Nghĩa tình thái của câu đơn trần thuật trong một số truyện ngắn của Nam Cao

TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 52/2021  
5
NGHĨA TÌNH THÁI CỦA CÂU ĐƠN TRẦN THUẬT  
TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO  
Lê Thị Thu Hoài  
Trường Đại học Hoa Lư  
Tóm tắt: Hiện nay, trong ngôn ngữ học khái niệm nghĩa tình thái thường được các nhà  
nghiên cứu dùng để chỉ một phạm trù ngữ nghĩa rộng lớn. Phạm trù ngữ nghĩa này được  
xây dựng trên cơ sở mối quan hệ giữa ba nhân tố đó là; người nói, nội dung miêu tả trong  
phát ngôn và thực tế. Như vậy phạm trù ngữ nghĩa này có tính đến những yếu tố của một  
hoàn cảnh giao tiếp ngôn ngữ cụ thể. Nó không chỉ phụ thuộc vào người nói mà còn phụ  
thuộc vào quan hệ tương tác, có tính đối thoại giữa người nói và người nghe. Bài viết dưới  
đây đề cập đến nghĩa tình thái của một loại câu cụ thể trong một số truyện ngắn của Nam  
Cao - Nghĩa tình thái của câu đơn trần thuật.  
Từ khóa: Nghĩa tình thái, câu đơn trần thuật, tình thái của hành động nói, tình thái chủ  
quan, tình thái khách quan, tình thái liên cá nhân  
Nhận bài ngày 12.5.2021; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 21.7.2021  
Liên hệ tác giả: Lê Thị Thu Hoài; Email: [email protected]  
1. MỞ ĐẦU  
Khi nghiên cứu về nghĩa của câu, các nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra các thành phần nghĩa  
như sau: Nghĩa sự việc, nghĩa logic, nghĩa chủ đề, nghĩa tình thái. Cùng một cấu trúc vị từ -  
tham thể như nhau chỉ khác nhau ở biểu thức tình thái thì câu nói đã thể hiện những mục  
đích giao tiếp khác nhau. Cùng với sự ra đời của ngữ pháp chức năng các nhà ngôn ngữ học  
trên thế giới cũng quan tâm rất nhiều đến nghĩa tình thái, tiêu biểu như Otto Jespersen, Von  
Wright,… Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều thống nhất với nhau rằng trong một câu nói có  
nhiều thành phần nghĩa khác nhau trong đó có nghĩa tình thái. Ở Việt Nam, các nhà Việt ngữ  
học nhất là những người nghiên cứu về cú pháp tiếng Việt cũng chuyển mình mạnh mẽ theo  
hướng nghiên cứu này. Tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo,  
Nguyễn Văn Hiệp, Bùi Minh Toán,…  
Nghĩa tình thái cũng đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình tiếng Việt từ bậc  
phổ thông trung học (cụ thể là Ngữ văn 11) đến bậc cao đẳng, đại học chuyên ngành Ngữ  
văn. Trong các công trình nghiên cứu của mình, vận dụng thành tựu nghiên cứu cú pháp trên  
thế giới, các nhà Việt ngữ học đã chỉ ra được những loại nghĩa tình thái và các phương tiện  
6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
biểu thị nghĩa tình thái trên cứ liệu tiếng Việt. Đây là những đóng góp quan trọng góp phần  
đưa nền ngôn ngữ học Việt Nam tiệm cận với nền ngôn ngữ học thế giới. Những thành tựu  
đó cũng đã phần nào được đưa vào quá trình giảng dạy từ bậc phổ thông đến đại học. Tuy  
nhiên, những phân tích cụ thể về nghĩa tình thái đối với câu tiếng Việt còn chưa nhiều, nhất  
là việc chỉ ra nghĩa tình thái của câu trong các tác phẩm văn học. Nam Cao là một trong  
những nhà văn nổi tiếng của dòng văn học hiện thực phê phán. Các tác phẩm của ông đã  
được đưa vào giảng dạy từ bậc phổ thông đến đại học. Đã có rất nhiều nghiên cứu về tác  
phẩm của ông dưới góc độ văn học. Tuy nhiên dưới góc độ ngôn ngữ học đặc biệt nghiên  
cứu nghĩa tình thái của câu trong tác phẩm của ông thì chưa có nhiều công trình đề cập đến.  
Bài viết này vận dụng lý thuyết nghiên cứu về nghĩa tình thái của các nhà ngôn ngữ học, tác  
giả đã chỉ ra những loại nghĩa tình thái của câu đơn trần thuật trong một số truyện ngắn tiêu  
biểu của Nam Cao. Thông qua đó, phần nào chỉ ra mối liên hệ giữa nghĩa tình thái của câu  
đơn trần thuật và thái độ của nhà văn trước hiện thực phản ánh.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Khái niệm nghĩa tình thái  
Trên thế giới và ở Việt Nam, đã có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về nghĩa tình  
thái. Mặc dù có những sự khác nhau nhất định những những cách định nghĩa đó đều muốn  
thể hiện được những đặc trưng cơ bản của nghĩa tình thái. Trong bài báo này tác giả chọn  
cách hiểu về nghĩa tình thái, cách phân loại nghĩa tình thái của Giáo trình Ngữ pháp tiếng  
Việt do Bùi Minh Toán chủ biên. “Nghĩa tình thái là một phần nghĩa của câu thể hiện thái  
độ hay quan hệ giữa người nói với người nghe, giữa người nói với hiện thực (sự tình) được  
phản ánh trong câu, giữa nội dung được phản ánh trong câu với hiện thực ngoài thực tế  
khách quan” [5, tr.193].  
2.2. Các loại nghĩa tình thái của câu đơn trần thuật  
Để chỉ ra nghĩa tình thái của câu đơn trần thuật trong một số truyện ngắn tiêu biểu của  
Nam Cao, tác giả đã chọn lựa 9 truyện ngắn tiêu biểu. Đó là: Chí Phèo, Đời Thừa, Lão Hac,  
Một đám cưới, Lang rận, Tư cách mõ, Mua nhà, Mò sâm banh, Những truyện không muốn  
viết. Tiếp theo tác giả thống kê những câu đơn trần thuật, sau đó chỉ ra nghĩa tình thái của  
chúng. Kết quả là có 9 bảng chỉ ra nghĩa tình thái của câu đơn trần thuật tương ứng với 9  
truyện ngắn trên. Dưới đây, tác giả sẽ nêu cụ thể những loại nghĩa tình thái của những câu  
đơn trần thuật đã được khảo sát.  
2.2.1. Tình thái của hành động nói  
Câu đơn trần thuật là loại câu không dùng những phương tiện từ ngữ đặc thù giống như  
câu cầu khiến, câu cảm thán, câu nghi vấn. Về ngữ điệu nó thường có ngữ điệu kết thúc, hạ  
giọng ở cuối câu. Khi viết ngữ điệu đó được đánh dấu bằng dấu chấm ở cuối câu. Do vậy,  
đương nhiên tất cả những câu đơn trần thuật đều có Tình thái của hành động nói, cụ thể là  
Tình thái kể. Ví dụ: “Không ai lên tiếng cả” , “Và cũng như mọi chiều, vẫn không một ai đáp  
lời hắn” (Chí Phèo), “Cửa buồng bếp quả nhiên đóng chặt” (Lang Rận)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 52/2021  
7
2.2.2. Tình thái liên cá nhân (Tình thái quan hệ)  
Trong số các loại nghĩa tình thái đã được chỉ ra trong câu đơn trần thuật ở 9 bảng khảo  
sát có lẽ đây là loại nghĩa tình thái chiếm số lượng nhiều nhất. Dựa vào cách dùng các đại từ  
nhân xưng trong câu mà chúng ta nhận diện được đó là Tình thái liên cá nhân.  
+ Thể hiện thái độ khinh miệt coi thường thông qua các đại từ xưng hô: y, thị, hắn, mụ, mày,…  
Ví dụ: Bắt đầu hắn chửi trời.  
Bố con thằng Kiến nó đâm chết tôi rồi.  
Cũng may thị Nở vào. (Chí Phèo)  
Y thẹn.  
Thế mà mụ Lợi hiền lành lắm.(Lang Rận)  
+ Thể hiện thái độ kính trọng, dùng các đại từ xưng hô: cụ, ông, bà, chú, bác,…  
Ví dụ: Nhưng kìa cụ ông đã về.  
Cái anh này nói mới hay. (Chí Phèo)  
Chú bếp Tư rất thận trọng về vấn đề giữ vệ sinh. (Mò sâm banh)  
Ông giáo dạy phải.  
Tôi xin cụ.(Lão Hạc)  
+ Thể hiện thái độ thân mật, gần gũi thông qua các đại từ xưng hô: em, con, mợ, mình,...  
Ví dụ: Em không để cơm mình đâu đấy.  
Mợ thương.  
Con tôi nó giật mình. (Đời thừa)  
Nhưng lão không nghe.  
Bố cậu lâu lắm không có thư về. (Lão Hạc)  
Mẹ mày ngày xưa cũng chỉ theo không tao đấy. (Một đám cưới)  
2.2.3. Tình thái chủ quan  
Đây là loại tình thái phong phú về ý nghĩa, đa dạng về phương tiện biểu hiện. Tuy nhiên  
trong số những câu đơn trần thuật được khảo sát, tác giả nhận thấy Tình thái chủ quan xuất  
hiện rất ít. Cụ thể có các loại tình thái chủ quan sau: Tình thái chỉ độ tin cậy: Độ tin cậy của  
người nói đối với tính xác thực của nội dung sự việc được nêu ở trong câu. Biểu thị độ tin  
cậy cao, người ta thường dùng những quán ngữ tình thái: quả thật (là), chắc chắn, chắc hẳn,  
quả nhiên,…  
Ví dụ: Quả nhiên họ nói có sai đâu. (Chí Phèo); Cửa buồng bếp quả nhiên đóng chặt.  
(Lang Rận); Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn. (Lão Hạc)  
2.2.4. Tình thái khách quan  
Đánh giá về sự việc được phản ánh ở trong câu dựa vào khách quan nghĩa là dùng thực  
8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
tế khách quan để kiểm tra tính đúng sai của sự đánh giá. Trong số những câu đơn trần thuật  
được khảo sát có hai loại Tình thái khách quan. Đó là: Tình thái khẳng định và Tình thái phủ định.  
+ Tình thái khẳng định: Sự thừa nhận, xác nhận sự việc nêu ra ở trong câu là đúng, có thật  
trong thực tế khách quan. Nó thường được biểu thị bằng các biểu thức tình thái: đúng, đúng  
là, sự thật là, đúng thế thật, chỉ có….mới, thật, chẳng có…  
Ví dụ: Thật ồn ào như chợ. (Chí Phèo); Trong số bạn thân của tôi, thế nào chẳng có  
người đã trách tôi. (Những truyện không muốn viết)  
+ Tình thái phủ định: Phủ định miêu tả: kể lại, thuật lại sự việc, hiện tượng nào đó không  
mang đặc trưng quan hệ X (hay Y). Nó thường dùng những biểu thức phủ định sau: không,  
chưa, chẳng, chả… Ví dụ: Không ai lên tiếng cả. Nhưng cũng không ai ra điều. Và cũng như  
mọi chiều, vẫn không một ai đáp lời hắn (Chí Phèo); Không có gì đáng ngại ngoài đường  
phố (Đời thừa); Chứng bệnh của chị, những đàn bà góa, những đàn bà không có chồng, không  
mấy người không có (Lang Rận). Phủ định bác bỏ: Dùng biểu thức phủ định để phản bác,  
không thừa nhận ý kiến đánh giá, nhận xét của người khác về sự việc được nêu ở trong câu.  
Thường dùng những biểu thức ngôn ngữ sau: đâu, đâu phải, đâu có, không phải, không bao  
giờ, đời nào, tội gì, không hề,… Ví dụ: Đời người chứ có phải con ngóe đâu (Chí Phèo).  
2.3. Thái độ của nhà văn thể hiện qua cách gọi nhân vật bằng các phương tiện biểu thị  
tình thái: hắn, thị, thằng, y, mụ.  
2.3.1. Đối với nhân vật là nam giới  
Cách dùng những đại từ nhân xưng để gọi nhân vân vật thể hiện rất rõ dụng ý sáng tác  
của nhà văn. Trong một loạt các sáng tác của mình, cách gọi đó trở đi trở lại rất nhiều lần và  
tương đối nhất quán. Đối với những truyện viết về những nhân vật chính là nam giới, tác giả  
thường gọi là hắn, nó, thằng. Vì đây là những nhân vật đã đánh mất đi những phẩm chất tốt  
đẹp của con người, bị tha hóa cả nhân hình lẫn nhân tính (Chí Phèo) hoặc bị tha hóa về mặt  
tinh thần (Hộ). Phổ biến hơn cả là cách gọi bằng hắn. Truyện ngắn Chí Phèo thể hiện rất rõ  
thái độ của tác giả khi sử dụng cách gọi này. Truyện mở đầu bằng tiếng chửi của Chí Phèo  
và kết thúc bằng cái chết của anh ta. Điều mà chúng ta quan tâm ở đây là thái độ của nhà văn  
trước hiện thực được phản ánh trong câu chuyện như thế nào. Trong một loạt những ví dụ  
về Tình thái liên cá nhân, có rất nhiều câu thuộc về tác phẩm Chí Phèo. Xét về nghĩa tình  
thái, cách gọi Chí Phèo bằng hắn thể hiện một sự coi thường, hạ thấp, khinh bỉ. Chúng ta  
đọc tác phẩm và thấy rất nhiều lần nhà văn gọi nhân vật này bằng hắn. Ngay mở đầu tác  
phẩm xuất hiện nhân vật hắn.“Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn  
chửi…Mà có trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại không ai biết” [6, tr. 11]. Qua lời  
giới thiệu này người đọc hình dung ra Chí Phèo là một kẻ say rượu của làng Vũ Đại,một  
người mà trong làng ai cũng ghét, ai cũng sợ, ai cũng khinh, chẳng ai thèm bắt lời với hắn.  
Do vậy, việc gọi Chí Phèo bằng hắn là phù hợp với bối cảnh câu chuyện và tính cách nhân vật.  
Tiếp theo trong lần kể về cuộc đời trước đây của Chí Phèo lúc vẫn còn trai trẻ, làm canh  
điền cho nhà Bá Kiến, nhà văn đã không gọi Chí Phèo bằng hắn nữa mà gọi bằng anh. Sau  
khi ở tù ra, trở về làng Vũ Đại, anh canh điền đó đã thay đổi hoàn toàn từ hình dáng đến tính  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 52/2021  
9
tình, nhân cách.“Hắn về lần này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai,… Cái ngực  
phanh đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay  
cũng thế. Trông gớm chết!” [6, tr. 12].  
Từ lúc này trở đi Chí Phèo luôn xuất hiện dưới ngòi bút tác giả với cách gọi hắn. Vì anh  
ta đã biến thành“con quỷ dữ của làng Vũ Đại”.Chí Phèo hoàn toàn đã bị lưu manh hóa, anh  
canh điền lương thiện thuở nào đã biến mất hoàn toàn. Cho nên lúc này phải gọi bằng hắn.  
Tuy nhiên cũng có lần Nam Cao gọi Chí bằng nó, đấy là lúc sau khi ở tù về, lần đầu tiên Chí  
đến nhà Bá Kiến ăn vạ.“Mắc phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại lăm  
lăm cầm một cái vỏ chai mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả,… Thôi thì cứ đóng cửa cho thật  
chặt rồi mặc thây cha nó, nó chửi thì tai liền miệng đấy, chửi rồi lại nghe”[6, tr. 13]. Cách  
gọi này có vẻ trung tính hơn. Đây không còn là ngôn ngữ trực tiếp của nhà văn mà đây là  
những dòng suy nghĩ của các nhân vật là vợ của Bá Kiến. Trong số những nhân vật tham gia  
câu chuyện có Bá Kiến là được tác giả cho gọi Chí bằng anh. Không phải vì cụ Bá là người  
luôn luôn tôn trọng Chí, không phải cụ không biết Chí là con quỷ dữ của làng. Mà trong cách  
cư xử của mình cụ luôn gọi như vậy để nhằm làm dịu nhẹ đi sự liều lĩnh của Chí, cụ muốn  
thu phục Chí, khống chế Chí. “Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn róc đời, thứ nhất sợ  
kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân” [6, tr. 17]. Trước mặt Chí là vậy còn trong  
thâm tâm suy nghĩ của cụ Bá, cụ luôn gọi Chí bằng từ thằng.“Ngay thằng Chí Phèo này đến  
đây sinh sự biết lại không có thằng nào ẩy đến” [6, tr. 17]  
Bên cạnh Bá Kiến, chúng ta không thể không nhắc đến Thị Nở. Vậy nhà văn đã cho Thị  
Nở gọi Chí như thế nào. Cũng như bao người dân làng Vũ Đại, Thị Nở gọi Chí bằng hắn,  
thằng, nó. “Giá thử đêm qua không có thị thì hắn chết,… Thị thấy như yêu hắn: đó là lòng  
yêu của một người ơn” [6, tr.38]. Thị Nở là người duy nhất trong làng Vũ Đại không sợ Chí,  
là người đã đánh thức bản chất thiên lương đã mất trong con“quỷ dữ” của làng. Sau đêm ăn  
nằm với Thị Nở, sáng tỉnh dậy Chí Phèo cảm thấy lòng mình nôn nao, hắn nhận ra những  
âm thanh quen thuộc của cuộc sống hàng ngày: tiếng chim hót, tiếng cười nói của những  
người đi chợ, tiếng gõ mái chèo của anh thuyền chài. Hắn cảm thấy sợ rượu và nhớ đến ao  
ước của mình về một mái ấm gia đình cũng như bao nhiêu người dân lương thiện khác. Hắn  
cảm thấy cô độc và nghĩ đến tuổi già của mình, nghĩ “vơ vẩn mãi, thì đến khóc được mất”.  
Lúc này đây hiện ra trước mắt người đọc không phải là Chí Phèo chuyên rạch mặt ăn vạ,  
đâm thuê, chém mướn, say xỉn, cướp phá nữa mà là một con người thật sự, cũng có những  
ước mơ, những sợ hãi rất người.  
Khi ăn bát cháo hành của Thị Nở, Chí cảm thấy mình không còn đủ sức để cướp bóc,  
để đâm chém nữa. Hắn “muốn làm hòa với mọi người biết bao” và hắn“ thèm lương thiện”.  
Hắn muốn quay trở lại với cuộc sống bình thường của con người và hắn biết chỉ có Thị Nở  
mới giúp được hắn. Hắn nói với Thị Nở “Giá cứ như này mãi thì thích nhỉ… Hay mình sang  
đây ở với tớ một nhà cho vui” [6, tr.41]. Người đã thức tỉnh bản chất người đó của Chí Phèo  
là Thị Nở. Do vậy lúc này Chí Phèo được gọi bằng người thay vì hắn, thằng, nó. Chỉ duy  
nhất Thị Nở chứng kiến cái hiền lành, sự quay trở về của Chí nên chỉ duy nhất Thị Nở gọi  
Chí là người.“Sao lại có thứ người đâu mà lì quá thế” [6, tr.38]. Sau khi Thị Nở từ chối Chí  
10  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
và nhắc lại cho hắn nghe những gì mà bà cô đã nói, Chí nhận ra mình không thể thành người  
lương thiện được nữa. Chí lại uống, lại say trong khi vẫn thoang thoảng thấy hơi cháo hành  
và Chí đã đến nhà Bá Kiến nhưng lần này thì khác, hắn không đòi tiền mà đòi “lương thiện”  
trong khi biết điều đó sẽ không bao giờ quay trở lại với mình nữa Chí đã tuyệt vọng, Chí đã  
hết đường sống. Chí đã chết trên con đường trở về với xã hội loài người. Thị Nở đã chứng  
kiến cảnh Chí đâm Bá Kiến, Thị Nở không hiểu sao Chí lại làm như vậy, và lúc này người  
đọc lại thấy Thị Nở gọi Chí bằng hắn, nó. “Nhưng thị lại nghĩ thầm: Sao có lúc nó hiền như  
đất. Và nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn, thị phải nhìn trộm bà cô, rồi nhìn nhanh xuống bụng:  
Nói dại, nếu mình chửa, bây giờ thì hắn chết rồi, thì làm ăn thế nào?” [6, tr.47]. Và chắc  
chắn một điều là Chí mãi mãi không bao giờ thoát khỏi được cách gọi bằng từ hắn, thằng  
một cách gọi đầy mỉa mai, khinh bỉ của cả làng Vũ Đại.  
Truyện Tư cách mõ cũng có cách gọi tương tự. Ban đầu Lộ là một người “lành” như  
đất, không cờ bạc, rượu chè. Mặc dù có nghèo túng mấy, Lộ cũng chẳng ăn trộm, ăn cắp của  
ai bao giờ. Lộ ăn ở “phân minh” nên xóm giềng ai cũng mến. Lúc này, anh ta chưa bị biến  
chất nên tác giả vẫn gọi là anh cu Lộ. Trên con đường trở thành mõ, Lộ dần dần được nhà  
văn thay đổi cách goi. Mới bước chân vào nghề mõ, Lộ còn cảm thấy xấu hổ với mọi người,  
xấu hổ với cả vợ con, lúc này nhà văn vừa gọi bằng tên vừa gọi bằng hắn.“Một hôm, trong  
một đám khao, Lộ vừa chực ngồi cỗ thì ba người ngồi trước đứng cả lên. Lộ ngồi trơ lại một  
mình. Mặt hắn đỏ bừng lên. Hắn do dự một chút rồi cũng phải đứng lên nốt, mặt bẽn lẽn cúi  
gầm xuống đất.” [6, tr.248]. Đến khi đã hoàn chỉnh là mõ, quen nghề rồi thì chỉ duy trì một  
cách gọi hắn. Bây giờ, ai cũng ghét, cũng khinh Lộ.  
Truyện Trẻ con không được ăn thịt chó nhân vật ông bố tham ăn, tranh ăn hết cả phần  
vợ, con cũng được tác giả gọi là hắn. Nhân vật này không cướp của không giết người, không  
bị làng xóm chê bai hay khinh bỉ nhưng đây là một nhân cách sa đọa, méo mó, ác độc. Trong  
lúc đói kém vợ phải tần tảo tiết kiệm từng đồng trinh để lo cho cả nhà thì hắn hiện nguyên  
hình là một “thằng chồng không biết lo, biết nghĩ, chỉ thích ăn, thích uống. Con chó to bằng  
ấy, lúc này bán đâu không nổi ba đồng bạc? Cả nhà ăn gạo hằng nửa tháng. Ấy thế mà cái  
môi nó vừa máy lên một cái, nó đã phải đè ra giết ngay. Ăn hoang, phá hại. Ăn uống thế, có  
khác gì ăn thịt con không hở trời” [6, tr.120]. Giết thịt con chó để thỏa mãn cơn thèm ăn của  
mình đã là ác độc, vì đấy là những đồng tiền duy nhất để người vợ có thể lo ăn cho cả nhà  
nhưng khi ăn chán ăn chê, bạn bè được thỏa mãn mà không phần cho vợ cho con đang chờ  
đợi trong sự đói khát một miếng nào thì anh ta không còn tính người nữa. Sự tham lam, ích  
kỉ, tàn nhẫn đã biến ông bố - người chồng thành một con vật là thằng người. Cho nên từ đầu  
đến cuối tác phẩm nhà văn luôn dùng từ hắn, thằng để gọi nhân vật này.  
Bên cạnh nhân vật trung tâm là những người nông dân, trong sáng tác của Nam Cao còn  
có nhân vật trung tâm là những người trí thức tiểu tư sản nghèo. Trong giọng điệu trần thuật  
của nhà văn, kiểu nhân vật này cũng có cách gọi tên tương tự. Tác giả thường hay dùng đại  
từ nhân xưng hắn. Truyện ngắn Đời thừa viết về văn sĩ Hộ. Tùy từng hiện thực được phản  
ánh và hoàn cảnh giao tiếp mà nhà văn sử dụng cách gọi tên nhân vật cho phù hợp. Khi kể  
về sự cứu vớt đầy trách nhiệm của Hộ đối với cuộc đời số phận của Từ, nhà văn gọi nhân  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 52/2021  
11  
vật chính bằng tên riêng Hộ. “Vả lại Hộ, đối với Từ còn là một ân nhân nữa. Hộ đã cúi  
xuống nỗi đau khổ của Từ. Hộ đã cúi xuống và đã đưa một bàn tay cầm lấy cái bàn tay mềm  
yếu của Từ, giữa lúc Từ đau đớn không bờ bến: Từ bị tình nhân bỏ với một đứa con vừa mới  
đẻ…Giữa lúc ấy thì Hộ mở rộng đôi tay ra, đón lấy Từ. Hộ nuôi Từ, nuôi mẹ già con dại cho  
Từ. Hộ nhận làm bố cho đứa con thơ” [6, tr.253]. Hành động này của Hộ thật đáng trân  
trọng, chứng tỏ Hộ là một người đàn ông đầy trách nhiệm, bản lĩnh, tình thương và sự vị tha.  
Nó được tác giả gọi là “hành vi đẹp”. Hay nói một cách khác lúc này Hộ là một người đàn  
ông đứng đắn đàng hoàng không có gì có thể chê trách được. Nhưng sau đó là bắt đầu những  
bi kịch tinh thần trong cuộc sống của Hộ. Hộ là một nhà văn“say mê lí tưởng”, nhiều hoài  
bão, ước mơ muốn khẳng định mình bằng tài năng văn chương thực sự. Trước khi chưa có  
Từ, Hộ chỉ lo chăm chút cho tài năng của mình, luôn“băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó  
sẽ làm mờ hết các tác phẩm cùng ra thời” [6, tr.254]. Sau khi nâng đỡ Từ, vì miếng cơm  
manh áo để nuôi sống gia đình, Hộ phải viết những cuốn sách vội vàng, những bài báo đọc  
xong rồi quên ngay. Biết như vậy là “khốn nạn”,“bất lương” nhưng Hộ vẫn cứ phải làm.  
Từ lúc này trở đi đến hết tác phẩm người đọc thấy nhà văn chủ yếu gọi nhân vật của mình  
bằng hắn.  
2.3.2. Đối với nhân vật là nữ giới  
Đối với nhân vật là nữ giới tác giả thường dùng đại từ nhân xưng là y, thị, mụ,… Đây là  
những nhân vật có hình dáng vô cùng xấu xí như nhân vật Thị Nở trong truyện ngắn Chí  
Phèo. Trong lời kể trực tiếp của Nam Cao, tác giả luôn gọi nhân vật này bằng thị.“Nhưng  
người đàn bà ấy lại chính là Thị Nở, một người ngẩn ngơ như những người đần trong truyện  
cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn… Người ta tránh thị như tránh một con vật rất tởm” [6, tr.31-  
32]. Đọc đoạn văn trên chúng ta thấy khuôn mặt Thị Nở không phải là người. Thị đã xấu lại  
còn dở hơi. Có lẽ vì vậy mà nhà văn mời gọi là thị chứ không phải là bà hay chị. Nếu như  
Chí xuất hiện trước mắt người đọc bằng tiếng chửi thì Thị Nở gây ấn tượng mạnh vơí người  
đọc bằng hình dạng xấu xí, đặc biệt nhà văn đã cho Chí gặp Nở trong một hoàn cảnh rất đẹp  
- đêm trăng rằm tại mảnh vườn bên sông. Tất cả những cái xấu xí của Thị Nở đã bị ánh trăng  
che lấp. Ánh trăng còn làm cho Nở đẹp hơn. Chí nhìn thấy hình dáng bên ngoài của Nở trong  
khi đang say nên hắn gọi Nở là người.“ Chính là người đàn bà, hắn biết vậy nhờ mái tóc dài  
buông xuống vai trần và ngực..” [6, tr.31]. Và chỉ duy nhất lúc này Nam Cao đã không gọi  
là Thị Nở nữa mà thay thế bằng cách gọi trân trọng hơn mụ.“Hai tay trần của mụ buông  
xuôi, cái mồm của mụ há hốc lên trăng mà ngủ, hay là chết. Đôi chân thì duỗi thẳng ra trước  
mặt, cái váy đen xộc xệch… Bên kia, có lẽ vì mụ giẫy cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây  
nây” [6, tr.31].  
Hay mụ Lợi trong Lang Rận. Hãy xem nhà văn miêu tả và gọi nhân vật này.“Không  
còn một người đàn bà nào có thể xấu hơn. Mụ béo trục, béo tròn, mặt rỗ như tổ ong bầu,  
mắt trắng môi thâm, má đen như thằng quỉ. Ở quanh đấy, người ta vẫn lấy tên mụ ra mà dọa  
trẻ” [6, tr.234]. Nam Cao dường như rất chú ý miêu tả và có ấn tượng với những người phụ  
nữ nông thôn xấu xí. Hầu như trong truyện ngắn của ông chúng ta rất ít gặp những người  
phụ nữ nông thôn xinh đẹp khỏe mạnh giống như chị Dậu trong Tắt đèn. Hoặc nếu như họ  
12  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI  
không bị miêu tả xấu về hình thức thì nhà văn cũng không đi sâu miêu tả vẻ ngoài mà chủ  
yếu chú trọng vào hoàn cảnh sống và hành động của nhân vật. Chẳng hạn trong truyện Trẻ  
con không được ăn thịt chó, nhân vật người vợ xuất hiện trong hoàn cảnh gia đình nghèo  
đói. Người vợ ấy phải tần tảo tất bật lo ăn từng bữa, đến mua đồng quà tấm bánh cho con chị  
cũng phải đắn đo suy nghĩ. Đối với nhân vật này, có đôi lúc tác giả gọi bằng từ người đàn  
bà nhưng chủ đạo vẫn là giọng kể với cách gọi bằng thị.“Thị nghẹn ngào cả cổ. Thị muốn  
gào thật lớn” [6, tr.120].  
Hoặc trong truyện Lão Hạc, nhân vật vợ ông giáo cũng vậy. Mặc dù xuất hiện rất ít, có  
vài dòng kể của tác giả nhưng cũng chỉ được gọi bằng thị chứ không hề có tên.“Thị gạt phắt  
đi… Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi” [6, tr.93]. Vợ ông giáo không khổ vì tinh thần,  
không gặp một người chồng bất nhân, vô lương tâm nhưng khổ vì cảnh đói nghèo. Đói nghèo  
đến mức “cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau ích kỉ che lấp mất”  
[6, tr.93]. Bên cạnh đó còn có một loạt những nhân vật phụ nữ khác nữa mà tác giả cũng chỉ  
gọi bằng thị. Họ có thể có tên như Từ vợ Hộ (Đời thừa) không tên như vợ Điền (Trăng  
sáng),vợ Hiệp (Sao lại thế này?), vợ anh cu Phúc (Điếu văn). Trừ một số người vợ mất nết  
hư hỏng (vợ anh cu Phúc trong Điếu văn) còn lại hầu hết họ đều là những người vợ, người  
mẹ chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con. Họ bị cái đói, cái nghèo bủa vây nên trở  
nên gắt gỏng, khó tính (vợ Điền - Trăng sáng), hoặc bị biến thành người phụ nữ xấu cả  
người, cả nết trong con mắt của người chồng (vợ Hiệp trong Sao lại thế này?). Trong giọng  
điệu trần thuật của Nam Cao chúng ta thấy nổi lên rất rõ giọng điệu đa thanh. Bằng việc sử  
dụng các đại từ nhân xưng: hắn, thị, y, mụ, nó,… để trần thuật, nhà văn đã bộc lộ một sự  
khách quan đến lạnh lùng đối với hiện thực được phản ánh. Khách quan, lạnh lùng bao nhiêu  
thì hiện thực xã hội Việt Nam dưới chế độ nửa thực dân phong kiến được phản ánh càng  
chân thực, sinh động, sức tố cáo của tác phẩm càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Người đọc thấy  
hiển hiện rõ trước mắt cảnh đói nghèo, sự tha hóa bần cùng của người nông dân Việt Nam,  
sự giằng xé đau đớn về tinh thần của những trí thức tiểu tư sản nghèo trước Cách mạng. Điều  
đó phần nào giải thích vì sao các biểu thức tình thái liên cá nhân nêu trên xuất hiện trở đi trở  
lại nhiều lần trong nhiều tác phẩm của tác giả.  
3. KẾT LUẬN  
Với những cứ liệu về một kiểu câu cụ thể trong những truyện ngắn tiêu biểu xuất sắc  
của nhà văn Nam Cao, tác giả bài báo đã chỉ ra được những loại nghĩa tình thái và những  
phương tiện biểu hiện chúng. Cách gọi nhân vật bằng các phương tiên biểu thị tình thái liên  
cá nhân: hắn, thị, mụ, y… đã góp phần thể hiện thái độ của Nam Cao đối với hiện thực được  
phản ánh trong tác phẩm. Qua đó bộc lộ dụng ý nghệ thuật, hình thành nét đặc trưng ngôn ngữ,  
góp phần định hình phong cách nghệ thuật của nhà văn, đấy chính là giọng điệu trần thuật.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb. Giáo Dục.  
2. Michael Alexander Kirkwood Halliday (Hoàng Văn Vân dịch, 2004), Dẫn luận ngữ pháp chức  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 52/2021  
năng, Nxb. ĐHQGHN.  
13  
3. Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1998), Dẫn luận ngôn ngữ học,  
Nxb. Giáo Dục.  
4. George Yule (2003), Dụng học, Nxb. ĐHQGHN.  
5. Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị Lương (2007), Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. ĐHSP.  
6. Lan Hương (1998), Nam Cao – Truyện ngắn, Nxb. Văn học.  
THE MODAL MEANING OF SINGLE NARRATIVE SENTENCE  
IN NAM CAO’S SHORT STORIES  
Abstract: The concept of modal meaning in today’s linguistic is often used by researchers  
to refer to a large semantic category. This category is built on the basis of the relationship  
among these three factors: speaker, contents in speech and fact. Thus this semantic  
category takes into account the elements of a particular linguistic communication situation.  
It not only depends on the speaker but also on the interactive, conversational relationship  
between the speaker and the listener. The following article discusses the modal meaning of a  
specific sentence in Nam Cao’s short stories – The modal meaning of a single narrative sentence.  
Keywords: modal meaning, single narrative sentence, modal of speech, subjective modal,  
objective modal, interpersonal modal  
pdf 9 trang baolam 24220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghĩa tình thái của câu đơn trần thuật trong một số truyện ngắn của Nam Cao", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghia_tinh_thai_cua_cau_don_tran_thuat_trong_mot_so_truyen_n.pdf