Nghệ thuật hư cấu lời gián tiếp trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại (Khảo sát tác phẩm của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Mộng Giác)

13  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC  
NGHỆ THUẬT HƯ CẤU LỜI GIÁN TIẾP TRONG  
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI  
(Khảo sát tác phẩm của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân  
Khánh, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Mộng Giác)  
ĐOÀN THỊ HUỆ*  
Nhắc đến thành công của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại không thể  
không nhắc đến vai trò của nhà văn trong nghệ thuật hư cấu nhiều dạng lời khác  
nhau trong tác phẩm, đặc biệt ở phần lời văn gián tiếp. Đây là toàn bộ phần lời  
của tác giả, của người kể chuyện có chức năng trình bày toàn bộ thế giới hình  
tượng, kể cả các yếu tố nội dung, hình thức của lời nhân vật cho người đọc hiểu  
rõ. Bài viết bước đầu nghiên cứu tiểu thuyết lịch  ử  iệt Nam đương đại ở  
phương diện nghệ thuật hư cấu lời gián tiếp qua lời gián tiếp một giọng và lời  
gián tiếp hai giọng. Từ đó bài viết góp phần làm rõ những đặc trưng làm nên  
thành công của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hội nhập.  
Từ khóa: nghệ thuật trần thuật, hư cấu, lời gián tiếp, tiểu thuyết lịch sử  
Nhận bài ngày: 30/9/2019; đưa vào biên tập: 8/10/2019; phản biện: 26/10/2019;  
duyệt đăng: 15/3/2020  
1. GIỚI THIỆU  
khởi sắc cho tiểu thuyết lịch sử sau  
1975. Sự đổi mới trong ngôn ngữ tiểu  
thuyết lịch sử sau 1975 gắn với nhu  
cầu dân chủ hóa về ngôn ngữ, về  
nghệ thuật, nhu cầu bình đẳng, khách  
quan với lịch sử. Sự đổi mới này cho  
thấy các nhà văn sau 1975 đã không  
ngừng bứt phá làm mới mình, mạnh  
dạn thể nghiệm những hướng đi mới”  
(Ngô Thị Quỳnh Nga, 2010). Xét trên  
phương diện hư cấu nghệ thuật, sự  
Trong Sự đan cài các lớp ngôn ngữ  
trong tiểu thuyết lịch sử sau 1975”,  
Ngô Thị Quỳnh Nga đã đánh giá cao  
nghệ thuật hư cấu lời văn trần thuật  
của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau  
năm 1975: “Sự kết hợp đa dạng các  
hình thức ngôn ngữ đã đem lại sự  
* Trường Đại học Đồng Nai.  
ĐOÀN THỊ HUỆ – NGHỆ THUẬT HƯ CẤU LỜI GIÁN TIẾP…  
14  
kết hợp đa dạng các hình thức ngôn nói chung trợ giúp cho ý niệm về  
ngữ này là sự kết hợp đan cài hiệu những gì có thể và cần phải có. Cái  
quả giữa nghệ thuật hư cấu lời trực đặc tính năng sản của hư cấu được  
tiếp và lời gián tiếp trong tiểu thuyết dựa trên cơ sở của tưởng tượng, là cái  
lịch sử Việt Nam đương đại. Đặc biệt đảm bảo cho các việc tổ hợp, khái  
khi gia tăng nghệ thuật hư cấu lời gián  
tiếp, các nhà văn đã góp phần làm  
sinh động hóa bức tranh chung của  
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ  
XXI. Với nghệ thuật hư cấu lời gián  
tiếp hai giọng xuất hiện đan xen giữa  
cốt truyện, nhà văn đã trực tiếp bày tỏ  
suy nghĩ, quan điểm của mình trước  
các vấn đề, sự kiện lịch sử đã qua.  
Dụng công nhiều trong nghệ thuật hư  
cấu các lớp lời gián tiếp vừa hỗ  
trợ/đối kháng nhau vừa dung chứa/  
tiêu trừ nhau, các nhà văn tiểu thuyết  
lịch sử Việt Nam đương đại đã gặt hái  
được những thành tựu nhất định khi  
kiến tạo thành công môi trường đối  
thoại đa chiều, công khai, dân chủ cho  
câu chuyện kể. Điều này đánh dấu sự  
đổi mới đột phá trong tư duy tự sự  
tiểu thuyết, xác lập nên nguyên tắc  
mới cho tiểu thuyết lịch sử Việt Nam  
đương đại ở nhu cầu luận giải quá  
khứ, suy tư về lịch sử dân tộc từ một  
góc nhìn rất sâu về lịch sử và những  
liên hệ rất mới về mối quan hệ giữa  
lịch sử với dân tộc.  
quát, tổng hợp trong quá trình hoạt  
động nghệ thuật”. Trong Từ điển văn  
học (bộ mới), ở mục từ, do Nguyễn  
Xuân Nam viết, hư cấu nghệ thuật  
trong sáng tác văn học được xem xét  
trên phương diện giá trị đóng góp:  
“Giá trị của hư cấu tùy thuộc vào vốn  
hiểu biết, trình độ nhận thức cuộc  
sống, lý tưởng thẩm mỹ và tài năng  
nghệ thuật của nhà văn… Tùy theo  
thể loại văn học, tùy theo phương  
pháp sáng tác khác nhau, quá trình  
hư cấu diễn ra khác nhau và mang  
những sắc thái khác nhau” (Đỗ Đức  
Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn  
Tửu, Trần Hữu Tá, 2004: 59). Từ đây  
có thể hiểu, hư cấu là thủ pháp nghệ  
thuật đặc thù của hoạt động sáng tác  
văn chương. Mỗi nhà văn tùy theo trí  
tưởng tượng và tài năng sáng tạo  
nghệ thuật sẽ sử dụng hư cấu như  
phương thức nghệ thuật hiệu quả  
nhằm sáng tạo ra những giá trị mới,  
những yếu tố mới (như sự kiện, cảnh  
vật, nhân vật trong tác phẩm) nhằm  
làm nổi bật quy luật và bản chất cuộc  
sống. Trong chừng mực nhất định, hư  
cấu nghệ thuật vừa là đặc trưng thể  
loại vừa là thao tác nghệ thuật không  
thể thiếu trong tư duy sáng tạo tiểu  
thuyết. Từ vô vàn những gương mặt  
thật của cuộc sống đời thường và giữa  
muôn vàn các biến cố lịch sử trọng đại,  
thông qua việc thực hiện các biện  
pháp nghệ thuật đồng hóa và tái hiện  
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM  
Trong 150 thuật ngữ văn học, thuật  
ngữ “hư cấu nghệ thuật” được Lại  
Nguyên Ân (2004: 164) định nghĩa  
như sau: “Hư cấu nghệ thuật là một  
hoạt động đặc thù của sáng tạo nghệ  
thuật, trợ giúp cho việc dựng nên  
những dạng thức tồn tại có thể có và  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
15  
bức tranh đời sống, bằng phương kỳ lịch sử trọng đại. Tám triều vua Lý  
thức chọn lọc, tổng hợp, tái tạo, nhà và Bão táp triều Trần (Hoàng Quốc  
văn hư cấu, sáng tạo nên tác phẩm  
văn học. Khi đó, hư cấu nghệ thuật trở  
thành yếu tố bộc lộ rõ nét năng lực  
sáng tạo dồi dào của nhà văn.  
Hải) là câu chuyện lịch sử về công  
cuộc gầy dựng - hưng thịnh - suy  
vong của hai triều đại Lý - Trần. Hồ  
Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh) tái  
hiện sinh động bức tranh hiện thực  
lịch sử - văn hóa - xã hội của đất  
nước Đại Việt những năm cuối Trần  
đầu Hồ. Sông Côn mùa lũ (Nguyễn  
Mộng Giác) làm sống dậy trước mắt  
người đọc chân dung đời sống xã hội  
Việt Nam thời Trịnh tàn Lê mạt, Trịnh  
- Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi  
nghĩa. Hội thề (Nguyễn Quang Thân)  
là lát cắt ngang hiện thực xã hội Việt  
Nam trong khoảng bảy ngày trước và  
sau trận Xương Giang lịch sử giữa  
nghĩa quân Lam Sơn và giặc Minh  
xâm lược.  
Cùng với đó, ở tiểu thuyết lịch sử Việt  
Nam đương đại, lời kể là kiểu lời trần  
thuật chiếm số lượng lớn, có vai trò  
quan trọng giúp người kể chuyện tổ  
chức cấu trúc truyện kể. Nội dung  
truyện kể về cơ bản được hoàn chỉnh  
dần theo mạch trần thuật của người  
kể chuyện. Thông thường lời kể  
được thực hiện dưới dạng lời gián  
tiếp một giọng của người kể chuyện  
ngôi ba và người kể chuyện ngôi thứ  
nhất xưng “tôi”. Trong Lý luận văn  
học, tập thể tác giả đã thống nhất cho  
rằng: “Lời gián tiếp là toàn bộ phần  
lời văn của tác giả, của người trần  
thuật, hoặc người kể chuyện có chức  
năng trình bày toàn bộ thế giới hình  
tượng, kể cả các yếu tố nội dung,  
hình thức của lời nhân vật cho người  
đọc” (Phương Lựu và nhiều tác giả,  
2002: 335). Lời gián tiếp bao gồm hai  
dạng: lời gián tiếp một giọng và lời  
gián tiếp hai giọng (còn gọi là lời nửa  
trực tiếp).  
Cùng với đó, nghệ thuật hư cấu lời tả  
của người kể ngôi ba cũng xuất hiện  
khá phổ biến trong tiểu thuyết lịch sử  
Việt Nam đương đại. Nghệ thuật hư  
cấu lời tả thường hướng đến nhiều  
đối tượng, tái hiện chân thật, đầy đủ,  
sinh động bức tranh hiện thực đời  
sống và con người Việt Nam trong  
quá khứ. Với lời tả, nhà văn khắc họa  
rõ nét chân dung nhiều nhân vật lịch  
sử như Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ,  
Huyền Trân công chúa (Bão táp triều  
Trần - Hoàng Quốc Hải), Nguyễn Nhạc,  
Nguyễn Huệ (Sông Côn mùa lũ -  
Nguyễn Mộng Giác), Hồ Quý Ly, Nghệ  
Hoàng, Thuận Tông (Hồ Quý Ly -  
Nguyễn Xuân Khánh), Lê Lợi, Nguyễn  
Trãi (Hội thề - Nguyễn Quang Thân)…  
Với hệ thống ngôn ngữ giàu hình ảnh,  
3. TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM  
ĐƯƠNG ĐẠI VỚI NGHỆ THUẬT HƯ  
CẤU LỜI GIÁN TIẾP  
3.1. Nghệ thuật hư cấu lời gián tiếp  
một giọng/lời kể, tả  
Bằng nghệ thuật hư cấu lời kể, các  
nhà văn đã thuật kể nhiều câu chuyện  
có liên quan đến cuộc đời, số phận  
của nhiều nhân vật lịch sử ở vào thời  
ĐOÀN THỊ HUỆ – NGHỆ THUẬT HƯ CẤU LỜI GIÁN TIẾP…  
16  
nghệ thuật hư cấu lời tả trong tiểu cuộc đời, tài năng, tính cách, thói  
thuyết lịch sử Việt Nam đương đại gợi quen, lối sống của nhiều nhân vật có  
mở trước mắt người đọc nhiều lớp thật trong lịch sử. Khi đề cập đến  
không gian đa dạng làm bối cảnh xuất nhân vật lịch sử, chính sử chỉ truyền  
hiện nhiều nhân vật và sự kiện lịch sử lưu những nét chính về cuộc đời, sự  
quan trọng. Đó là quang cảnh ngày nghiệp, công trạng của họ. Với tiểu  
lên ngôi u ám, buồn tẻ của nữ chúa Lý thuyết lịch sử, thông qua và bằng  
Chiêu Hoàng như điềm báo về hồi kết nghệ thuật hư cấu lời kể, lời tả, nhà  
u buồn của triều đại nhà Lý: “Thăng văn còn cung cấp cho bạn đọc nhiều  
Long vào hội mừng đức vua đăng thông tin thú vị về các vĩ nhân. Thái  
quang. (…) Phường phố vắng ngắt sư đầu triều Trần Thủ Độ thích ăn  
không một bóng người lại qua. Chỉ khoai lang luộc và cháo lươn; Quốc  
thỉnh thoảng có một tốp lính tứ sương công tiết chế thống lĩnh chư quân sự  
vác giáo đi tuần lặng lẽ như những Trần Quốc Tuấn thích món cơm nếp  
bóng ma” (Hoàng Quốc Hải, 2011: 27). mỗi độ thu về, An Tư công chúa thích  
Đó là khung cảnh chiến trận khốc liệt, cưỡi ngựa, bắn cung, luyện võ; Huyền  
bi hùng của quân dân Đại Việt trong Trân công chúa thích đọc binh thư,  
cuộc chiến chống Nguyên Mông: “Máu Trần Nguyên Hãn ăn uống rất cầu kỳ,  
người, máu ngựa chảy thành dòng Nguyễn Trãi bình dị, “ăn gì cũng  
lênh láng trên mặt đất. (…) Lại ầm ầm được”, Lê Lợi thích được gãi lưng,  
trong đó tiếng ngựa hí dài, tiếng hò la, tẩm quất, Nguyên phi Ỷ Lan sợ ma  
thét lác, tiếng rống như bò bị chọc tiết  
quỷ và sùng đạo Phật… Ở nhiều  
của những tên Mông Cổ trúng lao” trường hợp, nghệ thuật hư cấu lời  
(Hoàng Quốc Hải, 2011: 402). Với  
nghệ thuật hư cấu lời tả chân thực,  
sắc nét, nhà văn đã viết nên nhiều  
đoạn văn đậm tính sử thi, đầy ắp sự  
kiện và cũng thật thơ mộng: “Dòng  
sông như một dải lụa xanh bất tận,  
chia thung lũng làm hai phần. Rực rỡ  
nhất là hai bờ, hoa lốm đốm đủ màu,  
nôm có vẻ như hai bờ của một dải  
sông Ngân” (Hoàng Quốc Hải, 2011:  
278).  
gián tiếp một giọng đã giúp nhà văn  
phác họa chân dung nhân vật lịch sử  
đầy đặn, sống động, gần gũi. Sự hiểu  
biết của người đọc về các nhân vật ấy  
cũng trở nên sâu sắc, thú vị.  
Sự kết hợp hiệu quả giữa nghệ thuật  
hư cấu lời kể với lời tả đã khẳng định  
năng lực quan sát tinh tế, trí tưởng  
tượng phong phú, vốn kiến thức sâu  
rộng về văn học lịch sử của các nhà  
văn Việt Nam. Viết tiểu thuyết lịch sử,  
họ cung cấp cho người đọc nhiều kiến  
Điểm đặc sắc của tiểu thuyết lịch sử  
Việt Nam đương đại là sự kết hợp thức bổ ích về hiện thực đời sống của  
hiệu quả nghệ thuật hư cấu lời kể, lời con người Việt Nam trong quá khứ.  
Xét đến cùng thì, lịch sử dưới cái nhìn  
nghệ thuật của tập thể tác giả tiểu  
tả và lời trữ tình ngoại đề đem đến  
lượng thông tin phong phú, thú vị về  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
17  
thuyết lịch sử Việt Nam đương đại là triều đình hầu như lúc nào cũng trang  
một lịch sử năng động, gắn với “quá  
trình chưa hoàn tất” và “đang được  
cấu tạo lại với sự xuất hiện của các  
tiểu lịch sử. Tại đấy lịch sử được hình  
dung như mảnh vỡ…” (Nguyễn Đăng  
Điệp, 2012: 5).  
nghiêm, lễ độ, nhiều lúc quá vui vẻ,  
thậm chí như hí hửng, nó làm cho tôi  
chán phèo thở dài” (Nguyễn Xuân  
Khánh, 2010: 56). Đây là lời trực tiếp  
của người kể chuyện đồng thời cũng  
là lời của nhân vật xưng “tôi”. Cái “tôi”  
ấy cũng là người kể chuyện nên lời  
trực tiếp trở thành lời gián tiếp. Là lời  
gián tiếp nên nó có sức thuyết phục  
riêng, mang màu sắc cá tính, chủ thể  
rõ nét. Như thế, người kể chuyện đã  
có sự chuyển ngôi linh hoạt. Khi là lời  
của nhân vật, lúc lại là lời của tác giả.  
Sự thay đổi ngôi kể tạo điều kiện cho  
nhân vật tự ý thức về mình, về sứ  
mệnh, trách nhiệm của họ trước lịch  
sử. Điểm nhìn nội quan gắn liền hình  
thức tự quan sát của nhân vật xưng  
“tôi”, cùng sự tự thú và hình thức  
người kể chuyện tựa vào giác quan, đi  
sâu khám phá, lý giải chiều sâu tâm lý  
nhân vật, tạo nên sức hấp dẫn riêng  
cho trang tiểu thuyết. Ở Hồ Quý Ly,  
Nguyễn Xuân Khánh để toàn bộ câu  
chuyện lịch sử về xã hội Việt Nam thời  
cuối Trần đầu Hồ hiện lên sinh động  
với nhiều sự kiện, con người mang số  
phận cụ thể. Đi cùng sự kiện/xung đột  
lịch sử phức tạp là chuỗi diễn biến đời  
sống nội tâm phong phú, đa dạng của  
nhân vật lịch sử. Hơn nữa, trong vai  
trò người kể chuyện chính, nhân vật  
xưng “tôi” có nhiều lợi thế để hướng  
người đọc dịch chuyển dần về phía  
chủ đề chính của tác phẩm (trong khi  
chủ đề phụ vẫn được quan tâm). Điều  
này tạo nên sự chờ đợi, háo hức cho  
Song hành cùng nghệ thuật hư cấu lời  
gián tiếp một giọng của người kể  
chuyện ngôi ba, ở tiểu thuyết lịch sử  
Việt Nam đương đại xuất hiện khá  
nhiều nghệ thuật hư cấu lời gián tiếp  
một giọng của người kể chuyện xưng  
“tôi” ngôi thứ nhất với điểm nhìn  
hướng nội, hiện diện như lời tâm sự,  
lời bộc bạch nỗi lòng của người trong  
cuộc. Trong Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân  
Khánh), nhà văn hư cấu nhân vật  
người kể chuyện xưng “tôi” là Trần  
Nguyên Hàng: “Tôi nghĩ: bọn loạn  
thần tặc tử ai cũng có thể giết được.  
Đó là vâng mệnh trời. Việc đó ta  
không thể một ngày làm ngơ” (Nguyễn  
Xuân Khánh, 2010: 446). Có lúc nhà  
văn hư cấu thành lời của Trần Khát  
Chân: “Tôi lại đành gượng gạo ép  
mình vào việc, định nâng chén tiêu  
sầu mà càng sầu thêm” (Nguyễn Xuân  
Khánh, 2010: 449). Có lúc, đó lại là lời  
của Hồ Nguyên Trừng tự kể chuyện  
mình: “Tôi tên là Nguyên Trừng, hay  
nói cho đúng hơn là Hồ Nguyên  
Trừng” (Nguyễn Xuân Khánh, 2010:  
51), kể về Hồ Quý Ly: “Cha tôi, Lê  
Quý Ly là cháu bốn đời của cụ Hồ  
Liêm” (Nguyễn Xuân Khánh, 2010: 51),  
và về những người xung quanh cùng  
diễn biến thời cuộc: “Tôi nhìn ra xung  
quanh rồi tự ngắm mình. Cuộc sống bạn đọc khi tiếp nhận tác phẩm.  
ĐOÀN THỊ HUỆ – NGHỆ THUẬT HƯ CẤU LỜI GIÁN TIẾP…  
18  
3.2. Nghệ thuật hư cấu lời gián tiếp tâm trạng của Thị Lộ: “Đã bao lần  
hai giọng/lời nửa trực tiếp  
nàng tự hỏi hay là mình đòi hỏi chồng  
quá quắt trong hoàn cảnh chinh chiến,  
ông ấy còn gánh vác trách nhiệm Thái  
Sơn của nghĩa quân, giặc Minh còn  
giày xéo đất Đại Việt, nàng được thế  
này cũng đã quá sung sướng, lễ giáo  
và quân pháp ưu ái cho riêng nàng đã  
gây ra tị hiềm mà chồng nàng phải  
chịu đựng trong ấm ức. Nàng điểm lại  
rất nhanh trong ký ức nhiều năm qua,  
từ ngày nàng gặp chàng văn nhân  
mảnh khảnh trong một buổi chợ ở  
Nghi Tàm” (Nguyễn Quang Thân,  
2011: 39). Đặc tả tâm trạng nhân vật  
Tư Tề khi phải vâng lệnh vua cha vào  
thành Đông Quan làm con tin trước  
ngày diễn ra hội thề lịch sử, Nguyễn  
Quang Thân sử dụng nghệ thuật hư  
cấu lời gián tiếp hai giọng: “Chàng  
Ưa chuộng hình thức trần thuật chủ  
quan hóa, tìm vào khám phá chiều  
sâu những ẩn ức thiên về đời sống  
nội tâm của nhân vật, tác giả tiểu  
thuyết lịch sử Việt Nam đương đại  
dành nhiều ưu ái cho nghệ thuật hư  
cấu lời gián tiếp hai giọng biểu hiện cụ  
thể dưới hình thức lời nửa trực tiếp.  
Nghệ thuật hư cấu lời văn này “gián  
tiếp” ở cách kể chuyện nhưng “trực  
tiếp” trong ý thức, ngữ điệu và cảm  
xúc của nhân vật. Nếu nghệ thuật hư  
cấu lời gián tiếp một giọng là lời kể,  
lời tả có nhiệm vụ tái hiện, phân tích,  
lý giải thế giới khách quan, sự việc,  
con người cũng như tái hiện, phân  
tích, lý giải lời nói, ý thức nhân vật thì  
nghệ thuật hư cấu lời gián tiếp hai  
giọng là lời kể có hấp thu lời nhân vật. không ngán vào thành làm con tin  
Tức là trong lời của người kể chuyện nhưng chàng buồn vì từ đây phải rời  
cùng lúc có cả lời trực tiếp hoặc lời  
gián tiếp biểu hiện suy nghĩ của nhân  
vật. Trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam  
đương đại, nghệ thuật hư cấu lời gián  
tiếp hai giọng thể hiện rõ sự đối thoại  
với ý thức khác của cùng đối tượng  
miêu tả. Việc hư cấu lời văn này cho  
phép tác giả chuyển di linh hoạt điểm  
nhìn trần thuật (từ khách quan sang  
nội quan), tạo tính đa thanh phức điệu,  
đa chủ đề cho tác phẩm.  
xa vệ quân tinh nhuệ của chàng,  
chàng đã cùng họ vào sinh ra tử bao  
năm, biết bao giờ mới trở lại? Chàng  
chợt nghĩ tới Phạm Vấn khi vua cha  
nhắc tới Nguyên Long. Phải chăng cái  
ông cậu quý hóa ấy đã sắp đặt để bây  
giờ chàng là ông thiếu úy duy nhất  
không còn một tấc sắt, một mống lính?  
Cả lũ họ Phạm ấy đang nhe răng giũa  
vuốt với chàng mà chàng có tội gì cơ  
chứ ngoài việc là con trai của chúa  
công yêu quý của họ?” (Nguyễn  
Quang Thân, 2011: 301).  
Trong Hội thề, Nguyễn Quang Thân  
sử dụng khá nhiều nghệ thuật hư cấu  
lời gián tiếp hai giọng là lời nửa trực  
tiếp, khắc họa đời sống tinh thần, tái  
hiện rõ nét con người bên trong nhân  
vật lịch sử. Đây là đoạn văn ghi lại  
Bức tranh tâm trạng nhân vật được  
dệt nên từ nhiều cung bậc tình cảm,  
cảm xúc. Mỗi nhân vật có tâm trạng,  
nỗi niềm tâm sự riêng. Tất cả được  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
19  
nhà văn tái hiện bằng lời gián tiếp hai đạt dưới hình thức lời nửa trực tiếp:  
giọng/lời nửa trực tiếp - trực tiếp bày  
tỏ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Đó  
là tâm trạng của Thị Lộ khi đứng trước  
sự lựa chọn giữa nỗi khao khát  
thường tình, nhu cầu được hưởng  
hạnh phúc chính đáng của người vợ  
với sự khắc kỷ cần có của mỗi cá  
nhân trong hoàn cảnh đất nước có  
biến. Câu văn trên về hình thức là lời  
gián tiếp của người kể chuyện nhưng  
trực tiếp ở phương thức thể hiện tâm  
trạng của nhân vật nên được gọi là lời  
nửa trực tiếp. Nỗi ưu tư canh cánh  
trong lòng cùng sự yêu thương, thấu  
hiểu của Thị Lộ dành cho chồng cũng  
hiển lộ rõ nét. Cũng như thế, nỗi buồn  
của Tư Tề khi phải rời xa vệ quân tinh  
nhuệ của mình cũng được lột tả: “Biết  
bao giờ mới trở lại?”. Giọng văn nao  
nao buồn thể hiện niềm dự cảm bất  
an của Tư Tề trước sự đề phòng, đố  
kỵ của Phạm Vấn.  
“Đôi môi khô héo của ông không khỏi  
nhếch một nụ cười chua chát. (…).  
Nhân từ ư? Thương dân ư? Những  
đức hạnh tốt đẹp đó thử hỏi trên đời  
này có ông vua nào hơn được cha  
con ông? Thế mà tại sao, tại sao  
nước Đại Việt này vẫn đói khát, loạn  
lạc; tại sao cơ đồ của tổ tiên ông lại  
ngả nghiêng” (Nguyễn Xuân Khánh,  
2010: 158-159). Người kể chuyện hay  
đúng hơn là nhà văn đã hư cấu lời kể  
chuyện xen lẫn lời trực tiếp bộc lộ tâm  
trạng, khiến cảm xúc nhân vật được  
truyền thẳng đến bạn đọc. Đó là cảm  
giác ăn năn hối lỗi gần như bất lực  
của ông vua già Nghệ Tông ở vào  
giây phút cuối đời. Ngẫm lại, hơn ba  
mươi năm ở ngôi, ông chưa làm được  
điều gì để chấn hưng đất nước. Trái  
lại, ông chỉ được hưởng ba năm thái  
bình. Sau đó, đất nước loạn lạc, chiến  
tranh liên miên, người dân đói khổ.  
Ông lúng túng không tìm ra hướng đi  
cho lịch sử. Đến tận giây phút cuối đời,  
ông tự dằn vặt bản thân và nghĩ rằng  
vì ông mà cơ nghiệp nhà Trần bị hủy.  
Lời văn bộc lộ trực tiếp cảm xúc nhân  
vật khiến người đọc hiểu rõ hơn bi  
kịch cười ra nước mắt của vị vua cuối  
nhà Trần.  
Như vậy, với nghệ thuật hư cấu lời  
gián tiếp hai giọng/lời nửa trực tiếp,  
Nguyễn Quang Thân vừa miêu tả,  
thuật kể vừa đi sâu miêu tả thế giới  
bên trong nhân vật dưới sự phân tích  
khách quan của người kể chuyện.  
Điểm nhìn trần thuật linh hoạt di  
chuyển tìm vào cảm giác và ý thức  
nhân vật lịch sử. Đa dạng hóa điểm  
nhìn trần thuật là biểu hiện cụ thể của  
phương thức trần thuật tiểu thuyết  
hiện đại và hậu hiện đại.  
Ở đoạn khác, Nguyễn Xuân Khánh sử  
dụng nghệ thuật hư cấu lời nửa trực  
tiếp đặc tả bi kịch người trí thức trong  
hoàn cảnh loạn li: “Ông là người viết  
sử, người chiêm bốc. Toàn những  
chuyện đùa chơi với lửa cả. (…) Ta  
Đến với Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân  
Khánh), người đọc dễ nhận ra nhiều  
sự kiện lịch sử đã được thực tại hóa run sợ khi nghĩ đến điều đó, bởi chữ  
nghĩa có thể đảo điên biến ác thành  
trong cảm xúc nhân vật, được diễn  
ĐOÀN THỊ HUỆ – NGHỆ THUẬT HƯ CẤU LỜI GIÁN TIẾP…  
20  
thiện hay thiện chuyển sang ác”. nhiều giá trị cuộc sống còn náu mình  
(Nguyễn Xuân Khánh, 2010: 42). Hư trong kho tàng lịch sử văn hóa dân tộc.  
cấu lời nửa trực tiếp, đi sâu khắc họa  
đời sống nội tâm nhân vật Sử Văn  
hư cấu lời nửa trực tiếp được Nguyễn  
Hoa, Nguyễn Xuân Khánh trực tiếp  
Trong Sông Côn mùa lũ, nghệ thuật  
Mộng Giác ưu ái sử dụng ở những tiết  
đặt ra vấn đề trước lịch sử: Người trí  
đoạn đặc tả tâm tư, suy nghĩ bên  
thức, họ là ai? Họ đại diện cho cái gì,  
trong nhân vật, đặc biệt là các nhân  
cho giai cấp nào trong xã hội? Trước  
vật chính/nhân vật trung tâm của tác  
hết phải thừa nhận: người trí thức  
phẩm. Trước quyết định tiến quân ra  
không là công cụ thực thi quyền lực  
Bắc diệt Trịnh phò Lê, lòng Nguyễn  
của một triều đại hay giai cấp nào. Họ  
Huệ ngổn ngang bao suy tính trù liệu:  
là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.  
“Không! Không! Ông không thể dừng  
Khát vọng của họ là phục vụ chân lý.  
lại làm một quan Trấn thủ thu mình  
Nhưng ở vào thời cuộc “thiên túy”,  
tận hưởng tuổi đời trong cái thành cũ  
chân lý không thuộc về ai nên họ bế  
ven con sông Hương trầm lặng này!  
tắc. Hồ Quý Ly muốn dùng trí thức để  
(…) Không! Không thể như thế được!  
cai trị xã hội là điều hợp lý. Nhưng vì  
Hoặc ông ngồi vững trên lưng ngựa  
không hiểu họ nên ông dùng quyền  
giong cương cho lịch sử đưa xa về  
lực áp đặt. Thái độ bất hợp tác của  
Trần Nguyên Đán, sự ra đi của Phạm  
của mọi người. Hoặc ông mù quáng  
Sinh, Chu Văn An, sự chống đối của  
Sử Văn Hoa… là kết quả tất yếu.  
ông xuống bùn và dày lên mà tiến?”  
Nghệ thuật hư cấu lời nửa trực tiếp  
phía trước, cho đúng với ước nguyện  
kìm cương để con ngựa lịch sử hất  
(Nguyễn Mộng Giác, 2003: 946-947).  
trong trường hợp này có tác dụng bộc  
Về mặt hình thức, đây là lời gián tiếp  
lộ suy nghĩ, cảm xúc nhân vật về sự  
dấn thân của người trí thức trong sứ  
một giọng của người kể chuyện ngôi  
ba nhưng thực chất tiết đoạn trên là  
mệnh bảo vệ tính chân thật, khách  
lời đặc tả trực tiếp tâm trạng, suy nghĩ  
của Nguyễn Huệ trước quyết định hệ  
trọng: hoặc vững bước tiến lên thuận  
theo đà quay của lịch sử hoặc sớm an  
phận, chấp nhận cương vị vị tướng  
miền biên viễn theo sự sắp đặt của  
vua anh. Từ đó, Nguyễn Mộng Giác  
giúp người đọc hiểu rõ hơn quá trình  
vận động, sự tự ý thức của Nguyễn  
Huệ trước quyết định táo bạo làm thay  
đổi cục diện lịch sử. Từ bấy lâu, trong  
tâm hồn ông luôn nung nấu ngọn lửa  
khát khao đấu tranh thống nhất đất  
quan của lịch sử. Qua đó, tập thể tác  
giả tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương  
đại cũng đã ngầm xác tín với bạn đọc  
rằng: sự thật lịch sử hay nói khác là  
sự chân thực cần có ở tiểu thuyết lịch  
sử là sự chân thành và trung thực của  
nhà văn trong việc giải mã lịch sử. Sự  
chân thực đó phải gắn với thước đo  
giá trị về sự chân thực trong cuộc  
sống. Đảm bảo được điều này, tiểu  
thuyết lịch sử sẽ hấp dẫn được bạn  
đọc. Như thế, người đọc mới có thể  
qua tiểu thuyết lịch sử minh định được  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
21  
nước. Ngọn lửa ấy được thắp lên từ gián tiếp trong tiểu thuyết lịch sử Việt  
quá trình nhận thức, suy tư, chiêm Nam đương đại là nghệ thuật hư cấu  
nghiệm của nhân vật về thời đại, bản là lời kể, tả, lời trần thuật của người  
thân, về vận mệnh quê hương, xứ sở. kể chuyện ẩn danh (ngôi ba) hoặc  
Gặp gió thời đại, nó nhanh chóng lớn xưng “tôi” và sau là lời nửa trực tiếp  
mạnh thành bó đuốc rực cháy, soi mang giọng điệu của chính nhân vật  
đường dẫn lối cho vạn người cùng trong câu chuyện kể. Trong tiểu thuyết  
tiến bước.  
lịch sử Việt Nam đương đại, ứng với  
người kể chuyện ngôi ba hoặc ngôi  
thứ nhất xưng “tôi”, nghệ thuật hư cấu  
lời gián tiếp một giọng thể hiện cụ thể  
dưới hình thức lời kể, lời tả nhằm mục  
đích thuật, tả, khắc họa tính cách  
nhân vật một cách chân thực, rõ nét.  
Song hành cùng nghệ thuật hư cấu lời  
gián tiếp một giọng, việc sử dụng  
thuần thục nghệ thuật hư cấu lời gián  
tiếp hai giọng/lời nửa trực tiếp là một  
thành công của tập thể tác giả tiểu  
thuyết lịch sử Việt Nam đương đại. Sử  
dụng ở tần suất cao dạng lời văn nửa  
trực tiếp, tác giả tiểu thuyết lịch sử  
Việt Nam đương đại đã tạo nên tính  
song điệu cho tác phẩm, thực hiện  
thành công sự dung hợp giữa lời/  
giọng của người kể chuyện ngôi ba  
với lời/giọng của nhân vật được kể  
đến trong câu chuyện kể. Sự kết hợp  
linh hoạt ấy trực tiếp tạo nên tính đa  
thanh phức điệu cho tiểu thuyết hiện  
đại và hậu hiện đại, khắc phục tính  
đơn âm một bè trong tiểu thuyết lịch  
sử Việt Nam giai đoạn trước.  
4. KẾT LUẬN  
Không giễu nhại hay hoài nghi, phủ  
nhận bản chất lịch sử, sức hấp dẫn  
của nghệ thuật hư cấu lời văn trần  
thuật gián tiếp trong tiểu thuyết lịch sử  
Việt Nam đương đại chủ yếu tựu trung  
ở tính đối thoại. Nguyên lý đối thoại là  
nguyên lý cơ bản của tiểu thuyết hiện  
đại. Tính đối thoại trong tiểu thuyết  
lịch sử Việt Nam đương đại cho thấy  
xu thế tiểu thuyết hóa đang là xu thế  
nổi bật của văn học Việt Nam giai  
đoạn sau Đổi mới. Nó ảnh hưởng  
đến nghệ thuật xây dựng nhân vật,  
kết cấu trần thuật, thể hiện quan niệm  
tác giả ở nhu cầu đảm bảo tính dân  
chủ trong tự sự. Không chỉ đối thoại  
với lịch sử, khi hư cấu các dạng lời  
văn trần thuật, tác giả tiểu thuyết lịch  
sử Việt Nam đương đại còn chú ý  
làm đa dạng hóa các dạng lời văn,  
làm mới hình thức kể chuyện, gia  
tăng trường nhìn, đề cao tính đối thoại  
của tác phẩm.  
Khởi điểm của nghệ thuật hư cấu lời  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên). 2004. Từ  
điển văn học bộ mới. Hà Nội: Nxb. Thế giới.  
2. Hoàng Quốc Hải. 2011. Bão táp cung đình. Hà Nội: Nxb. Phụ nữ.  
ĐOÀN THỊ HUỆ – NGHỆ THUẬT HƯ CẤU LỜI GIÁN TIẾP…  
22  
3. Hoàng Quốc Hải. 2011. Huyền Trân công chúa. Hà Nội: Nxb. Phụ nữ.  
4. Hoàng Quốc Hải. 2011. Thăng Long nổi giận. Hà Nội: Nxb. Phụ nữ.  
5. Lại Nguyên Ân. 2004. 150 thuật ngữ văn học. Hà Nội: Nx. Đại học Quốc gia.  
6. Ngô Thị Quỳnh Nga. 2010. Sự đan cài các lớp ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử sau  
1975. http://ngnnnghc.wordpress.com, truy cập ngày 2/3/2019.  
7. Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên). 2012. Lịch sử và văn hóa – Cái nhìn nghệ thuật  
Nguyễn Xuân Khánh. Hà Nội: Nxb. Phụ nữ.  
8. Nguyễn Mộng Giác. 2003. Sông Côn mùa lũ, tập 2. Hà Nội: Nxb. Văn học, Trung Tâm  
nghiên cứu Quốc học.  
9. Nguyễn Quang Thân. 2011. Hội thề. Hà Nội: Nxb. Phụ nữ.  
10. Nguyễn Xuân Khánh. 2010. Hồ Quý Ly. Hà Nội: Nxb. Phụ nữ,.  
11. Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc  
Hòa, Thành Thế Thái Bình. 2002. Lý luận văn học. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
pdf 10 trang baolam 37520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghệ thuật hư cấu lời gián tiếp trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại (Khảo sát tác phẩm của Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Mộng Giác)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghe_thuat_hu_cau_loi_gian_tiep_trong_tieu_thuyet_lich_su_vi.pdf