Nghiên cứu mức độ tổn thương sinh kế của người dân vùng hạ lưu sông ba trong bối cảnh biến đổi khí hậu - trường hợp nghiên cứu tại xã Bình Ngọc, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0056  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 3, pp. 136-143  
NGHIÊN CỨU MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN VÙNG HẠ LƯU  
SÔNG BA TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU – TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU  
TẠI XÃ BÌNH NGỌC, THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN  
Nguyễn Hoàng Thái Khang*1 và Trần Thị Quỳnh Thi2  
1Viện Hải dương học, 2Trường Đại học Thái Bình Dương  
Tóm tắt. Nghiên cứu áp dụng chỉ số tổn thương sinh kế LVI (Livelihood Vulnerability  
Index - LVI) và LVI-IPCC nhằm đánh giá mức độ tổn thương sinh kế của các hộ dân ở xã  
Bình Ngọc dưới tác động của biến đổi khí hậu. Chỉ số LVI bao gồm 7 yếu tố chính: đặc  
điểm hộ, chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, sức khỏe, nguồn nước, lương thực và tài  
chính, tai biến thiên nhiên và biến đổi khí hậu. Dựa trên giá trị trung bình của những yếu tố  
chính này, chỉ số LVI-IPCC được tạo nên qua ba nhân tố: sự phơi bày, khả năng thích ứng,  
và tính dễ bị tổn thương. Kết quả tính toán ở xã Bình Ngọc cho thấy chỉ số LVI và LVI-  
IPCC có giá trị lần lượt là 0,278 và 0,016. Điều này phản ánh mức độ tổn thương sinh kế  
không quá cao, và sự tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu đạt mức trung bình.  
Tuy nhiên, sự phơi bày trước tác động của biến đổi khí hậu tại địa phương là tương đối cao  
với giá trị 0,476. Bên cạnh đó, khả năng thích ứng của người dân cũng tương đối tốt với giá  
trị là 0,345 và tính dễ bị tổn thương cũng ở mức vừa phải với giá trị là 0,126.  
Từ khóa: biến đổi khí hậu, chỉ số tổn thương sinh kế, xã Bình Ngọc.  
1. Mở đầu  
Lưu vực sông Ba là một trong những lưu vực sông lớn ở vùng Nam Trung Bộ, có vị trí  
quan trọng cả về mặt kinh tế - xã hội lẫn an ninh quốc phòng. Lưu vực sông với diện tích  
khoảng 13.900km2, trải dài trên địa bàn của bốn tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk và Phú Yên  
[1]. Lũ lụt và xói lở là những tai biến thiên nhiên thường xuyên xảy ra trên địa bàn thành phố  
Tuy Hòa, thuộc vùng hạ lưu sông Ba [2]. Trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH) như hiện  
nay, ở vùng hạ lưu, dòng chảy mùa lũ tăng từ 0,53% đến 4,27% [3]. Trận lũ điển hình năm 1993  
làm chết 72 người, gây thiệt hại khoảng 394 tỉ đồng. Bên cạnh đó, tình trạng xói lở bờ sông  
cũng xảy ra nghiêm trọng. Khu vực xóm Rớ và khu phố 6 (phường Phú Đông) có những nơi độ  
sâu sạt lở từ 30-50m [4]. Đoạn bờ sông qua xã Bình Ngọc từ năm 2018 đến nay nhiểu lần bị sạt  
lở khoét sâu vào phần đất liền [5].  
Có thể thấy, các tác động bất lợi từ BĐKH và tai biến thiên nhiên đã ảnh hưởng không nhỏ  
đến hoạt động sinh kế người dân trên địa bàn thành phố Tuy Hòa trong đó có cả người dân ở xã  
Bình Ngọc. Hiện nay, các công bố nghiên cứu về tổn thương sinh kế cho thành phố Tuy Hòa nói  
chung và xã Bình Ngọc nói riêng hầu như rất hiếm. Trong khuôn khổ đề tài (mã số VT-UT.10/18-  
20), nhóm nghiên cứu đã chọn xã Bình Ngọc là nơi nghiên cứu về sự tổn thương sinh kế hộ dân.  
Các nghiên cứu về tổn thương sinh kế trước tác động của BĐKH và các tai biến thiên nhiên  
đã đưa một số các chỉ số như: chỉ số tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Index – LVI)  
Ngày nhận bài: 22/6/2020. Ngày sửa bài: 29/7/2020. Ngày nhận đăng: 10/8/2021.  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Hoàng Thái Khang. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
136  
Nghiên cứu mức độ tổn thương sinh kế của người dân vùng hạ lưu sông Ba…  
[6], chỉ số ảnh hưởng sinh kế (Livelihood Effect Index – LEI) [7], chỉ số tổn thương khí  
hậu (Climate Vulnerability Index – CVI) [8]. Trong đó, chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) do  
Hahn và cộng sự đề xuất, được dùng phổ biến trong các đánh giá về tổn thương cũng như khả  
năng thích ứng của cộng đồng trước những tác động của BĐKH và tai biến thiên nhiên [9]. Một  
số các nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã áp dụng chỉ số này. Lê Thị Diệu Hiền và cộng sự  
(2014) khi nghiên cứu tác động của BĐKH đến cộng đồng cư dân xã Đất Mũi (tỉnh Cà Mau) đã  
sử dụng chỉ số tổn thương sinh kế để đánh giá [10]. Nguyễn Thị Hương Giang và cộng sự  
(2018) cũng đã áp dụng chỉ số tổn thương sinh kế nhằm đánh giá tác động của BĐKH đến sinh  
kế của ngư dân ở xã Hương Phong (tỉnh Thừa Thiên Huế) [11]. Bùi Quang Bình và cộng sự  
(2020) khi nghiên cứu tính tổn thương sinh kế trước tác động của BĐKH đến người dân ở  
huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận) cũng đã áp dụng chỉ số tổn thương sinh kế nói trên [12].  
Chỉ số tổn thương sinh kế là một chỉ số tổng hợp bao gồm 7 yếu tố chính: đặc điểm hộ dân,  
chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, sức khỏe, lương thực và tài chính, nguồn nước, tai biến  
thiên nhiên và BĐKH. Mỗi một yếu tố chính sẽ bao gồm một số yếu tố phụ khác nhau. Ủy ban  
Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) đã tập  
hợp 7 yếu tố chính kể trên vào 3 nhân tố có ảnh hưởng đến sự tổn thương sinh kế trước tác động  
của BĐKH đó là sự phơi bày e (exposure), tính dễ bị tổn thương s (sensitivity), và khả năng  
thích ứng a (adaptive capacity) để hình thành nên chỉ số tổn thương sinh kế LVI-IPCC [13].  
Như vậy về thực chất, LVI-IPCC là chỉ số tổn thương sinh kế dựa trên giá trị của chỉ số tổn  
thương sinh kế LVI và kết hợp với định nghĩa khả năng thương tổn do IPCC đề xuất.  
Nghiên cứu này áp dụng chỉ số LVI và LVI-IPCC để đánh giá mức độ thương tổn sinh kế  
cũng như khả năng thích ứng của cộng đồng người dân ở xã Bình Ngọc trước tác động của  
BĐKH và tai biến thiên nhiên.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
2.1.1. Phương pháp thu thập số liệu  
Bình Ngọc  
Hình 1. Phạm vi ranh giới xã Bình Ngọc (Nguồn:Google Maps)  
137  
Nguyễn Hoàng Thái Khang* và Trần Thị Quỳnh Thi  
Số liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo về kinh tế xã hội và ứng phó với BĐKH như: Báo cáo  
Xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH tỉnh Phú Yên năm 2012; Báo cáo Quy hoạch  
tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Tuy Hoà đến năm 2020; các báo cáo, thống kê về tai  
biến thiên nhiên (bão, lũ lụt, xói lở...), khí hậu thuỷ văn được thu thập nhằm bổ sung thêm cho  
những kết quả phân tích từ dữ liệu sơ cấp. Số liệu sơ cấp thu thập thông qua việc điều tra người  
dân sống ở xã Bình Ngọc (hình 1).  
Bảng câu hỏi phỏng vấn các hộ gia đình sử dụng kĩ thuật phỏng vấn bán cấu trúc. Kĩ thuật  
phỏng vấn bán cấu trúc là hình thức phỏng vấn sử dụng một bảng câu hỏi phác thảo làm công cụ  
phỏng vấn, trong quá trình phỏng vấn người hỏi được quyền thêm vào một số các câu hỏi phụ  
vào tùy thuộc vào ngữ cảnh phỏng vấn. Danh sách các hộ gia đình dựa trên thông tin lãnh đạo  
xã phường cung cấp, trên cơ sở đó chọn ra những hộ gia đình phỏng vấn theo phương pháp  
ngẫu nhiên. Số phiếu điều tra tính theo công thức:  
N
n =  
1+ Ne2  
Trong đó: n là cỡ mẫu, N là tổng số hộ dân ở tại khu vực nghiên cứu, e là xác suất có khả  
năng gặp sai số loại 2 (trong nghiên cứu này chọn e =12%). Tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu.  
Số liệu được xử lí bằng phần mềm thống kê SPSS.  
2.1.2. Phương pháp tính chỉ số tổn thương sinh kế (LVI)  
Chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) sử dụng phương pháp trung bình có trọng số của Sulivan  
[14]. Tất cả các yếu tố chính của LVI có trọng số bằng nhau. Các yếu tố phụ trong mỗi yếu tố  
chính do được đo lường bởi những đơn vị khác nhau, nên cần chuẩn hóa theo công thức sau:  
(Sd − Smin )  
(Smax − Smin )  
IndexSd =  
(1)  
Trong đó: Sd là giá trị gốc của yếu tố phụ, Smin và Smax lần lượt là các giá trị nhỏ nhất và lớn nhất.  
Các yếu tố phụ sau khi chuẩn hóa, được tính trung bình theo công thức sau:  
n
index  
sdi  
i=1  
Mdi =  
(2)  
n
Trong đó: Mdi là giá trị của một trong 7 yếu tố chính, indexsdi là giá trị các yếu tố phụ được  
chuẩn hóa thứ i, n là số lượng các yếu tố phụ có trong mỗi yếu tố chính.  
Giá trị chỉ số tổn thương sinh kế LVI tính theo công thức:  
7
W M  
Mi  
di  
i=1  
LVI =  
(3)  
7
W
Mi  
i=1  
Trong đó: WMi là trọng số của mỗi yếu tố chính (tổng hợp các yếu tố phụ tạo nên những  
yếu tố chính dựa trên nguyên tắc trọng số cân bằng). LVI dao động từ 0 (mức tổn thương thấp  
nhất) đến 1 (mức tổn thương cao nhất).  
Tính chỉ số tổn thương theo các nhân tố đóng góp do IPCC đề xuất, công thức (3) được sử dụng:  
7
W M  
Mi  
di  
i=1  
CFd =  
(4)  
7
W
Mi  
i=1  
138  
Nghiên cứu mức độ tổn thương sinh kế của người dân vùng hạ lưu sông Ba…  
Trong đó: CFd là một trong các nhân tố đóng góp theo IPCC, Mdi là yếu tố chính thứ i cho  
khu vực địa phương, WMi là trọng số của các yếu tố chính.  
Dựa trên cơ sở chỉ số LVI tính toán ở trên, chỉ số LVI-IPCC tính theo công thức sau [13]:  
LVI-IPCC = (e-a)*s (5)  
Trong đó: e (exposure) là sự phơi bày, a (adaptive capacity) là khả năng thích ứng, và s  
(sensitivity) là tính dễ bị tổn thương. Chỉ số LVI-IPCC dao động từ -1 (mức tổn thương thấp  
nhất) đến 1 (mức tổn thương cao nhất).  
2.2. Kết quả và thảo luận  
Qua kết quả điều tra, nhóm nghiên cứu đã tính toán được chỉ số tổn thương sinh kế (LVI)  
cho xã Bình Ngọc ở Bảng 1.  
Bảng 1. Giá trị các yếu tố chính và phụ của chỉ số tổn thương sinh kế LVI  
Khả năng thích ứng (a - adaptive capacity)  
Xã Bình Ngọc  
Các yếu  
tố chính  
Chỉ số Chỉ số  
Các yếu tố phụ  
phụ  
chính  
Đặc  
điểm hộ  
dân  
Tỉ lệ hộ có nữ là chủ hộ  
Tỉ lệ chủ hộ thất học  
0,081  
0,043  
0,162  
Tỉ lệ hộ có người phụ thuộc  
0,362  
Tỉ lệ hộ có người đi làm ăn xa  
0,619  
0,034  
0,356  
0,282  
0,413  
0,463  
0,601  
Tỉ lệ hộ có người thất nghiệp  
Chiến  
lược  
sinh kế  
Tỉ lệ hộ có thu nhập không đủ trong cuộc sống  
Tỉ lệ hộ có chuyển đổi sinh kế  
0,341  
0,536  
Tỉ lệ hộ có người đi làm thuê  
Mạng  
lưới xã  
hội  
Tỉ lệ hộ không tiếp cận thông tin về thiên tai  
Tỉ lệ hộ không có người tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội  
Tỉ lệ hộ không nhận được sự giúp đỡ từ bạn bè, họ hàng, các tổ chức 0,546  
Tính dễ bị tổn thương (s – sensitivity)  
Tỉ lệ hộ có người mắc bệnh mãn tính  
0,142  
0,013  
0,074  
0,120  
0,026  
0,243  
Tỉ lệ hộ không có bảo hiểm y tế  
Sức  
0,087  
khỏe  
Tỉ lệ hộ có người cao tuổi  
Tỉ lệ hộ có người nghỉ học hoặc nghỉ làm do bị bệnh  
Tỉ lệ hộ có vay vốn để sản xuất hay kinh doanh  
Tỉ lệ hộ vay vốn để khắc phục thiên tai  
Lương  
thực và  
tài  
0,184  
0,122  
Tỉ lệ hộ thiếu thực phẩm thiết yếu để sử dụng  
0,283  
chính  
Tỉ lệ hộ sử dụng nguồn nước tự nhiên để sinh hoạt  
Tỉ lệ hộ thiếu nước để sinh hoạt  
0,235  
0,130  
0
Nguồn  
nước  
Tỉ lệ hộ sử dụng nước ô nhiễm để sinh hoạt  
139  
Nguyễn Hoàng Thái Khang* và Trần Thị Quỳnh Thi  
Sự phơi bày (e – exposure)  
Tai  
Tỉ lệ hộ có tài sản bị thiệt hại do thiên tai  
0,348  
0,186  
biến  
thiên  
nhiên  
và  
Tỉ lệ hộ có người bị chết hay mất tích do thiên tai  
0,476  
0,278  
Tỉ lệ hộ có thể nhận thấy sự tác động của BĐKH ở địa phương 0,724  
Số lượng trung bình các trận bão, lũ lụt trong vòng 5 năm qua 0,648  
BĐKH  
LVI  
2.2.1. Yếu tố mạng lưới xã hội  
Qua kết quả tính toán, yếu tố mạng lưới xã hội với giá trị 0,536, có giá trị cao nhất tại địa  
bàn nghiên cứu. Đây là một trong ba yếu tố có sự tổn thương cao (chiến lược sinh kế; tai biến  
thiên nhiên và BĐKH). Trong số các yếu tố phụ tạo nên yếu tố mạng lưới xã hội, tỉ lệ hộ dân  
không tiếp cận được thông tin về thiên tai tương đối cao với mức giá trị 0,463. Tỉ lệ hộ dân  
không tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội cũng như không nhận được sự giúp đỡ từ bạn  
bè, họ hàng và các tổ chức có giá trị khá cao lần lượt là 0,601 và 0,546. Điều đó phản ánh mối  
liên kết lỏng lẻo giữa các hộ dân với nhau trong các hoạt động sinh kế.  
2.2.2. Yếu tố tai biến thiên nhiên và BĐKH  
Yếu tố tai biến thiên nhiên và BĐKH có giá trị cao thứ hai tại xã Bình Ngọc với giá trị  
0,476. Giá trị yếu tố tính toán dựa trên số phiếu điều tra và nguồn số liệu thứ cấp được thu thập.  
Giá trị yếu tố phụ số lượng trung bình các trận bão, lũ lụt trong vòng 5 năm qua là 0,648 và giá  
trị yếu tố phụ tỉ lệ hộ dân có thể nhận thấy sự tác động của BĐKH ở địa phương là 0,724; đây là  
hai yếu tố phụ có giá trị khá cao trong số các yếu tố phụ tạo nên yếu tố tai biến thiên nhiên và  
BĐKH. Tỉ lệ hộ có người bị chết hay mất tích do thiên tai là khá thấp với giá trị 0,186.  
Điều này phản ánh khi có thiên tai xảy ra, người dân chú trọng vào việc bảo vệ tính mạng  
của mình. Một nguyên nhân nữa, đây là nơi hạ lưu sông Ba, người dân sống ở đây đã dần quen  
với thiên tai như lũ lụt, xói lở nên dần hình thành tập quán biết cách ứng phó khi thiên tai xảy  
ra. Bên cạnh đó, sinh kế người dân phần nào gắn liền với hạ lưu sông, nên bất kì một sự thay đổi  
nào về dòng chảy, mực nước đều có ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. Qua phỏng vấn trên  
dịa bàn nghiên cứu, phần lớn người dân hài lòng với công tác phòng chống thiên tai của các cấp  
chính quyền địa phương. Người dân nhận được sự hỗ trợ tích cực từ phía chính quyền trong  
công tác hỗ trợ sơ tán cũng như khắc phục hậu quả sau thiên tai.  
2.2.3. Yếu tố chiến lược sinh kế  
Yếu tố chiến lược sinh kế có giá trị cao thứ ba với giá trị 0,341. Yếu tố phụ tỉ lệ hộ có  
người đi làm ăn xa đạt giá trị khá cao là 0,619. Phần lớn sinh kế người dân có tính rủi ro cao,  
chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nên nguồn thu nhập không ổn định. Điều này phản ánh qua tỉ  
lệ số hộ dân có người đi làm ăn ở các địa phương khác. Tỉ lệ hộ đi làm thuê cũng đạt mức khá  
cao với giá trị 0,413. Đất dành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng ít lại (dành quỹ đất cho xây  
dựng các khu căn hộ cao cấp), người dân dần từ bỏ nghề làm nông, chuyển đổi sang làm các  
công việc khác mang tính thời vụ như phụ hồ, phục vụ trong nhà hàng khách sạn.  
2.2.4. Các yếu tố khác  
Bên cạnh các yếu tố chính đạt giá trị cao như đã phân tích ở trên, các yếu tố khác như đặc  
điểm hộ dân, sức khỏe, nguồn nước, lương thực và tài chính có giá trị thấp đồng nghĩa với mức  
độ tổn thương nhỏ (Hình 2).  
Tại địa bàn nghiên cứu, qua khảo sát cho thấy sức khỏe người dân được nâng cao do hệ  
thống y tế tuyến cơ sở được cải thiện, hệ thống nước sạch đã bao phủ khắp vùng, và trình độ  
140  
Nghiên cứu mức độ tổn thương sinh kế của người dân vùng hạ lưu sông Ba…  
người dân cũng từng bước được nâng cao do đó đảm bảo phần nào cho sinh kế người dân được  
ổn định hơn.  
Hình 2. Các yếu tố chính của chỉ số LVI ở xã Bình Ngọc  
2.2.5. Chỉ số LVI-IPCC  
Chỉ số LVI tổng hợp ở xã Bình Ngọc có giá trị là 0,278. Mức độ tổn thương ở đây đạt  
mức trung bình. Kết quả tính toán chỉ số LVI-IPCC được trình bày ở Bảng 2.  
Bảng 2. Giá trị các nhân tố chính của chỉ số LVI-IPCC  
Các nhân tố chính  
Sự phơi bày (e)  
Giá trị  
0,476  
0,345  
0,126  
0,016  
Khả năng thích ứng (a)  
Tính dễ bị tổn thương (s)  
LVI-IPCC  
Qua kết quả tính toán cho thấy chỉ số LVI-IPCC ở xã Bình Ngọc ở mức vừa phải. Sự phơi  
bày trước tác động của BĐKH đạt mức khá cao với giá trị 0,476. Các yếu tố như sức khỏe,  
nguồn nước, lương thực và tài chính qua kết quả tính toán cho thấy mức độ tổn thương là khá  
thấp, cho nên tính dễ bị tổn thương trên địa bàn nghiên cứu trước tác động của BĐKH đạt mức  
thấp với giá trị là 0,126.  
Khả năng thích ứng của các hộ dân cũng tương đối tốt, với mức giá trị là 0,345. Điều này  
phản ánh sự tích cực của người dân cũng như của chính quyền địa phương trong các chính sách  
hỗ trợ người dân nhằm ứng phó với thiên tai trong sản xuất và đời sống. Do yếu tố về đặc điểm  
điều kiện tự nhiên của xã Bình Ngọc nằm ở vùng hạ lưu sông Ba, sự biến đổi dòng chảy sông  
theo chiều hướng ngày càng tiêu cực trong bối cảnh BĐKH đang gia tăng, các cấp chính quyền  
nên có các biện pháp gia cố thêm các tuyến bờ kè nhằm giảm thiểu tình trạng xói lở đang diễn  
ra ngày càng trầm trọng tại địa phương. Các cơ chế về vốn vay cũng cần được chú trọng để  
người dân có thể tiếp cận được nguồn vốn một cách dễ dàng với mục đích chuyển đổi cơ cấu  
cây trồng, vật nuôi cho phù hợp với điều kiện BĐKH.  
Hạn chế của cách tính chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) là số lượng cũng như việc lựa chọn  
các yếu tố phụ. Bên cạnh đó, việc phỏng vấn các hộ dân một cách ngẫu nhiên cũng gặp phải một  
141  
Nguyễn Hoàng Thái Khang* và Trần Thị Quỳnh Thi  
số vấn đề về độ tin cậy của dữ liệu. Có thể khắc phục bằng cách áp dụng các phương pháp thống  
kê để loại bỏ các sai số do dữ liệu gây ra.  
Chỉ số LVI-IPCC cũng có mặt hạn chế là chỉ có thể so sánh được với nhau khi có cùng các  
yếu tố phụ giống nhau. Ngoài ra, chỉ số LVI-IPCC có tính chất tại thời điểm nghiên cứu, trong  
khi đó BĐKH và tai biến thiên nhiên lại có tính chất dài hạn. Cho nên, việc xây dựng một bộ chỉ  
số các yếu tố phụ thống nhất được chuẩn hóa là hết sức cần thiết để có được những so sánh về  
tổn thương sinh kế trước tác động của BĐKH và tai biến thiên nhiên ở những địa phương khác  
nhau trên cả nước, góp phần xây dựng chiến lược sinh kế bền vững cho người dân.  
3. Kết luận  
Chỉ số LVI ở xã Bình Ngọc được tính toán thông qua 7 yếu tố chính: đặc điểm hộ dân,  
chiến lược sinh kế, mạng lưới xã hội, sức khỏe, lương thực và tài chính, nguồn nước, tai biến  
thiên nhiên và BĐKH. Qua kết quả tính toán giá trị của các yếu tố chính lần lượt là: 0,162;  
0,341; 0,536; 0,087; 0.184; 0,122; 0,476. Yếu tố mạng lưới xã hội có mức độ tổn thương lớn  
nhất với giá trị là 0,536. Yếu tố sức khỏe có mức độ tổn thương thấp nhất với mức giá trị là  
0,087. Chỉ số LVI có giá trị là 0,278, đạt mức độ tổn thương vừa phải. Chỉ số LVI-IPCC của xã  
Bình Ngọc là 0,016, ở mức độ trung bình. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, sự phơi bày trước  
tác động của BĐKH tại đây là khá cao.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Phan Thị Thanh Hằng, 2014. “Xu thế biến đổi khí hậu và dòng chảy lưu vực sông Ba”.  
Tạp chí các Khoa học về Trái Đất, 36(1), tr. 31-40.  
[2] Trần Văn Trường và các cộng sự, 2018. Tiếp cận cảnh quan phục vụ giảm thiểu và thích  
ứng với tai biến thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh  
Phú Yên. Hội nghị Khoa học Địa lí Toàn quốc lần thứ 10, Đà Nẵng.  
[3] Lê Đức Thường, 2013. “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ dòng chảy lưu  
vực sông Ba”. Tạp chí Khí Tượng Thuỷ Văn (2), tr. 28-34.  
[4] Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch bảo vệ tài nguyên nước và môi trường các nguồn nước đến  
năm 2020, định hướng đến năm 2030 thích ứng với biến đổi khí hậu, 2017. Trung tâm Tư  
vấn và Dịch vụ Tài Nguyên Môi Trường, Sở Tài Nguyên Môi Trường Phú Yên.  
[5] Trương Nhật Kiều Thi và Phạm Thị Mai Thy, 2019. Ứng dụng công nghệ viễn thám và  
GIS để đánh giá biến động đường bờ cửa sông Đà Rằng thuộc tỉnh Phú Yên. Ứng dụng  
GIS toàn quốc 2019 - Phục hồi Rꢀng và Cảnh quan hướng đến Phát triển bền vững,  
Trường Đại học Tây Nguyên.  
[6] Micah B. Hahn, Anne M. Riederer và Stanley O. Foster, 2009. “The Livelihood  
Vulnerability Index: A pragmatic approach to assessing risks from climate variability and  
change—A case study in Mozambique”. Global Environmental Change, 19(1), tr. 74-88.  
[7] A.A. Urothody và H.O. Larsen, 2010. “Measuring climate change vulnerability: a  
comparison of two indexes”. Banko Janakari, 20(1), tr. 9-16.  
[8] Rajiv Pandey và ShashidharKumar Jha, 2012. “Climate vulnerability index - measure of  
climate change vulnerability to communities: a case of rural Lower Himalaya, India”.  
Mitigation and Adaptation Strategies for Global Change, 17(5), tr. 487-506.  
[9] Ankita Paul và các cộng sự, 2019. “Does nature of livelihood regulate the urban  
community's vulnerability to climate change? Guwahati city, a case study from North East  
India”. Journal of Environmental Management, 251, tr. 109591.  
142  
Nghiên cứu mức độ tổn thương sinh kế của người dân vùng hạ lưu sông Ba…  
[10] Lê Thị Diệu Hiền và các cộng sự, 2014. “Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến  
sinh kế cộng đồng xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau”. Tạp chí Khoa học Trường  
Đại học Cần Thơ, 32, tr. 103-108.  
[11] Nguyễn Thị Hương Giang và các cộng sự, 2018. “Nghiên cứu tính tổn thương sinh kế của  
ngư dân trong bối cảnh biến đổi khí hậu - trường hợp nghiên cứu tại xã Hương Phong, thị  
xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế”. Tạp chí khoa học trường Đại học Vinh, 47(3A), tr.  
28-45.  
[12] Bùi Quang Bình, Đỗ Thị Ngân và Nguyễn Dương Hoa, 2020. “Đánh giá mức độ tổn  
thương sinh kế của người dân ở huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận trong bối cảnh biến  
đổi khí hậu”. Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, 4(66), tr. 36-48.  
[13] IPCC, 2007. Climate Change 2007: Synthesis Report. Contribution of Working Groups I,  
II and III to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate  
Change [Core Writing Team, Pachauri, R.K and Reisinger, A. (eds.)], IPCC, Geneva,  
Switzerland, 104 pp.  
[14] Caroline Sullivan, 2002. “Calculating a Water Poverty Index”. World Development, 30(7),  
tr. 1195-1210.  
ABSTRACT  
Research on livelihood vulnerability of households in the downstream Ba river  
in the context of climate change - a case study  
in Binh Ngoc commune, Tuy Hoa city, Phu Yen province  
Nguyen Hoang Thai Khang*1 and Tran Thi Quynh Thi2  
1Institute of Oceanography, 2Pacific Ocean University  
The study applies Livelihood Vulnerability Index (LVI) and LVI-IPCC to assess the level  
of livelihood vulnerability of households in Binh Ngoc commune under the impacts of climate  
change. The LVI includes 7 main factors: household characteristics, livelihood strategies, social  
networks, health, water resources, food and finance, natural hazards, and climate change. Based  
on the average value of these key factors, the LVI-IPCC index is made up of three factors:  
exposure, adaptability, and vulnerability. Calculation results in Binh Ngoc commune show that  
the LVI and LVI-IPCC indexes have values of 0,278 and 0,016 respectively. This reflects that  
livelihood vulnerability is not too high, and vulnerability to climate change impacts is moderate.  
However, the local exposure to climate change impacts is relatively high with a value of 0,476.  
Besides, people's adaptability is also relatively good with a value of 0,345 and vulnerability is  
also moderate with a value of 0,126.  
Keywords: climate change, livelihood vulnerability index, Binh Ngoc commune.  
143  
pdf 8 trang baolam 29120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mức độ tổn thương sinh kế của người dân vùng hạ lưu sông ba trong bối cảnh biến đổi khí hậu - trường hợp nghiên cứu tại xã Bình Ngọc, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_muc_do_ton_thuong_sinh_ke_cua_nguoi_dan_vung_ha_l.pdf