Văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới

VĂN  
BẢN  
THÔNG  
TRONG  
CHƢƠNG  
TRÌNH  
TIN  
Khoa Ngữ văn, Trƣờng Đại  
học Sƣ phạm TP. Hồ Chí  
Minh  
NGỮ  
Điện thoại: 0983830424  
VĂN CỦA MỘT  
SỐ NƢỚC TRÊN  
THẾ GIỚI  
Email:  
ThS. NGUYỄN THỊ NGỌC  
THÚY  
TÓM TẮT  
Từ trƣớc đến nay, chƣơng trình Ngữ văn của chúng ta chƣa thật sự quan tâm  
nhiều đến việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản thông tin cho học sinh. Trong bài  
viết này, chúng tôi trên cơ sở tìm hiểu việc giảng dạy văn bản thông tin trong chƣơng  
trình Ngữ văn của một số nƣớc trên thế giới muốn xác định lại tên gọi cho hệ thống văn  
bản thông tin và đƣa ra một số gợi ý về việc giảng dạy loại văn bản này trong chƣơng  
trình Ngữ văn của nƣớc ta sau năm 2015.  
Từ khóa: văn bản thông tin, chƣơng trình Ngữ văn, năng lực đọc hiểu  
ABSTRACT  
Informational Texts in some Literature and Linguistics Curriculums of some  
Countries in the World  
Our current literature and linguistics curriculum has not really cared about  
developing the competence in reading comprehension informational texts for students  
up till now. In this article, basing on searching the teaching informational texts in some  
literature and linguistics curriculums of some countries, we want to rename for the  
system of informational texts and give some suggestions about the teaching this type of  
text in our literature and linguistics curriculum after 2015.  
445  
Key words: informational text, literature and linguistics curriculum, reading  
comprehension competence  
Ngày nay, cơ hội để học sinh hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu rất  
phong phú và đa dạng, vì hàng ngày cả trong môi trƣờng lớp học và môi trƣờng xã hội,  
học sinh đƣợc tiếp xúc với nhiều loại văn bản khác nhau. Tùy theo tiêu chí phân loại,  
văn bản sẽ đƣợc sắp xếp theo những hệ thống khác nhau, ví dụ nhƣ văn bản in và văn  
bản điện tử, văn bản liên tục và văn bản không liên tục (văn bản gồm chữ và các số, chữ  
và biểu đồ, bảng biểu, v.v), văn bản hƣ cấu và văn bản phi hƣ cấu, văn bản văn chƣơng  
và văn bản thông tin.  
Trong chƣơng trình Ngữ văn của chúng ta hiện nay, học sinh chủ yếu chỉ đƣợc  
tìm hiểu hệ thống văn bản văn chƣơng. Còn một hệ thống văn bản khác có nội dung liên  
quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng những yếu tố hƣ cấu, tƣởng tƣợng,  
thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin (sau đây xin gọi là “văn bản thông  
tin”) thì lại chƣa đƣợc quan tâm giảng dạy đúng mức, tƣơng xứng với vị trí và tầm quan  
trọng của nó trong cuộc sống xã hội. Đó là một vấn đề bất cập. Nhà trƣờng phổ thông  
của chúng ta không chỉ dành quá ít thời gian cho việc rèn luyện năng lực đọc hiểu loại  
văn bản này mà ngay cả những kiểu văn bản cụ thể thuộc loại này cũng chiếm một số  
lƣợng rất khiêm tốn trong toàn bộ chƣơng trình Ngữ văn. Trong phạm vi bài viết này,  
chúng tôi muốn trình bày một số kinh nghiệm thu nhận đƣợc từ sự khảo sát việc giảng  
dạy loại văn bản này trong cấu trúc chƣơng trình Ngữ văn của một số nƣớc trên thế giới,  
từ đó đƣa ra một số gợi ý đối với vấn đề giảng dạy kiểu văn bản này trong tƣơng lai.  
1. Về khái niệm văn bản thông tin  
1.1. Vấn đề tên gọi văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước  
Chƣơng trình Ngữ văn của một số nƣớc đã dùng những tên gọi khác nhau để chỉ  
loại văn bản có nội dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực, không sử dụng  
những yếu tố hƣ cấu, tƣởng tƣợng, thực hiện chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin.  
Chẳng hạn nhƣ:  
– Trong khung chuẩn cơ bản chƣơng trình Tiếng Anh nghệ thuật của liên bang ở  
Mỹ (sau đây xin gọi là chƣơng trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ), khái niệm văn bản  
thông tin (informational text) đƣợc sử dụng trong mối tƣơng quan với khái niệm văn  
bản văn chƣơng (literary text) để tạo thành hệ thống văn bản hoàn chỉnh.  
446  
– Khung chƣơng trình Tiếng Anh ở bậc Tiểu học và Trung học năm 2010 của  
Singapore (sau đây xin gọi là chƣơng trình Tiếng Anh của Singapore) xác định rõ hai  
loại văn bản chính đƣợc giảng dạy là văn bản văn chƣơng (literary text) và văn bản  
thông tin (informational text) hay còn đƣợc gọi là văn bản chức năng (functional text)1.  
– Ở Öc, khung chƣơng trình Tiếng Anh của quốc gia sử dụng những khái niệm  
văn bản tƣởng tƣợng, hƣ cấu (imaginative text), văn bản thông tin (informative text),  
văn bản thuyết phục (persuasive text) trong cấu trúc hệ thống văn bản của chƣơng  
trình2. Trong đó, văn bản thông tin và văn bản thuyết phục là những văn bản có nội  
dung liên quan trực tiếp đến thế giới hiện thực và không sử dụng các yếu tố hƣ cấu,  
tƣởng tƣợng.  
– Còn trong khung chƣơng trình Tiếng Anh của Anh thì “tất cả học sinh đều  
đƣợc khuyến khích đọc rộng ở cả hai loại văn bản: văn bản hƣ cấu (fiction) và văn bản  
phi hƣ cấu (non-fiction) để phát triển kiến thức của họ cũng nhƣ những hiểu biết về thế  
giới mà họ đang sống, để thiết lập một nhận thức đúng đắn cùng tình yêu đối với việc  
đọc và cũng để tích lũy kiến thức thông qua chƣơng trình.” [7, tr.14]  
– Tƣơng tự với chƣơng trình của Anh, chuẩn cơ bản của khung chƣơng trình đọc  
– viết cho trẻ từ 1 đến 8 tuổi của New Zealand cũng qui định rõ hệ thống văn bản sử  
dụng trong chƣơng trình là văn bản hƣ cấu (fiction text) và văn bản phi hƣ cấu (non-  
fiction text).  
Từ việc điểm qua hệ thống khái niệm văn bản đƣợc sử dụng trong chƣơng trình  
Ngữ văn của một số nƣớc trên thế giới, chúng tôi nhận thấy một điểm chung là ở tất cả  
các nƣớc, khung chƣơng trình Ngữ văn đều sử dụng đa dạng loại văn bản trong dạy học  
đọc hiểu. Ít nhất là có hai hệ thống văn bản cùng tồn tại trong chƣơng trình, một hệ  
thống liên quan đến những tác phẩm văn chƣơng, tạm gọi là văn bản văn chƣơng và  
1 Một trong hai mục tiêu quan trọng trong chƣơng trình Tiếng Anh của Singapore là: “Nghe, đọc và quan  
sát với thái độ phê phán, đánh giá, sự chính xác; hiểu và đánh giá đƣợc những văn bản thuộc hai loại  
văn bản là văn bản văn chƣơng và văn bản thông tin/ văn bản chức năng ở cả dạng văn bản in và văn  
bản đa phƣơng tiện.” [8, tr.10]  
2 Khái niệm về từng loại văn bản đƣợc xác định dựa theo mục đích của văn bản, trong đó văn bản thông  
tin và văn bản thuyết phục đƣợc định nghĩa nhƣ sau:  
Văn bản thông tin (informative text): “là những văn bản mà mục đích chính là cung cấp thông tin.  
Chúng bao gồm những văn bản có nội dung quan trọng về phƣơng diện văn hóa trong xã hội và nội dung  
thông tin có thể đƣợc đánh giá nhƣ một kho lƣu trữ tri thức hoặc chỉ là một phần của cuộc sống hàng  
ngày.” [1, tr.137]  
Văn bản thuyết phục (persuasive text): “là những văn bản mà mục đích chính là đƣa ra một quan  
điểm và thuyết phục ngƣời đọc, ngƣời xem hoặc ngƣời nghe.” [1, tr.137]  
447  
một hệ thống khác có nhiệm vụ cung cấp và truyền tải thông tin, tạm gọi là văn bản  
thông tin. Trong đó tên gọi của hệ thống văn bản có chức năng cung cấp và truyền tải  
thông tin thay đổi tùy theo từng nƣớc, ví dụ nhƣ informational text trong chƣơng trình  
của Mỹ và Singapore, informative text và persuasive text trong chƣơng trình của Úc và  
non-fiction text trong chƣơng trình của Anh và New Zealand. Đó là điểm khác biệt giữa  
các chƣơng trình. Tuy nhiên trong khung chƣơng trình của bang California (Mỹ), bên  
cạnh khái niệm informational text còn một khái niệm khác đƣợc nhắc tới với ý nghĩa  
tƣơng đƣơng, đó là expository text, tạm dịch là văn bản trình bày, bình luận  
1.2. Về các khái niệm có liên quan đến văn bản thông tin  
Việc xác định tên gọi của loại văn bản này trong chƣơng trình Ngữ văn của  
chúng ta sau năm 2015 sao cho khoa học và hợp lí cũng rất quan trọng vì quan niệm về  
định danh sẽ chi phối cách lựa chọn kiểu văn bản cụ thể để dạy và học.  
Trong chƣơng trình Ngữ văn của các nƣớc, hệ thống văn bản thông tin đƣợc sử  
dụng với nhiều tên gọi khác nhau. Vấn đề đặt ra là nên hiểu các khái niệm này nhƣ thế  
nào?  
1.2.1. Về khái niệm văn bản phi hƣ cấu (non-fiction text)  
Theo Wikipedia, văn bản chủ yếu đƣợc phân chia thành hai loại phổ biến là văn  
bản phi hƣ cấu (non-fiction) và văn bản hƣ cấu (fiction). “Văn bản phi hƣ cấu là một  
câu chuyện đƣợc xây dựng dựa trên sự kiện và thông tin có thật. Văn bản phi hƣ cấu có  
thể là một câu chuyện kể, một văn bản miêu tả lại sự việc đã xảy ra, hoặc là một sản  
phẩm giao tiếp khác mà tác giả của nó tin rằng sự khẳng định và miêu tả là có thật.  
Những sự khẳng định và miêu tả này có thể chính xác hoặc không, có thể mô tả đúng  
hoặc sai về đối tƣợng. Tuy nhiên, ngƣời ta cho rằng tác giả của những văn bản ấy tin  
rằng chúng đúng sự thật tại thời điểm mà họ soạn thảo, hoặc ít nhất đã khiến ngƣời tiếp  
nhận văn bản tin rằng chúng đúng về phƣơng diện lịch sử hoặc theo kinh nghiệm. Việc  
báo cáo về niềm tin của mọi ngƣời đối với những văn bản loại này không nhất thiết là  
sự chứng thực về tính chân thực của chúng, chỉ đơn giản nó đúng sự thật khi mọi ngƣời  
tin nó. (…) Văn bản phi hƣ cấu không nhất thiết chỉ là văn bản viết, vì tranh ảnh và  
phim cũng có nội dung miêu tả sự thật về một đề tài, vấn đề nào đó.”. Từ định nghĩa  
trên, Wikipedia đã xác định những kiểu văn bản cụ thể thuộc loại văn bản này: “bài tiểu  
luận, bài báo, ký sự, nhật ký, các tài liệu, văn bản khoa học, tranh ảnh, tiểu sử, sách  
giáo khoa, sách hƣớng dẫn du lịch, bản vẽ chi tiết, tài liệu kỹ thuật, sách hƣớng dẫn sử  
dụng, biểu đồ, v.v.”  
Nhƣng sự phân loại này chỉ có ý nghĩa tƣơng đối vì một số văn bản có thể đƣợc  
xếp vào loại văn bản hƣ cấu hay văn bản phi cấu đều hợp lý, chẳng hạn nhƣ những văn  
448  
bản tự biểu hiện, thƣ từ, tạp chí và những văn bản có yếu tố tƣởng tƣợng, hƣ cấu. Mặc  
dù chúng có thể thuộc về loại này hay loại kia, nhƣng vẫn có thể tồn tại sự pha trộn đặc  
điểm của cả hai loại văn bản ấy. Một số văn bản hƣ cấu có thể bao hàm những yếu tố  
phi hƣ cấu. Trong khi đó, một số văn bản phi hƣ cấu lại chứa đựng những yếu tố tiền giả  
định, sự suy diễn hoặc điều tƣởng tƣợng, hƣ cấu không thể xác minh, kiểm chứng. Việc  
bao gồm những điều còn đang bỏ ngỏ, chƣa đƣợc kiểm tra về độ xác thực có thể khiến  
ngƣời đọc hiểu sai bản chất của văn bản phi hƣ cấu. Vì thế thuật ngữ văn bản phi hƣ  
cấu có tính văn chƣơng (literary non-fiction) xuất hiện để chỉ những văn bản phi hƣ cấu  
có sử dụng yếu tố văn chƣơng. Đó là khái niệm đƣợc sử dụng trong quan hệ đối lập với  
khái niệm văn bản phi hƣ cấu thuần túy. Những yếu tố có tính sáng tạo và văn chƣơng  
thƣờng đƣợc cho là không phù hợp để sử dụng trong văn bản phi hƣ cấu, nhƣng chúng  
vẫn xuất hiện trong một số văn bản và thƣờng chìm khuất đi để không làm mờ đi thông  
tin của văn bản. Sự đơn giản, sáng rõ và trực tiếp là những điều quan trọng đƣợc cân  
nhắc khi tạo lập văn bản phi hƣ cấu. Khái niệm này đƣợc cũng đƣợc nhắc đến trong  
khung chuẩn cơ bản chƣơng trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mỹ.  
1.2.2. Về khái niệm văn bản thông tin (informational text/ informative text)  
Duke1 (2003) đã từng đƣa ra định nghĩa về văn bản thông tin nhƣ sau: “Mục  
đích chính của văn bản thông tin là truyền tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội,  
điển hình là từ những ngƣời đƣợc cho là biết thông tin đến những ngƣời đƣợc cho là  
không biết.” [9, tr.16]. Từ định nghĩa trên, Duke cho rằng: “…Tiểu sử là văn bản phi hƣ  
cấu nhƣng không phải là văn bản thông tin vì mục đích chính của nó là truyền tải thông  
tin về cuộc đời của một cá nhân. Văn bản miêu tả các quy trình hay là văn bản hƣớng  
dẫn các thao tác cũng chỉ là văn bản phi hƣ cấu, không phải văn bản thông tin vì mục  
đích của nó là hƣớng dẫn thao tác chứ không phải chuyển tải thông tin về một điều gì  
đó. Những văn bản phi hƣ cấu có tính chất kể chuyện hoặc là “những câu chuyện kể về  
sự thật” cũng là văn bản phi hƣ cấu chứ không phải là văn bản thông tin vì mục đích  
chính là kể về một sự kiện hoặc một chuỗi các sự kiện đã xảy ra.” [9, tr.16]. Từ sự phân  
biệt đó, Duke (2003) đã một mực khẳng định văn bản thông tin có đặc điểm là trình bày  
toàn bộ các phân lớp của sự vật (khác với tiểu sử – một loại văn bản phi hƣ cấu chỉ tập  
trung vào một cá thể, một cá nhân) và nhìn đối tƣợng theo cách phi thời gian (khác với  
tiểu sử, chỉ tập trung vào những điểm thời gian đặc biệt). Do đó, văn bản thông tin có  
1
Theo Duke và Tower (2004), văn bản phi hƣ cấu đƣợc chia thành 5 loại nhƣ sau: văn bản thông tin,  
sách trình bày khái niệm, văn bản miêu tả quá trình, tiểu sử và những văn bản là tài liệu tham khảo. Cách  
sử dụng thuật ngữ văn bản thông tin (informational text) của họ hẹp hơn cách mà các nhà nghiên cứu  
khác vẫn thƣờng sử dụng.  
449  
nội dung bao quát hơn, tổng quan hơn. Trên cơ sở đó, Duke đã trình bày tóm tắt định  
nghĩa về văn bản thông tin nhƣ sau:  
“Văn bản thông tin là:  
– Loại văn bản mà mục đích chính của nó là chuyển tải thông tin về thế giới tự  
nhiên và xã hội.  
– Loại văn bản có những nét đặc trƣng tiêu biểu chẳng hạn nhƣ hƣớng đến toàn  
bộ các lớp, loại của sự vật trong cách tiếp cận, không chịu sự chi phối bởi các yếu tố  
thời gian.  
– Loại văn bản đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau, gồm có: sách, tạp  
chí, thông cáo, bản tin, tài liệu quảng cáo, CD-ROMs, và Internet.  
Văn bản thông tin KHÔNG PHẢI là:  
– Loại văn bản mà mục đích chính của nó là những mục đích khác, ngoài việc  
chuyển tải thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội, chẳng hạn nhƣ kể chuyện về cuộc đời  
của một cá nhân, về một sự kiện/ chuỗi các kiện hoặc kể về quy trình thực hiện một điều  
gì đó.  
– Loại văn bản luôn luôn chỉ có những đặc điểm riêng biệt, cụ thể; trái lại đặc  
điểm của loại văn bản này sẽ thay đổi theo từng kiểu văn bản cụ thể.  
– Chỉ là sách.” [9, tr.17]  
Từ định nghĩa này, nhóm nghiên cứu của Duke đã xác định đặc điểm cơ bản của  
văn bản thông tin nhƣ sau: văn bản có sự trình bày và lặp lại của đề tài, chủ đề; miêu tả  
những thuộc tính và những sự kiện đặc thù; sử dụng cấu trúc so sánh/ tƣơng phản và  
phân loại; sử dụng từ ngữ kỹ thuật; minh họa bằng thực tế hoặc hình ảnh; các chƣơng  
mục; giúp đỡ, hỗ trợ, định hƣớng cho ngƣời đọc bằng mục lục, số trang, đề mục và  
những phƣơng tiện hình ảnh đa dạng nhƣ biểu đồ, bảng biểu và sơ đồ. Do đó việc đọc  
hiểu văn bản thông tin không đơn giản chỉ là đọc lần lƣợt theo từng dòng; mà còn phải  
đọc những sơ đồ, bảng biểu và suy nghĩ, tính toán; rồi tiếp tục đọc văn bản và xem xét  
lại sơ đồ, bảng biểu hoặc tính toán. Việc đọc cứ trở đi trở lại nhƣng không theo đƣờng  
thẳng; mà có thể tiến về phía trƣớc rồi lại cho phép đọc lùi về sau và khai thác tối đa  
hiệu quả thông tin từ những phƣơng tiện thể hiện đặc thù mà loại văn bản này mang lại  
để giúp cho việc đọc hiểu sâu hơn, rõ ràng hơn. Chẳng hạn nhƣ trong văn bản thông tin,  
việc sử dụng hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ, v.v. (tạm gọi là những cách trình bày thông tin  
bằng hình ảnh trực quan) hỗ trợ rất tích cực cho ngƣời đọc trong quá trình giải mã thông  
tin. Vì thế theo Diana M.Barone (2011), sự minh họa thông tin bằng những công cụ trực  
quan nhƣ thế rất đa dạng trong một văn bản, mỗi một hình ảnh trực quan đƣợc sử dụng  
450  
làm nổi bật những thông tin cần thiết hỗ trợ cho quá trình đọc hiểu. Ngƣời đọc vì thế  
cần đƣợc trang bị kỹ năng đọc hiểu những loại công cụ trực quan này để họ có thể sẵn  
sàng giải mã chúng chứ không phải là bỏ qua chúng trong quá trình đọc.  
Về hình thức thể hiện của văn bản thông tin, có nhiều loại khác nhau. Theo  
Duke (2003), có những hình thức nhƣ sau: sách tham khảo, sách giáo khoa, sách chuyên  
ngành, sách viết về những thông tin mang tính quá trình (ví dụ nhƣ sách miêu tả về  
vòng đời của một loài động vật, sách viết về quá trình tạo ra và biến đổi của một loại vật  
chất, v.v.) và những loại văn bản khác không phải là sách, chẳng hạn nhƣ tạp chí, báo,  
áp phích quảng cáo, trang web và CD-ROM, v.v.  
1.2.3. Về khái niệm văn bản trình bày, bình luận (expository text)  
Trong chƣơng trình của một số quốc gia, khái niệm văn bản trình bày, bình luận  
(expository text) đƣợc sử dụng để thay thế cho khái niệm văn bản phi hƣ cấu hay văn  
bản thông tin. Khái niệm này xuất hiện trong cách nhìn nhị phân của một số tác giả về  
các loại văn bản, bao gồm narrative text (tạm dịch là văn bản trần thật) và expository  
text (tạm dịch là văn bản trình bày, bình luận). Barbara Moss (2004) đã đƣa ra cách định  
nghĩa expository text nhƣ sau: “Trong khi mục đích của “narrative text” là kể chuyện,  
thì mục đích của “expository text” là thông báo, miêu tả hoặc báo cáo, tƣờng thuật.  
Trong “narrative text” thì tác giả sẽ tƣởng tƣợng, hình dung ra nhân vật, sự kiện và sử  
dụng cấu trúc của một câu chuyện kể để tạo ra câu chuyện. Còn khi viết văn bản thông  
tin, tác giả sẽ tổ chức bài viết của mình theo hƣớng đạt đến những thông tin về chủ đề  
mà họ muốn hƣớng đến. Họ sẽ tổ chức, sắp xếp thông tin sao cho hợp lý và hấp dẫn  
bằng cách sử dụng các cấu trúc khác nhau của “expository text”. […] Những văn bản  
dạng “expository text” cũng có cấu trúc riêng của nó. Những cấu trúc này sẽ cung cấp  
cho ngƣời học một sơ đồ chỉ dẫn họ khám phá, tìm hiểu nội dung văn bản. Sự nhận thức  
của ngƣời học về cấu trúc và cách thức tổ chức của văn bản “expository text” càng lớn  
bao nhiêu thì việc họ nắm bắt thông tin của ngƣời viết sẽ càng nhanh hơn ấy nhiêu.”.  
[2, tr.712]  
1.2.4. Điểm thống nhất và khác biệt giữa các khái niệm  
Từ định nghĩa về các khái niệm, ngƣời viết nhận thấy tuy chƣơng trình của các  
nƣớc sử dụng những tên gọi khác nhau để định danh cho loại văn bản ấy nhƣng nhìn  
chung các tên gọi đều đƣợc dùng để chỉ một loại văn bản có nội dung liên quan trực tiếp  
đến thế giới thực (không chứa những yếu tố của sự hƣ cấu, tƣởng tƣợng). Trong đó  
đƣợc sử dụng rộng rãi nhất là hai khái niệm văn bản phi hƣ cấu (non-fiction) và văn bản  
thông tin (informational text).  
451  
Cả hai loại văn bản này đều đƣợc tạo lập từ những thông tin có thật. Có tác giả  
cho rằng hai khái niệm này đồng nhất với nhau, vậy nên họ thƣờng dùng hai khái niệm  
này thay thế cho nhau. Nhƣng cũng có một số nhà nghiên cứu nhƣ nhóm của Nell  
K.Duke (2003) lại cho rằng hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau, họ  
cho rằng văn bản thông tin chỉ là một loại rất quan trọng của văn bản phi hƣ cấu vì văn  
bản phi hƣ cấu bao gồm tất cả các văn bản viết về những sự việc có thật. Theo Duke  
(2003) “văn bản thông tin khác với các loại khác của văn bản phi hƣ cấu ở mục đích,  
đặc điểm và hình thức” [2, tr.16]. Vì vậy một số tiểu loại của văn bản phi hƣ cấu lại  
không đƣợc nhóm của Duke xếp vào loại văn bản thông tin, chẳng hạn nhƣ tiểu sử, tự  
truyện và những văn bản thuyết minh về quy trình hoặc thao tác thực hiện. Sự phức tạp  
trong việc xác định khái niệm và phân loại văn bản thông tin là một minh chứng cho  
thấy ranh giới giữa các loại văn bản là hết sức mong manh. Vì vậy, việc xác định, lựa  
chọn những kiểu văn bản cụ thể của loại văn bản này trong chƣơng trình Ngữ văn của  
một số nƣớc cũng rất khác nhau tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia nhƣng nhìn chung  
vẫn phải bảo đảm đƣợc những đặc trƣng cơ bản của văn bản thông tin.  
Còn về khái niệm văn bản trình bày, bình luận. Khái niệm này liên quan nhƣ thế  
nào với hai khái niệm trên để có thể đƣợc dùng nhƣ là một khái niệm tƣơng đƣơng với  
khái niệm văn bản thông tin? Nhƣ ở trên đã nói, khái niệm này xuất hiện trong cách  
nhìn nhị phân của một số tác giả về các loại văn bản. Các nhà nghiên cứu thƣờng có  
khuynh hƣớng nhị phân các loại văn bản theo hai hƣớng nhƣ sau: hƣớng thứ nhất chia  
các loại văn bản thành fiction (văn bản hƣ cấu) và non-fiction (văn bản phi hƣ cấu);  
hƣớng thứ hai chia các loại văn bản thành narrative text (văn bản trần thuật) và  
expository text (văn bản tình bày, bình luận). Hƣớng phân loại thứ nhất chủ yếu căn cứ  
vào nội dung của văn bản, còn hƣớng phân loại thứ hai chủ yếu dựa vào cách thức tổ  
chức của văn bản. Mục đích của văn bản trần thuật (narrative text) là kể chuyện nên  
thƣờng đƣợc tổ chức theo kết cấu một câu chuyện với các phần mở đầu, phát triển và  
kết thúc, do đó loại văn bản này thƣờng có nhân vật, bối cảnh, mâu thuẫn và đề tài. Còn  
văn bản trình bày, bình luận (expository text) thƣờng đƣợc tổ chức theo những dạng cấu  
trúc sau để giải thích thông tin: miêu tả, nguyên nhân – kết quả, tiến trình thời gian, so  
sánh – tƣơng phản, nêu vấn đề – giải quyết vấn đề. Từ đó có thể thấy mục đích của văn  
bản thông tin (informational text) và văn bản trình bày, bình luận (expository text) là  
giống nhau. Thật ra, hai loại văn bản này chỉ là một, sở dĩ có hai tên gọi nhƣ vậy là do  
tiêu chí định danh khác nhau, một số nhà nghiên cứu gọi văn bản thông tin  
(informational text) vì căn cứ để phân loại và đặt tên là nội dung của văn bản, còn nếu  
gọi là văn bản trình bày, bình luận (expository text) thì căn cứ định danh lại dựa vào cấu  
trúc của văn bản.  
452  
Vậy có thể thấy vấn đề tên gọi của loại văn bản này cũng khá phức tạp và gây  
tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Nhƣng nhìn chung trong chƣơng trình của các nƣớc,  
loại văn bản này có thể đƣợc gọi với nhiều khái niệm khác nhau nhƣng đều phản ánh  
những sự việc, sự kiện có thật trong thế giới hiện thực, khác với văn bản văn chƣơng –  
những văn bản đƣợc xem là sản phẩm của hƣ cấu, tƣởng tƣợng.  
Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, chúng tôi cho rằng trong chƣơng trình  
Ngữ văn của nƣớc ta sau năm 2015 hệ thống những văn bản có nội dung liên quan đến  
ngƣời thật, việc thật; không sử dụng các yếu tố hƣ cấu, tƣởng tƣợng và thực hiện mục  
đích chính là cung cấp thông tin nên đƣợc gọi là văn bản thông tin. Tên gọi ấy khái quát  
đƣợc nhiều kiểu loại văn bản. Nếu xác định nhƣ thế thì trong chƣơng trình Ngữ văn của  
chúng ta, tiểu sử và tự truyện sẽ không thuộc loại văn bản này và tất cả những kiểu văn  
bản thuộc văn bản trình bày, bình luận (expository text) và văn bản thuyết phục  
(persuasive texts) trong chƣơng trình của Singapore và Öc nên đƣợc xếp vào loại văn  
bản này vì chúng vẫn mang những đặc điểm của văn bản thông tin.  
2. Một số kinh nghiệm thu đƣợc từ việc khảo sát chƣơng trình giảng dạy văn bản  
thông tin trong khung chƣơng trình Ngữ văn của một số nƣớc trên thế giới  
Qua khảo sát việc giảng dạy văn bản thông tin trong chƣơng trình Ngữ văn của  
một số nƣớc, chúng tôi nhận thấy chƣơng trình Ngữ văn của nƣớc ta sau năm 2015 có  
thể tham khảo một số kinh nghiệm sau:  
2.1. Trong chương trình Ngữ văn của một số nước, việc giảng dạy văn bản thông tin  
có một vai trò rất quan trọng.  
Kết quả đánh giá quốc gia về sự phát triển giáo dục (NAEP) của Mỹ năm 2009  
đã chỉ ra rằng trong khung chƣơng trình đọc hiểu của nhà trƣờng phổ thông tỷ lệ văn  
bản thông tin đƣợc giảng dạy ngày một tăng lên theo cấp lớp:  
Sự phân bố văn bản văn chƣơng và văn bản thông tin theo cấp lớp trong khung  
chƣơng trình đọc hiểu của NAEP (2009)  
Lớp  
4
Văn bản văn chƣơng  
Văn bản thông tin  
50%  
45%  
30%  
50%  
55%  
70%  
8
12  
[5, tr.5]  
453  
Theo Chƣơng trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ: “Phần lớn chƣơng trình đọc  
hiểu bắt buộc trong những trƣờng cao đẳng và chƣơng trình đào tạo nhân lực là những  
văn bản đƣợc viết theo cấu trúc văn bản thông tin và chứa đựng nhiều thử thách về nội  
dung; chƣơng trình giáo dục bậc sau trung học vừa đặc biệt cung cấp cho sinh viên cả  
khối lƣợng đọc hiểu nhiều hơn chƣơng trình học phổ thông vừa đem đến cho ngƣời học  
cả những kiểu cấu trúc văn bản tƣơng đối đầy đủ.” [5, tr.4]. Do đó chƣơng trình giáo  
dục phổ thông phải quan tâm đến vai trò của văn bản thông tin trong việc rèn luyện kỹ  
năng đọc hiểu để học sinh đƣợc chuẩn bị đầy đủ hơn trƣớc khi bƣớc vào những bậc học  
cao hơn trong tƣơng lai. Vì vậy, theo kết quả đánh giá từ NAEP, tỷ lệ đọc hiểu văn bản  
văn chƣơng sẽ giảm dần theo cấp lớp, còn tỷ lệ của văn bản thông tin sẽ tăng dần theo  
cấp lớp và chiếm khối lƣợng đáng kể trong chƣơng trình đọc hiểu đế đáp ứng mục tiêu  
của những bậc đào tạo sau trung học, đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp và cuộc sống của  
ngƣời học trong tƣơng lai.  
2.2. Văn bản thông tin được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn của một số nước  
rất đa dạng về kiểu loại  
– Chƣơng trình Tiếng Anh của Singapore đã chia văn bản thông tin  
(informational text)/ văn bản chức năng (functional text) thành hai tiểu loại: “văn bản  
thông tin (informational text) (chẳng hạn nhƣ văn bản hành chính, văn bản kể lại sự  
thật việc thật, văn bản tƣờng thuật thông tin và văn bản giải thích) thƣờng trình bày các  
ý chính và có những ý chi tiết hỗ trợ; còn văn bản trình bày, bình luận (exposition) lại  
trình bày mối liên hệ giữa các lập luận (chẳng hạn nhƣ tiểu sử, các bài báo, tạp chí, tập  
san)” [8, tr.34]  
– Chƣơng trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ xác định văn bản thông tin  
(informational texts) đƣợc dạy với những loại cụ thể nhƣ:  
Trong chƣơng trình từ mẫu giáo đến lớp 5, văn bản thông tin đƣợc xác định với  
những loại cụ thể nhƣ: “văn bản phi hƣ cấu có tính văn chƣơng (Literacy Nonfiction)  
gồm tiểu sử và tự truyện; văn bản về lịch sử, khoa học (Historical, Scientific Texts) gồm  
sách viết về lịch sử, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và nghệ thuật, văn bản thuộc  
lĩnh vực kỹ thuật (Technical Texts) gồm những văn bản hƣớng dẫn, những mẫu đơn và  
những văn bản trình bày về nhiều lĩnh vực đƣợc thể hiện dƣới dạng đồ thị, biểu đồ, sơ  
đồ hoặc dữ liệu thông tin đã đƣợc số hóa, v.v.” [5, tr.31].  
Trong chƣơng trình từ lớp 6 đến lớp 12, văn bản thông tin chỉ còn đƣợc giảng  
dạy với một loại là văn bản phi hƣ cấu có tính văn chƣơng (Literacy Nonfiction) đƣợc  
chia thành những tiểu loại cụ thể nhƣ: “những kiểu văn bản giải thích; văn bản thể hiện  
sự tranh luận; văn bản chức năng dƣới hình thức những bài tiểu luận, những bài phát  
454  
biểu, nói chuyện, những mẩu ý kiến cá nhân; bài tiểu luận về nghệ thuật hay văn học;  
tiểu sử; tự truyện; bài báo; văn bản miêu tả; báo cáo về các vấn đề lịch sử, khoa học, kỹ  
thuật hoặc kinh tế (bao gồm cả những nguồn tƣ liệu đã đƣợc số hóa) dành cho đại  
chúng.” [5, tr.57]  
– Trong chƣơng trình Tiếng Anh của Úc, các kiểu loại cụ thể của văn bản thông  
tin (informative texts) và văn bản thuyết phục (persuasive texts) đƣợc qui định nhƣ sau:  
Văn bản thông tin (informative text): “Loại văn bàn này bao gồm những kiểu  
văn bản cụ thể nhƣ văn bản giải thích và miêu tả các hiện tƣợng tự nhiên, văn bản thuật  
lại các sự kiện, văn bản hƣớng dẫn, văn bản trình bày các quy tắc và luật lệ, quy định  
cũng nhƣ những văn bản tƣờng thuật tin tức ngắn gọn.” [1, tr.137]  
Văn bản thuyết phục (persuasive text): “Loại văn bản này bao gồm những văn  
bản quảng cáo; những văn bản thể hiện sự tranh luận, thảo luận; những bài bút chiến,  
luận chiến; những bài luận có sức thuyết phục và cả những bài báo.” [1, tr.137]  
2.3. Trong chương trình Ngữ văn của một số nước, chuẩn đầu ra của việc giảng dạy  
văn bản thông tin được thiết kế rất chi tiết, cụ thể; chủ yếu hướng đến việc hình  
thành và rèn luyện năng lực đọc hiểu văn bản thông tin  
– Chƣơng trình Tiếng Anh của Singapore đã xác định rõ những kỹ năng, chiến  
lƣợc, thái độ và hành vi cần phải đạt đƣợc khi đọc và quan sát văn bản thông tin  
(informational texts)/ văn bản chức năng (functional texts) ở bậc trung học nhƣ sau:  
- Xác định những đặc điểm thuộc về kỹ thuật in ấn và trực quan (Vd: tiêu  
đề, đề mục, hình ảnh minh họa, sử dụng logo…)  
Bố cục  
- Xác định những đặc điểm của văn bản (Vd: nhan đề/ tiêu đề, đề mục lớn,  
của văn  
đề mục nhỏ, lời chú thích và tên của hình vẽ, biểu đồ, bảng biểu …)  
bản  
- Nhận diện mô hình cấu trúc của văn bản (Vd: liệt kê chuỗi sự việc,  
nguyên nhân – kết quả, …)  
- Dự đoán nội dung của văn bản dựa vào:  
Sự phản  
hồi đối  
với văn  
bản  
+ Kiến thức nền  
+ Những đặc điểm thuộc về kỹ thuật in ấn và trực quan  
+ Mô hình tổ chức văn bản  
+ Cấu trúc tổ chức văn bản (Vd: cấu trúc theo mô hình một câu  
chuyện, định hƣớng – mâu thuẫn – cao trào – giải quyết mâu thuẫn, …)  
Giải thích những dự đoán về nội dung của văn bản có thể chấp nhận đƣợc không hay  
phải thay đổi, điều chỉnh. Tại sao?  
Trình bày lại ý tƣởng chính và những chi tiết quan trọng  
455  
Kiểm tra/ nghiên cứu những ý kiến tranh luận, trái chiều đối với một vấn đề, bao gồm cả  
chất lƣợng của những tranh luận ấy  
Xác định và đƣa ra những bằng chứng chứng minh cho những tranh luận, gồm có:  
+ Sự kiện  
+ Nguyên nhân  
+ Yêu cầu đặt ra đối với những ngƣời có thẩm quyền  
+ Sử dụng phƣơng pháp logic trong tranh luận  
Nhận xét về cách sử dụng ngôn ngữ của tác giả (Vd: cách lựa chọn từ ngữ, câu hỏi tu từ,  
….) đã thay đổi nhƣ thế nào cho phù hợp với mục đích và đối tƣợng hƣớng đến của văn  
bản để đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn  
[8, tr.45]  
– Trong chƣơng trình Tiếng Anh nghệ thuật của Mĩ, mục tiêu cần đạt của việc  
giảng dạy văn bản thông tin chủ yếu cũng hƣớng đến kỹ năng đọc hiểu. Chẳng hạn, việc  
đọc hiểu văn bản thông tin ở lớp 9 – 10 cần phải đạt đƣợc những kết quả sau:  
“Về ý chính và chi tiết: trích dẫn đƣợc những chứng cứ mạnh mẽ và xuyên suốt  
văn bản để củng cố cho kết quả phân tích đã đƣợc thể hiện rõ trong văn bản cũng nhƣ  
kết quả suy luận từ văn bản; xác định đƣợc ý chính của văn bản và phân tích sự phát  
triển của ý chính qua diễn biến của văn bản, bao gồm cả việc nó hiện lên nổi bật nhƣ  
thế nào trong văn bản và nó đƣợc chắt lọc, định hình nhƣ thế nào qua những chi tiết cụ  
thể; cung cấp đƣợc một bản tóm tắt khách quan về văn bản; phân tích xem tác giả đã  
sắp xếp và phân tích hệ thống các ý kiến và sự kiện nhƣ thế nào, bao gồm cả trật tự sắp  
xếp các quan điểm, cách chúng đƣợc giới thiệu và phát triển nhƣ thế nào cũng nhƣ là  
sự nối kết giữa các ý kiến và sự kiện đó.  
Về những kỹ xảo ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong văn bản và cấu trúc văn bản:  
xác định đƣợc ý nghĩa của từ và ngữ đƣợc sử dụng trong văn bản, bao gồm ý nghĩa ẩn  
dụ, ý nghĩa mở rộng, và cả ý nghĩa chuyên môn; phân tích đƣợc những tác động cộng  
hƣởng của việc lựa chọn từ ngữ đối với ý nghĩa và giọng điệu của văn bản; phân tích  
chi tiết những ý kiến và sự khẳng định của tác giả đã đƣợc phát triển và chắt lọc nhƣ  
thế nào qua những câu văn, đoạn văn đặc biệt hoặc là từ những bộ phận lớn hơn câu,  
đoạn; xác định đƣợc quan điểm hoặc mục đích của tác giả qua văn bản và phân tích  
đƣợc tác giả đã sử dụng những hình thức tu từ nào để phát triển quan điểm hoặc mục  
đích của mình. …” [5, tr.40]  
– Trong chƣơng trình Tiếng Anh của Öc, văn bản thông tin đƣợc dạy chủ yếu ở  
phần kiến thức về ngôn ngữ (Language) và phần kỹ năng đọc viết (Literacy). Chuẩn đầu  
ra của việc dạy văn bản thông tin trong chƣơng trình của Öc không đƣợc tách thành  
456  
phần riêng nhƣ trong chƣơng trình Ngữ văn của Singapore và Mĩ. Trong phần kiến thức  
về ngôn ngữ (Language), học sinh thƣờng đƣợc học về văn bản thông tin qua những  
hiểu biết liên quan đến cấu trúc và tổ chức của văn bản (Text Structure and  
Organisation), cách thức sử dụng ngôn ngữ để thể hiện và phát triển ý tƣởng  
(Expressing and Developing Ideas). Còn ở phần kỹ năng đọc viết (Literacy), chuẩn đầu  
ra đối với việc dạy học văn bản thông tin là những nội dung liên quan đến kỹ năng đọc  
và viết văn bản trong ngữ cảnh (Texts in Context), kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong sự  
tƣơng tác với những cá nhân khác (Interacting with Others), kỹ năng hiểu – phân tích –  
đánh giá (Interpreting, Analysing, Evaluating) các ý kiến, thông tin, vấn đề từ nhiều  
nguồn khác nhau và kỹ năng tạo lập văn bản (Creating Texts). Ở đây, chúng tôi xin nêu  
ra một số ví dụ cụ thể về chuẩn đầu ra trong chƣơng trình Tiếng Anh lớp 6 mà chúng tôi  
cho rằng có liên quan đến việc giảng dạy văn bản thông tin:  
“Tìm hiểu đa dạng các loại văn bản từ văn bản hàng ngày, văn bản hành chính,  
văn bản văn chƣơng và văn bản thông tin; thảo luận về những yếu tố liên quan đến cấu  
trúc văn bản và những đặc điểm ngôn ngữ; so sánh cấu trúc tổng thể và hiệu quả sự lựa  
chọn của tác giả ở hai hay nhiều văn bản.” [1, tr.69]  
“Quan sát xem chuỗi các sự kiện liên tiếp đƣợc thể hiện bằng những phƣơng  
tiện hình ảnh nhƣ thế nào thông qua loạt hình ảnh, bao gồm cả những tranh hài hƣớc,  
chuỗi hình ảnh đƣợc sắp xếp theo dòng thời gian, những biểu đồ có tính quá trình, biểu  
đồ phát triển, biểu đồ chu trình, chuỗi hình ảnh trong những quyển sách hình ảnh.” [1,  
tr.70]  
“So sánh nhiều văn bản với nhau bao gồm cả những văn bản đa phƣơng tiện để  
tìm hiểu các cách khác nhau mà các văn bản đã sử dụng để trình bày ý kiến và sự  
kiện.” [1, tr.72]  
Từ việc khảo sát định hƣớng giảng dạy văn bản thông tin ở một số nƣớc, chúng  
tôi nhận thấy chuẩn đầu ra đƣợc xác định rõ là vừa cung cấp cho học sinh những kiến  
thức cơ bản về loại văn bản này, vừa phát triển cho các em những kỹ năng cụ thể để  
tƣơng tác với loại văn bản này trong cuộc sống, đó là những kỹ năng liên quan đến việc  
tạo lập và tiếp nhận văn bản trong hoạt động giao tiếp, cụ thể là kỹ năng đọc và viết. Do  
đó, có thể nói chƣơng trình giảng dạy văn bản thông tin ở một số nƣớc đã hƣớng đến  
việc phát triển năng lực tạo lập và tiếp nhận loại văn bản này cho ngƣời học.  
3. Một số gợi ý từ việc khảo sát chƣơng trình giảng dạy văn bản thông tin của một  
số nƣớc trên thế giới  
– Trong chƣơng trình Ngữ văn của chúng ta sau năm 2015, văn bản thông tin  
nên đƣợc cân nhắc giảng dạy ở một mức độ phù hợp với vị trí quan trọng của loại văn  
457  
bản này trong cuộc sống. Chúng ta không nên chỉ coi trọng văn bản văn chƣơng mà  
quên đi vai trò của văn bản thông tin trong việc chuẩn bị kỹ năng đọc hiểu cho học sinh  
trƣớc hết là ở những bậc học sau trung học cũng nhƣ cho cuộc sống và công việc của  
các em trong tƣơng lai.  
– Khi thiết kế nội dung giảng dạy văn bản thông tin trong chƣơng trình Ngữ văn  
sau năm 2015, có lẽ các nhà biên soạn sách giáo khoa nên lƣu ý đến tính đa dạng của  
kiểu loại văn bản này để tạo cơ hội giúp học sinh tiếp cận với càng nhiều kiểu loại văn  
bản thông tin cụ thể càng tốt vì đây chủ yếu là những dạng văn bản mà các em tiếp xúc  
hàng ngày. Đó cũng là một trong những tiêu chí để học sinh cảm thấy môn Ngữ văn  
thiết thực, gắn bó chặt chẽ với cuộc sống và công việc của họ  
– Trong chƣơng trình Ngữ văn của chúng ta hiện nay vẫn có một số văn bản  
thuộc loại này nhƣng cách khai thác của chúng ta trong giảng dạy chủ yếu vẫn thiên về  
nội dung của văn bản mà chƣa hƣớng học sinh đến việc tìm hiểu những đặc điểm của  
văn bản (chẳng hạn nhƣ đặc điểm hình thức, đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm cấu trúc,  
hoặc là việc khai thác ý nghĩa từ những công cụ trình bày trực quan, v.v.) nên học sinh  
của chúng ta chƣa có kĩ năng tiếp nhận và tạo lập những loại văn bản nhƣ thế. Vì thế từ  
kinh nghiệm xây dựng chƣơng trình giảng dạy văn bản thông tin của một số nƣớc,  
chúng tôi hi vọng rằng chƣơng trình của chúng ta sau năm 2015 cũng sẽ chú ý nhiều  
hơn đến việc dạy loại văn bản này theo hƣớng hình thành và phát triển năng lực cho  
ngƣời học.  
Trên đây là những gợi ý của chúng tôi từ việc khảo sát chƣơng trình giảng dạy  
văn bản thông tin của một số nƣớc trên thế giới. Chúng tôi tin rằng với những thay đổi  
căn bản, chƣơng trình Ngữ văn của chúng ta sau năm 2015 sẽ thật sự làm cho học sinh  
cảm thấy yêu thích môn học hơn và nhận ra sự gắn bó thiết thực giữa môn học với cuộc  
sống hàng ngày của các em.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. ACARA (2013). The English – The Australian Curriculum, Version 5.1.  
2. Barbara Moss (2004). “Teaching Expository Text Structures through  
Informational Trade Book Retellings”. The Reading Teacher, Vol.57, No.8  
(05/2004), tr. 710 – 718.  
458  
3. Beth Maloch & Randy Bomer (2013). “Informational Texts and the Common  
Core Standards: What are we talking about, anyway?”. Languague Arts, Vol.90,  
No.3 (01/2013), tr. 205 – 213.  
4. California Department of Education (2007). Language Arts Framework for  
California Public Schools (Kindergarten Through Grade Twelve).  
5. Common Core State Standards for English Arts and Literacy  
6. Diana M.Barone (2011), Children‟s Literature in the Classroom. The guilford  
press, U.S.A.  
7. GOV.UK (2013). The National Curriculum in England (Framework Document).  
8. Ministry of Education Singapore (2010). English Language Syllabus 2010 -  
Primary  
&
Secondary  
(Express/  
Normal  
[Academic]).  
9. Nell K.Duke, V.Susan Bernett-Armistead, P.David Pearson (2003), Reading &  
Writing Informational Text in the Primary Grades. Scholastic Inc, U.S.A.  
10. New Zealand Ministry of Education (2013). The New Zealand Curriculum.  
11. Wikipedia, the free encyclopedia. Non-fiction.  
459  
pdf 15 trang baolam 22560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn bản thông tin trong chương trình Ngữ văn của một số nước trên thế giới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_ban_thong_tin_trong_chuong_trinh_ngu_van_cua_mot_so_nuoc.pdf