Vũ trụ quan và biểu tượng cây si trong Mo Mường của người Mường Măng

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0046  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 3, pp. 50-57  
VŨ TRỤ QUAN VÀ BIỂU TƯỢNG CÂY SI  
TRONG MO MƯỜNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG MĂNG  
Bùi Văn Niên  
Khoa Du lịch, Trường Đại học Đại Nam  
Tóm tắt. Mo Mường là một bức tranh hoàn chỉnh về cuộc sống của người Mường cổ  
truyền. Trong đó, tư tưởng đạo đức, triết lí vũ trụ và quan niệm tín ngưỡng được biểu hiện  
một cách sinh động thông qua các câu thơ Mo. Bằng lòng thành kính, biết ơn của bậc con  
cháu đối với “quá khứ tuyệt đối”, tác giả dân gian Mường đã sử dụng một cách sáng tạo  
biểu tượng nghệ thuật đặc thù là hình ảnh cây si để tạo nên sự thiêng liêng cho Mo Mường.  
Vì vậy, trải qua hàng ngàn năm tồn tại, Mo Mường và biểu tượng cây si vẫn vẫn giữ vai trò  
to lớn đối với dân Mường ở bất kỳ vùng nào, trong bất kì thời đại nào. Bằng biện pháp phân  
tích tài liệu và điền dã dân tộc học tác giả đã tổng hợp một cách có hệ thống về vũ trụ quan  
và biểu tượng cây si trong Mo Mường.  
Từ khóa: Biểu tượng, Mo Mường, Đẻ đất đẻ nước, Mường Măng, vũ trụ quan.  
1. Mở đầu  
Nghiên cứu về Mo Mường nói chung, nghiên cứu về vũ trụ quan và biểu tượng cây si trong  
Mo Mường nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có giá trị cả về mặt lí luận và thực tiễn.  
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như bài viết Mo Đẻ đất đẻ nước, hình ảnh và âm vang  
của dân tộc ta thời viễn cổ [1] của Bùi Văn Nguyên. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra rằng,  
Mo Đẻ đất đẻ nước vẽ ra một chặng đường lịch sử của tộc người Mường. Trong một chừng mực  
nhất định, các quan niệm (trong Mo) đó biểu thị cho một trình độ văn minh đang tiến lên của  
dân tộc ta. Trong cuốn sách Người Mường ở Hoà Bình [2], Trần Từ đã chỉ ra rằng, quan niệm cổ  
truyền của người Mường chia vũ trụ thành ba tầng và bốn thế giới gồm: tầng giữa là mường Pưa  
(mường Bằng), tầng trên là mường Trời, tầng thấp nhất là mường Pưa Tịn (mường Bằng dưới) và  
mường Vua Khú. Đinh Hồng Hải trong bài viết Âm giới và biểu tượng vũ trụ luận trong tang ma  
của người Mường [3] cho rằng, thông qua Mo Mường, người Mường thể hiện quan niệm về vũ  
trụ là một hệ thống “ba tầng, bốn thế giới”. Quan niệm về vũ trụ của người Mường mang tính  
ước lệ và tính biểu tượng. Do đó, biểu tượng của thế giới âm và dương như quan niệm về thế  
giới Mường Ma và thế giới Mường Người có thể sắp xếp một cách tương đối theo chiều ngang  
trên - dưới gồm: thế giới Mường Người - bên trên, thế giới Mường Ma - bên dưới hoặc theo  
chiều dọc hai bên gồm bên Mường Người - bên Sáng và bên Mường Ma - bên Tối. Trong bài  
viết Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên trong Đẻ đất đẻ nước [4] Vi Xuân Hương  
khẳng định, cuộc đấu tranh của con người chống lại thiên nhiên trong Mo Đẻ đất đẻ nước thể  
hiện nhận thức về địa vị, sức mạnh của con người trong mối quan hệ với tự nhiên. Theo đó,  
thiên nhiên và con người vốn hoà hợp, song thiên nhiên không “chiều chuộng” con người, có  
lúc nó giận dữ khắt khe, có khi thì hung hãn thù địch. Con người muốn sống, muốn văn minh  
Ngày nhận bài: 22/6/2020. Ngày sửa bài: 2/7/2020. Ngày nhận đăng: 1/8/2021.  
Tác giả liên hệ: Bùi Văn Niên. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
50  
Vũ trụ quan và biểu tượng cây si trong Mo Mường của người Mường Măng  
phải không ngừng tìm hiểu và chiến thắng thiên nhiên [4, 89].  
Trong lần điền dã thực địa năm 2013 để nghiên cứu Mo, thầy Mo Bùi Đức Trị, người vừa  
hoàn thành việc ghi chép lại toàn bộ áng mo đồ sộ của người Mường Măng đã nhấn mạnh thông  
qua những bằng chứng thuyết phục rằng: “Mo Mường bắt đầu từ Mường Măng” [5,18]. Bị thu  
hút bởi luận điểm quan trọng này và hiểu sâu hơn giá trị của Mo Măng trong việc tái hiện lịch  
sử, xã hội người Mường, trong một dịp điền dã thực địa ở Mường Vỏ, chúng tôi đã có dịp  
phỏng vấn thầy Mo Bùi Văn Cường. Qua lời kể của thầy Mo Cường và di bút của thầy Mo Bùi  
Đức Trị, có thể tóm lược lại giá trị của Mo Măng trong những vấn đề quan trọng sau.  
Lịch sử của tộc người Mường khởi nguồn từ thưở hỗn mang. Khi ấy, có con chim Chào  
Nang quàng phải mạng nhện và đất trời dính vào nhau. Sau đó, chí Thẻng The và Theng Thông  
đã dùng mỗi người hai chiếc gậy để chống trời và tách đất. Chính hai vị thần cũng tự mình đi  
gieo các loại quả. Lịch sử con người bắt đầu từ sự kiện con người chui ra khỏi trứng chim Âl.  
Từ đó, hàng loạt các sự kiện tiếp nối nhau được Mo mô tả như rước lang, lấy vợ làm nhà cho  
lang, rước nhân vật Càn Khương ra làm vua, đánh giặc Cun Bu Bướm Bạc, thăm Chu, chặt Chu,  
kéo Chu, dựng đền.  
Có thể thầy, đến nay đã có nhiều nghiên cứu về Mo Mường và vũ trụ quan của người  
Mường, tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào trực tiếp đề cập đến vấn đề vũ trụ quan và biểu  
tượng cây si trong Mo Mường ở Mường Măng. Vì vậy, chúng tôi hi vọng bài viết này sẽ góp  
thêm tiếng nói và gợi mở ra những vấn đề mới trong nghiên cứu Mo Mường nói chung, Mo  
Mường ở Mường Măng nói riêng.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Vũ trụ quan của người Mường Măng qua Mo Đẻ Đất, Đẻ Nước  
Người Mường Măng tin rằng trái đất tồn tại hai thế giới. Một thế giới thực và một thế giới  
hư vô. Thế giới thực là nơi tồn tại của muôn loài và các sự vật, hiện tượng mà con người có thể  
trực giác được, gọi là Mường Người. Thế giới hư vô bao gồm những cõi “sống” ngự tri trong ý  
niệm mà người Mường Măng như Mường Trời, Mường Ma. Mo Đẻ đất đẻ nước ở Mường  
Măng kể lại, thuở sơ khai, trời đất còn hỗn mang chưa phân tách. Mọi vật còn hòa quyện vào  
nhau. Chưa có tháng ngày và vạn vật. Chưa có người lo liệu mọi công việc.  
“Ngày xửa ngày xưa…  
Chưa có cuông đất bơi lơi  
Chưa có cuông trời bơi lơi bơi lạng  
Chưa có cuông tháng cuông năm  
Chưa có mùng một ngày rằm năm đầy năm to tháng đủ  
Chưa có mùng một ngày rằm năm đầy năm to tháng thiếu  
Chưa có người lo người liệu đồ giường đống chi” [5, 119 – 120].  
Theo quan niệm của người Mường Măng thì trời đất, con người và vạn vật trên trái đất  
không phải tự nhiên đã có như bây giờ mà nó chắc chắn phải được tạo nên bởi sự tác động của  
thế lực “thần thánh” nào đó. Cũng theo lời kể của Mo Măng, ngày xưa có con chim Chào Nang  
lấy mạng nhện để dính trời đất vào với nhau. Lúc đó đường đi còn chưa được bằng lá gianh, lối  
lại còn chưa được bằng lá bương, và chưa có đạo đức lễ nghĩa. Thấy vậy ông trời cử nhiều vị  
thần hạ phàm để tạo đất tạo nước. Vị đầu tiên được cử ra là thần Cháo Rẹ nhưng vị thần này từ  
chối. Sau đó trời cử cột Chu Đồng ra tạo đất, cột Chu Đồng không tạo được đất. Cuối cùng thần  
Cun Khọ đồng ý để tạo đất tạo nước. Đầu tiên ông tạo nên đất với nước. Sau đó ông tạo thành  
những bãi đất bằng phẳng dùng làm nơi canh tác.  
51  
Bùi Văn Niên  
“Tạo nên bưa (để trồng) rau cải  
Tạo nên bãi (để trồng) rau lang  
Tạo nên vườn (để trồng) rau dền” [5, 121].  
Tuy đã có bãi, có ruộng nhưng lúc này trời đất vẫn còn dính vào nhau nên vẫn chưa có sự  
sống trên mặt đất. Cho đến một hôm có hai vị thần Theng Thẻ và Theng Thông ra chống trời đất  
lên thì lúc đó trời mới tách rời đất như bây giờ.  
“Chí Theng Thẻ nó có đôi néo đồng  
Chí Theng Thông nó có đôi néo sắt  
Nó chống tách con trời lên cao đã nên lộ lộ” [5, 121].  
Dưới tác động của hai vị thần là Theng Thẻ và Theng Thông đã làm thay đổi cấu trúc trong  
vũ trụ của người Mường Măng. Sự tác động của hai vị thần đã tạo ra chuyển biến quan trọng  
trong cấu trúc vũ trụ theo quan niệm của người Mường. Theng Thẻ và Theng Thông là hai vị  
thần đã có công dùng gậy đồng và gậy sắt để chống trời đất tách khỏi nhau tạo nên vị trí như  
bây giờ. Kể từ đó trời đất đã được phân tách thành ba tầng là Mường Trời, Mường Người và  
Mường Ma. Trong đó, Mường Trời là nơi sinh sống thần tiên với thân hình khổng lồ, Mường  
Người là nơi sinh sống của con người và vạn vật trong thế giới thực, Mường Ma là nơi “sống”  
của những hồn người đã chết với thân hình tí hon.  
Trong ba tầng thế giới đó, Mường Người sẽ bị chi phối bởi các thế lực “vô hình” ở Mường  
Trời và Mường Ma. Do vậy, quá trình hình thành và phát triển của Mường Người luôn có sự tác  
động của hai mường còn lại, nhất là Mường Trời. Chẳng hạn khi Mường Đất vẫn còn chưa có  
tháng có năm, chưa định ngày rằm ngày lễ thì Vua Trời (Ngọc Hoàng) cử thần Trượng Khà  
xuống chia vùng đất dương gian ra làm mười hai vùng. Chia nước ra làm mười hai khe. Ông  
chia một năm ra làm mười hai tháng. Một tháng có ba mươi ngày. Từ đó vị thần này định ra  
mùng một ngày rằm và năm đầy năm thiếu. Xong xuôi, Trượng Khà cắt cử các vị thần khác đi  
lo liệu việc ở thế gian. Theo đó, chí Theng Thẻ đi gieo những loại hoa ở trên trái đất, chí Theng  
Thông đi gieo những loại quả. Gieo đến đâu hai vị thần đặt tên cho các loại hoa quả đến đó.  
Sau khi gieo khắp từ vùng đồi núi đến vùng đồng bằng chí Theng Thông và Theng Thẻ còn  
để lại một hạt tốt nhất ném vào trước cửa nhà Dạ Rạch Dạ Rèng Dạ Theng Dạ Đẻ. Đến độ vào  
khoảng “tháng tư trở lại tháng hai đổ đi” trời gieo mưa xuống thì cây si mọc lên. Cây si cao lớn  
nhanh chóng và che khuất hết nhà của bà Dạ Rạch Dạ Rèng Dạ Theng Dạ Đẻ, khiến bà không  
những không nhìn thấy ánh mặt trời mà còn không thể phơi phóng các thứ cho khô. Lúc đó bà  
mới tức giận mà cầu xin trời làm cho cây si chết đi. Thế là trời đã làm một cơn mưa nước độc và  
thả bầy sâu xuống để ăn chết cây si. Cây si chết được một thời gian thì cành bị mục ruỗng và đổ  
đi khắp nơi. Chính sự đổ gãy này là nguồn gốc để tạo nên các Mường. Lần lượt các Mường  
khác nhau được hình thành.  
“Gãy một cành về đất rừng Mường Rợ đã tạo nên đất rừng Mường Rợ  
Gãy một cành về đất chợ đồng bằng đã tạo nên đất chợ đồng bằng…  
Cành cây si này gãy về mường nào đã tạo nên cái cuông mường đó  
Còn Cành cao bóng già già cao nga lộ lộ gãy về đất Cun Ống mường  
Cun An hóa thành cây chu đồng bông thau lá thiếc” [5, 129].  
Như vậy các vùng Mường đều được sinh ra từ chung một gốc là cây si. Do mỗi cành có  
một đặc điểm khác nhau mà mỗi vùng Mường cũng có sự khác nhau cơ bản trong lối sống sinh  
hoạt và tập tục văn hóa. Bản kể này có phần giống với các bản sưu tầm ở những vùng Mường  
khác nhau. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, văn hóa và lề lối riêng nên sự hình thành đất và  
Mường ở Mường Măng vẫn có những đặc trưng riêng mang đậm bản chất, sắc thái của người  
Mường Măng.  
52  
Vũ trụ quan và biểu tượng cây si trong Mo Mường của người Mường Măng  
Dựa vào những lời Mo trên, có thể thấy, trong quan niệm về vũ trụ người Mường Măng  
không đề cập đến việc trời hay đất sinh ra trước, mà đất và trời được tạo ra cùng lúc bởi một vị  
thần có tên là Cun Khọ. Theo cách lí giải này cho thấy rằng người Mường Măng không đặt nặng  
quan niệm tìm hiểu xem trời làm anh hay đất làm anh. Đây là một quan niệm về sự hài hòa giữa  
hai mặt âm – dương, hai yếu tố xuất hiện đồng thời này cùng hợp nhau lại để tạo thành một cặp.  
Đây cũng là một trong những quan niệm rất sớm ẩn chứa trong nó mầm mống triết học.  
Vấn đề âm – dương trong quan niệm của người Mường cũng đã từng được đề cập đến  
trong đề tài Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện nay (qua khảo sát văn  
hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình của tác giả Lương Quỳnh Khuê. Trong công trình này, các tác giả  
đã chỉ ra rằng: “Mường Trời và Mường Pưa (bao gồm cả Mường Pưa Tịn) là cặp đối lập âm -  
dương lớn nhất” [6, 44]. Tuy nhiên, Mo Mường cũng mô tả rằng ở buổi sơ khai thì trời và đất  
chưa trụ vững được như bây giờ. Dưới tác động của con chim Chào Nang quàng phải màng  
nhện đã làm cho trời đất dính vào nhau. Theo đó, ngay cả trời đất, những thực thể mà chúng ta  
coi là vĩnh hằng thì ngay từ thuở nguyên sơ trong quan niệm của người Mường Măng cũng chứa  
đựng những yếu tố và mầm mống của sự bất ổn. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng đến quan niệm  
của người Mường Măng sau này về thuở sơ khai của con người.  
Mo Đẻ đất đẻ nước có thể xem như một “một thể tri thức” [7] được trình bày theo một trật  
tự lô – gic, nhất quán. Theo đó, sau khi cây si đồng chết, cành cây si đổ đi các hướng hình thành  
nên các vùng Mường và vùng đất. Còn mắt cây si hóa thành “Trống Chim Ây Cái Ang Bà Nàng  
Chim Ây Cái Ứa”. Năm diễn ra hội đình Lừng “Trống Chim Ây Cái Ang Bà Nàng Chim Ây  
Cái Ứa” rủ nhau đi xem. Đến đó chúng còn thấy con đa ma, con khệnh có những cử chỉ ân ái  
giữa con đực và con cái.  
“Thấy nó cắn tập cắn tụ  
Tụ tập tụ tuồn luồn lên luồn xuống  
Một lần con cái ở dưới  
Chín lần con đực ở trên” [5, 134 – 135].  
Thấy vậy “Trống Chim Ây Cái Ang Bà Nàng Chim Ây Cái Ứa” về nhà trong lúc buồn tẻ  
đã bắt chước làm theo “chí đa ma khệnh khệnh”. Một thời gian sau Bà Nàng Chim Ây Cái Ứa  
thấy tức ở trong bụng nhưng không biết lí do làm sao liền bay đến khóc với “Dạ Tâm đào củ Dạ  
Tủ đào ón”. Nghe chim kể Dạ bảo đó là cuông đẻ và dặn đôi chim bay về cây gạo lớn để làm tổ  
ấp trứng. Chim nghe lời bay về cây gạo làm tổ. Thế nhưng gió làm đổ cây gạo làm cho tổ chim  
bị vỡ và trứng rơi hết xuống ruộng. Lúc này “Trống Chim Ây Cái Ang Bà Nàng Chim Ây Cái  
Ứa” lại đến để khóc với “Dạ Tâm đào củ Dạ Tủ đào ón”. Dạ dặn đôi chim bay về đá “Lài Vàng  
Hang Ma Trứng Điếng” đục làm lỗ để làm chỗ ấp trứng đựng con. Nghe xong Trống Chim Ây  
Cái Ang Bà Nàng Chim Ây Cái Ứa bay về đá Lài Vàng Hang Ma Trứng Điếng đục lỗ vuông  
chín thước rồi lấy “cỏ gianh cỏ gióng” lót lên làm tổ đẻ trứng. Một thời gian sau mỗi trứng chim  
thần đẻ ra một loại động vật trên thế gian.  
“Giờ tốt nó mới theng  
Giờ lành nó mới đẻ  
Đẻ bấy nhiêu trứng ra bấy nhiêu ma  
Đẻ bao nhiêu trứng đã thành bao nhiêu đống nhiêu cái ngài hỡi  
Đẻ một trứng đen đen thành cuông con ác  
Đẻ một trứng bạc bạc thành cuông con trâu  
Đẻ một trứng nâu nâu thành cuông con bò  
Đẻ một trứng đỏ đỏ thành cuông con trai  
Đẻ một trứng dài dài thành cuông con rắn” [5, 143 – 144].  
53  
Bùi Văn Niên  
Như vậy, theo quan niệm của người Mường Măng thì con người được sinh ra từ quả trứng  
kì dị của Trống Chim Ây Cái Ang Bà Nàng Chim Ây Cái Ứa. Cũng theo đó con người sinh ra  
đã mặc nhiên chịu sự chi phối của số phận. Nghĩa là cuộc sống của con người sau này là sung  
sướng, hạnh phúc hay khổ đau bất hạnh là điều đã được tiền định từ trước. Từ đó con người đã  
nắm bắt được và biết dựa vào các nguồn lực tự nhiên để sinh sống, tồn tại và phát triển.  
Có thể thấy thông qua Mo Đẻ đất đẻ nước người đọc có thể hình dung được quan niệm về  
vũ trụ ba tầng của người Mường ở Mường Măng. Trong đó, Mường Trời là nơi cư ngụ của các  
vị thần tiên, Mường Người là nơi cư ngụ của con người và vạn vật, Mường Ma là nơi cư ngụ  
của những hồn ma. Ở đó, Mường Người sẽ bị chi phối bởi Mường Trời và Mường Ma. Sự chi  
phối đó được phản ánh sinh động qua việc sắp xếp lại trật tự đất mường hay việc định hình số  
phận của con người.  
2.2. Biểu tượng cây si như là hiện thể của vũ trụ quan của người Mường Măng  
trong Mo  
Cây si được người Mường Măng xem là một trong những biểu tượng có ý nghĩa quan trọng  
trong quá trình hình thành đất mường, con người và vạn vật. Mo Đẻ đất đẻ nước kể lại, trong  
quá trình đi gieo các loại hoa quả ở Mường Người, hai vị thần Theng Thẻ và Theng Thông đã  
để sót một hạt cuối cùng trong túi dựng hạt. Trên đường trở về Mường Trời, hai vị này dừng  
nghỉ ở trước cửa nhà Dạ Dần mới phát hiện ra việc sót đó. Lúc đó, hai vị thần đã si (tiếng  
Mường đọc là khi, nghĩa là đùn đẩy) nhau, không ai chịu mang hạt cuối cùng đó đi gieo nên họ  
đã vãi hạt đó ở trước cửa nhà Dạ Dần. Do vậy, sau khi mọc lên loài cây ấy được gọi là cây khi  
(si). Chẳng may, loài cây này sau khi sinh ra đã có sự lớn mạnh kỳ lạ. Chỉ trong vòng 3 tháng  
(tháng bốn đổ lộn về tháng hai, ba) cây si đã cao lớn đến tận Mường Trời. Sự to lớn của cây si  
đã che khuất ánh sáng, làm cho Mường Người rơi vào cảnh tối tăm. Do đó Dạ Dần đã cầu Vua  
Trời làm cho cây si chết. Cây si sau khi chết đi đã tạo tạo đất Mường, chim Âl và muôn loài.  
Mo Đẻ đất đẻ nước kể lại, các vùng Mường đều được sinh ra bởi các cành của cây si. Trong quá  
khứ, không chỉ người Mường mà nhiều tộc người khác nhau cũng có quan niệm về nguồn gốc  
tộc người là được sinh ra từ cây. Những câu chuyện về việc con người sinh ra từ cây thường  
được lưu truyền dưới dạng thần thoại hoặc sử thi. Sử thi Đam Săn của người Ê - Đê kể về một  
loài cây không thấy gốc, không thấy ngọn. Đó là cây smuk ở phía đông nhà, cây blang ở phía  
tây hiên. Cây thần này sinh ra Hơ Nhị, Hơ Bhị và cũng chính cây này sinh ra ông bà thưở xa  
xưa [8, 197]. Thần thoại của người Sre (một nhánh của người Cơ ho) thì cho rằng xương của  
người được tạo từ vỏ của cây đa, mạch máu của người được tạo thành từ những thớ dai của cây  
đa, dòng sữa nuôi nấng người chảy từ nhựa đa. Vì thế, trong quan niệm của tộc người này, cây  
đa được coi là vật tổ của họ. Còn người Khmú lại có họ Cut (rau dớn), người Hoa, H’mông có  
họ Lê/ Li, Đào/ Thào. Như thế, thần linh hóa cây cối hay xem cây là vật tổ là một hiện tượng  
phổ biến trong cộng đồng các dân tộc thiểu số từ thời xa xưa. Trong bối cảnh đương đại, những  
“thần linh” độc đáo này vẫn tồn tại một cách độc đáo trong truyện kể dân gian, tín ngưỡng và sự  
thực hành nghi lễ trang trọng.  
Đối với đồng bào dân tộc Mường, cây Si không chỉ là biểu tượng cây vũ trụ sinh ra vạn vật  
mà còn đại diện cho sự vĩ đại, linh thiêng của tự nhiên đã và đang chở che cho đời sống của bản  
Mường. Điều này được hình thành từ quan niệm con người sinh ra từ cây và vì thế, khi chết xác  
người nhập vào bên trong thân cây và đó là chu trình người - thực vật trong quan niệm và cách  
nhìn nhận về thế giới của người Mường cổ. Mặc dù biểu tượng Cây si trong Mo Đẻ đất đẻ nước  
đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu và giải mã của nhiều học giả trong nước và quốc tế, song  
phối thuộc vào điều kiện địa lí-văn hóa khiến cho mỗi vùng mường mô tả cây thế giới này có  
nhiều khác biệt, vì thế cây Si vẫn là một biểu tượng “ứ đầy ý nghĩa”.  
Câu chuyện về sự ra đời và phát triển của cây Si trong Đẻ đất đẻ nước được người Mường  
kể lại một cách tuần tự theo quá trình gieo hạt, nảy nở và phát triển. Điểm khác biệt chính là “sự  
54  
Vũ trụ quan và biểu tượng cây si trong Mo Mường của người Mường Măng  
bất tử” như một biểu hiện về tính thiêng độc đáo của nó. Muốn hạ đổ cây Si, dân tộc Mường  
phải tìm ra một cái cớ để nhờ trời hóa Kiếp.  
“Trời hỡi trời là ma  
Ma hỡi ma là vái (vía)  
Khổ hại cây Si thế này…  
Cớ sao Trời không làm một cơn nước thấm nước thoi  
Nước giòi nước thối  
Cho rơi bầy sâu toóc ăn trong  
Cho rơi bầy sâu tong quấn lá  
Cho chết rụng lá rã cành gốc Si giầy cây Si giộ cho tôi với”.  
Như thế, mặc dù là cây vũ trụ bất tử thể hiện sự giao hòa giữa Thiên phỉ - Địa phủ- Âm phủ  
nhưng cây Si vẫn phải “hóa” vì lời khẩn cầu có lí của bà Rạch bà Rành bà Thanh bà Đẻ. Sự  
“rụng lá gãy cành” của cây vũ trụ này đã tạo nên một thần thoại về sự “hóa kiếp”. Từ đây, các  
bản Mường đã được sinh ra và các biểu tượng văn hóa mới như Chu Đồng, đôi chim Ây đã  
được hình thành.  
Vì cấu tạo và đặc điểm của mỗi cành có sự khác nhau mà các vùng đất vùng Mường cũng  
có cấu tạo khác nhau. Theo đó cành si nào mập mạp, cứng khỏe, vươn dài sẽ tạo ra những vùng  
đất phì nhiêu. Cành si nào gồ gề thì sẽ tạo ra vùng đất đồi núi. Cành si nào mối mọt thì sẽ tạo ra  
những vùng đất lõm đất lồi. Cành si nào rộng thì trải nên ra vùng đất rộng. Cành si nào bé nhỏ  
thì chỉ tạo ra vùng đất chật hẹp. Đây cũng là cách lí giải về sự mất cân bằng của tạo hóa bởi theo  
họ, không có điều gì là công bằng và đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối.  
Câu chuyện về sự ra đời và “hóa kiếp” của cây Si trong Đẻ đất đẻ nước nhìn từ vũ trụ quan  
của người Mường đã cho thấy một quan niệm có tính triết học biện chứng. Ở đó, người Mường  
đã phản ánh quá trình phát triển xã hội thông qua sự chuyển hóa của cây thiêng, đồng thời  
khẳng định tất cả vạn vật đều có chung một nguồn gốc. Quan niệm này đã giúp cộng đồng trở  
nên gắn kết, làm nên sự thuận hòa giữa các mường cũng như giữa con người và con người.  
Xuất phát từ quan niệm cổ xưa cho rằng nguồn gốc của đất Mường được sinh ra từ cây si  
nên người Mường rất quý trọng và tôn sùng cây si. Cây si là một trong những loại cây không bị  
người đốn hạ để dùng vào mục đích dựng lều trại hay nhà cửa. Cây si mọc ra ở đâu thì dân  
Mường để nó mọc lên và lớn thành cây cổ thụ ở đó. Cũng vì vậy mà ở mỗi vùng Mường đều có  
một hoặc một vài cây si cổ thụ. Có những cây si mà đến những cụ cao niên trong làng cũng  
không biết mọc từ bao giờ. Nhiều vùng còn quan niệm cây si chính là “linh hồn của làng”.  
Nhiều người kể lại rằng, mỗi khi cành cây si bị trời đánh gãy một cành về hướng nào thì đó là  
một điềm xấu đã được báo trước cho người dân sống ở hướng đó. Nếu cây si bị bật gốc rễ mà  
đổ xuống thì vận hạn của làng đó sẽ gặp điều chẳng lành. Bởi vậy cây si vừa được tôn sùng  
cùng với nguồn gốc sinh trưởng người Mường, lại vừa được coi như là một đấng tối cao có  
năng lực để bảo vệ cho dân làng.  
Có thể thấy, cây si là một trong những biểu tượng có vai trò kiến tạo, góp phần hình thành  
đất mường, vạn vật và con người trong thế giới Mường Người. Quá trình kiến tạo này được diễn  
ra dưới sự tác động của các thế lực ở Mường Trời. Điều này một lần nữa cho thấy vai trò quan  
trọng của Mường Trời trong việc kiến tạo thế giới ở Mường Người.  
2.3. Ảnh hưởng của cây si đến quan niệm sống của người Mường Măng  
Người Mường Măng tin rằng, nguồn gốc sâu xa của họ bắt nguồn từ cây si. Cây si “đẻ” ra  
cây đôi chim Ây. Đôi chim Ây là những con vật trực tiếp sinh ra loài người. Do đó cây si được  
coi là thủy tổ của dân tộc Mường.  
55  
Bùi Văn Niên  
Quan niệm dân gian Mường cho rằng, ngoài phần thể xác đang sống, con người ta còn có  
phần hồn tồn tại vô hình trong mỗi người, được gọi là “vái” (người Kinh gọi là vía). Theo đó,  
mỗi người sẽ có một cây si bản mệnh được trồng trong vườn của mụ trực si. Cây si sẽ đem đến  
sức khỏe cho con người. Vì vậy, để được khỏe mạnh thì lúc nào người Mường cũng phải giữ  
cho cây si được ngay thẳng và chắc chắn. Theo quan niệm đó, con người già đi cũng là lúc cây  
si yếu dần, vì vậy sức khỏe con người sẽ không được tốt. Từ suy nghĩ đó, với mong muốn được  
sống lâu hơn, người già ở trong mường phải làm lễ Làm vía kéo si (Vái kéo khi). Trong lễ kéo  
si, thì thầy trượng (thầy cúng trong xã hội Mường) đóng vai trò là người “kết nối” giữa con  
người với các vị thần linh và thần si. Lúc nào thần linh đồng ý thì con cháu trong nhà sẽ phải tập  
trung lại để kéo cho cây si thẳng lên. Lúc đó người già sẽ tin rằng vía của họ sẽ khỏe mạnh lại  
và họ sẽ được sống lâu hơn. Lễ làm vía kéo si đến nay vẫn trở thành một nét đẹp tín ngưỡng  
đang sống trong cộng đồng dân tộc Mường.  
Tín ngưỡng thờ si xuất phát từ quan niệm về vai trò của cây si trong việc tạo dựng đất  
Mường và con người. Tín ngưỡng này đã ăn sâu vào tiềm thức của dân Mường. Ngoài việc làm  
lễ kéo si, người Mường còn rất trân trọng những cây si (thực vật) đang sống trong vùng Mường.  
Người Mường tôn sùng cây si, coi cây si như làm một phần “ruột thịt” của mình. Sự tôn sùng  
này khác hẳn với sự kính sợ. Dù được coi là loại cây thiêng nhưng trẻ con người Mường vẫn  
hay trèo leo lên cây si hái quả để ăn. Người dân Mường đi qua lại vẫn hay ngồi dưới bóng cây si  
để nghỉ mát.  
Ngày nay, cây si và tín ngưỡng thờ si vẫn giữ vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của  
người Mường Măng. Đặc biệt, tín ngưỡng thờ si còn được coi là một trong những hoạt động bảo  
trợ tinh thần đối với dân Mường. Niềm tin này xuất phát từ vai trò của cây si mà người Mường  
Măng vẫn còn lưu giữ trong Đẻ đất đẻ nước.  
3. Kết luận  
Mo Mường có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân Mường Măng. Có được sự ảnh  
hưởng này là nhờ tính chất và chức năng của nó trong việc làm lễ đối với người đã chết. Bởi vì  
đối với người Mường Măng nói riêng khi trong nhà có người chết thì tục lệ bắt buộc phải có là  
tục mo. Vì vậy những câu chuyện và quan niệm trong Mo Mường Mo Măng nói chung và phần  
Mo Đẻ đất đẻ nước nói riêng đã có ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc sống của người dân Mường  
Măng. Điều này giúp người Mường Măng hình thành nên những đức tính tốt đẹp và những cách  
cư xử tình cảm mang đậm đà bản sắc giữa người với người.  
Với vũ trụ quan được thiết lập qua hàng ngàn năm và được thể hiện một cách sinh động  
trong Mo, tộc người Mường ở Măng cho rằng con người và các vùng mường khác nhau cùng có  
chung một nguồn gốc nên trong cuộc sống họ tương trợ lẫn nhau một cách thoải mái và không  
vụ lợi. Ở phương diện ngược lại, chính sự kế thừa sâu rộng qua các thế hệ của Mo, vũ trụ quan  
của các thế hệ tiên tổ của người Mường trong quá khứ vẫn để lại sức ảnh hưởng sâu sắc đến  
cuộc sống của người dân Mường Măng hiện tại. Những quan niệm đó đã góp phần to lớn trong  
việc gắn kết cộng đồng người Mường và giúp cho Mo Mường không chỉ mang giá trị văn hóa,  
mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc. Ngày nay, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật đã giúp  
cho nhân loại nói chung, người Mường nói riêng có những lí giải thuyết phục hơn về nguồn gốc  
và thói quen của cộng đồng. Tuy nhiên, những quan niệm được rút ra từ Mo Mường vẫn còn  
nguyên giá trị trong đời sống của cộng đồng người Mường nói chung và người Mường ở  
Mường Măng nói riêng. Người Mường vẫn có niềm tin vào những điều thiêng liêng mà Mo kể  
lại, bởi lẽ “Mo đã kể như thế!”  
56  
Vũ trụ quan và biểu tượng cây si trong Mo Mường của người Mường Măng  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bùi Văn Nguyên, 1974. “Mo Đẻ đất đẻ nước, hình ảnh và âm vang của dân tộc ta thời viễn  
cổ”. Kỷ yếu hội nghị chuyên đề Đẻ đất đẻ nước. Ty văn hóa Thanh Hóa, Thanh Hóa, tr.  
57-61.  
[2] Trần Từ, 1996. Người Mường ở Hoà Bình. Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội.  
[3] Đinh Hồng Hải, 2013. “Âm giới và biểu tượng vũ trụ luận trong tang ma của người  
Mường”. Tạp chí Văn hoá dân gian, (3), tr. 24-29.  
[4] Vi Xuân Hương, 1974. “Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên trong Đẻ đất đẻ  
nước”, Kỷ yếu hội nghị chuyên đề Đẻ đất đẻ nước. Ty văn hoá Thanh Hoá, Thanh Hóa, tr.  
89-91.  
[5] Bùi Văn Niên, 2020. Mo Mường Mường Măng – Từ truyền thống đến hiện đại. Nxb Hội  
nhà văn.  
[6] Lương Quỳnh Khuê, 2008. Bản sắc văn hóa Mường cổ truyền và xu hướng biến đổi hiện  
nay (qua khảo sát văn hóa Mường ở tỉnh Hòa Bình). Đề tài khoa học cấp bộ.  
[7] Đào Thị Thu Hằng, 2021. “Đọc “Liên ký hiệu”: Thư viện Babel của Borges và Chuyện  
quái đản trong thư viện của Murakami”. Tạp chí khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà  
Nội, Volume 66, Issue 1, tr. 10-16.  
[8] Nguyễn Văn Hoàn, 1988. Đam San - Sử thi Ê Đê. Nxb Khoa học Xã hội.  
ABSTRACT  
View of the universe and the symbolism of the Si tree  
in Mo Muong of the Muong Mang people  
Bui Van Nien  
Faculty of Tourism, Dainam University  
Mo Muong is a complete picture of the life of the traditional Muong people. In it, moral  
thought, cosmic philosophy and religious conception are vividly expressed through Mo verses.  
With the respect and gratitude of his descendants for the “absolute past”, the Muong folk author  
creatively used the special artistic symbol of the Benjamin ficus tree, Si tree in Muong, to create  
the spiritual tradition for Mo Muong. Therefore, after thousands of years of existence, Mo  
Muong still holds a strong attraction for the Muong in any region, in any era. By document  
analysis and ethnographic fieldwork, the author has systematically synthesized the cosmology  
and the symbolism of the Si tree in Mo Muong.  
Keywords: Symbol, Mo Muong, The birth of the Earth and water, Muong Mang, cosmic  
importance.  
57  
pdf 8 trang baolam 19880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vũ trụ quan và biểu tượng cây si trong Mo Mường của người Mường Măng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvu_tru_quan_va_bieu_tuong_cay_si_trong_mo_muong_cua_nguoi_mu.pdf