Hợp tác văn hóa Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2005
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
TẠP CHÍ KHOA HỌC
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 74 (02/2021)
SAIGON UNIVERSITY
SCIENTIFIC JOURNAL
OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
HỢP TÁC VĂN HÓA VIỆT NAM - HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1995-2005
Cultural cooperation between Vietnam and the United States in the period of
1995-2005
ThS. Nguyễn Thị Lệ Mỹ
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM
TÓM TẮT
Quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ mang đậm dấu ấn lịch sử và thời đại. Từ khi bình thường hóa quan hệ
ngoại giao (1995), quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ có những bước phát triển tích cực. Trong giai đoạn
1995-2005, các lĩnh vực chính trị và kinh tế đóng vai trò chủ đạo, nhưng những hoạt động hợp tác và
giao lưu văn hóa có những tác động tích cực đến mối quan hệ hai nước. Thậm chí, hoạt động ngoại giao
văn hóa góp phần quan trọng xây dựng “lòng tin” giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, thúc đẩy các lĩnh vực khác
phát triển.
Từ khóa: Hoa Kỳ, ngoại giao văn hóa, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, Việt Nam
ABSTRACT
The relationship between Vietnam and the United States is marked by history and time. Since the
normalization of diplomatic relations (1995), the relations between Vietnam and the United States have
seen positive developments. In the period of 1995-2005, the political and economic fields played a key
role, but cultural exchange and cooperation activities had a positive impact on the relationship between
the two countries. Even cultural diplomacy makes an important contribution to building “trust” between
Vietnam and the United States, promoting other fields to develop.
Keywords: United States, cultural diplomacy, Vietnam-U.S. relationship, Vietnam
Hoa Kỳ tham vọng sẽ đưa ra chiến lược
toàn cầu để biến thế kỷ XXI thành “thế kỷ
Mỹ”, “kỷ nguyên hòa bình kiểu Mỹ” mà
nước này là siêu cường duy nhất về quân
sự, kinh tế chính trị lẫn văn hóa (Trần Bá
Khoa, 2008, tr.105-107). Trước những thay
đổi của thế giới và ở các khu vực, hầu hết
các nước đều điều chỉnh chiến lược đối
ngoại cho phù hợp với tình hình mới, mà
nổi bật nhất là sự điều chỉnh chiến lược đối
ngoại của các nước lớn (Nguyễn Thiết Sơn,
2002, tr.149). Trong bối cảnh so sánh lực
lượng trên thế giới thay đổi mạnh mẽ, các
1. Một số nhân tố tác động đến quá
trình hợp tác văn hóa Việt Nam - Hoa
Kỳ giai đoạn 1995-2005
Trong giai đoạn 1995-2005, tình hình
thế giới có nhiều biến động quan trọng và
phức tạp, đặc biệt là sự sụp đổ của hệ
thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên
Xô. Những diễn tiến của bối cảnh trên là
cơ sở để Hoa Kỳ điều chỉnh chiến lược
toàn cầu sau Chiến tranh Lạnh. Mặt khác,
sự sụp đổ của Liên Xô và sự kết thúc Chiến
tranh Lạnh đã kéo theo những thay đổi
trong trật tự chính trị thế giới. Đặc biệt,
Email: [email protected].vn
56
NGUYỄN THỊ LỆ MỸ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
nước lớn đều chú trọng điều chỉnh chính
sách đối ngoại theo hướng tăng cường mở
rộng quan hệ nhằm phát huy ảnh hưởng,
giành giật lợi ích về mọi mặt và tạo lập một
vị thế có lợi nhất trong quá trình hình thành
trật tự thế giới mới.
(Lê Bá Thuyên, 1997). Từ khi lên nắm
quyền (1993), Tổng thống Bill Clinton chủ
trương đẩy mạnh quá trình bình thường
hóa quan hệ với Việt Nam và xem đây như
một nỗ lực góp phần giải quyết hậu quả
cuộc chiến tranh mà người Mỹ tiến hành ở
Việt Nam.
Đồng thời, quá trình “khu vực hóa” và
“toàn cầu hóa” đã tạo ra những thay đổi lớn
cả về lượng và chất đối với mọi mặt của
đời sống xã hội loài người. Cuộc cách
mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát
triển mạnh và có những bước tăng tốc đáng
kể, điển hình là những đợt sóng công nghệ
cao, tiêu biểu nhất là công nghệ thông tin.
Quá trình mở rộng giao lưu quốc tế ngày
càng được đầu tư với sự phổ cập nhanh
chóng của hệ thống internet và các phương
tiện hiện đại khác. Có thể nói đây là “cơ
hội thể hiện khả năng tận dụng những
thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ
thuật và công nghệ, tham gia vào sự phân
công lao động quốc tế để rút ngắn thời gian
phát triển” (Vũ Khoan, 1995, tr.210) cho
các quốc gia đang phát triển trên thế giới.
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc,
Hoa Kỳ vẫn là cường quốc hàng đầu thế
giới, có tiếng nói và vị thế quan trọng trong
quan hệ quốc tế. Tại châu Á, Hoa Kỳ luôn
khẳng định vị thế, sức mạnh thông qua hệ
thống đồng minh thân cận và thực thi chiến
lược “hình nan quạt” trên quy mô toàn cầu.
Hoa Kỳ sử dụng các điều ước đồng minh
làm cơ sở, lấy đối thoại an ninh song
phương để bổ sung, dùng lực lượng quân
sự to lớn, mạnh mẽ để hậu thuẫn nhằm giữ
gìn và bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ trên thế
giới. Trong chiến lược “Cam kết và mở
rộng” của Tổng thống Bill Clinton, Hoa Kỳ
bên cạnh chú trọng “cam kết” với các nước
đồng minh truyền thống ở khu vực, còn
chủ trương “mở rộng” với các nước đối tác
mới trong khu vực, trong đó có Việt Nam
Tại Việt Nam, từ khi bắt đầu triển khai
đường lối Đổi mới (1986), thông qua các
chủ trương, chính sách đúng đắn, sản xuất
trong nước ngày càng phát triển, lưu thông
ngày càng thông suốt, đời sống nhân dân
từng bước được ổn định và nâng cao, xã
hội ngày càng phát triển, qua đó, chế độ xã
hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố, v.v.
Với tư duy và đường lối phát triển mới,
kinh tế Việt Nam phát triển khá nhanh, cơ
sở vật chất được tăng cường. Trên cơ sở
những thành tựu đã đạt được, Việt Nam đã
và đang thúc đẩy xây dựng quan hệ hữu
nghị với các nước trong khu vực, tăng
cường hợp tác để duy trì một môi trường
hòa bình, ổn định lâu dài phục vụ công
cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Trong nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ
XX, Việt Nam đẩy mạnh thực hiện đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa
dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế,
chủ động hội nhập quốc tế với phương
châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả
các nước trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, tr.147).
Bước vào thế kỷ XXI, Đại hội lần thứ IX
của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001) đã
khẳng định rõ phương châm: “Việt Nam
sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các
nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001,
tr.119). Trên cơ sở đó, Việt Nam chủ động
“thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước
phát triển, xuất phát từ nhận thức rằng các
nước lớn, các nước phát triển đóng vai trò
57
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
quan trọng trong quan hệ quốc tế” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.121-122).
Trong quá trình triển khai đường lối
đối ngoại mới, Việt Nam coi trọng việc
phát triển quan hệ với các nước lớn. Trong
số các nước lớn, Hoa Kỳ có vị trí đặc biệt,
ảnh hưởng lớn quá trình phát triển, hội
nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam. Do
đó, việc bình thường hóa quan hệ với Hoa
Kỳ là một việc làm cần thiết mở đường cho
Việt Nam hội nhập khu vực và quốc tế
thành công (Bùi Thị Phương Lan, 2011,
tr.67). Với những nỗ lực từ hai nước, ngày
11/7/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ chính
thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Từ cột mốc này, quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ chính thức bước sang một giai đoạn
phát triển mới. Bên cạnh các hoạt động
chính trị - ngoại giao, kinh tế - thương mại,
các hoạt động hợp tác, giao lưu và trao đổi
văn hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn
diễn ra, góp phần quan trọng trong việc
tăng sự hiểu biết, xây dựng lòng tin, qua đó
thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển.
hình được thể hiện rõ thông qua hoạt động
của Hội Việt - Mỹ (The Viet Nam - USA
Society). Ngay sau khi được thành lập, Hội
có cơ quan ngôn luận riêng, có tạp chí bằng
hai thứ tiếng, đặc biệt có chương trình phát
thanh chuyên đề để giới thiệu về đất nước,
con người và văn hoá Việt Nam với nhân
dân Mỹ. Từ năm 1999 đến nay, các chương
trình thông tin quốc tế, trao đổi giáo dục và
văn hóa giữa hai nước đều tập trung về đầu
mối chính là Vụ Ngoại giao nhân dân và
các vấn đề công chúng (Public
Diplomacy and Public Affairs) của Bộ
Ngoại giao Mỹ. Tham gia vào công tác
thông tin đối ngoại còn có hai cơ quan của
Chính phủ Mỹ là Cục Phát thanh và
Truyền hình Quốc tế (International
Boadcasting Bureau) và Ủy ban Quản lý
Phát thanh và Truyền hình (Broadcasting
Board of Governors). Mục đích chung của
các cơ quan này là thúc đẩy trao đổi thông
tin, hợp tác trong lĩnh vực giáo dục, nghệ
thuật và khoa học (U.S. Department of
State, 1956, tr.6-14).
Với sự hỗ trợ từ Hội Việt - Mỹ, Hãng
tin ATN (Associated Television News) đã
trở thành đầu mối với truyền thông của
Hoa Kỳ và lan tỏa các thông tin về Việt
Nam. Thông qua Hãng tin ATN, hãng làm
phim du lịch Laura McKenzies đã đến làm
phim về du lịch ở Việt Nam, góp phần
quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam đến
với dân chúng Mỹ và toàn thế giới. Bên
cạnh đó, Hội Việt - Mỹ cũng triển khai
nhiều dự án giới thiệu hình ảnh và con
người Việt Nam trên một số tờ báo lớn ở
Mỹ. Nhìn chung, hợp tác tác văn hóa trong
lĩnh vực phát thanh - truyền hình giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2005 đã
bắt đầu nhưng còn nhỏ lẻ và chưa có những
sản phẩm thực sự ấn tượng.
2. Thực trạng hợp tác văn hóa Việt
Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2005
Sự hợp tác và tạo dựng lòng tin, hiểu
biết lẫn nhau chính là động lực quan trọng
để tạo dựng một cơ sở vững chắc cho quan
hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, và phương tiện
hiệu quả nhất để làm điều đó chính là
thông qua hợp tác, giao lưu văn hóa. Hợp
tác văn hóa trong quan hệ Việt Nam - Hoa
Kỳ được thể hiện rõ nét trong (i), hợp tác,
giao lưu trong lĩnh vực phát thanh - điện
ảnh - truyền hình, (ii), hợp tác, giao lưu
trong lĩnh vực văn học, (iii), hợp tác, giao
lưu trong lĩnh vực nghệ thuật.
2.1. Hợp tác giao lưu trong lĩnh vực
phát thanh - truyền hình - điện ảnh
Hợp tác văn hóa giữa Việt Nam và
Hoa Kỳ trong lĩnh vực phát thanh - truyền
Trong lĩnh vực điện ảnh, nhiều bộ
58
NGUYỄN THỊ LỆ MỸ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
phim đã ra đời với sự tham gia của Việt
kiều tại Mỹ và các diễn viên Việt Nam,
như Ba mùa (Three Seasons) của đạo diễn
Việt kiều Mỹ Tony Bùi. Bộ phim đạt hai
giải từ khán giả và ban giám khảo tại Liên
hoan phim Sundance. Ba mùa theo lý giải
của Tony Bùi là mùa nắng, mùa mưa và
mùa hi vọng. Đây là bộ phim Mỹ đầu tiên
hợp tác với Việt Nam và được quay hoàn
toàn tại Việt Nam. Từ năm 2000, làn sóng
các đạo diễn Việt kiều từ Mỹ về nước để
làm phim trở nên mạnh mẽ. Đặc biệt, đạo
diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã làm đạo
diễn và viết kịch bản cho bộ phim đình
đám Mùa len trâu (Buffalo Boy). Bộ phim
Mùa len trâu được khởi quay vào tháng
9/2003 với sự tham gia của Hãng phim
Giải phóng (Việt Nam), 3B Productions
(Pháp) và Novak (Bỉ).
Vào năm 2003, Đại hội Điện ảnh Việt
Nam Quốc tế (Vietnamese International
Film Festival - ViFF) lần đầu tiên được tổ
chức ở vùng Little Saigon, California, Hoa
Kỳ. Sau đó, Đại hội được tổ chức hai năm
một lần. Đây là đại hội điện ảnh duy nhất
dành riêng cho các nhà làm phim gốc Việt
trên toàn thế giới do Hội Văn học Nghệ
thuật Việt Mỹ (Vietnamese American Arts
and Letters Association - VAALA) và Hội
Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam
(Vietnamese Language and Culture -
VNLC) tổ chức. Ngoài những nhà làm
phim Việt kiều, một số đạo diễn trong
nước như Pham Nhuệ Giang hay Bùi Thạc
Chuyên cũng đem phim tới tham dự. ViFF
thường được diễn ra tại Đại học California,
Irvine và các địa điểm quanh vùng Little
Saigon, California, Hoa Kỳ.
thu hút nhiều đạo diễn, diễn viên của cả hai
nước tham gia. Nhiều tác phẩm điện ảnh
hợp tác giữa hai nước tạo được tiếng vang,
góp phần tăng sự hiểu biết giữa lẫn nhau
giữa nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ.
2.2. Hợp tác giao lưu trong lĩnh vực
văn học
Vào năm 2000, trong chuyến thăm
chính thức của Tổng thống Hoa Kỳ Bill
Clinton đến Việt Nam - chuyến thăm đầu
tiên của người đứng đầu Hoa Kỳ đến Việt
Nam sau năm 1975, ông đã gây ấn tượng
khi nhắc về những tiếp xúc văn hóa đầu
tiên giữa hai nước: “Hai thế kỷ trước đây,
trong thời kỳ lập quốc của Hoa Kỳ, chúng
tôi đã vượt đại dương tìm đối tác thương
mại, và một trong những quốc gia đầu tiên
mà chúng tôi gặp được là Việt Nam. Đặc
biệt là một trong những quốc phụ của
chúng tôi, ông Thomas Jefferson, đã thử
tìm lúa giống của Việt Nam để mang về
trồng tại trang trại của ông ở Virginia từ
200 năm trước” (Báo Nhân dân, 2000,
tr.1). Tại một bữa tiệc trong chuyến thăm
này, Tổng thống Bill Clinton đã đọc hai
câu trong Truyện Kiều của Việt Nam: “Sen
tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông
đà sang xuân (Just as the lotus wiltsm, the
mums bloom forth/ Time softens grief, and
the winter turns to spring)”. Đây là câu thơ
số 1795 và 1796 trong Truyện Kiều (The
Tale of Kiều), ngụ ý một năm trôi qua bằng
cách miêu tả sự chuyển động của thiên
nhiên, đất trời với hình ảnh đặc trưng của
bốn mùa: sen tàn - mùa hạ qua, hoa cúc nở
- mùa thu tới, hết thu chuyển sang đông,
mùa đông ngày ngắn đêm dài, kết thúc mùa
đông là mùa xuân đang đến. Tổng thống
Bill Clinton đã giải thích ý nghĩa câu trích
với mong muốn hai nước “gác lại quá khứ,
hướng đến tương lai”. Có thể nói, Truyện
Kiều là một trong những tác phẩm văn học
So với lĩnh vực phát thanh - truyền
hình, hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
trong lĩnh vực điện ảnh đạt nhiều thành tựu
hơn. Các hoạt động diễn ra với quy mô lớn,
59
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
Việt Nam được quan tâm tại nhiều quốc
gia trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ.
Trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa
Kỳ, những câu Kiều như “cầu nối văn hóa”
khi vừa gửi thông điệp từ Hoa Kỳ, vừa là
nét văn hóa đặc sắc của người Việt Nam
(Bùi Mạnh Nhị, 2018).
phẩm gây tranh cãi Mật mã Da Vince (The
Da Vinci Code) xuất bản tại Mỹ năm 2003
được dịch và xuất bản lần đầu tại Việt Nam
năm 2005, Thiên thần và ác quỷ (Angles
and Demons) xuất bản tại Mỹ năm 2000
được dịch và xuất bản lần đầu tại Việt Nam
năm 2007, Điểm dối lừa (Deception Point)
xuất bản tại Mỹ năm 2001 được dịch và
xuất bản lần đầu tại Việt Nam năm 2006;
Pháo đài số (Digital Fortress) xuất bản tại
Mỹ năm 1998 được dịch và xuất bản lần
đầu tại Việt Nam năm 2006. Đáng chú ý,
các ấn phẩm trên liên tục được cập nhật,
dịch mới và xuất bản thường xuyên ở hai
nước.
Bên cạnh Truyện Kiều, một số tác
phẩm văn học Việt Nam được công chúng
Mỹ quan tâm có thể kể đến là Nhật Ký
trong tù (Prison Diary) của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
(The Sorrow of War) của nhà văn Bảo
Ninh. Mặc dù không phải tác phẩm văn
học nhưng Nhật ký Đặng Thùy Trâm (Last
night I dreamed about Peace) cũng đã tạo
được cơn sốt tại Mỹ nhờ nội dung và hành
trình tìm về chủ nhân cuốn nhật ký của một
cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại
Việt Nam. Một ấn phẩm thiếu nhi khá
được yêu thích chính là Dế Mèn phiêu lưu
ký (Diary of a Cricket), hay giọng văn
trong trẻo của Nguyễn Nhật Ánh trong Cho
tôi một vé đi tuổi thơ (Ticket to Childhood)
và Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (Open the
window, eyes closed) của tác giả Nguyễn
Ngọc Thuần cũng nhận được sự chú ý của
đọc giả Mỹ, đặc biệt là cộng đồng người
Việt ở Hoa Kỳ.
Tại Việt Nam, các tác phẩm văn học
kinh điển của Hoa Kỳ liên tục được dịch
thuật và ấn hành. Có thể kể đến các tác
phẩm như tiểu thuyết Ông già và Biển cả
(The Old Man and the Sea) của Ernest
Hermingway, tiểu thuyết tình yêu Cuốn
theo chiều gió (Gone with the Wind) của
Margaret Mitchell, Đại gia Gatsby (The
Great Gatsby) của F. Scott Fitzgerald, v.v.
Ngoài ra, một số tác phẩm là tiểu thuyết hư
cấu của các nhà văn Mỹ thịnh hành vào
đầu thế kỷ XXI đã được độc giả Việt yêu
thích như nhà văn Dan Brown với tác
Có thể thấy, sự giao lưu văn học như
trên là minh chứng mạnh mẽ trong việc
trao đổi văn hóa, góp phần thúc đẩy sự hiểu
biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước, hàn
gắn vết thương chiến tranh tạo điều kiện
cho quan hệ hai nước phát triển.
2.3. Hợp tác giao lưu trong lĩnh vực
nghệ thuật
Từ năm 1988, họa sĩ David Thomas đã
thành lập một tổ chức phi lợi nhuận có tên
là Hiệp Hội Nghệ thuật Đông Dương
(Indochina Arts Partnership - IAP) nhằm
kết nối và thúc đẩy giáo dục, trao đổi nghệ
thuật. Kể từ ngày thành lập, IAP đã hỗ
trợ gần 100 nghệ sĩ và các nhà quản lý
văn hóa nghệ thuật từ Việt Nam tới Hoa
Kỳ và ngược lại, tham dự những chương
trình trao đổi ngắn hạn. Hoạt động của
IAP gồm hai nội dung chính: (i) thiết lập
việc kết nghĩa giữa Maine College of
Art với trường Mỹ thuật Hà Nội, Trường
Massachusette College of Art với Trường
Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường
Rhode Island School of Design với Trường
Mỹ thuật Huế; (ii) thúc đẩy và thực hiện
những chương trình trao đổi nghệ sĩ.
Những thành tựu của IAP bao gồm
60
NGUYỄN THỊ LỆ MỸ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
những triển lãm giới thiệu các nghệ sĩ Việt
Nam tới công chúng Mỹ sau chiến tranh
như triển lãm “Nhìn từ hai phía” (As Seen
From Both Sides, American And
Vietnamese Artist Look At The War) tổ
chức năm 1991, “Bảy đại danh họa”
(Seven Pillars - The National Treasure
Artists of Vietnam) tổ chức năm 1994, và
“Nghìn trùng xa cách” (An ocean apart:
contemporary Vietnamese art from the
United States and Vietnam) tổ chức năm
1995. IAP kết nối và trao tặng 38 bức tranh
in của danh họa Francisco Goya trong bộ
sưu tập của Tiến sĩ Hans Guggenheim cho
Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tặng những
tư liệu của Henry Prunier cho Bảo tàng
Lịch sử Quân đội, phối hợp cùng hội Mỹ
thuật Việt Nam tổ chức Trung tâm đồ họa
CEGA (Hanoi Center for Excellence in
Graphic Arts), tặng máy in khắc và in
lithography press cho trung tâm và cho Đại
học Mỹ thuật Huế, tổ chức các cuộc trao
đổi giữa những nghệ sĩ in ấn bậc thầy ở Mỹ
với nghệ sĩ ở Việt Nam, kết nối các trường
mỹ thuật ở Mỹ và Việt Nam qua những
chương trình kết nghĩa.
Kỳ, Tạp chí Asian Arts News thường xuyên
đưa tin về giới mỹ thuật tại Việt Nam.
Từ năm 1995, nhiều đoàn nghệ thuật
của Việt Nam và Mỹ đã thực hiện các
chuyến đi biểu diễn giao lưu ở hai nước.
Các nhóm nghệ sĩ múa rối Hà Nội, các
đoàn ca nhạc dân tộc truyền thống... đã
sang Mỹ biểu diễn, góp phần quảng bá bản
sắc văn hóa truyền thống Việt Nam, hình
ảnh đất nước và con người Việt Nam với
bạn bè Mỹ và bạn bè quốc tế. Trong khi
đó, các nhóm nghệ sĩ Mỹ sang biểu diễn ở
Việt Nam khá đa dạng với nhiều thể loại
nhạc Hip-hop, jazz... cũng giúp người Việt
hiểu thêm về các loại hình nghệ thuật của
Hoa Kỳ. Việt Nam và Hoa Kỳ cũng tổ
chức nhiều cuộc triển lãm giới thiệu về đất
nước, con người và văn hóa hai nước.
Đáng chú ý có cuộc triển lãm “Dòng sông
uốn khúc - Hành trình nghệ thuật Việt Nam
đương đại” (4/1998) tại Mỹ và “Viễn
dương - Mỹ thuật Mỹ bên thềm thế kỷ 21”
(8/1999) tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật
Việt Nam, giới thiệu hàng trăm tác phẩm
nghệ thuật tiêu biểu của các họa sĩ Việt
Nam và Mỹ cho công chúng của hai nước.
Từ tháng 3/2003, Việt Nam phối hợp với
Hoa Kỳ tổ chức cuộc triển lãm “Cuộc hành
trình của con người, tinh thần và linh hồn
Việt Nam” tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên
Hoa Kỳ. Tiếp đó, tháng 7/2004, hai nước
lại phối hợp tổ chức triển lãm “Truyền
thống và đổi thay: Nghệ thuật Việt Nam
ngày nay” tại thủ đô Washington. Hai cuộc
triển lãm này giúp cho người dân Mỹ hiểu
biết nhiều hơn về đất nước, con người và
văn hóa Việt Nam.
Đến thăm Việt Nam vào năm 1987,
David Thomas bị ấn tượng mạnh bởi
những bức ảnh chân dung của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Chính vì vậy, đây là nguyên
nhân thôi thúc David Thomas sáng tác hơn
50 tác phẩm hội họa về Hồ Chí Minh và
cộng tác cùng một người bạn cho ra đời tại
Hoa Kỳ một tác phẩm mang tên “Chân
dung Hồ Chí Minh” vào năm 2000. Không
chỉ vậy, một tổ chức phi lợi nhuận khác -
Meridian
International
Center
tại
Washington đã tổ chức triển lãm “A
Winding River: The Journey of
Contemporary of Art in Vietnam” tại bảy
viện bảo tàng ở Mỹ vào năm 1997-1998
(The New York Times, 1999, tr.19). Ở Hoa
Nhân kỷ niệm 10 năm thiết lập quan
hệ ngoại giao giữa hai nước, nhiều hoạt
động trao đổi nghệ thuật diễn ra sôi nổi.
Thông qua Đại sứ quán Hoa Kỳ, nhóm
nhảy Hip-hop nổi tiếng của Mỹ là
61
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
Havikoro đến thăm và biểu diễn tại Việt
Nam trong chương trình “Đêm hội
HAVIKORO” (4/2005); vũ đoàn Battery
Dance từ New York sang biểu diễn và tổ
chức các buổi hội thảo về nghệ thuật múa ở
Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội
(5/2005); dàn nhạc jazz San Francisco gồm
40 nghệ sĩ chơi nhạc jazz hàng đầu nước
Mỹ đã đến biểu diễn tại Hà Nội, Huế, Đà
Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh
(11/2005). Các hoạt động trao đổi, giao lưu
văn hóa – nghệ thuật giữa hai nước đã thu
hút được một lượng đông đảo công chúng
của hai nước tham gia. Những hoạt động
này đã tăng cường sự giao lưu giữa nhân
dân hai nước và trở thành cầu nối hữu nghị
làm cho hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ
xích lại gần nhau hơn.
Kỳ, vấn đề trao đổi và giao lưu văn hóa
được cả hai nước chú trọng. Trong giai
đoạn 1995-2005, hợp tác văn hóa giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng
cho sự phát triển quan hệ giữa hai nước.
Mức độ trao đổi và giao lưu văn hóa giữa
Việt Nam và Hoa Kỳ ngày càng tăng theo
thời gian và đã thu hút được đông đảo công
chúng của hai nước tham gia. Một mặt, hợp
tác văn hóa có thể gia tăng sự hiểu biết lẫn
nhau trên tinh thần tôn trọng, thân thiện và
yêu chuộng hòa bình. Mặt khác, ngoại giao
văn hóa có thể xoa dịu nỗi đau chiến tranh
trong cộng đồng và nhân dân hai nước.
Nhờ sự hiểu biết sâu và rộng hơn, hai quốc
gia đã thúc đẩy tình hữu nghị và góp phần
đảm bảo hòa bình, an ninh của khu vực. Từ
đó, góp phần định hình vị trí Việt Nam trên
trường quốc tế, thu hút đầu tư thương mại,
du lịch, dịch vụ từ Hoa Kỳ đến Việt Nam.
Nói cách khác, hợp tác văn hóa giữa Việt
Nam - Hoa Kỳ cũng đã góp phần thúc đẩy
hợp tác trong lĩnh vực chính trị và kinh tế
giữa hai nước phát triển. Hợp tác văn hóa
giữa Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay được
xem là một trong những trụ cột của quan
hệ song phương, vun đắp tâm hồn và trí tuệ
cho các thế hệ tương lai của hai nước và họ
sẽ trở thành cầu nối hữu nghị làm cho hai
quốc gia Việt - Mỹ ngày càng xích lại gần
nhau hơn.
3. Kết luận
Thực tế cho thấy, Việt Nam và Hoa
Kỳ có những khác biệt về văn hóa. Việt
Nam vốn thuộc về nền văn hóa phương
Đông, còn Hoa Kỳ vốn là một phần của
nền văn hóa phương Tây. Thêm nữa, thời
kỳ sau chiến tranh Việt Nam, tâm lý nghi
kỵ ở hai nước vẫn còn rất lớn trong khi
những hiểu biết về nhau còn rất hạn chế, do
đó hai nước không tránh khỏi những khó
khăn trong hợp tác với nhau trong lĩnh vực
văn hóa. Trên cơ sở đó, trong quá trình
bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Hoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bùi Mạnh Nhị. (2018). Truyện Kiều trong diễn văn của các Tổng thống Mỹ. Tạp chí Văn
học, 1, 29-38.
Bùi Thị Phương Lan (2011). Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1994-2010. Hà Nội: NXB Khoa
học Xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Hà
Nội: NXB Sự thật.
62
NGUYỄN THỊ LỆ MỸ
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia.
Lê Bá Thuyên. (1997). Hoa Kỳ cam kết và mở rộng. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.
Nguyễn Thiết Sơn (chủ biên). (2002). Nước Mỹ năm đầu thế kỷ XXI. Hà Nội: NXB Khoa
học Xã hội.
The New York Times. (1999). Exhibit of Vietnamese Art Rouses Immigrant Anger. The
New York Times, July 1999.
Báo Nhân dân (2000, 18/11). Toàn văn Bài Diễn văn của Tổng thống Clinton. Báo
Nhân dân.
Trần Bá Khoa. (2008). Thế giới đơn cực hay đa cực? Cộng sản, 788, 105-107.
U.S. State Department (1956). United States Information and Education Exchange Act of
1948, Public Law 402. In The United States Statutes at Large, Vol. 62. Washington
D.C.: Government Printing Office.
Vũ Khoan. (1995). An ninh, phát triển và ảnh hưởng trong hoạt động đối ngoại. Trong? Bộ
Ngoại giao. Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.
Ngày nhận bài: 08/9/2020
Biên tập xong: 15/02/2021
Duyệt đăng: 20/02/2021
63
Bạn đang xem tài liệu "Hợp tác văn hóa Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995-2005", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hop_tac_van_hoa_viet_nam_hoa_ky_giai_doan_1995_2005.pdf

