Tài liệu Công tác xã hội với người sống chung với HIV/AIDS

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH  
(Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở)  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI  
HIV/AIDS  
Hà Nội, năm 2016  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
2
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
LỜI MỞ ĐẦU  
HIV/AIDS là một vấn đề xã hội được thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng quan  
tâm và giải quyết một vài thập kỷ gần đây. HIV đã tác động tiêu cực tới cuộc sống  
của người sống chung với HIV, tới con cái, người thân và gia đình họ. HIV đã gây ra  
những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia. Chính vì  
vậy, can thiệp, hỗ trợ người sống chung với HIV cũng như đấu tranh giảm kỳ thị và  
phòng ngừa HIV được Nhà nước Việt Nam cũng như các tổ chức quốc tế trong đó  
có UNICEF đặc biệt quan tâm. Ngày 29/6/2006 Quốc hội đã thông qua Luật Phòng  
chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/  
AIDS) số 64/2006/QH11. Một loạt các chính sách liên quan tới phòng ngừa can  
thiệp HIV cũng đã được ban hành. Để tổ chức tốt các luật pháp, chính sách cần có  
những cán bộ, trong đó có cán bộ công tác xã hội là người có vai trò đặc biệt quan  
trọng trong trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS và gia đình họ.  
Mục đích của “Tài liệu tập huấn công tác xã hội với người sống chung với HIV/AID”  
dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về  
HIV/AIDS, về những vấn đề của người sống chung với HIV như sự kỳ thị, sức khỏe,  
việc làm và những tổn thương tâm lý do nhiễm HIV và công tác trợ giúp họ cũng  
như người thân của họ giải quyết vấn đề. Đối tượng sử dụng là cán bộ xã hội cấp  
cơ sở, vì vậy nội dung của tài liệu đi vào những khía cạnh cơ bản nhất trong trợ  
giúp nhóm đối tượng này.  
Cuốn tài liệu được biên soạn với sự hợp tác của UNICEF, Cục Bảo trợ xã hội Bộ Lao  
động- Thương binh và Xã hội cùng với nhóm giảng viên của trường Đại học Lao  
động- Xã hội. Tài liệu cũng được hoàn thành với sự tham của nhiều nhà khoa học,  
nhà quản lý và cán bộ trực tiếp trong lĩnh vực HIV.  
Do tài liệu mới được biên soạn lần đầu nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất  
mong đọc giả, người học góp ý để ban biên tập tiếp tục hoàn thiện cuốn tài liệu.  
Ban biên soạn  
3
MỤC LỤC  
LỜI MỞ ĐẦU  
5
BÀI 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIV/AIDS VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP  
NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
I. Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS  
6
6
1. Khái niệm HIV/ AIDS  
6
2. Con đường lây truyền HIV  
7
3. Các giai đoạn phát triển HIV  
9
II. Xu hướng phát triển dịch HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam  
1. Trên thế giới  
11  
11  
11  
2. Tại Việt Nam  
III. Những vấn đề cơ bản của người sống chung với HIV/AIDS và vai trò trợ giúp của công tác xã hội 12  
1. Những vấn đề thường gặp phải của người sống chung với HIV  
2. Vai trò của nhân viên xã hội trong trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS  
2.1. Vai trò là nhà tham vấn  
12  
12  
12  
13  
13  
13  
14  
15  
15  
15  
15  
15  
15  
16  
16  
16  
16  
17  
19  
19  
2.2. Vai trò là người biện hộ  
2.3. Vai trò là người vận động chính sách  
2.4. Vai trò là người kết nối, chuyển tuyến  
2.5. Vai trò là người tạo sự thay đổi  
2.6. Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp  
IV. Nguyên tắc làm việc của nhân viên xã hội với người sống chung với HIV/AIDS  
1. Chấp nhận đối tượng  
2. Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp  
3. Bảo mật các thông tin về trường hợp của đối tượng  
4. Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng  
5. Không định kiến, không phán xet hay lên án  
6. Tự ý thức về bản thân  
7. Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp  
V. Luật pháp, chính sách và các chương trình hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS  
1. Luật pháp trong phòng chống HIV/AIDS  
2. Một số văn bản chính sách liên quan tới HIV/AIDS  
3. Một số chương trình, dịch vụ trợ giúp người nhiễm HIV/AIDS  
BÀI 2: KỲ THỊ, PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
VÀ HOẠT ĐỘNG GIẢM KỲ THỊ, PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ  
I. Kỳ thị và phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS  
1. Khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử người sống chung với HIV/AIDS  
2. Thái độ và hành vi thể hiện sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS  
2.1 Tại gia đình và cộng đồng  
22  
22  
22  
23  
23  
23  
23  
2.2 Tại nơi làm việc  
2.3 Tại các cơ sở y tế  
4
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
2.4 Tự kỳ thị của người sống chung với HIV/AIDS  
24  
3. Nguyên nhân của sự kỳ thị và phân biệt đối xử người người sống chung với HIV/AIDS  
3.1 Do bản chất tự nhiên của bệnh HIV/AIDS  
25  
25  
25  
25  
26  
26  
27  
28  
28  
28  
29  
3.2 Do thiếu hiểu biết về HIV/AIDS  
3.3 Do truyền thông không chính xác về HIV/AIDS  
3.4 Bất bình đẳng về giới cũng góp phần làm gia tăng lây nhiễm HIV.  
3.5 Do những chính sách hay quy định chưa hợp lý  
4. Hậu quả của sự kỳ thị  
II. Một số hoạt động can thiệp giảm kỳ thị với người sống chung với HIV/AIDS  
1. Tham vấn hỗ trợ giảm tự kỳ thị cho người nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ  
2. Tổ chức các hoạt động nhóm  
3. Truyền thông giảm kỳ thị với người sống chung với HIV/AIDS trong cộng đồng  
BÀI 3: HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE THỂ CHẤT CHO NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
I. Vấn đề sức khỏe thể chất của người sống chung với HIV/AIDS  
34  
34  
II. Những hoạt động trợ giúp tăng cường sức khỏe thể chất của người nhiễm HIV tại cộng đồng 35  
1. Hướng dẫn chung trong chăm sóc người sống chung với HIV/AIDS tại cộng đồng, tại gia đình  
2. Giúp người sống chung với HIV/AIDS tuân thủ điều trị  
3. Hỗ trợ chăm sóc một số triệu chứng nhiễm trùng  
4. Chăm sóc về dinh dưỡng cho người nhiễm HIV/AIDS  
4.1 Các chất dinh dưỡng  
35  
35  
38  
40  
40  
41  
4.2 An toàn vệ sinh thực phẩm  
BÀI 4: VẤN ĐỀ TÂM LÝ VÀ THAM VẤN TÂM LÝ CHO NGƯỜI CÓ HIV/AIDS  
I. Một số vấn đề tâm lý của người sống chung với HIV/AIDS  
II. Hoạt động trợ giúp tâm lý cho người sống chung với HIV  
1. Tham vấn xet nghiệm cho người nhiễm HIV  
44  
44  
45  
45  
45  
46  
47  
47  
49  
1.1. Tham vấn trước khi xet nghiệm  
1.2. Tham vấn sau khi xet nghiệm  
2. Khủng hoảng tâm lý và hỗ trợ tâm lý cho người sống chung với HIV khi bị khủng hoảng  
2.1 Đặc điểm của khủng hoảng tâm lý ở người sống chung với HIV  
2.2 Tham vấn tâm lý, trợ giúp người sống chung với HIV xử lý khủng hoảng  
BÀI 5: VẤN ĐỀ VIỆC LÀM VÀ HỖ TRỢ SINH KẾ CHO NGƯỜI CÓ HIV  
52  
52  
53  
53  
54  
I.  
Vấn đề việc làm của người sống chung với HIV  
II. Những can thiệp trợ giúp sinh kế cho người sống chung với HIV  
1. Hỗ trợ sinh kế cho người sống chung với HIV  
2. Biện hộ để được bố trí việc làm  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
57  
5
BÀI  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ  
HIV/AIDS VÀ VAI TRÒ CỦA  
NHÂN VIÊN XÃ HỘI TRONG  
TRỢ GIÚP NGƯỜI SỐNG  
CHUNG VỚI HIV/AIDS  
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HIV/AIDS  
1. Khái niệm HIV/ AIDS  
HIV là gì và người sống chung với HIV?  
- HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus”  
- HIV là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng  
chống lại các tác nhân gây bệnh.  
- Người sống chung với HIV: người mang HIV trong máu thường được gọi là người  
nhiễm HIV hay còn được gọi là người sống chung với HIV hay người có HIV.  
Trong tài liệu này xin được dùng là người sống chung với HIV.  
Cơ chế xâm nhập và gây bệnh của HIV trong cơ thể người  
Khi vi rút HIV xâm nhập cơ thể con người, nó sẽ tấn công, làm suy yếu các bạch cầu,  
tế bào CD4 – là những tế bào có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể trước những tác nhân gây  
bệnh cho cơ thể. Điều này khiến cho hệ miễn dịch của cơ thể bị suy giảm và mất  
dần khả năng chống chọi lại với những nguy cơ như nhiễm trùng, cảm cúm... và  
những bệnh lây nhiễm khác vào cơ thể của người có HIV.  
6
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
AIDS là gì?  
- AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency Syndrome”  
- AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch của cơ thể do HIV gây ra, thường được biểu hiện  
qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư... và có thể dẫn đến tử vong. HIV phá huỷ các  
tế bào của hệ miễn dịch trong cơ thể khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các  
virus, vi khuẩn và nấm gây bệnh.  
- AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV.  
Tuy nhiên, mỗi người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tuỳ theo loại bệnh  
nhiễm trùng cơ hội mà người đó mắc phải và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi người.  
2. Con đường lây truyền HIV  
HIV lây nhiễm qua 3 đường chính như sau:  
• Lây truyền qua đường máu  
HIV có nhiều trong máu toàn phần cũng như trong các thành phần của máu như hồng cầu,  
tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. Do đó HIV có thể lây truyền qua máu và các  
chế phẩm của máu có chứa HIV.  
Ví dụ như:  
- Qua nhận máu, sản phẩm của máu hoặc cấy ghep cơ quan, phủ tạng, nhận tinh dịch  
của người nhiễm HIV.  
- Qua các dụng cụ xuyên trích qua da có dính máu chứa HIV như bơm kim tiêm, (nhất  
là trong tiêm chích ma túy), kim châm cứu, dao, keo, kìm dùng trong thủ thuật chữa  
bệnh và sửa sắc đep.v.v. bị dính máu có HIV. Khi dùng chung bơm, kim chích không  
khử trùng thì HIV sẽ lây truyền từ người này sang người khác bởi HIV có thể sống trong  
máu ở kim tiêm đến 7 ngày.  
- Dùng chung ống thuốc gây nghiện cũng có thể bị lây nhiễm, bởi máu dính ở bơm, kim  
tiêm có thể “chui”vào ống thuốc sau mỗi lần lấy thuốc.  
- Dùng chung các loại kim xăm trổ, kim châm cứu, các dụng cụ xăm mi, xăm mày, lưỡi  
dao cạo râu...;  
- Dùng chung hoặc dùng khi chưa được tiệt trùng đúng cách các dụng cụ phẫu thuật,  
dụng cụ khám chữa bệnh... có xuyên cắt qua da.  
- Lây truyền qua các vật dụng có thể dính máu của người khác trong các trường hợp như  
dùng chung bàn chải đánh răng, khăn mùi xoa...  
- Lây truyền qua các tiếp xúc trực tiếp với máu khác, như bị dính máu của người sống  
chung với HIV vào nơi có các vết thương hở hoặc da xây sát hoặc niêm mạc...  
• Lây truyền qua đường tình dục  
Đường tình dục là một trong 3 con đường chính lây truyền HIV và được coi là phương thức  
lây truyền HIV quan trọng và phổ biến nhất. Khoảng 70-80% tổng số người sống chung với  
HIV trên thế giới là bị lây nhiễm qua con đường này.  
7
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
Sự lây truyền HIV qua đường tình dục xảy ra khi các dịch thể (máu, dịch sinh dục)  
nhiễm HIV xâm nhập vào cơ thể người không nhiễm HIV. HIV có thể xâm nhập vào cơ  
thể bạn tình qua niêm mạc trong các hốc tự nhiên của âm đạo, niệu đạo ở đầu dương  
vật, trực tràng, thậm chí các lỗ rất nhỏ trong niêm mạc mắt và cuống họng.  
Do HIV có nhiều trong dịch sinh dục (tinh dịch của nam và dịch tiết âm đạo của nữ)  
với đủ lượng có thể làm lây truyền từ người này sang người khác.  
Ngoài ra, trong quan hệ tình dục HIV còn có thể lây truyền qua đường máu. khi người  
kia có kinh nguyệt, hay máu từ các vết thương hoặc vết loet ở cơ quan sinh dục hay  
từ các vết xước do động tác giao hợp gây ra.  
Tuy nhiên, mức độ nguy cơ là khác nhau, xếp theo thứ tự các “kiểu” quan hệ tình  
dục có xâm nhập phổ biến thì nguy cơ từ cao đến thấp là: Qua đường hậu môn, qua  
đường âm đạo và cuối cùng là qua đường miệng.  
Người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục dễ bị lây nhiễm HIV qua quan  
hệ tình dục hơn. HIV có quan hệ chặt chẽ với các bệnh lây truyền qua đường tình  
dục đặc biệt là các bệnh gây viêm loet bộ phận sinh dục như hạ cam, giang mai. Khi  
một người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục có vết loet ở bộ phận sinh dục  
thì nguy cơ nhiễm HIV khi quan hệ tình dục với người nhiễm sẽ tăng lên từ 50- 300  
lần. Những vết loet đường sinh dục cho phep HIV xâm nhập vào máu. Một số bệnh  
LTQĐTD như herpes simplex, giang mai... làm giảm khả năng miễn dịch và cũng có  
thể làm tăng tính cảm nhiễm với HIV. Dịch tiết từ các vết loet sinh dục cũng chứa  
nhiều các tế bào bị nhiễm HIV...  
• Lây truyền từ mẹ sang con  
Trước hết cần khẳng định rằng HIV lây truyền từ me sang con không có nghĩa là bệnh  
di truyền. Phụ nữ nhiễm virus HIV nếu sinh con sẽ có khả năng khoảng 30% là con  
nhiễm HIV theo me, trong các trường hợp sau:  
+ Khi mang thai: HIV từ máu của me nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể thai nhi.  
+ Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của me xâm nhập vào trẻ khi  
sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da sây sát của trẻ trong quá trình  
đẻ). Khi sinh HIV cũng có thể từ trong máu me thông qua các vết loet ở cơ quan  
sinh dục me dính vào cơ thể (niêm mạc) của trẻ sơ sinh.  
+ Khi cho con bú: HIV có thể lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm vú người me,  
nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng hoặc khi trẻ mọc răng cắn  
núm vú chảy máu.  
Tuy nhiên, nếu người me được dự phòng kịp thời và đầy đủ thì sẽ giảm nguy cơ  
xuống dưới 5%. Bà me phát hiện sớm, sẽ được các bác sĩ chỉ định phác đồ điều trị cho  
me bắt đầu từ tuần thứ 28. Đến lúc sinh, cũng sẽ được chỉ định thêm thuốc để phòng  
tránh. Tùy thuộc vào thời điểm xác định HIV dương tính vào giai đoạn mấy của thai  
kỳ mà có các chỉ định dự phòng khác.  
Người me biết mình bị nhiễm HIV, bên cạnh việc được chăm sóc thai nghen như bao  
bà me khác thì còn được chăm sóc và điều trị thích hợp về HIV/AIDS. Ngay những tuần  
đầu của thai kỳ, người me sẽ được tư vấn nhiều hơn về vấn đề dinh dưỡng, xet tiêu  
8
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
chuẩn điều trị ARV từ tuần thai thứ 14 và nếu không đủ điều kiện để điều trị ARV,  
người me sẽ được uống thuốc dự phòng lây truyền cho con từ tuần thai thứ 28.  
Những đường không làm lây truyền HIV:  
HIV không lây qua các tiếp xúc thông thường, như:  
- Các hành vi giao tiếp thông thường;  
- Ho, hắt hơi, nước bọt, nước mắt, mồ hôi;  
- Cùng làm việc, cùng học, ở cùng nhà, cùng ngồi trên phương tiện giao thông,  
cùng đi chợ, ngồi trong rạp hát, rạp chiếu bóng...;  
- Dùng chung nhà vệ sinh, buồng tắm, bể bơi công cộng...;  
- Muỗi và các côn trùng khác đốt không làm lây nhiễm HIV...;  
- HIV là một virus yếu, nó có thể tồn tại rất lâu trong cơ thể nhưng khi ra môi  
trường bên ngoài HIV rất dễ bị tiêu diệt bởi các tác nhân lý hóa:  
+ Trong các chất dịch lỏng, nó dễ bị phá hủy ở 56 độ C trong 20 phút  
+ Trong các chế phẩm đông khô, HIV bị tiêu diệt ở 68 độ C trong 2 giờ  
+ HIV bị tiêu diệt khi ở trong dung dịch chloramin 0,5%, hoặc nước javen sau 20  
phút hoặc đun sôi 20 phút  
+ Trong nhiệt độ phòng ( khoảng 2 độ C) và trong máu khô HIV có thể sống được  
khoảng 1 tuần. Tuy nhiên các tia cực tím và tia gamma ít có tác dụng trên HIV  
Như vậy, chúng ta có thể sống, làm việc, học tập... chung với người sống chung với HIV  
mà không sợ bị lây nhiễm HIV nếu ta không có sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch sinh  
dục và các dịch sinh học khác của họ.  
3. Các giai đoạn phát triển HIV  
- Giai đoꢀn cꢁp tꢂnh ( còn được gọi là Giai đoꢀn” cửa sổ”)  
+ Biểu hiện: Đa số người nhiễm HIV trong giai đoạn đầu thường không có biểu  
hiện ra bên ngoài nên khó nhận biết được, thậm chí kể cả bác sĩ khám bệnh  
tổng quát. Một số trường hợp khi mới nhiễm HIV có thể sốt, nổi hạch, nổi ban  
đỏ trong 8 đến 10 ngày rồi trở lại bình thường rất giống với các bệnh cảm cúm  
thông thường.  
+ Giai đoạn này trong máu chưa có kháng thể kháng virus HIV nên kết quả xet  
nghiệm thường âm tính. Do vậy, sự lây lan thường diễn ra trong giai đoạn này  
nhiều nhất vì người nhiễm HIV không biết để đề phòng lây nhiễm cho người  
khác.  
+ Thời gian: Vài tuần có khi đến 6 tháng.  
- Giai đoꢀn không triꢃu chꢄng  
+ Triệu chứng: Người bệnh không có biểu hiện các dấu hiệu lâm sàng  
+ Người nhiễm HIV đã có kháng thể kháng virus HIV trong máu và kết quả xet  
nghiệm là dương tính  
9
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
+ Thời gian: Keo dài trong vài năm đến trên 10 năm  
+ Người nhiễm HIV vẫn lao động và sinh hoạt bình thường  
+ Nếu không điều trị, bệnh sẽ keo dài thời gian và chuyển thành AIDS.  
- Giai đoꢀn AIDS  
Là giai đoạn cuối của nhiễm HIV. Khi người sống chung với HIV không điều trị HIV  
và tiếp tục có hành vi nguy cơ (như dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích, tiếp  
tục quan hệ tình dục không an toàn với nhiều người...) nên hệ thống miễn dịch của  
cá nhân bị suy yếu nhanh chóng và họ có nhiều triệu chứng bệnh khác nhau. Người  
nhiễm HIV khi chuyển sang giai đoạn AIDS có ít nhất 02 triệu chứng chính cộng 01 triệu  
chứng phụ trong các nhóm triệu chứng sau.  
Nhóm triệu chứng chính:  
- Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể.  
- Tiêu chảy keo dài trên 1 tháng.  
- Sốt keo dài trên 1 tháng.  
Nhóm triệu chứng phụ:  
- Ho dai dẳng trên một tháng.  
- Nhiễm nấm Candida ở hầu họng.  
- Ban đỏ, ngứa da toàn thân.  
- Herpes (Nổi mụn rộp), Zona (Giời leo) tái phát.  
- Nổi hạch ở nhiều nơi trên cơ thể...  
Lưu ý:  
- Nhiễm HIV không có nghĩa là sẽ bị AIDS. Từ khi nhiễm HIV cho đến khi chuyển  
thành AIDS là một khoảng thời gian dài trong nhiều năm. Trong thời gian đó  
người nhiễm vẫn sống khoẻ mạnh và làm việc bình thường để sinh sống.  
- Khi cơ thể bị nhiễm HIV sẽ có 3 xu hướng phát triển:  
+ Hoặc người đó mang virus HIV keo dài khoảng 10 năm hoặc lâu hơn mà vẫn khoẻ  
mạnh và làm việc bình thường nếu người đó thay đổi hành vi, thực hiện chế độ  
dinh dưỡng và ren luyện thân thể tốt  
+ Hoặc sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 5-7 năm nếu để cho HIV diễn biến tự  
nhiên trong cơ thể  
+ Giai đoạn AIDS này có thể keo dài vài tháng đến một năm, tuỳ thuộc vào sức  
đề kháng của người bệnh, tế bào bạch cầu và tải lượng của virus, thuốc điều trị  
nhiễm trùng cơ hội.  
+ Giai đoạn này không lây qua chăm sóc nếu sử dụng đúng các dụng cụ bảo hộ.  
10  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
II. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN DỊCH HIV/AIDS TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM  
1. Trên thế giới  
Trường hợp mắc hội chứng suy giảm miễn dịch đầu tiên được phát hiện tại Los-  
Angeles, bang California - Mỹ vào tháng 6 năm 1981. Sau đó, nhiều bệnh nhân tương  
tự được phát hiện ở Haiiti và Châu Mỹ La-tinh trên quần thể những người đồng tính  
và những người nghiện chích ma tuý song vẫn chưa phát hiện được nguyên nhân.  
Hai năm sau (1983), đã có những nghiên cứu tìm thấy đích tấn công cơ bản của HIV  
là tế bào CD4. Đến năm 1985, kỹ thuật chẩn đoán được sử dụng rộng rãi và người ta  
phát hiện ra HIV đã lan rất nhanh trên phạm vi toàn cầu. Sau 30 năm, AIDS trở thành  
một trong những căn bệnh nguy hiểm, nhiều nhất là Châu Phi cận Sahara, Châu  
Mỹ La tinh và vùng Caribê. và HIV/AIDS đứng thứ 4 trong số những căn bệnh gây  
tử vong cao. Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất là ở châu Phi rồi tới Châu Á Thái Bình Dương.  
Nhưng từ năm 2011, một số nơi có tỉ lệ nhiễm mới HIV giảm mạnh, nhất là các nước  
cận sa mạc Sahara Châu phi là khu vực từng bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Tuy nhiên  
tỉ lệ nhiễm HIV lại tăng tại một số khu vực khác trên thế giới như Australia, Đông Âu  
và Trung Á.  
2. Tại Việt Nam  
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt nam được phát hiện vào tháng 12 năm 1990  
tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dịch HIV/AIDS đã bắt đầu bùng nổ từ năm 1993 trong  
nhóm những người nghiện tiêm chích ma tuý tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến cuối  
tháng 12/1998 toàn bộ 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước đều  
được phát hiện có người nhiễm HIV.  
Phần lớn những tỉnh, thành có số người xet nghiệm HIV dương tính cao là các tỉnh  
thành phố lớn và các tỉnh như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Điện Biên, Thái  
Nguyên, Hải Phòng, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Phú  
Thọ...  
Tính đến ngày 30/9/2014, toàn quốc hiện có 224.223 trường hợp báo cáo hiện  
nhiễm HIV (trong đó số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 69.617) và tính  
từ đầu vụ dịch HIV/AIDS đến nay có 70.734 trường hợp người sống chung với HIV/  
AIDS tử vong. Hiện đã có 80,3% số xã, phường, thị trấn và 98,9% số quận, huyện của  
63/63 tỉnh thành trên cả nước đã có người sống chung với HIV. Dịch HIV ở Việt Nam  
bao gồm nhiều hình thái dịch khác nhau và tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể  
có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV cao như: người nghiện chích ma túy, nam quan hệ  
tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm. Trong thời gian gần đây, bạn tình của người  
nghiện chích ma túy được coi là quần thể có nguy cơ cao mới, được bổ sung vào  
các can thiệp dự phòng.  
Phân bố người sống chung với HIV theo giới trong quý 1 năm 2014 ở nam giới  
chiếm 67,6%, nữ giới chiếm 32,4%, So với các năm trước đó, tỷ trọng người sống  
chung với HIV ở nữ giới ngày càng nhiều. Việc gia tăng các trường hợp phụ nữ  
nhiễm HIV mới được báo cáo phản ánh sự lây truyền HIV từ nam giới có hành vi  
nguy cơ cao sang bạn tình.  
Tỉ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy giảm dần trong giai đoạn từ  
năm 2004 đến 2013. Trong những năm gần đây, lây nhiễm HIV trong nhóm đồng  
tính nam ngày càng được ghi nhận rõ hơn. Số lượng các nghiên cứu và giám sát về  
11  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
hành vi trong nhóm đồng tính nam ngày càng tăng. Phân bố người sống chung với  
HIV năm 2014 vẫn tập trung ở nhóm tuổi tử 20 – 39 tuổi chiếm đại đa số số người  
sống chung với HIV.  
III. NHữNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS VÀ  
VAI TRÒ TRỢ GIÚP CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI  
1. Những vấn đề thường gặp phải của người sống chung với HIV  
Người sống chung với HIV thường gặp phải khá nhiều vấn đề trong cuộc sống của họ.  
- Trước hết đó là sự khủng hoảng về tâm lý khi họ biết mình nhiễm HIV và nhưng  
biến đổi tâm lý theo chiều hướng tiêu cực bị keo theo.  
- Sức khỏe của họ bị giảm sút mạnh nếu không được điều trị.  
- Họ bị kỳ thị rất nhiều tại gia đình, nơi làm việc và trong môi trường công cộng, và  
những người thân đặc biệt như con cái của họ cũng bị kỳ thị dẫn đến không ít trẻ  
có bố me nhiễm HIV không được đi học.  
- Bởi sức khỏe suy giảm, sự kỳ thị lớn nên họ khó hay không kiếm được việc làm,  
thu nhập giảm.  
- Vai trò vị thế và sự hòa nhập cộng đồng của họ bị giảm sút.  
Những nội dung chi tiết sẽ được trình bày trong các bài tiếp theo.  
2. Vai trò của nhân viên xã hội trong trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS  
Người sống chung với HIV/AIDS thường bị suy giảm các chức năng như lao động,  
việc làm, hòa nhập xã hội, sức khỏe… Do vậy nhân viên xã hội (NVXH) trong quá trình  
trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS nghĩa là giúp họ phục hồi các chức năng bị  
suy giảm do nhiễm HIV qua các hoạt động cụ thể như:  
2.1. Vai trò là nhà tham vꢁn  
Tham vấn người sống chung với HIV/AIDS là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó  
nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để  
thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với người sống chung với HIV/AIDS hoặc  
gia đình họ nhằm giúp cá nhân và gia đình người sống chung với HIV/AIDS thay đổi  
cảm xúc, suy nghĩ, hành vi và sống tích cực, giảm nguy cơ lây nhiễm cho bản thân và  
những người xung quanh. Đối tượng cần được tham vấn có thể là:  
- Bản thân cá nhân người sống chung với HIV/AIDS: Bao gồm cả trẻ em và người lớn  
- Người thân trong gia đình: Bố, me, vợ chồng, con cái  
- Người bảo trợ, người chăm sóc…  
2.2. Vai trò là người biꢃn hộ  
Với người sống chung với HIV và gia đình họ, biện hộ là việc người cán bộ giúp đưa  
ra tiếng nói, quan điểm nhằm đảm bảo quyền lợi của người sống chung với HIV. Ví  
dụ biện hộ giúp người sống chung với HIV được tham gia vào các hoạt động kinh tế,  
biện hộ giúp người sống chung với HIV/AIDS được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế,  
khuyến khích họ tham gia phát biểu ý kiến; tạo cơ hội để họ có thể phát biểu ý kiến;  
12  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
Bất cứ khi nào có thể khuyến khích họ tự nói lên những điều họ muốn đáp ứng nhu  
cầu phù hợp của mình là được hưởng chế độ chăm sóc sức khoẻ.  
Như vậy, biện hộ trong quá trình giúp đỡ người sống chung với HIV/AIDS và gia  
đình là hành động mà trực tiếp đại diện, bảo vệ, can thiệp, ủng hộ và đề xuất cho  
quyền, lợi ích cá nhân người sống chung với HIV/AIDS và gia đình của họ nhằm  
hướng tới sự công bằng xã hội.  
Biện hộ giúp nhóm người yếu thế lấy lại được những quyền chính đáng mà họ  
không được hưởng. Nhóm người sống chung với HIV/AIDS đôi khi bị xã hội hoặc  
thậm chí bị chính một số người thân trong gia đình tước mất những quyền cơ bản  
của con người vì lý do kỳ thị, ví dụ không cho ăn chung mâm cơm, không cho cùng  
sinh hoạt gia đình, không cho con chơi cùng với con của người sống chung với HIV/  
AIDS, không nói chuyện cùng người sống chung với HIV/AIDS và người thân của  
người sống chung với HIV/AIDS, trẻ là con của người sống chung với HIV/AIDS thì  
không được nhà trường đồng ý vào học… Trước những bất công của xã hội, những  
nhóm người này yếu thế có rất ít hoặc không có khả năng tự bảo vệ bản thân. Lý  
do vì họ không hiểu biết pháp luật và cũng không có vị trí xã hội. Vì thế nhiệm vụ  
của nhân viên xã hội cần phải thay những người này nói lên tiếng nói của họ, giúp  
những nhóm người này tìm lại được những quyền mà họ bị đánh mất.  
2.3. Vai trò là người vận động chꢂnh sách  
Hiểu đơn giản, vận động chính sách là một loạt các hoạt động mà chúng ta dùng  
để tác động đến người khác. Đối với những người sống chung với HIV/AIDS, vận  
động là một hoạt động hay một nhóm các hoạt động được tiến hành nhằm tạo ảnh  
hưởng lên người có quyền thay đổi luật pháp hoặc chính sách có thể cải thiện cuộc  
sống của những người bị tác động bởi HIV/AIDS.  
Ví dụ: nhiều trẻ em nhiễm HIV không được đến trường vì bị kỳ thị, từ đó đặt ra một  
nhu cầu cấp thiết là cần phải vận động trường học, chính sách để cho trẻ nhiễm HIV  
cơ hội được đến trường như những trẻ em khác.  
2.4. Vai trò là người kết nối, chuyển tuyến  
NVXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách để giới thiệu cho  
đối tượng/người sống chung với HIV các nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá  
nhân, cơ quan/tổ chức để họ tiếp cận, trên cơ sở đó có thêm sức mạnh trong giải  
quyết vấn đề. Trong vai trò này, NVXH là người trợ giúp người sống chung với HIV  
tìm kiếm, giới thiệu cho người sống chung với HIV/AIDS nguồn lực bao gồm tài  
chính, chính sách, việc làm... để họ giải quyết vấn đề của cá nhân.  
Chẳng hạn, một người sống chung với HIV đồng thời lạm dụng chất gây nghiện và  
đang không có việc làm sẽ được giới thiệu tới các chương trình cai nghiện ma túy  
tự nguyện hoặc chương trình giảm tác hại bằng sử dụng Methadon và giới thiệu họ  
đến với dịch vụ giới thiệu việc làm…  
2.5. Vai trò là người tꢀo sự thay đổi  
NVXH được xem như là người tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, nhóm người sống  
chung với HIV cũng như cộng đồng của họ thay đổi suy nghĩ, hành vi tiêu cực như  
kỳ thị, tự kỳ thị đối với người sống chung với HIV, hay giúp người sống chung với HIV  
thay đổi cảm xúc tiêu cực khi biết mình nhiễm HIV.  
13  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
Ví dụ: Một người sống chung với HIV cho rằng bản thân đã mang trong máu virus đó  
thì không cần phải giữ gìn gì nữa. Nhiệm vụ của nhân viên xã hội trong giai đoạn này  
là cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác cho đối tượng, để họ hiểu được tác hại của  
việc tiếp tục duy trì hành vi lây nhiễm HIV. Khi được cung cấp thông tin, họ sẽ hiểu  
rằng việc sinh hoạt như vậy không chỉ nguy hiểm cho người khác mà chính sức khỏe  
của chính mình cũng bị ảnh hưởng.  
- Khi đối tương bắt đầu quan ngại, lo lắng, cân nhắc khả năng thay đổi thì Nhân  
viên xã hội tiếp tục cung cấp bổ sung thêm thông tin về kiến thức, kỹ năng cho  
đối tượng, giúp đối tượng hiểu những lợi ích của việc thay đổi hành vi, khuyến  
khích động viên đối tượng và nêu những gương tốt đã thực hiện chuyển đổi  
hành vi thành công  
- Khi họ cũng suy nghĩ, xem xet một cách nghiêm túc việc thay đổi hành vi trong  
thời gian tới và đưa ra dự định thay đổi hành vi, nhân viên xã hội tiếp tục cung  
cấp bổ sung các kiến thức, kỹ năng cho đối tượng, để đảm bảo rằng đối tượng  
đã hiểu đầy đủ, chính xác về HIV/AIDS, về tác hại, đường lây truyền HIV, các biện  
pháp dự phòng lây truyền HIV, nơi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ. Tiếp tục khuyến  
khích, động viên để đối tượng thay đổi  
- Khi đối tượng chủ động và có ý thức thực hiện những hành vi mới, họ sẽ đánh giá  
cả những thuận lợi, khó khăn của việc thực hiện hành vi mới, lúc này nhân viên xã  
hội giúp đối tượng duy trì những hành vi mới, bằng cách cung cấp các dịch vụ hỗ  
trợ, cung cấp các nguồn lực cần thiết, giúp đỡ đối tượng tháo gỡ và giải quyết các  
khó khăn gặp phải khi thực hiện hành vi mới. Đồng thời giúp đối tượng duy trì  
hành vi tích cực, những kết quả đã đạt được, hỗ trợ họ khi gặp khó khăn, khuyến  
khích họ chia sẻ kinh nghiệm cho người cùng cảnh ngộ.  
2.6. Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp  
Chăm sóc, hỗ trợ cho người sống chung với HIV/AIDS đóng vai trò quan trọng trong  
việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người sống chung với HIV/AIDS và góp phần  
giảm hậu quả do HIV/AIDS gây ra.  
Cuộc sống của nhiều người sống chung với HIV/AIDS gặp rất nhiều khó khăn, có  
thể nói đa phần người sống chung với HIV/AIDS không có nghề nghiệp hoặc nghề  
nghiệp không ổn định, họ thường đi làm ăn xa, làm những công việc nặng nhọc để  
kiếm tiền lo cho cuộc sống. Không chỉ có vậy mà những khó khăn về mặt tinh thần,  
khi bị nhiễm HIV tinh thần họ luôn luôn bị khủng hoảng, gia đình và xã hội cũng ít  
quan tâm tới người nhiễm, người nhiễm khó khăn về kinh tế nên họ cũng ít quan  
tâm đến sức khỏe của mình, họ làm những việc nặng nhọc nên cuối cùng sức khỏe  
bị suy giảm. Làm thế nào để có thêm nghị lực sống, trở thành người có ích cho xã hội  
là điều không dễ dàng. Chính vì vậy, người nhiễm rất cần sự hỗ trợ của người thân và  
cộng đồng. Trong đó, NVXH còn được xem như người kết nối và cung cấp các dịch vụ  
trợ giúp cho cá nhân, gia đình không có khả năng tự đáp ứng được các nhu cầu của  
mình và giải quyết vấn đề.  
14  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
IV. NGUyÊN TắC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN XÃ HỘI VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG  
VỚI HIV/AIDS  
1. Chấp nhận đối tượng  
Mỗi con người, dù là bình thường hay bất bình thường, họ đều có nhân phẩm, có  
giá trị riêng và có quyền được tôn trọng, bình đẳng. NVXH cần tôn trọng những cảm  
xúc, suy nghĩ của thân chủ. Họ có thể phê phán, đổ lỗi, quy gán và có những nhận  
định không hợp lý. Hãy xem đó là những điều bình thường bởi họ đang bức xúc,  
họ đang khủng hoảng với tình trạng của họ. Chẳng hạn khi một người phát hiện  
mình nhiễm HIV, họ có thể có suy nghĩ và hành vi tiêu cực là trả thù đời. Tuy nhiên  
không vì thế mà NVXH tỏ thái độ xa lánh, cho rằng họ là người xấu và không đáng  
được giúp đỡ, bỏ mặc họ trong hoàn cảnh khó khăn. Trái lại, với vai trò là người tạo  
sự thay đổi, NVXH cần giúp họ hiểu hành vi đó là không đúng và giúp họ thay đổi.  
Việc chấp nhận những hành vi, quan điểm hay giá trị của đối tượng không có nghĩa  
là đồng tình với những hành vi hay suy nghĩ của họ. Sự tôn trọng hay chấp nhận ở  
đây ám chỉ việc ghi nhận sự tồn tại và không phán xet hay lên án những hành vi,  
suy nghĩ của họ.  
2. Đảm bảo tính khác biệt của mỗi trường hợp  
Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh  
khác nhau, có tính cách khác nhau và những mong muốn, nguyện vọng không  
giống nhau. Việc cá biệt hóa trường hợp của đối tượng giúp NVXH đưa ra phương  
pháp giúp đỡ phù hợp với từng trường hợp cụ thể, đảm bảo lợi ích thiết thực cũng  
như đáp ứng đúng nhu cầu của đối tượng trên cơ sở đặc điểm, khả năng và nguồn  
lực mà họ có. Chẳng hạn hai người sống chung với HIV cùng lạm dụng ma túy,  
trong quá trình hỗ trợ họ, nhân viên xã hội cần tìm hiểu và căn cứ vào đặc điểm cá  
nhân và hoàn cảnh của từng người để cùng đối tượng lập kế hoạch giải quyết vấn  
đề phù hợp với từng cá nhân. Ví dụ một người có người thân có khả năng hỗ trợ thì  
có thể cai nghiện tại cộng đồng, còn người kia gia đình neo đơn và đã vài ba lần tự  
cai nghiện nhưng rồi lại tái nghiện thì có thể được kết nối để cai nghiện tại trung  
tâm 06.  
3. Bảo mật các thông tin về trường hợp của đối tượng  
Mọi thông tin của thân chủ/người sống chung với HIV/AIDS cần được giữ kín, không  
được tiết lộ trừ phi được người sống chung với HIV/AIDS đồng ý.  
Về khía cạnh pháp lý: Những tiết lộ thông tin của thân chủ mà không được sự đồng  
ý của họ sẽ bị xử lý theo pháp luật.  
Về khía cạnh tâm lý: Nếu tiết lộ thông tin của thân chủ mà không có sự chấp thuận  
của họ hay họ chưa sẵn sàng cho người thân được biết, việc đó sẽ làm cho họ không  
tin tưởng và không hợp tác tiếp tục trong quá trình trợ giúp.  
Về khía cạnh xã hội: Sẽ làm tăng sự kỳ thị xa lánh của cộng đồng, xã hội đối với họ  
và người thân của họ.  
4. Tôn trọng quyền tự quyết của đối tượng  
Hãy để họ tự quyết định trên cơ sở trao đổi, tìm hiểu thông tin chính xác và hợp lý  
được cung cấp từ nhà tham vấn và những nguồn thông tin khác. Nhà tham vấn chỉ  
15  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
giúp họ đưa ra được những quyết định đúng đắn. Ví dụ: Việc quyết định xet nghiệm  
hay không xet nghiệm là họ quyết định; cũng như việc nói ra với người thân là đã  
nhiễm HIV dương tính hay chưa nói ra, nói với ai... đều phụ thuộc vào sự tự quyết của  
chính họ.  
Đồng thời, họ có thể phê phán, đổ lỗi, quy gán và có những nhận định không hợp  
lý, thì hãy xem đó là những điều bình thường bởi họ đang bức xúc, họ đang khủng  
hoảng với tình trạng của họ.  
5. Không định kiến, không phán xet hay lên án  
Trong số những người sống chung với HIV/AIDS ở Việt Nam có nhiều người nghiện  
ma túy hoặc tham gia vào mại dâm. Nhiễm HIV lại là hệ quả của những hoạt động đó.  
Có nhiều nguyên nhân khiến một người đến với ma túy, đến một lúc nào đó họ bị lệ  
thuộc vào ma túy và không thể kiểm soát được hành vi khi lên cơn nghiện, họ có thể  
làm trái pháp luật, trộm cắp. Trong trường hợp đó họ phải chịu trách nhiệm về hành  
vi trái pháp luật của mình. Nhưng đồng thời họ lại là người bệnh, họ cần được điều  
trị và họ lại đang thiếu những điều kiện sống tối thiểu thì họ cũng cần được giúp đỡ.  
Vì vậy nếu định kiến có thể làm ảnh hưởng tới hành vi ứng xử của NVXH đối với họ.  
6. Tự ý thức về bản thân  
Tự nhận thức về bản thân của NVXH có nghĩa là NVXH cần nhận biết được trạng thái  
cảm xúc của cá nhân khi làm việc với thân chủ để kiểm soát được nó. NVXH cũng cần  
nhận thức được khả năng, trình độ của mình tới đâu để có thể tham gia can thiệp giải  
quyết vấn đề của thân chủ và chuyển tuyến khi cần thiết (khi bản thân không có đủ  
trình độ chuyên môn, khả năng trợ giúp thân chủ.  
Tự ý thức về bản thân giúp NVXH biết giới hạn về quyền lực của mình và có ý thức  
hoàn thiện bản thân để hoàn thành tốt công việc chuyên môn. Đồng thời việc nhận  
thức về bản thân của NVXH còn đảm bảo cho lợi ích cũng như quyền lợi của thân chủ  
(người sống chung với HIV/AIDS).  
7. Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp  
Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp có nghĩa là NVXH cần thực thi công việc, tương  
tác với thân chủ dựa trên nguyên tắc, yêu cầu chuyên môn. NVXH không lạm dụng  
vị thế của mình trong tương tác với thân chủ, cũng không biến mối quan hệ trợ giúp  
chuyên môn thành mối quan hệ tình cảm cá nhân và ngược lại.  
Công cụ chính trong các hoạt động hỗ trợ cho người sống chung với HIV/AIDS là mối  
quan hệ của NVXH với họ. Do đó, NVXH cần thể hiện sự tôn trọng quan điểm giá trị,  
nguyên tắc nghề nghiệp, khách quan và công bằng không lợi dụng vị thế của mình  
để thực hiện các mục đích cá nhân.  
V. LUậT PHÁP, CHíNH SÁCH VÀ CÁC CHƯƠNG TRìNH HỖ TRỢ NGƯỜI NHIễM  
HIV/AIDS  
Để trợ giúp người nhiễm HIV/AIDS giải quyết những vấn đề liên quan đến tình trạng  
HIV của họ, Việt Nam đã có những luật pháp, chính sách cụ thể can thiệp phòng  
chống HIV và trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS và gia đình của họ.  
16  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
Để có thể làm tốt công tác trợ giúp người sống chung với HIV/AIDS và gia đình của  
họ, nhân viên xã hội cần nắm vững các chính sách của Nhà nước mới có thể tham  
gia biện hộ bảo vệ người sống chung với HIV/AIDS và giới thiệu, cung cấp các dịch  
vụ nhằm trợ giúp nhóm đối tượng này có hiệu quả.  
1. Luật pháp trong phòng chống HIV/AIDS  
- Luật phòng chống nhiễm virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải  
ở người (HIV/AIDS) số 64/2006/QH11 ngày 29/6/2006, có hiệu lực từ ngày  
1/1/2007 (sau đây gọi là Luật phòng, chống HIV/AIDS). Luật qui định các biện  
pháp phòng chống HIV/AIDS; chăm sóc, điều trị, hỗ trợ người sống chung với  
HIV/AIDS và các điều kiện đảm bảo thực hiện phòng chống HIV. Cụ thể:  
+ Quyền của người sống chung với HIV/AIDS  
Người nhiễm vẫn có quyền và nghĩa vụ. Thực hiện tốt quyền đối với người nhiễm sẽ  
giúp họ sống có ích hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống.  
Chống phân biệt đối xử với người sống chung với HIV/AIDS là trách nhiệm toàn thể  
cộng đồng và bản thân người sống chung với HIV/AIDS. Xác định được quyền và  
nghĩa vụ của người sống chung với HIV/AIDS sẽ từng bước tháo gỡ được rào cản  
của sự kỳ thị, xa lánh và phân biệt đối xử.  
Theo qui định của pháp luật hiện hành, những người bị nhiễm HIV/AIDS có đầy đủ  
các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Theo Luật phòng chống HIV/AIDS  
và Nghị định số 108/CP ngày 01/06/1996 của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật,  
người bị nhiễm HIV/AIDS có các quyền và nghĩa vụ như sau:  
Quyền được khám chữa bệnh:  
Đây là một quyền rất quan trọng và cần thiết. Điều 28, khoản3 qui định:“Thầy thuốc  
và nhân viên y tế có trách nhiệm chăm sóc bệnh nhân AIDS… Người bị nhiễm HIV/  
AIDS mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội thuộc chuyên khoa nào thì được cứu chữa  
tại chuyên khoa đó hoặc tại chuyên khoa riêng”. Về vấn đề này, Điều 7, Nghị định  
108/2007/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:“Người bị nhiễm HIV/AIDS khi mắc bệnh  
nhiễm trùng xảy ra nhân cơ hội cơ thể bị suy giảm miễn dịch, được điều trị tại các cơ  
sở y tế của Nhà nước. Các cơ sở Y tế của Nhà nước có trách nhiệm nhận người bệnh  
AIDS vào điều trị, không được từ chối hoặc phân biệt đối xử với bất kỳ trường hợp  
nào”. Điều 13, khoản 3 còn quy định “Mọi người trong gia đình của người bị nhiễm  
HIV/AIDS có trách nhiệm cùng xã hội chăm sóc sức khỏe, động viên tinh thần người  
bị nhiễm HIV/AIDS để họ được hòa nhập trọng gia đình và cộng đồng”.  
Quyền được giữ bí mật:  
Đây cũng là một quyền quan trọng đối với người bị nhiễm HIV/AIDS vì quyền này  
đảm bảo cho họ không bị xa lánh, phân biệt đối xử hoặc bị kỳ thị… Điều 30 quy định:  
“Cán bộ xet nghiệm và các cơ sở xet nghiệm của ngành y tế có trách nhiệm giữ bí  
mật tên, tuổi, địa chỉ của người đến xet nghiệm phát hiện nhiễm HIV/AIDS. Chỉ người  
có trách nhiệm của cơ sở y tế mới được quyền thông báo kết quả xet nghiệm của  
người bị nhiễm HIV/AIDS cho vợ, chồng hoặc người thân trong gia đình của người  
đó và cho cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc sức khỏe cho  
người sống chung với HIV/AIDS. Nghiêm cấm việc đưa thông tin công khai về tên,  
17  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
tuổi, địa chỉ, hình ảnh của người bị nhiễm HIV/AIDS, trừ trường hợp được sự đồng ý  
của người đó”.  
Quyền không bị phân biệt, đối xử:  
Quyền này được quy định tại điều 8 và điều 10: “Người bị nhiễm HIV/AIDS không bị  
phân biệt đối xử nhưng phải thực hiện các biện pháp phòng, chống lây truyền bệnh  
để bảo vệ sức khỏe cộng đồng theo quy định của pháp luật”. Nội dung quy định này  
thể hiện cụ thể nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.  
Quyền lao động:  
Quyền lao động là một trong những quyền cơ bản của con người. Người bị nhiễm  
HIV nhưng chưa đến giai đoạn AIDS vẫn còn khoẻ mạnh, do đó Luật không quy định  
hạn chế quyền lao động của người bị nhiễm HIV/AIDS. Theo quy định tại Điều 14 thì  
chủ sử dụng lao động có trách nhiệm bố trí, tạo điều kiện để người sống chung với  
HIV làm việc phù hợp và không được chấm dứt hợp đồng lao động cũng như từ chối  
nâng lương hay đề bạt, đồng thời người bị nhiễm HIV/AIDS không được làm việc  
trong một số ngành, nghề dễ lây truyền HIV/AIDS. Danh mục ngành, nghề này do Bộ  
Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế quy định.  
Quyền về quyết định xét nghiệm HIV/AIDS:  
Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt đã được Bộ Y tế qui định, bệnh viện không có  
quyền đòi hỏi bệnh nhân phải xet nghiệm HIV nếu họ không đồng ý làm điều đó  
vì theo quy định tại Điều 27 của việc xet nghiệm HIV phải dựa trên cơ sở tự nguyện:  
“Người tự nguyện xet nghiệm HIV phải từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân  
sự. Việc xet nghiệm HIV đối với người dưới 16 tuổi, người mất năng lực hành vi dân  
sự chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý bằng văn bản của cha, me hoặc người giám  
hộ của người đó”. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 28 qui định rằng:“Bộ trưởng Bộ Y tế quy  
định việc xet nghiệm HIV bắt buộc trong một số trường hợp cần thiết để chẩn đoán  
và điều trị cho người bệnh”.  
Quyền tự do đi lại:  
Điều 68, Hiến pháp năm 1992, quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú  
ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của  
pháp luật”. Trên cơ sở đó, pháp luật hiện hành về phòng, chống HIV/AIDS cũng không  
có quy định nào về hạn chế cư trú, đi lại đối với người bị nhiễm HIV/AIDS. Người bị  
nhiễm HIV/AIDS có quyền sống chung với gia đình, cộng đồng.  
+ Nghĩa vụ của người bị nhiễm HIV/AIDS:  
Cùng với việc quy định quyền của người nhiễm HIV/AIDS, tại Khoản 2 Điều 4 cũng  
quy định nghĩa vụ của người bị nhiễm HIV/AIDS: Người nhiễm HIV/AIDS phải thực  
hiện các biện pháp phòng, chống lây truyền bệnh để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.  
Người bị nhiễm HIV/AIDS không được có hành vi làm lây truyền bệnh cho người khác  
và phải thực hiện các biện pháp phòng tránh sự lan truyền bệnh cho gia đình và cộng  
đồng theo quy định và hướng dẫn của cơ quan y tế, không được cho máu, cho mô,  
cho tinh dịch, cơ quan hoặc một bộ phận cơ thể mình cho người khác.  
18  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
Một nghĩa vụ quan trọng khác của người sống chung với HIV/AIDS là: phải thông  
báo ngay cho vợ hoặc chồng mình biết tình trạng nhiễm HIV/AIDS để có biện pháp  
phòng, tránh lây truyền bệnh.  
2. Một số văn bản chính sách liên quan tới HIV/AIDS  
- Nghị định số 108/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống HIV/  
AIDS, cung cấp thông tin chi tiết về những điều khoản chính được ghi trong luật  
- Nghị định số 136 /2013/NĐ-CP, qui định các trường hợp nhiễm HIV được hưởng  
chính sách Bảo trợ XH  
- Luật BHYT số 25/2008/QH12, 14/11/2008 và các nghị định, thông tư hướng dẫn  
thực thi luật đã bổ sung người nhiễm HIV vào nhóm đối tượng được hưởng  
BHYT  
- Quyết định số 28/2008/QĐ-BYT, 14/8/2008, của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành qui  
chế báo cáo và biểu mẫu báo cáo hoạt động phòng chống HIV/AIDS  
- Quyết định số 1107/QĐ-TTg, 28/7/2009, của Thủ tướng Chính phủ về việc phê  
duyệt Đề án tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh,  
thành phố trực thuộc Trung ương giai đoạn 2010 – 2015  
- Nghị định số 76/2008/NĐ-CP, 4/7/2008 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành  
một số điều của Luật đặc xá, trong đó những phạm nhân được đặc xá đặc biệt  
bao gồm người sống chung với HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS đang có  
những nhiễm trùng cơ hội và có tiên lượng xấu, có phiếu xet nghiệm HIV và kết  
luận của trung tâm y tế cấp huyện trở lên.  
- Chỉ thị số 61/ 2008/CTBGĐT, 12/11/2008 của Bộ GD&ĐT về tăng cường công tác  
phòng, chống HIV/AIDS trong ngành giáo dục, yêu cầu các cơ sở giáo dục: tăng  
cường các Ban chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS; nâng cao chất lượng hoạt động  
giáo dục thường xuyên về dự phòng HIV, tập trung vào giảm kỳ thị và phân biệt  
đối xử, nâng cao kỹ năng dự phòng HIV trong học sinh, sinh viên.  
- Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg, 4/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt  
Kế hoạch hành động quốc gia vì Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS đến năm  
2010 và tầm nhìn 2020 đã đưa ra những mục tiêu và chỉ đạo cụ thể cho ứng phó  
quốc gia đối với công tác dự phòng, điều trị, chăm sóc và hỗ trợ trẻ em nhiễm  
HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.  
- Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định chính sách trợ  
giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội như: Trẻ em bị nhiễm HIV thuộc hộ  
ngheo; người bị nhiễm HIV thuộc hộ ngheo không còn khả năng lao động mà  
không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp ưu đãi người  
có công hàng tháng, trợ cấp hàng tháng khác.  
3. Một số chương trình, dịch vụ trợ giúp người nhiễm HIV/AIDS  
3.1 Chương trình thông tin giáo dục truyền thông  
Các hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông và truyền thông thay đổi hành vi  
đã được triển khai trên toàn quốc với sự tham gia của các bộ, ban ngành, đoàn thể,  
bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú. Tạp chí, báo in, tờ tin, panô, áp phích,  
khẩu hiệu và các tờ rơi về HIV/AIDS đã được phân phát cho các nhóm có hành vi  
nguy cơ cao cũng như người dân trong cộng đồng. Các hoạt động IEC/BCC được  
19  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS  
triển khai bao gồm đào tạo tập huấn, giáo dục đồng đẳng cho các nhóm có hành vi  
nguy cơ cao, tư vấn trực tiếp và qua đường dây nóng, các cuộc thi hiểu biết về HIV/  
AIDS, các buổi tọa đàm mang tính chất giáo dục, triển lãm ảnh và các câu chuyện về  
HIV/AIDS, các phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng  
dân cư”, mô hình câu lạc bộ B93..., các bài báo viết mang tính giáo dục, hướng dẫn  
thay đổi hành vi ngày một nhiều hơn trên các báo viết, báo điện tử, báo nói, báo hình,  
các phóng sự truyền hình, toạ đàm truyền hình và những bộ phim truyền tải nhiều  
thông điệp dự phòng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS với sự tham gia của người sống  
chung với HIV trong công tác phòng chống HIV/AIDS được phát sóng trên Đài truyền  
hình Trung ương và các Đài truyền hình địa phương.  
3.2 Chương trình can thiꢃp giảm tác hꢀi  
- Chương trình khuyến khích sử dụng bao cao su  
- Chương trình phân phát bơm kim tiêm  
- Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế  
Methadone (MMT).  
3.3 Chăm sóc và điều trị HIV/AIDS  
Một loạt các văn bản chính sách và pháp luật đã được tập trung xây dựng và ban  
hành nhằm đảm bảo cho quyền tiếp cận dịch vụ chăm sóc và điều trị của người sống  
chung với HIV/AIDS. Hệ thống các cơ sở điều trị HIV/AIDS đã được thiết lập từ Trung  
ương đến địa phương. Tùy thuộc vào tình hình dịch HIV/AIDS, nhiều tỉnh, thành phố  
đã có các mô hình chăm sóc và điều trị toàn diện, liên tục tại tuyến huyện. Với nỗ lực  
từ Chính phủ và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, số người sống chung với HIV được  
điều trị bằng thuốc ARV liên tục tăng.  
3.4 Chương trình Dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con  
Nhằm giảm tối đa tình trạng trẻ nhiễm HIV từ me đồng thời cải thiện chất lượng cuộc  
sống của phụ nữ mang thai nhiễm HIV, trong những năm qua Chính phủ đã xác định  
dự phòng lây truyền HIV từ me sang con là một trong những can thiệp ưu tiên trong  
chương trình phòng, chống HIV/AIDS.  
Các dịch vụ về dự phòng lây truyền HIV từ me sang con đang được cung cấp bao  
gồm:  
+ Tư vấn xet nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai  
+ Cung cấp thuốc ARV dự phòng lây truyền HIV từ me sang con  
+ Cung cấp sữa ăn thay thế sữa me  
+ Chuyển tiếp dịch vụ sau sinh: Chăm sóc và điều trị tiếp tục cho me nhiễm HIV,  
chăm sóc và theo dõi trẻ sinh từ me nhiễm HIV tại các cơ sở chăm sóc nhi khoa.  
3.5 Chương trình truyền máu an toàn  
Nâng cao chất lượng sàng lọc HIV các đơn vị máu và chế phẩm máu trước khi truyền,  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 57 trang baolam 23900 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Công tác xã hội với người sống chung với HIV/AIDS", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi_song_chung_voi_hivaids.pdf