Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực thương mại điện tử tại Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp 4.0

Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG  
LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM  
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4.0  
Đặng Thị Nga1*, Nguyễn Văn Quảng1  
1 Phân hiệu tai Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Giao thông vận tải,  
Số 450-451 Lê Văn Việt, Phường Tăng Nhơn Phꢀ A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh  
* Tác giả liên hệ: Email: [email protected]; Tel: 0979659768.  
Tóm tắt. Hiện nay nhiều nưꢁc trên thế giꢁi đang phải đối phó vꢁi tình trạng dịch bệnh  
lây lan rất nhanh. Do vậy, Thương mại điện tử (TMDT) đã trở thành một công cụ quan  
trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp vượt qua khó  
khăn và thích nghi vꢁi xu hưꢁng phát triển của thế giꢁi. TMDT mang lại nhiều lợi ích,  
giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường bằng việc dễ dàng tiếp cận  
rộng lꢁn vꢁi khách hàng tiềm năng. Hoạt động TMDT cũng góp phần giúp hạn chế  
việc lây lan dịch bệnh CoVid và một số dịch bênh khác mà người dân trên thế giꢁi  
đang phải đối mặt. Tuy nhiên, lực lượng lao động trong nhóm ngành thương mại điện  
tử hiện nay đang đối mặt vꢁi nhiều vấn đề như thiếu kỹ năng, thiếu lực lượng lao động  
khiến các doanh nghiệp khó khăn trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ TMĐT. Trên  
cơ sở phân tích thực trạng nguồn nhân lực trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam, bài viết  
đề xuất các giải pháp như gia tăng hợp tác trong đào tạo giữa doanh nghiệp và các cơ  
sở đào tạo như trường đại học và cao đẳng; thay đổi chương trình đào tạo nhằm nâng  
cao được những kỹ năng mà người lao động hiện nay đang thiếu; Các chính sách đãi  
ngộ cho người lao động làm việc trong lĩnh vực TMĐT để thu hút những nguồn nhân  
lực chất lượng cao tham gia.  
Từ khóa: Thương mại điện tử, chất lượng nguồn nhân lực, giải pháp nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thương mại điện tử đã trở thành yếu tố cần thiết của chiến lược kinh doanh và là  
chất xúc tác mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế. TMĐT không chỉ mở ra những cơ hội  
kinh doanh mꢁi, những sản phẩm, dịch vụ mꢁi mà bản thân TMĐT thực sự là một  
phương thức kinh doanh mꢁi - Phương thức kinh doanh điện tử. Trong năm 2020 vừa  
qua, do ảnh hưởng của dịch bệnh khiến cho ngành TMĐT tăng trưởng rất cao. Do vậy  
nhu cầu về nguồn nhân lực trong lĩnh vực TMĐT cũng tăng theo. Tuy nhiên, giống  
như nhiều quốc gia có lĩnh vực TMĐT non trẻ khác, các doanh nghiệp kinh doanh  
TMĐT Việt Nam đang phải đối mặt vꢁi không ít thách thức, trong đó phải kể đến thực  
trạng nguồn nhân lực TMĐT còn rất hạn chế. Thị trường TMĐT tại Việt Nam nói  
-613-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
riêng và thế giꢁi nói chung đang phát triển mạnh. Mức tăng trưởng TMĐT tại Việt  
Nam lên tꢁi hơn 30% (2019), thuộc nhóm tăng trưởng nhanh nhất thế giꢁi. Dự báo  
trong năm 2020, thương mại điện tử Việt Nam sẽ đạt khoảng 10 tỷ USD[9]. Đó cũng  
chính là lý do nhiều DN phải tích cực nâng cao chất lượng nhân lực để có thể đáp ứng  
nhu cầu phát triển.  
Nghiên cứu này tập trung tìm hiểu những kỹ năng cần thiết của người lao động  
trong các doanh nghiệp kinh doanh TMĐT sẽ thay đổi như thế nào và thực trạng  
nguồn nhân lực hiện nay của Việt Nam, từ đó đề xuất những kiến nghị giúp nâng cao  
chất lượng nguồn nhân lực.  
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
4.1. Cơ sở lý luận  
2.1.1 Thương mại điểm tử  
Thương mại điện tử (TMĐT) được biết đến vꢁi nhiều tên gọi khác nhau, như  
“thương mại điện tử” (Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade)  
hoặc “kinh doanh điện tử” (e-business). Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi  
phổ biến và được dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu của  
các tổ chức hay các nhà nghiên cứu. Thương mại điện tử bắt đầu bằng việc mua bán  
hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh  
nghiệp tiến tꢁi ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình, từ bán  
hàng, marketing, thanh toán, đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động vꢁi  
nhà cung cấp, đối tác, khách hàng…[3].  
Theo Tổ chức Thương mại thế giꢁi (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm việc  
sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên  
mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận  
cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet" [3].  
Hiện nay có nhiều tranh cãi về các hình thức tham gia cũng như cách phân chia  
các hình thức này trong TMĐT. Nếu phân chia theo đối tượng tham gia thì có 3 đối  
tượng chính bao gồm: Chính phủ (G - Goverment), DN (B - Business) và Khách hàng  
(C - Customer hay Consumer). Các dạng hình thức chính của TMĐT bao gồm: DN vꢁi  
DN (B2B); DN vꢁi Khách hàng (B2C); DN vꢁi Nhân viên (B2E); DN vꢁi Chính phủ  
(B2G); Chính phủ vꢁi DN (G2B); Chính phủ vꢁi Chính phủ (G2G); Chính phủ vꢁi  
Công dân (G2C); Khách hàng vꢁi Khách hàng (C2C); Khách hàng vꢁi DN (C2B);  
online-to- offline (O2O); Thương mại đi động (mobile commerce hay viết tắt là m-  
commerce).  
2.1.2 Nguồn nhân lực trong thương mại điện tử  
Phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở như hạ tầng cơ sở internet đủ  
nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải nội dung, hệ thống thanh toán bảo mật, phải có hệ  
thống an toàn cho các giao dịch, và quan trọng hơn là đội ngũ nhân lực hiểu kinh  
doanh, công nghệ thông tin để triển khai tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán hàng và  
-614-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
thanh toán qua mạng.  
Theo báo cáo của Bộ Công thương về nguồn nhân lực cho TMĐT (2018) thì chất  
lượng đội ngũ nhân lực phải đảm bảo như sau:  
Thứ nhất, TMĐT được tiến hành trong môi trường điện tử, dựa trên những quy  
định riêng và yêu cầu riêng,... Do đó, người lao động trực tiếp và quản lý phải hiểu rõ  
về thao tác kỹ thuật, nguyên tắc trong kinh doanh trực tuyến.  
Thứ hai, công nghệ thông tin như kỹ thuật truyền dẫn thông tin, địa chỉ miền, các  
trang tin để tiến hành giao dịch, là nền tảng của TMĐT. Song song vꢁi đó, tốc độ thay  
đổi của công nghệ diễn ra nhanh chóng, công nghệ mꢁi thường xuyên ra đời cho nên  
những nhân lực TMĐT cần nắm bắt kịp thời và vận dụng thành thạo các ứng dụng này  
khi giao dịch cũng như nắm bắt những cơ hội kinh doanh mꢁi trong thương mại điện  
tử.  
Thứ ba, TMĐT là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế tri thức. Do đó, nhân  
lực thương mại điện tử, dù đó là người thực hiện hay người quản lý, đều là những đối  
tượng lao động có hàm lượng tri thức cao. Họ cần đuợc tiến hành đào tạo có hệ thống,  
trải qua các trình độ từ cơ bản đến chuyên sâu tương ứng vꢁi từng vị trí, từng nhiệm  
vụ và theo từng chuyên ngành cụ thể.  
Đánh giá của hiệp hội TMĐT Việt Nam (2017) thì đội ngũ nguồn nhân lực phục  
vụ cho TMĐT phải có kỹ năng quản trị website và sàn giao dịch TMĐT, kỹ năng xây  
dựng kế hoạch triển khai dự án TMĐT; kỹ năng khai thác và sử dụng các ứng dụng  
TMĐT; kỹ năng cài đặt chế độ ứng dụng khắc phục sự cố thông thường của máy; kỹ  
năng quản trị cơ sở dữ liệu; kỹ năng tiếp thị trực tuyến; kỹ năng triển khai thanh toán  
trực tuyến.  
Theo S.Sriram (2016) thì nguồn nhân lực trong ngành TMĐT hiện nay có 7 đặc  
điểm như sau[4]:  
+ Kỹ năng làm việc nhóm;  
+ Có khả năng hiểu biết sâu sắc về các ngành công nghiệp khác nhau, khả năng  
bao quát cả hệ sinh thái TMĐT;  
+ Kỹ năng ra quyết định kinh doanh;  
+ Khả năng giao tiếp đꢀng người vào đꢀng thời điểm theo đꢀng cách;  
+ Tối ưu hóa mọi quy trình;  
+ Khả năng thích ứng các tình huống kinh doanh có thể gặp phải;  
+ Kỹ năng nhận thức: khả năng nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể.  
2.1.3 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến thương mại điện tử  
Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đã tác động rất lꢁn đến mô hình tổ  
chức và cách thức vận động của nền kinh tế. Để doanh nghiệp có thể thích nghi và  
cạnh tranh trong tình hình mꢁi bắt buộc các doanh nghiệp phải đổi mꢁi bằng các thay  
đổi về phương thức vận hành, thay đổi mô hình kinh doanh, quy trình làm việc…trên  
-615-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
cơ sở áp dụng các công nghệ số như Internet kết nối vạn vật (Internet of thing), Dữ  
liệu lꢁn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI – Artificial Intelligence), Điện toán đám  
mây…  
CMCN 4.0 làm cho thương mại điện tử phát triển ở trình độ cao hơn sẽ làm thay  
đổi cách thức tổ chức hệ thống phân phối. Khi đó, mô hình phân phối trực tiếp từ kho  
đến người tiêu dùng sẽ thay thế dần các mô hình phân phối truyền thống. Điều này đòi  
hỏi một hệ thống logistic, giao hàng chặng cuối và cả hệ thống thanh toán điện tử hoàn  
thiện.  
Việc ứng dụng đặc trưng của CMCN 4.0 như Điện toán đám mây, Dữ liệu  
lꢁn,…sẽ làm biến đổi truyền thống về biên giꢁi thương mại. Các giao dịch thương mại  
điện tử sẽ được thực hiện vꢁi quy mô và hình thái hoàn toàn mꢁi vꢁi phạm vi vượt  
biên giꢁi và có sự tham gia của nhiều chủ thể. Có thể nói, các công nghệ của CMCN  
4.0 ngoài việc hình thành nên những mô hình thương mại điện tử mꢁi sẽ làm thay đổi  
về chất đối vꢁi thương mại điện tử nói riêng và thương mại nói chung, từ đó tác động  
ngược lại quy trình sản xuất và tổ chức hoạt động kinh doanh  
Nguồn nhân lực số đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi số và ứng  
dụng thương mại điện tử. Theo báo cáo khảo sát của Vietnamworks cho thấy nhu cầu  
nhân sự về công nghệ thông tin đã tăng khoảng 47% trong vòng 3 năm qua, ưꢁc tính  
Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 78.000 nhân lực công nghệ thông tin mỗi năm, nhân lực  
cho các ngành mꢁi như Trí tuệ nhân tạo, Lưu trữ đám mây, Thực tế ảo, Thực tế tăng  
cường và công nghệ Blockchain đang tăng trưởng nóng[8].  
4.2. Nội dung nghiên cứu  
Trên cơ sở thu thập, tổng hợp và phân tích các dữ liệu thứ cấp những vấn đề có  
tính lý luận và thực tiễn chất lượng lực lượng lao động tại Việt Nam nói chung và lực  
lượng lao động đang hoạt động trong lĩnh vực TMĐT nói riêng để đánh giá được thực  
trạng chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực TMĐT ở nưꢁc ta hiện nay.  
Các dữ liệu về lao động Việt Nam được thu thập từ giai đoạn 2017-2019 vꢁi các  
tiêu chí đánh giá về trình độ và kinh nghiệm của lực lượng lao động, đánh giá của  
doanh nghiệp về năng lực của nhân viên, Đánh giá của các chuyên gia về thực trạng  
chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam. Từ đó so sánh vꢁi vꢁi yêu cầu của quốc tế sự  
thay đổi kỹ năng của người động khi có TMĐT. Đó là cơ sở nền tảng để đề xuất các  
kiến nghị nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho lĩnh vực TMĐT tại Việt Nam.  
2.2.1 Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam  
❖ Quy mô nguồn nhân lực:  
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, dân số Việt Nam năm 2018 ưꢁc tính  
khoảng 94,665 triệu người. Trong đó, lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,4 triệu người,  
chiếm 58,52%. Cơ cấu lực lượng lao động nhóm tuổi từ 25 – 49 chiếm tỷ trọng gần  
60% tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên. Đây là một điểm mạnh về cơ cấu dân  
số của Việt Nam hiện nay.  
-616-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
Bảng 1. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nhóm tuổi.  
Từ 15 đến dưới  
25  
Từ 25 đến dưới 50  
Từ 50 trở lên  
Số lương  
Tổng số  
(nghìn  
người)  
Số lương  
(nghìn  
Số lương  
(nghìn  
Tỷ lệ  
Tỷ lệ  
(nghìn  
Tỷ lệ  
Năm  
2016  
2017  
2018  
người)  
%
người)  
%
người)  
%
55,445  
54,824  
55,354  
7,511 13.79  
7,581 13.83  
7,049 12.73  
32,418 59.54  
32,599 59.46  
33,339 60.23  
14,516 26.66  
14,644 26.71  
14,966 27.04  
Nguồn: Tổng cục thống kê  
❖ Chất lượng nguồn nhân lực:  
Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đã có sự cải thiện tương đối trong giai  
đoạn 2005-2018. Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo đã tăng  
từ 12,5% vào năm 2005 lên 14,6% vào năm 2010, và 21,9% vào năm 2018.  
Nguồn: Tổng cục thống kê  
Hình 1. Tỷ lệ người lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua  
đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật.  
❖ Năng suất lao động  
Cùng vꢁi chất lượng được cải thiện, năng suất lao động tại Việt Nam cũng được  
cải thiện trong thời gian qua. Số liệu thống kê của tổng cục thống kê cho thấy, năng  
suất lao động đã tăng từ 44 triệu đồng/lao động vào năm 2010 lên hơn 2 lần vào năm  
2018 (đạt 102,2 triệu đồng/lao động). Tuy nhiên so vꢁi các nưꢁc trong khu vực Đông  
Nam Á thì năng suất lao động tại Việt Nam vẫn còn khá thấp. năm 2018 năng suất lao  
-617-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
động của Singapore, Malaysia, Thái Lan gấp năng suất lao động của Việt Nam lần lượt  
là 13,7 lần, 5,3 lần và 2,7 lần.  
2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực thương mại điện tử Việt Nam  
Trong năm vừa qua cho thấy tỷ lệ các doanh nghiệp ở Việt nam có lao động  
chuyên trách về TMĐT không thay đổi nhiều so vꢁi những năm trưꢁc. Số lượng lao  
động chuyên trách TMĐT trong các doanh nghiệp lꢁn tăng (tăng từ 42% năm 2017 lên  
45% năm 2018). Trong khi đó doanh nghiệp vừa và nhỏ tỷ lệ số lao động chuyên trách  
TMĐT lại giảm nhꢂ (giảm từ 29% năm 2017 xuống 26% năm 2018).  
Trong các lĩnh vực kinh doanh thì lĩnh vực vui chơi giải trí có tỷ lệ lao động  
chuyên trách TMĐT cao nhất (chiếm tꢁi 49%). Tiếp theo đến lĩnh vực công nghệ  
thông tin – truyền thông (chiếm 45%), y tế - giáo dục – đào tạo (chiếm 45%). Thấp  
nhất là các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng (chiếm khoảng 20%).  
Nguồn: Báo cáo chỉ số thương mại Việt nam năm 2019  
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động có kỹ năng  
về TMĐT.  
Qua biểu đồ tỷ lệ doanh nghiệp gặp khó khăn khi tuyển dụng lao động có kỹ  
năng về TMĐT thì có tꢁi gần 50% các doanh nghiệp tham gia khảo sát gặp khó khăn  
khi tuyển dụng nhân sự có kỹ năng khai thác và sử dụng các ứng dụng TMĐT (cao  
nhất trong các kỹ năng về TMĐT). Hơn 40% các doanh nghiệp tham gia khảo sát gặp  
khó khăn khi tuyển dụng lao động có kỹ năng về quản trị web và sàn giao dịch TMĐT;  
kỹ năng xây dựng kế hoạch, triển khai dự án TMĐT và kỹ năng quản trị cơ sở dữ liệu.  
Thực tế cho thấy, các DN Việt Nam hiện đang cần nguồn lao động có trình độ về  
công nghệ thông tin và TMĐT, bởi kinh doanh trên mạng xã hội và sàn giao dịch  
TMĐT đang đem lại hiệu quả kinh tế cao. Theo Cục Thương mại điện tử và Công  
nghệ thông tin (Bộ Công Thương), căn cứ kết quả khảo sát hàng năm đối vꢁi một bộ  
phận ứng dụng thường xuyên TMĐT, có hơn 80% DN tham gia khảo sát (tương đương  
hơn 1.000 DN) cho thấy, nhu cầu nhân lực TMĐT được đào tạo là rất cần thiết đối vꢁi  
chính DN đó. Trong giai đoạn tꢁi, nhu cầu này sẽ tăng lên rất nhiều khi Việt Nam trở  
thành quốc gia có hàm lượng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý,  
-618-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
sản xuất kinh doanh lꢁn, do đó việc tiến hành trao đổi thương mại qua mạng sẽ ngày  
càng phổ biến hơn[8].  
Về thu nhập của nhân viên làm việc trong lĩnh vực TMĐT ở Việt Nam hiện nay  
giao động trong khoảng 5 – 7 triệu/tháng đối vꢁi sinh viên mꢁi ra trường, 7 – 10  
triệu/tháng đối vꢁi người có kinh nghiệm từ 2 -3 năm[9].  
5. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG  
LĨNH VỰC TMĐT TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4.0  
Cách mạng công nghiệp 4.0 và thương mại điện tử đòi hỏi người lao động phải  
có trình độ và trình độ cao (chuyên sâu). Trong khi đó, chất lượng nhân lực ở nưꢁc ta  
còn thấp, điều này đòi hỏi cần sꢁm có những giải pháp tháo gỡ.  
Thứ nhất, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực từ trong nhà trường. Cụ  
thể, các cơ sở giáo dục đào tạo đại học, cao đẳng cần trang bị khối kiến thức kinh tế, tổ  
chức kinh doanh trên mạng Internet, vận dụng thành thạo các công cụ tìm kiếm, khai  
thác thông tin, đối tác, mở rộng thị trường kinh doanh. Trang bị cho người học kỹ năng  
giao dịch TMĐT; Vận dụng các kiến thức về mạng máy tính, an ninh mạng và chữ ký  
số trong quản trị mạng, bảo mật và bảo toàn thông tin...  
Thứ hai, Các cơ sở đào tạo cần bắt tay, hợp tác cùng các doanh nghiệp trong lĩnh  
vực thương mại điện tử để mong muốn đem các kiến thức thực tế từ công việc vào  
trong nhà trường. Tạo điều kiện thuận lợi nhất để sinh viên có thế tiếp cận và thực  
hành song song vꢁi lý luận. Người học cũng cần được trang bị nghiệp vụ kinh doanh  
cụ thể trong giao dịch ký kết hợp đồng mua bán, khai báo hải quan, thanh toán, vận tải  
và bảo hiểm hàng hóa. Chú trọng một số môn chuyên ngành rất cần thiết để trang bị  
cho người học như: Kinh doanh thương mại, pháp luật TMĐT, marketing điện tử, kỹ  
thuật nghiệp vụ thương mại, quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, quản trị khách  
hàng trong TMĐT...  
Thứ ba, doanh nghiệp trong lĩnh vực TMĐT cần có những chính sách đãi ngộ  
hấp dẫn nguồn lao động chất lượng cao ứng tuyển và gắn bó vꢁi doanh nghiệp.  
Thường xuyên tổ chức các lꢁp tập huấn những kiến thức mꢁi cho nhân viên. Cử nhân  
viên đi học tập ở các cơ sở đào tạo uy tín hoặc tham gia các hội thảo về lĩnh vực  
TMĐT trong nưꢁc và quốc thế để cập nhật những kiến thức mꢁi phục vụ cho công  
việc.  
4. MỘT KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC NHꢀM PHÁT TRIỂN TMĐT Ở  
VIỆT NAM  
Thứ nhất, cần hoàn thiện khung pháp lý cho phát triển TMĐT. Hiện nay, TMĐT  
là một lĩnh vực mꢁi phát triển tại Việt Nam. Ngoài ra, đây còn là lĩnh vực rất đặc thù,  
đó là sự kết hợp giữa công nghệ và thị trường, giữa yếu tố thực và yếu tố ảo, giữa thực  
thể tồn tại vꢁi thực thể trong không gian số. Chính vì vậy, khung pháp lý nói chung  
vẫn còn nhiều mảng trống cần phải hoàn thiện, đặc biệt là các chính sách bảo vệ người  
tiêu dùng.  
Thứ hai, cần có chính sách khuyến khích; thu hꢀt đầu tư của xã hội; đầu tư tư  
nhân nhằm phát triển hạ tầng kỹ thuật cho thanh toán điện tử. Đẩy mạnh hơn nữa trong  
việc cung cấp các dịch vụ công, như: Hải quan điện tử; kê khai thuế và nộp thuế; làm  
-619-  
Hội nghị Khoa học công nghệ lần thứ XXII  
Trường Đại học Giao thông vận tải  
các thủ tục xuất, nhập khẩu điện tử. Ngoài ra, nhà nưꢁc cần có chính sách hỗ trợ doanh  
nghiệp trong lĩnh vực phân phối hàng hóa trong và ngoài nưꢁc một cách hiệu quả vꢁi  
chi phí thấp nhất.  
Thứ ba, cần xây dựng khung pháp lý nhằm đảm bảo an toàn cho các giao dịch  
TMĐT. TMĐT có nhiều tác động tích cực nhưng cũng dễ bị tin tặc phát tán virus; tấn  
công vào các website,… Mặt khác, qua Internet cũng xuất hiện những giao dịch xấu  
như: Ma tꢀy, buôn lậu, bán hàng giả,… Do vậy, cần có cơ chế kiểm soát và xử lý các  
hoạt động vi phạm.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Lưu Đan Thọ & Tôn Thất Hoàng Hải, “Thương mại điện tử hiện đại – Lý thuyết và  
[2] PGS.TS.NGƯT Nguyễn Văn Hồng & TS. Nguyễn Văn Thoan, "Giáo trình thương  
mại điện tử”, Nhà xuất bản Bách Khoa – Hà Nội, 2013.  
[3] Bộ môn thương mại điện tử, “Giáo trình thương mại điện tử căn bản”, Nhà xuất  
bản Đại học Ngoại thương - Hà Nội, 2009.  
[4]S.Sriram, M.Arumugam, Ecommerce and human resource management,  
International Conference on "Innovative Management Practices” Organize by SVCET,  
Virudhunaga, Vol-1 Issue-1 2016  
[4] Hiệp hội thương mại điện tử Việt Nam, “Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam”,  
2019.  
[5] Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam, Cục thương mại điện tử và công nghệ thông  
tin, 2019.  
[6]Minh Ngọc, Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam xếp hạng thứ 11/12 quốc gia tại  
xep-hang-thu-1112-quoc-gia-tai-chau-a-ec35837/, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020  
[7]Th.S Phạm Thanh Bình, Phát triển nguồn nhân lực thương mại điện tử cho doanh  
nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 -2025, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-  
giai-doan-2020-2025-146305.html, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2020.  
[8] Thương mại điện tử thời kỳ Công nghiệp 4.0; liên hệ vꢁi phát triển thương mại  
điện tử trên địa bàn thành phố Hà Nội  
ha-noi-a12045, truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2020.  
[9]Thương mại điện tử: Liệu có hot và thu nhập tốt không,  
nsi1590, truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2020.  
-620-  
pdf 8 trang baolam 22020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực thương mại điện tử tại Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnang_cao_chat_luong_nguon_nhan_luc_trong_linh_vuc_thuong_mai.pdf