Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở trong đọc hiểu văn bản văn học thông qua tổ chức các hoạt động hồi ứng trải nghiệm

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở  
trong đọc hiểu văn bản văn học thông qua tổ chức  
các hoạt động hồi ứng trải nghiệm  
Nguyễn Thị Thanh Nga  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
TÓM TẮT: Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả bàn về khái niệm năng lực sáng  
101 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam  
tạo của học sinh trung học cơ sở nói chung và năng lực sáng tạo của học sinh  
Email: ngavninc[email protected]  
trung học cơ sở trong đọc hiểu văn bản văn học. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề  
cập đến một biện pháp trong tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản văn học giúp  
học sinh phát triển năng lực sáng tạo, đó là tổ chức các hoạt động hồi ứng trải  
nghiệm thông qua các vai khác nhau khi đến với tác phẩm (vai nhân vật, vai  
nhà văn, vai người quan sát chứng kiến). Khi hòa mình vào vai của các chủ  
thể khác nhau trong văn bản, bạn đọc học sinh sống với những xúc cảm, niềm  
vui, nỗi buồn của họ; thấu hiểu những thân phận, đồng sáng tạo với nhà văn.  
Khi bước ra khỏi văn bản, học sinh nhìn nhận, đánh giá về các giá trị của văn  
bản và biết vận dụng sáng tạo vào chính bản thân mình.Tổ chức quá trình đó  
trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học, giáo viên góp phần giúp học sinh đạt  
đến một số những biểu hiện năng lực sáng tạo của HS trung học cơ sở trong  
đọc hiểu văn bản văn học.  
TỪ KHÓA: Năng lực sáng tạo; đọc hiểu; văn bản văn học; hồi ứng trải nghiệm; học sinh trung  
học cơ sở.  
Nhận bài 20/12/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 03/01/2020 Duyệt đăng 25/02/2020.  
1. Đặt vấn đề  
mới, nhìn nhận vấn đề theo cách mới, phát hiện cái mới  
trong cấu trúc cũ của sự vật hiện tượng để tạo ra các sản  
phẩm mới. Sản phẩm của sáng tạo là ý tưởng, vật dụng mới,  
cấu trúc mới” [2]. Trong định nghĩa của mình, tác giả Trần  
Thị Bích Liễu đã nhấn mạnh hơn tới khả năng tạo ra các sản  
phẩm mới của NLST.  
Một số luận án tiến sĩ trong những năm gần đây đã bắt đầu  
nghiên cứu về NLST ở các môn học. Các tác giả cũng đã  
nỗ lực đưa ra những định nghĩa của mình về NLST. Trong  
đó, có thể kể đến Hoàng Thị Thúy Hương (2015), Phạm Thị  
Bích Đào (2014), Đặng Thị Thu Huệ (2019)…  
Sáng tạo và năng lực sáng tạo (NLST) là những vấn đề  
được quan tâm trong thời điểm hiện nay ở nền giáo dục  
của nhiều nước trên thế giới. Quốc gia nào sở hữu nhiều cá  
nhân sáng tạo thì quốc gia đó có sức mạnh. Chính vì vậy,  
nhiệm vụ của giáo dục không chỉ là sự cung cấp tri thức đơn  
thuần mà phải tạo ra những cá nhân có năng lực, đặc biệt  
là năng lực sáng tạo. Điều đó lí giải tại sao NLST là một  
trong những năng lực cốt lõi trong mục tiêu giáo dục của  
nhiều quốc gia như Singapo, Phần Lan, Úc, Pháp... NLST  
của học sinh (HS) trong đọc hiểu văn bản văn học (VBVH)  
có nhiều biểu hiện. Để phát triển được NLST cho HS là một  
Tuy cách diễn đạt có phần khác nhau nhưng các quan  
quá trình lâu dài với nhiều biện pháp tác động khác nhau. niệm trên đã có những điểm chung trong nỗ lực định nghĩa  
Tổ chức hoạt động hồi ứng trải nghiệm trong đọc hiểu là về NLST với các từ chìa khóa như: khả năng làm ra cái  
một trong những cách làm phù hợp và hiệu quả trong bối mới; sự riêng biệt, độc đáo; tạo ra ý tưởng, giải pháp, hiệu  
cảnh dạy học đọc hiểu VBVH trong nhà trường hiện nay.  
quả, hữu ích…Trên cơ sở quan niệm về năng lực và những  
nghiên cứu về NLST, chúng tôi cho rằng: NLST là thuộc  
tính của cá nhân, dựa trên sự huy động kiến thức, kĩ năng  
và những yếu tố khác như hứng thú, niềm tin, ý chí... để làm  
ra cái mới gồm ý tưởng mới, giải pháp mới, sản phẩm mới  
ở những mức độ khác nhau trong những tình huống học tập  
và cuộc sống theo một cách riêng biệt, mới mẻ và có hiệu  
quả.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Năng lực sáng tạo của học sinh  
Nghiên cứu về NLST ở các lĩnh vực khác nhau xuất hiện  
khá nhiều trong những năm gần đây. Các tác giả đã cố gắng  
làm rõ và đưa ra những định nghĩa về NLST. Tác giả Huỳnh  
Văn Sơn và Trần Thị Bích Liễu cùng nhìn nhận năng lực  
sáng tạo ở khả năng làm ra cái mới. Huỳnh Văn Sơn cho  
Từ nghiên cứu về NLST nói chung, chúng tôi quan niệm  
rằng: “NLST là khả năng tạo ra những cái mới hoặc giải rằng: NLST của HS là việc làm ra cái mới trước hết đối với  
quyết vấn đề một cách mới mẻ của con người” [1]. Cùng bản thân dựa trên sự huy động kiến thức, kĩ năng và những  
quan điểm trên, Trần Thị Bích Liễu đã khẳng định: “NLST yếu tố khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.... Cái mới đó bao  
được xem là khả năng của một người sản sinh các ý tưởng gồm ý tưởng mới, cách làm mới, sản phẩm mới và vận dụng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
24  
Nguyễn Thị Thanh Nga  
được trong thực tiễn học tập và cuộc sống ở những mức độ việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc  
khác nhau.  
nhìn khác nhau, trong cách trình bày quá trình suy nghĩ  
và cảm xúc của HS trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc  
sống. NLST bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm  
hiểu của HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức.  
Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một trong những yêu cầu  
cao là HS, với tư cách là người đọc, phải trở thành người  
đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có được những cách cảm  
nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về hình ảnh, ngôn từ của  
tác phẩm…).  
Như vậy, quan niệm NLST của HS cơ bản được xây dựng  
trên quan niệm chung về NLST. Điểm khác biệt nằm ở yêu  
cầu về mức độ sáng tạo, ở việc làm ra cái mới. Cái mới  
trong NLST của HS trước hết là mới đối với chính bản thân,  
là điều mà trước đó các em chưa làm được. Tuy nhiên, ở  
những HS xuất sắc, các em có thể đạt đến một mức độ cao  
hơn, làm ra những cái mới có ý nghĩa đối với cộng đồng,  
xã hội.  
NLST là một trong những năng lực cốt lõi, cần thiết hình  
thành và phát triển ở HS phổ thông thế kỉ XXI. Đây là một  
trong những năng lực quyết định khả năng thành công của  
công dân mới trong kỉ nguyên của nền kinh tế tri thức. Điều  
này đã được thể hiện qua nghiên cứu chương trình của các  
nước có nền giáo dục phát triển như Anh, Mĩ, Úc, Pháp…  
Cập nhật xu thế quốc tế và đáp ứng đỏi hỏi của thời đại,  
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam  
(2018) cũng đã xác định năng lực giải quyết vấn đề và sáng  
tạo là một trong những năng lực chung cần được hình thành  
và phát triển ở tất cả các môn học với mong muốn tạo ra  
một thế hệ HS năng động, tích cực và sáng tạo.  
2.3. Tổ chức các hoạt động hồi ứng trải nghiệm thông qua các  
vai chủ thể khác nhau trong đọc hiểu văn bản văn học  
Để hình thành và phát triển NLST cho HS trong đọc hiểu  
VBVH, cần có sự tác động tới tất cả các yếu tố của quá trình  
dạy học. Với dạy học theo hướng NL, đầu tiên cần xác lập  
chuẩn của NL cần phát triển. Trên cơ sở đó xây dựng nội  
dung dạy học, xác định phương pháp và hình thức tổ chức  
dạy học, cách thức kiểm tra đánh giá phù hợp. Do khuôn  
khổ của bài báo khoa học, chúng tôi đi vào một biện pháp tổ  
chức dạy học là tổ chức hoạt động hồi ứng trải nghiệm trong  
đọc hiểu VBVH nhằm phát triển NLST cho HS THCS.  
2.2. Năng lực sáng tạo trong đọc hiểu văn bản văn học  
Trên cơ sở nghiên cứu về NLST, chúng tôi quan niệm:  
NLST của HS trong đọc hiểu văn bản văn học (VBVH) là  
việc làm ra cái mới, có ý nghĩa từ văn bản đối với bản thân  
và xã hội. Cái mới đó là sự phát hiện và khả năng kiến tạo  
nghĩa cho văn bản, xác lập được giá trị mới và vận dụng vào  
giải quyết những vấn đề đời sống và xã hội; sáng tạo ra sản  
phẩm mới trên cơ sở gợi ý của văn bản.  
Chưa có nhiều những nghiên cứu về những biểu hiện hay  
cấu trúc của NLST trong môn Ngữ văn.Tác giả Nguyễn Thị  
Hồng Vân (2017) trong bài báo khoa học Xác định cấu trúc  
và đường phát triển một số năng lực trong môn Ngữ văn ở  
trường phổ thông cho rằng, trong môn học Ngữ văn, NLST  
của HS có những biểu hiện sau:  
- Biết đặt các câu hỏi khác nhau về một nhân vật, sự vật,  
hiện tượng; Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới;  
Phân tích, kết nối những thông tin liên quan từ nhiều nguồn  
ngữ liệu khác nhau theo góc nhìn cá nhân.  
- Đề xuất được ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã  
cho; Thể hiện những suy nghĩ riêng về các vấn đề và cách  
thức triển khai vấn đề (xã hội và văn học); So sánh và bình  
luận được về tác dụng, hiệu quả các ý tưởng được đề xuất.  
- Có cách cảm nhận, suy nghĩ và khái quát hóa thành mô  
hình, quy trình khi thực hiện công việc; Vận dụng điều đã  
biết vào tình huống tương tự.  
2.3.1. Mục đích  
Với biện pháp này, HS được thâm nhập và thực sự bước  
vào bên trong VBVH. Các em được huy động những kinh  
nghiệm của bản thân, kết nối với văn bản, trải nghiệm đời  
sống của nhân vật. Khi hòa mình vào vai của các chủ thể  
khác nhau trong VB, bạn đọc HS sống với những xúc cảm,  
niềm vui, nỗi buồn của họ; thấu hiểu những thân phận, đồng  
sáng tạo với nhà văn. Khi bước ra khỏi văn bản, HS nhìn  
nhận, đánh giá về các giá trị của văn bản và biết vận dụng  
sáng tạo vào chính bản thân mình. Khi đó, mọi sự cảm nhận,  
hồi đáp là của chính cá nhân HS rút ra từ những trải nghiệm  
của bản thân với một tầm đón nhận riêng, không ai giống  
ai. Các hoạt động trải nghiệm trả văn chương về với đúng  
bản chất đích thực của nó, là sự đọc trong những rung động  
thẩm mỹ đích thực thông qua tiếp xúc trực tiếp với nguyên  
bản, là sự cá nhân hóa, đồng sáng tạo trong tiếp nhận.  
2.3.2. Cách thức tổ chức thực hiện  
a. Quy trình vận dụng hồi ứng trải nghiệm vào dạy học  
văn  
Lí thuyết hồi ứng trải nghiệm được biết đến nhờ các tên  
tuổi tiêu biểu như Louise Rosenblatt, Robert E Probst,  
Judith A.Langer, Charles R. Cooper, Alan Purves, Stanley  
Fish, Jonathan Culler, David Bleich, Richard W.Beach,  
James D. Marshall. Cùng quan điểm song mỗi tác giả có  
những nhìn nhận riêng về vai trò của người đọc. Có thể  
nói, người có đóng góp lớn trong việc xem xét một cách  
hợp lí, đúng mực vai trò của người đọc trong mối quan hệ  
với nhà văn và văn bản, đưa hồi ứng trải nghiệm vào trong  
dạy học môn Văn trong nhà trường phải kể đến Rosenblatt.  
Lí thuyết hồi ứng trải nghiệm của Louise Rosenblatt được  
- Có tư duy độc lập, không chấp nhận thông tin một chiều;  
Không thành kiến khi xem xét, ĐG vấn đề; Quan tâm tới  
các lập luận và minh chứng thuyết phục; Sẵn sàng xem xét,  
ĐG lại vấn đề.  
Việc hình thành và phát triển NLST là một mục tiêu môn  
học Ngữ văn hướng tới. NL này được thể hiện trong việc  
xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những  
ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong biết đến với thuật ngữ “giao dịch – hồi ứng” (transaction -  
Số 26 tháng 02/2020  
25  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
response) tiếp nối trong các tác phẩm chính như: Văn học là của các nhân vật trong tác phẩm, có thể trải nghiệm vai  
sự khám phá (1938), Người đọc, văn bản, bài thơ, lí thuyết trò của người sáng tác, vai trò của người chứng kiến, tham  
về sự giao dịch của tác phẩm văn học (1978), Kiến tạo ý gia...Chỉ với VBVH, HS mới được trải nghiệm nhiều dạng  
nghĩa cùng các văn bản, tuyển tập các bài báo khoa học vai như vậy. Các em được tích lũy kinh nghiệm sống qua  
(2005)... Theo tác giả Phạm Thị Thu Hương, quy trình vận nhiều vai diễn, được tưởng tượng sáng tạo, được làm giàu  
dụng hồi ứng trải nghiệm vào dạy học gồm các bước: Cảm đời sống tâm hồn của chính mình. Các em sẽ không còn  
nhập – tập trung đầy cảm xúc với các trải nghiệm chủ quan thấy môn Ngữ văn khô cứng, sáo rỗng và khuôn mẫu. Trái  
cùng văn bản; Xây dựng, tưởng tượng: bước vào văn bản lại, đó là một thế giới đa sắc màu, sống động cảm xúc và  
và tạo ra thế giới nghệ thuật sống động; Kết nối: tạo ra mối thật giàu sự sáng tạo. Mỗi một người đọc mang đến một  
liên hệ giữa trải nghiệm có tính tự truyện của người đọc sắc thái, một sự cảm nhận riêng nhờ những trải nghiệm,  
đến văn bản hiện thời; Phản hồi: đánh giá chất lượng trải vốn sống riêng của chính mình. Theo tác giả Phạm Thị Thu  
nghiệm với văn bản của người đọc. Tác giả Trần Quốc Khả Hương, có thể tổ chức cho HS trải nghiệm các vai khác  
sau khi tham khảo một số quy trình của các nhà nghiên cứu nhau như vai người quan sát, chứng kiến; nhà văn; nhân vật  
như Richard W.Beach cùng James D. Marshall và Judith A. trong VBVH.  
Langer đã đề xuất quy trình gồm 3 bước: 1/ Chuẩn bị hồi  
*Trải nghiệm vai trò người quan sát/chứng kiến thế  
ứng thâm nhập; 2/ Cảm nhập văn bản; 3/ Phát triển các hồi giới nghệ thuật trong tác phẩm  
ứng. Quy trình này không mâu thuẫn với quy trình của tác  
Nhà văn là người khai sinh ra văn bản nhưng số phận của  
giả Phạm Thị Thu Hương đề xuất bởi bao gồm cả hoạt động văn bản thường do người đọc quyết định. Bằng sự cộng  
bước vào trải nghiệm cùng văn bản, kết nối trải nghiệm, hưởng, giao tiếp với văn bản thông qua những trải nghiệm  
bước ra với những đánh giá, phản hồi về văn bản từ những cá nhân, bạn đọc đã khiến văn bản có đời sống riêng của  
trải nghiệm đã có.  
Bước 1: Chuẩn bị hồi ứng thâm nhập  
nó. Chính bạn đọc chứ không phải ai khác thông qua những  
hình dung, tưởng tượng của mình đã làm sống dậy thế giới  
GV chuẩn bị một số hoạt động nhằm khơi gợi tri thức nghệ thuật trong văn bản trước hết với vai trò của người  
nền, tạo tâm thế cho HS bước vào văn bản. Các hoạt động quan sát, chứng kiến và tham gia vào thế giới nghệ thuật  
phải có mối liên hệ với văn bản và khơi gợi được hứng thú ấy. Trong vai người quan sát, bạn đọc HS không dừng lại ở  
của HS. GV trên cơ sở những kinh nghiệm của HS, bổ sung việc tái hiện những gì mắt thấy tai nghe trong văn bản, mà  
thêm những tri thức nền cần thiết giúp HS tự tin thâm nhập đắm chìm vào để thấy chi tiết hơn những cảnh tượng, nhìn  
văn bản.  
Bước 2: Cảm nhập văn bản  
rõ hơn những thân phận cuộc đời, mở rộng giác quan để  
cảm nhận phong phú sâu sắc hơn những gì nhà văn mới chỉ  
Ở bước này, HS thâm nhập vào văn bản qua việc tri giác khơi gợi. Với trải nghiệm, bạn đọc được sống, được nhìn,  
ngôn ngữ. GV yêu cầu HS đọc văn bản. Thông qua đọc, HS được lắng nghe, được cảm nhận một thế giới khác mà văn  
thể hiện việc cảm và hiểu văn bản ở mức độ sơ khai. Cũng bản gợi lên. Từ trải nghiệm đó để nhìn nhận, so sánh, gợi  
ở bước này, HS huy động khả năng hình dung, tưởng tượng, nhớ lại thế giới thực của bản thân mình để rồi có những  
bộc lộ những hồi ứng, cảm nhận ban đầu về văn bản.  
Bước 3: Phát triển các hồi ứng  
điều chỉnh, vận dụng hợp lí trong thực tiễn đời sống. Cũng  
thông qua trải nghiệm, HS thể hiện sự sáng tạo của bản thân  
Dựa vào các hồi ứng ban đầu, GV hướng dẫn HS đi sâu bằng những tưởng tượng mới mẻ, bằng sự diễn giải lấp đầy  
thâm nhập văn bản. Theo tác giả Trần Quốc Khả, các hồi những khoảng trống nhà văn còn bỏ lửng. GV tổ chức cho  
ứng có thể được phát triển theo hướng: Hình dung tưởng HS trải nghiệm vai trò người quan sát/chứng kiến qua các  
tượng tái tạo thế giới nghệ thuật trong văn bản; Phân tích, lí hình thức sau:  
giải cắt nghĩa, kết nối, đánh giá, hồi ứng chiêm nghiệm... Ở  
- Kể lại những gì em hình dung thấy, cảm nhận được từ  
bước này, HS bên cạnh trải nghiệm, sống với văn bản còn văn bản.  
cần có sự phản hồi, đánh giá, nhận xét về văn bản dưới con  
Ví dụ: Em hình dung thấy điều gì sau khi đọc bài thơ Ánh  
mắt lí tính hay nói chính xác đây là bước có sự phối hợp trăng (Ngữ văn 9)?  
chặt chẽ giữa hồi ứng trải nghiệm và hồi ứng văn bản, giữa  
đọc thẩm mĩ và đọc li tâm.  
Nhiệm vụ này thường được triển khai cho HS thực hiện  
sau khi đọc xong văn bản. HS sẽ trình bày lại những điều  
Để phát triển NLST của HS, trong bài viết này, chúng tôi em hình dung thấy, lắng nghe được, cảm nhận được về thế  
tập trung quan tâm đến việc lôi cuốn HS vào các hoạt động giới nghệ thuật của văn bản. Nhiệm vụ của HS không phải  
trải nghiệm với các vai chủ thể khác nhau khi đến với văn là tường trình lại, tóm tắt lại những thông tin có trong văn  
bản. Việc tổ chức cho HS trải nghiệm các vai trong văn bản bản mà tiến hành một cuộc trải nghiệm thực sự thông qua  
cần gắn với quy trìnhvận dụng hồi ứng trải nghiệm vào dạy những gợi ý của GV.  
học văn đã trình bày ở trên.  
b. Tổ chức hồi ứng trải nghiệm cho HS qua các vai chủ những khoảng thời gian, hoàn cảnh khác nhau. Trăng và  
thể khác nhau nhân vật trữ tình hay chính là tác giả đã từng là những  
HS có thể trả lời, đọc bài thơ em thấy hai nhân vật trong  
Đến với VBVH, GV tạo cơ hội cho HS thâm nhập trải người bạn thân vô cùng gắn bó. Thủa nhỏ, khi còn gắn bó  
nghiệm bằng cách sống nhiều cuộc đời. HS có thể vào vai với ruộng đồng, với sông bể, vầng trăng và tác giả luôn gần  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
26  
Nguyễn Thị Thanh Nga  
gũi. Vầng trăng soi sáng những đêm hè, những trò nghịch của Tuấn khiến em nhận thấy, mỗi con người trên hành  
ngợm thủa ấu thơ. Những ai đã từng ở quê hoặc một lần về trình của cuộc sống sẽ gặp rất nhiều những cám dỗ, những  
quê sẽ rất thấu hiểu niềm vui của những đứa trẻ trong đêm hấp dẫn khác nhau khiến ta quên mất mục tiêu phải thực  
trăng. Tạm biệt quê nhà, bước vào những tháng năm chiến hiện. Bởi vậy, ta cần tỉnh táo nhận ra điều gì là quan trọng  
đấu, trăng không chỉ là bạn mà trở thành tri kỉ. Còn nhớ câu đối với bản thân và dám vượt qua những thử thách đó.  
thơ của Chính Hữu: “Đêm nay rừng hoang sương muối,  
Với việc bước vào để trải nghiệm và bước ra để phản hồi,  
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới, Đầu súng trăng treo”. HS góp phần kiến tạo nghĩa cho tác phẩm thông qua những  
Trong gian khổ chiến tranh, trong nỗi cô đơn của người nhận xét, những đánh giá mang màu sắc cá nhân. Đó là sự  
lính, trăng là sự sẻ chia âm thầm, lặng lẽ và tình nghĩa. Thế cảm nhận của chính bản thân các em chứ không phải của  
mà khi chiến tranh kết thúc, trở về với thành phố hiện đại, một ai khác. Trải nghiệm không chỉ góp phần tạo nên niềm  
với ánh điện, cửa gương, con người ấy bỗng nhiên dửng yêu thích, sự sống động, gần gũi, kết nối giữa văn học và  
dưng với trăng, không cần trăng nữa. Con người say sưa cuộc đời; trải nghiệm còn góp phần phát triển NLST của  
trong cuộc sống thanh bình, đủ đầy với những tiện nghi. người học thông qua việc kiến tạo nghĩa, đồng sáng tạo với  
Nhưng rồi một đêm mất điện, căn phòng tối om, tác giả mở văn bản.  
tung cửa sổ và đột ngột đối diện với ánh trăng tròn vành  
vạnh. Tác giả nhìn trăng, biết bao những kí ức ùa về. Trăng  
*Trải nghiệm vai trò nhân vật trong tác phẩm  
Khi trải nghiệm vai trò của nhân vật trong tác phẩm, bạn  
im lặng, bao dung nhưng đầy nghiêm khắc khiến con người đọc HS dường như sống một cuộc đời khác. Các em hình  
không khỏi giật mình, hổ thẹn cho sự vô tình, dửng dưng. dung, tưởng tượng ra những cảm xúc vui, buồn của nhân  
Mượn câu chuyện về vầng trăng, nhân vật trữ tình trong bài vật; những hành động, cử chỉ của nhân vật, cách cư xử của  
thơ gửi gắm những nỗi niềm của cá nhân và nhiều hơn thế. nhân vật trước những tình huống khác nhau mà nhiều khi  
Ví dụ: Em hãy hình dung về nhân vật anh thanh niên tác giả còn bỏ ngỏ trong văn bản. Những trải nghiệm đó  
trong khoảnh khắc chia tay bác họa sỹ và cô kĩ sư? (Lặng lẽ một mặt làm giàu cho trí tưởng tượng vô cùng của bạn đọc,  
Sa Pa - Nguyễn Thành Long)  
mặt khác giúp họ lấp đầy những khoảng trống tạo nên sự  
Em thấy một chàng trai nhỏ nhắn với chiếc làn trứng trên sáng tạo độc đáo mà nhiều khi vượt ra khỏi những giới hạn  
tay. Đó là quà của anh cho bác và cô trong hành trình sắp suy nghĩ của chính tác giả. GV có thể tổ chức cho HS trải  
tới. Khuôn mặt anh đượm buồn vì sắp phải chia tay những nghiệm vai nhân vật với rất nhiều các hình thức đa dạng  
vị khách mà anh rất mến yêu. Anh thanh niên tạm biệt và như:  
trở lên nhà có phần vội vã. Anh nói là sắp đến giờ ốp nhưng  
thực sự không phải vậy. Có vẻ như anh đang lúng túng, anh và hành động) và kịch câm (chỉ sử dụng ngôn ngữ hình thể)  
không để bác và cô gái biết được cảm xúc thực sự của mình. Ví dụ: Đóng vai diễn tả lại cảnh ông Hai nghe tin làng  
Hình ảnh của anh khuất dần khuất dần sau những rặng cây. theo Tây (Làng).  
- Sử dụng hành động kịch bao gồm kịch nói (ngôn ngữ  
Có lẽ bác họa sĩ và cô kĩ sư không nhìn thấy có một người  
vẫn dõi theo họ từ trên cao cho đến khi chiếc xe mất hút.  
- Bộc lộ những chiêm nghiệm, đánh giá của bản thân sau  
trải nghiệm.  
- Bức thư ngỏ hay lời tâm tình của nhân vật (gửi đến một  
đối tượng nào đó)  
Ví dụ: Một thời gian sau, bằng một cách nào đó anh thanh  
niên đã có được địa chỉ của cô kĩ sư. Anh đã viết cho cô rất  
Trải nghiệm không chỉ giúp HS đắm chìm trong thế giới nhiều trong đó có đoạn: “Nhiều người sẽ nghĩ anh thật ngốc  
nghệ thuật của VB, trải nghiệm còn giúp họ khơi gợi những nghếch khi lựa chọn một công việc thật cô độc và khó khăn.  
kí ức, những kỉ niệm họ đã từng có trong một mối quan hệ Nhưng với anh...”. Hãy đóng vai anh thanh niên viết nốt  
tương đồng. Chẳng hạn, sau khi đọc truyện ngắn Bến quê, những tâm sự của mình về công việc và quan niệm về hạnh  
HS sẽ chia sẻ những kỉ niệm của mình.  
phúc (Lặng lẽ Sa Pa).  
Ví dụ: Hành động của Tuấn - con trai của nhân vật Nhĩ đã  
gợi cho em nhớ tới điều gì? (Văn bản Bến quê)  
- Nếu là nhân vật, tôi sẽ...  
Ví dụ: Nếu là anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa, em sẽ  
Nhìn hình ảnh của Tuấn em nhớ đến một lần mẹ nhờ em làm gì ở khoảnh khắc chia tay ông họa sĩ và cô gái?  
đi mua thuốc cho ông nhưng do mải chơi nên em đã quên Ngoài ra, còn có các hình thức khác như Nhật kí của nhân  
mất. Đến khi sực nhớ ra thì trởi đã tối và cửa hàng thuốc vật, Cuộc phiêu lưu của nhân vật hay Hỏi đáp cùng nhân  
đã đóng cửa. Khi em về đến nhà thì ông em lên cơn ho hen vật... Việc trải nghiệm vai trò của nhân vật được thể hiện ở  
và phải nằm viện một thời gian dài mới chữa khỏi. Điều đó hai mức độ. Mức độ thứ nhất, HS chỉ dừng lại ở việc hình  
làm em ân hận mãi tới sau này.  
dung, tái tạo lại tác phẩm. Tất nhiên, đó là sự tái tạo qua  
GV tiếp tục dẫn giải để HS rút ra những chiêm nghiệm, lăng kính chủ quan của bạn đọc HS. Các em cũng đã phải  
lí giải từ chính những trải nghiệm của bản thân và những gì tưởng tượng, bổ sung thêm những yếu tố mới để làm giàu  
cảm nhận được từ văn bản.  
Ví dụ: Từ câu chuyện của Tuấn và những kỉ niệm của bản sáng tạo ở cấp độ thấp. Mức độ thứ hai, HS tưởng tượng  
thân, em nhận ra điều gì? sáng tạo vượt ra ngoài văn bản, lấp đầy các khoảng trống  
thêm hình tượng nhân vật. Mức độ này có thể được xem là  
Lúc này, HS sẽ bước ra khỏi văn bản để nhìn nhận lại, để bằng những nét nghĩa mới nhằm kiến tạo nghĩa cho văn  
cắt nghĩa và đánh giá. Các em có thể sẽ trả lời, câu chuyện bản. Ở mức độ này, sự sáng tạo đã được đẩy lên ở một mức  
Số 26 tháng 02/2020  
27  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
cao hơn. Tùy đối tượng HS và bài học cụ thể, GV tổ chức thử thách. Nhưng dần dần anh đã quen với điều đó. Anh tự  
tìm thấy niềm vui trong những công việc hàng ngày, trồng  
hoa, chăm chút nhà cửa và đọc sách. Những việc nhỏ bé đó  
khiến anh quên đi sự vắng lặng và như thể có thêm những  
người bạn xung quanh. Hơn nữa, anh thấy vui, thấy hạnh  
phúc vì công việc thầm lặng của mình có thể đóng góp một  
phần nhỏ cho cuộc sống, cho chiến thắng của quân đội ta.  
Vả lại, nhiều người còn vất vả, gian khổ hơn anh rất nhiều.  
Hơn nữa, anh quan niệm, tuổi trẻ cần dấn thân và cống hiến  
các em à. Các em sau này cũng sẽ phải lựa chọn cho mình  
một công việc. Anh nghĩ rằng, công việc nào cũng có ý  
nghĩa của nó. Nếu các em cảm thấy vui, thấy hạnh phúc,  
thấy đam mê với công việc nào đó, các em hãy lựa chọn nó.  
*Trải nghiệm vai trò nhà văn trong tác phẩm  
cho các em trải nghiệm và thúc đẩy các em hướng tới những  
trải nghiệm sáng tạo. Chẳng hạn, có thể tổ chức cho HS trải  
nghiệm sáng tạo tâm trạng của nhân vật trong truyện Chiếc  
lược ngà qua nhiệm vụ sau:  
Ví dụ: Giả sử, em là một người hàng xóm của gia đình bé  
Thu, em cũng có mặt trong khoảnh khắc chia tay giữa hai  
cha con bé. Hãy kể lại tâm trạng, cảm xúc của mọi người  
và của em lúc đó?  
, c m xúc  
c a anh Sáu  
Tâm tr ng, hành  
ng c a bé Thu  
Đặt mình vào vị trí của nhà văn, HS được trải nghiệm  
quá trình sản sinh ra tác phẩm - một quá trình lao động  
nghệ thuật với nhiều cung bậc cảm xúc, say mê và sáng tạo.  
Qua đó, các em đồng cảm với tác giả về những trang viết,  
những quyết định quan trọng liên quan đến cuộc đời nhân  
vật, những xúc cảm nảy sinh. Đó là khoảnh khắc cảm hứng  
trỗi dậy, tứ thơ tràn ngập và Hoàng Cầm đã viết một mạch,  
“hoài thai” nên Bên kia sông Đuống. Hay là nỗi đau đớn,  
bất lực của Leptônxtôi khi ông phải chứng kiến cái chết của  
Anna Karenina trong tác phẩm cùng tên như ông đã từng  
tâm sự. Đúng vậy, nhà văn là người tạo ra văn bản nhưng  
nhiều khi tác phẩm, nhân vật của họ có đời sống riêng của  
nó. Trải nghiệm vai trò của nhà văn giúp bạn đọc HS thấu  
hiểu và đồng cảm đồng thời trân trọng hơn lao động nghệ  
thuật của những người nghệ sĩ chân chính. Không những  
vậy, các em có thể không đồng tình hoặc phản đối cách viết  
của tác giả và tìm ra hướng giải quyết mới. Ở mức độ này,  
HS thực sự đồng sáng tạo với nhà văn trong văn bản. Để HS  
trải nghiệm vai trò của nhà văn, GV có thể lựa chọn một số  
hình thức như sau:  
- Đối thoại cùng tác giả (Ghế nóng): Với hình thức này,  
HS sẽ đóng vai nhà văn và trả lời các câu hỏi, phỏng vấn  
của các bạn khác. Các câu hỏi có thể xoay quanh quá trình  
sáng tác nên tác phẩm hoặc đi sâu vào cắt nghĩa giá trị của  
văn bản.  
Ví dụ: Em hãy nhập vai tác giả Nguyễn Thành Long để  
đối thoại về quá trình sáng tác nên tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa?  
Với nhiệm vụ này, GV sẽ tổ chức cuộc đối thoại, giao lưu  
trong phạm vi lớp học. HS sẽ phải nghĩ ra các câu hỏi khác  
nhau liên quan đến quá trình sáng tác tác phẩm. Chẳng hạn:  
Bu i chia li  
m
Khung c nh c a  
cu c chia li  
xúc c a tôi...  
Để thực hiện hoạt động này, HS sẽ phải đọc kĩ tác phẩm,  
sống trong tình huống đó, và tưởng tượng, sáng tạo như  
thể mình đang trải nghiệm một cuộc chia li thực sự. HS sẽ  
mô tả đó là một buổi chia li đầy cảm động. Mọi người biết  
anh Sáu lên đường nên đến tiễn biệt rất đông. Khuôn mặt  
anh Sáu đượm một nỗi buồn khó tả. Không chỉ bởi sự chia  
li thông thường mà nỗi buồn đến từ việc bé Thu vẫn chưa  
coi anh là ba. Lúc này, bé Thu có vẻ đang xúc động nhưng  
nó vẫn im lặng. Mấy hôm trước, tôi đã nghe mẹ nó kể nó  
không nhận mặt bố vì vết sẹo trên gương mặt. Khổ thân anh  
Sáu, con bé còn trẻ con. Bất ngờ, con bé rời khỏi tay bà và  
cất tiếng gọi “Ba ơi”. Lúc đó, tất cả mọi người lặng đi. Sống  
mũi tôi cũng cay cay. Có lẽ bà ngoại con bé đã giải thích  
và Thu đã hiểu. Tôi mừng cho anh Sáu, cuối cùng thì niềm  
khát khao của anh bấy lâu đã thành hiện thực. Anh sẽ mang  
ra chiến trường tiếng gọi Ba thân thương mà anh hằng chờ  
đợi. Và tôi nghĩ rằng tình cảm cha con sẽ giúp anh có thêm  
sức mạnh, giúp anh vượt qua những khó khăn, thử thách  
đầy khắc nghiệt nơi chiến trường.  
GV cũng có thể sử dụng hình thức Cuộc phiêu lưu của  
nhân vật hay Cuộc gặp gỡ của nhân vật để giúp HS trải  
nghiệm.  
Ví dụ: Do có một công việc liên quan nên anh thanh  
niên được mời về xuôi và đến giao lưu với trường em. Hãy  
tưởng tượng mình là anh thanh niên, em sẽ chia sẻ những  
gì về công việc, cuộc sống và định hướng nghề nghiệp cho  
các bạn trẻ (Văn bản Lặng lẽ Sa Pa)?  
Xin chào nhà văn Nguyễn Thành Long! Xin ông cho  
biết điều gì thôi thúc ông sáng tác Lặng lẽ Sa Pa?  
Ông có thể cho biết cảm xúc của mình khi viết về cuộc  
sống, công việc của anh thanh niên trong tác phẩm?  
Tại sao ông lại tạo nên cuộc gặp gỡ tình cờ giữa anh  
thanh niên với người họa sĩ già và cô gái?  
Trong khoảnh khắc chia tay, tại sao ông lại để cho anh  
thanh niên không tiễn cô gái và ông họa sĩ đến tận nơi mà  
vội quay lên?  
Trong vai anh thanh niên, HS chia sẻ về công việc và  
những suy nghĩ của mình đồng thời đưa ra lời khuyên về  
sự lựa chọn nghề nghiệp cho các bạn trẻ. Các em sẽ có thể  
chia sẻ như sau: Như các em cũng đã biết, ngọn núi nơi  
anh làm việc có độ cao hơn ba nghìn mét. Chỉ có mình anh  
và cây cỏ, nhiều lúc thèm được nói chuyện với mọi người  
vô cùng các em à. Công việc của anh cũng không quá khó  
khăn, nhưng đòi hỏi phải tuân thủ giờ giấc và quyết tâm  
cao. Những đêm mưa gió, bão bùng, tuyết rơi ở bên ngoài,  
bước ra khỏi chăn để thực hiện công việc thực sự là một  
Theo ông, anh thanh niên và cô gái có còn gặp nhau  
không? Nếu được viết tiếp ông sẽ viết điều gì?  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
28  
Nguyễn Thị Thanh Nga  
Trong vai nhà văn, HS được trải nghiệm cảm xúc của quá được bộc lộ NLST thông qua hình dung, tưởng tượng về tác  
trình sản sinh ra một tác phẩm nghệ thuật và thấu hiểu hơn phẩm ở những vai khác nhau, những góc nhìn khác nhau.  
những trăn trở, sáng tạo của chính họ. Đồng thời, qua trải Với trí tưởng tượng của mình, HS góp phần làm đầy cho  
nghiệm “ghế nóng”, các em cũng hiểu hơn về tác phẩm.  
văn bản ở những mặt, những khía cạnh mà nhà văn thậm chí  
- Viết tiếp văn bản: Với hình thức này, HS đóng vai nhà còn chưa nghĩ đến. Đó chính là sự đồng sáng tạo trong tiếp  
văn trong công cuộc hành trình tiếp theo của văn bản. HS nhận. Mặt khác, HS còn góp phần tạo nghĩa cho văn bản  
không đồng tình với kết thúc hiện tại của văn bản và muốn thông qua những phản hồi, ứng đáp sau khi bước ra khỏi tác  
mở ra một kết thúc khác hoặc muốn phát triển tiếp câu phẩm. Quá trình này giúp HS được thể hiện tiếng nói riêng,  
chuyện còn dang dở. Chẳng hạn, với văn bản Làng, HS có quan điểm riêng của mình.  
thể viết tiếp bằng cách cho nhân vật ông Hai quay trở về  
làng, thăm lại mái nhà xưa sau khi nghe tin làng ông được  
cải chính. Với tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa, HS có thể tưởng  
3. Kết luận  
Hồi ứng trải nghiệm là một trong nhiều biện pháp tổ  
tượng một viễn cảnh tiếp theo. Có thể anh thanh niên và chức dạy học góp phần giúp HS phát triển NLST trong đọc  
cô gái sẽ gặp lại nhau sau một quá trình thư đi thư lại giữa hiểu VBVH. Thực tế, hồi ứng trải nghiệm cũng đã được  
hai người. Họ có cảm tình với nhau và nên duyên đôi lứa... vận dụng đây đó trong dạy học đọc hiểu ở nhà trường phổ  
Nhưng họ vẫn quyết định gắn bó với Sa Pa, cống hiến cho thông. Tuy nhiên, có thể chưa thực sự là một lựa chọn có ý  
đất nước bằng những việc làm thầm lặng của mình....  
thức và mang tính hệ thống. Tùy điều kiện thực tế, tùy đối  
Việc lôi cuốn HS vào các hoạt động hồi ứng trải nghiệm tượng HS và ngữ liệu cụ thể, giáo viên có thể vận dụng linh  
với các vai chủ thể khác nhau khi đến với văn bản là cơ hội hoạt trong dạy học như một biện pháp hữu hiệu nhằm mục  
giúp HS phát triển một số biểu hiện của NL sáng tạo. HS tiêu phát triển NLST trong tiếp nhận VBVH.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Huỳnh Văn Sơn, (2009), Tâm lí học sáng tạo, NXB Giáo  
dục Việt Nam, Hà Nội.  
[2] Trần Thị Bích Liễu, (2013), Giáo dục phát triển năng lực  
sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.  
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục  
phổ thông tổng thể.  
khoa văn.edu.vn.  
[6] Hoàng Thị Thúy Hương, (2015), Xây dựng và sử dụng  
hệ thống bài tập hóa học vô cơ nhằm phát triển năng lực  
sáng tạo trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học ở  
trường trung học phổ thông chuyên, Luận án Tiến sĩ Giáo  
dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục  
phổ thông môn Ngữ văn.  
[5] Phạm Thị Thu Hương, Tiếp cận hồi ứng trải nghiệm của  
bạn đọc học sinh trong dạy học tác phẩm văn chương,  
[7] Trần Quốc Khả, (2017), Vận dụng lí thuyết hồi ứng thâm  
nhập vào dạy học tác phẩm văn chương ở trường trung  
học phổ thông, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm  
Hà Nội.  
DEVELOPING CREATIVE COMPETENCE FOR JUNIOR HIGH SCHOOL  
STUDENTS IN READING COMPREHENSION OF LITERARY TEXTS  
THROUGH EXPERIENTIAL RESPONSE ACTIVITIES  
Nguyen Thi Thanh Nga  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
101 Tran Hung Dao, Hoan Kiem, Hanoi, Vietnam  
Email: ngavninc[email protected]  
ABSTRACT: In the framework of the article, the author discusses the  
concept of junior high school students’ creative competence in general  
and their creative competence in reading comprehension of literary texts  
in particular. On that basis, the article presents a measure of teaching  
reading comprehension of literary text to develop students’ creative  
competence, that is organizing response activities through different  
roles when approaching the literary work (the role of characters,  
a writer, or observers). Being in the role of different subjects in the  
text, student lives with their emotions, joys, and sorrows; understand  
the fate, and co-create with the writer. When stepping out of the text,  
the students recognize and evaluate the values of the text as well as  
know how to apply creatively to themselves. Organizing that process  
in teaching reading comprehension of literary texts, teachers will  
contribute to helping students develop the creative competency in  
reading comprehension of literary texts  
KEYWORDS:Creativecompetence;readingcomprehension;literarytext;experiential  
response; junior high school students.  
Số 26 tháng 02/2020  
29  
pdf 6 trang baolam 25680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở trong đọc hiểu văn bản văn học thông qua tổ chức các hoạt động hồi ứng trải nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_nang_luc_sang_tao_cho_hoc_sinh_trung_hoc_co_so_tr.pdf