệp (xem Hình 6):
người cho là đặc trưng với đôi tai vểnh. Cho nên, có thể
cùng lúc tồn tại hai kí hiệu hoặc các kí hiệu mang tính cộng
đồng nhóm nhỏ hoặc tính vùng miền. Dù là đặc trưng nào
thì sự tồn tại của một kí hiệu là do cộng đồng người điếc
quyết định sử dụng và cũng không thể phủ định kí hiệu nào
càng phản ánh đúng nhất bản chất của sự vật, hiện tượng
nhất sẽ có sức sống lâu bền nhất.
- Các kí hiệu chỉ con vật (xem Hình 9):
Kí hiệu: chào Kí hiệu: im lặng Kí hiệu: tốt Kí hiệu: bắn
Kí hiệu: con Kí hiệu: con
mèo (đặc khỉ (đặc trưng voi (đặc trưng đà điểu (đặc
trưng là vuốt là gãi mặt và
râu) thân)
Kí hiệu: con Kí hiệu: con
Hình 6: Sử dụng những cử chỉ điệu bộ đã tồn tại trong xã
hội với một ý nghĩa nhất định
là chiếc vòi) trưng là đầu,
cổ và dáng
đi)
- Dùng kí hiệu diễn tả lại các hành động thường nhật của
con người trong cuộc sống như: Ăn, uống, đi, chạy, nhảy,
ngủ,… (xem Hình 7).
Hình 9: Kí hiệu chỉ con vật
- Các kí hiệu chỉ hoa quả (xem Hình 10):
Kí hiệu: uống Kí hiệu: đi
Kí hiệu: hát Kí hiệu: chạy
Hình 7: Dùng kí hiệu diễn tả lại các hành động thường
nhật của con người
Kí hiệu: chùm Kí hiệu: quả Kí hiệu: quả Kí hiệu: quả
nho (đặc trưng cam (đặc dưa hấu (đặc ớt (đặc trưng
là nhiều quả
nhỏ)
trưng là vắt trưng là miếng là nhỏ, miệng
lấy nước) dưa bổ ra màu cắn và cay)
đỏ)
Dùng kí hiệu mô phỏng hình dáng, hoạt động của sự
vật xung quanh như các kí hiệu chỉ đồ dùng học tập: sách,
thước, tẩy, bút, giấy… các kí hiệu chỉ đồ dùng trong gia
đình: kéo, bát, đũa, thìa, nồi, chảo,…, các kí hiệu chỉ sự vật
tự nhiên: sông, núi, đồi… (xem Hình 8):
Hình 10: Kí hiệu chỉ hoa quả
- Các kí hiệu khác (xem Hình 11):
Kí hiệu: ảo
thuật (đặc
trưng là
hành động
hô biến)
Kí hiệu:
bác sĩ (đặc
trưng là mũ trưng là hình (đặc trưng là
chữ thập
trên trán)
Kí hiệu: cái
võng (đặc
Kí hiệu:
buổi sáng
Kí hiệu: sách Kí hiệu: bát Kí hiệu: đũa Kí hiệu: núi
Hình 8: Dùng kí hiệu mô phỏng hình dáng, hoạt động
của sự vật xung quanh
dáng cong và mặt trời nhô
đưa đi đưa lại) lên)
c. Kí hiệu hình thành bằng cách phản ánh đặc trưng hoặc Hình 11: Kí hiệu khác
phân tích đặc trưng
Với những khái niệm trừu tượng, người điếc diễn giải,
phân tích nội dung rồi chọn lựa những nét đặc thù nhất để
làm kí hiệu, có thể là sự kết hợp các hành động mang nét
đặc thù với nhau để diễn tả nghꢀa của khái niệm cần biểu
Người điếc chọn ra 1 đặc điểm nổi bật nào đó của sự
vật, hiện tượng để thực hiện kí hiệu [1]. Đó có thể là một
bộ phận, hành động hoặc tính chất đặc thù của sự vật, hiện
tượng đó. Những đặc trưng này phụ thuộc vào nhãn quan
chủ quan của chúng ta. Ví dụ như đặc trưng của con chó đạt. Ví dụ (xem Hình 12):
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
32
Lê Thị Tố Uyên
Pháp. Năm 1880, cha gửi một thanh niên câm điếc sang
Pháp để học về phương pháp dùng kí hiệu ngôn ngữ. Khi
anh này về nước, cha Azemar mở Trường Câm Điếc Lái
Thiêu (tiền thân của Trung tâm Giáo dục Trẻ khuyết tật
Thuận An là cái nôi nuôi dưỡng và đào tạo người khiếm
thính) vào năm 1886. Vì thế, NNKH của Việt Nam cũng
xuất phát từ Pháp [3].
Kí hiệu: Bắc Kí hiệu: anh Kí hiệu: chân Kí hiệu: cảnh
cực hùng dung sát giao thông
Hình dáng quả (1. Tượng
địa cầu. 2. Tay trưng cho
(1. Mang ý (1. Mang nghꢀa
nghꢀa chụp cảnh sát, đặc
Trải qua nhiều biến cố thăng trầm, NNKH Việt Nam
có lúc hưng thịnh, có lúc suy tàn. Hiện nay, NNKH phát
triển khá mạnh mẽ, đặc biệt giai đoạn từ năm 2012 - 2015
với dự án Giáo dục trẻ khiếm thính trước tuổi đến trường
(IDEO).
chỉ lên phía người. 2. Ý ảnh. 2. Mang trưng là ngôi
trên – phương nghꢀa mạnh ý nghꢀa phần sao trên trán
Bắc)
mẽ)
ngang người) và chiếc súng.
2. Mang nghꢀa
phương tiện
giao thông)
NNKH Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chứa đựng
nhiều kí hiệu tương tự hoặc gần giống với các kí hiệu Mꢀ.
Một dấu mốc đáng chú ý đó là Việt Nam đã có một người
điếc đầu tiên - Nguyễn Trần Thủy Tiên - giành học bổng
“Lãnh đạo người điếc thế giới” - World Deaf Leadingship
và đã tốt nghiệp với tấm bằng loại giỏi của Trường Đại học
Hình 12: Kí hiệu với những khái niệm trừu tượng
d. Kí hiệu phái sinh (kí hiệu cùng gốc)
Kí hiệu phái sinh là cách người ta dùng 1 kí hiệu cơ bản
có tính tượng trưng chung cho một số sự vật, sự việc - làm
kí hiệu gốc - từ kí hiệu gốc đó nếu bổ sung vào một lớp Gallaudet (Washington, Mꢀ) năm 2016. Sau khi về nước,
nghꢀa riêng thì sẽ tạo nên 1 kí hiệu mới [5]. Ví dụ (xem
Hình 13):
Tiên tạo được ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng người điếc
Việt Nam.
Kí hiệu gốc là “nhà”, các kí hiệu phái sinh như: Nhà văn
hóa, ngân hàng, trường học, bến xe…
Đối với các kí hiệu vay mượn, nhiều kí hiệu được người
điếc Việt Nam vay mượn hoàn toàn, cũng có một số kí hiệu
vay mượn một phần và một phần được biến đổi để phù hợp
với văn hóa, ngôn ngữ của cộng đồng người điếc Việt Nam.
Ví dụ (xem Hình 15):
Kí hiệu:
Kí hiệu:
Kí hiệu:
Kí hiệu:
nhà
nhà văn hóa
nhà sàn
bến xe
Hình 13: Kí hiệu phái sinh từ kí hiệu gốc “nhà”
Hoặc kí hiệu gốc là “nữ”, các kí hiệu phái sinh như: chị,
em gái, dì, bác gái, mợ, cô giáo, … kí hiệu gốc là “nam”,
các kí hiệu phái sinh như: anh, em trai, bác trai, thầy giáo,
chú… Ví dụ (xem Hình 14):
Kí hiệu Việt: cảm ơn
Kí hiệu Mꢀ: cảm ơn
Kí hiệu Việt: Kí hiệu Mꢀ: Kí hiệu Việt: Kí hiệu Mꢀ:
tên tên giúp đỡ giúp đỡ
Kí hiệu:
nữ
Kí hiệu:
chị gái
Kí hiệu:
em gái
Kí hiệu:
cô giáo
Hình 15: Kí hiệu vay mượn
Hình 14: Kí hiệu phái sinh từ kí hiệu gốc “nữ”
f. Kí hiệu bằng chữ cái và chữ số ngón tay
e. Kí hiệu vay mượn
Thông thường, chữ cái ngón tay và chữ số ngón tay cho
phép diễn đạt một cách chính xác các thông tin như là tên,
tuổi, địa chỉ, biểu thức… Trong một số trường hợp, chữ cái
và chữ số ngón tay được sử dụng như một kí hiệu hoặc bổ
sung, làm rõ cho việc diễn giải nội dung thông điệp của từ,
Giống như nhiều nước trên thế giới, NNKH được du
nhập vào Việt Nam bằng con đường là các tu sꢀ học tập
ở nước ngoài, chủ yếu tại Pháp, trong các cơ sở giáo dục
dành cho người khiếm thính trở về nước dạy tại các cơ
sở giáo dục dành cho trẻ điếc. Ở Việt Nam, Cha Azemar
(còn được gọi là cha Lực) cũng có thời gian tu nghiệp tại ngữ nào đó. Ví dụ (xem Hình 16):
Số 33 tháng 9/2020
33
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
đường khác nhau để dần hoàn thiện phương tiện giao tiếp
và công cụ tư duy của một cộng đồng người với nhiều nét
văn hóa đặc trưng. Ở bài viết này, chúng tôi bước đầu liệt
kê và miêu tả 6 kiểu hình thành NNKH, đó là: 1/ Chỉ trực
tiếp; 2/ Mô phỏng; 3/ Phản ánh và phân tích đặc trưng; 4/
Phái sinh; 5/ Vay mượn; 6/ Dùng chữ cái và chữ số ngón
tay. Mọi phương thức thể hiện NNKH của người điếc đều
nhằm mục đích truyền tải thông điệp một cách thuận tiện
và hiệu quả nhất tới người tiếp nhận. NNKH Việt Nam
vẫn đang tiếp tục trên con đường tự hoàn thiện để dần trở
thành một ngôn ngữ mang tính hệ thống và độc lập một
cách rõ nét. Có thể nói, NNKH là một hệ thống biểu trưng
kí hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động
Kí hiệu: chu vi Kí hiệu: định Kí hiệu: phòng Kí hiệu: quản
(lần lượt làm lí (lần lượt làm y tế (tay phải lí (tay phải lần
chữ cái ngón chữ cái ngón lần lượt làm lượt làm chữ
tay C, V)
tay Đ, L)
chữ cái ngón cái ngón tay
tay Y, T) Q, L)
Hình 16: Kí hiệu bằng chữ cái và chữ số ngón tay
3. Kết luận
NNKH của người điếc được hình thành bằng nhiều con đến tư duy trừu tượng.
Tài liệu tham khảo
[1] Sandy Niemann, Devorah Greestein, Darlena David,
(2006), Giúp đỡ trẻ điếc, NXB Lao động - Xã hội.
[2] Nguyễn Thị Hoàng Yến, (2005), Đại cương giáo dục trẻ
khiếm thính, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[3] Đỗ Minh Thảo, (12/2012), Vai trò của ngôn ngữ hình
tượng trong văn hóa nguyên thủy và đặc điểm phát triển
ngôn ngữ hình tượng ở người Việt cổ, Tạp chí Khoa học
Xã hội Việt Nam, tr.51-61.
những đặc tính của ngôn ngữ kí hiệu ở Thái Lan và Việt
Nam, Trong là người điếc trong nhiều cách: Những biến
đổi toàn cầu trong những cộng đồng Điếc, Biên tập Leila
Mohagan, Constanze Schmaling, Karen Nakamura và
Graham H. Turner, tr.283-301. Wasshington, D.C, NXB
Đại học Gallaudet.
[5] Cao Thị Xuân Mꢀ, (2010), Tìm hiểu quy luật diễn đạt
bằng kí hiệu giao tiếp của người khiếm thính Việt Nam,
Đề tài cấp Bộ, mã số B.2010 - 19 - 62.
[4] Woodward, James, (2003), Những Ngôn ngữ kí hiệu và
SOME METHODS OF FORMING SIGNS OF VIETNAMESE DEAF PEOPLE
Le Thi To Uyen
The Vietnam National Institute of Educational Sciences
ABSTRACT:To become an independent and systematic language, sign
52 Lieu Giai, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam
language has undergone extensive development. In the process of
Email: touyenan@gmail.com
formation and development, the sign language partly reflects the deaf’s
thinking. The sign language at the word level has many different types of
formation that help the deaf people convey and store messages which
are from the simplest to the most complex. It really became a means of
communication, a tool of thinking of the deaf people. The paper aims to
present 6 types of sign language formation that are considered to be a
combination of the “rules” that form this very specific language.
KEYWORDS: Sign language; sign; the deaf people; formation.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
34
Bạn đang xem tài liệu "Một số phương thức hình thành kí hiệu của người điếc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
mot_so_phuong_thuc_hinh_thanh_ki_hieu_cua_nguoi_diec_viet_na.pdf

