Giá trị thẩm mỹ của từ láy trong truyện thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng

48  
CHUYÊN MỤC  
VĂN HỌC - NGÔN NGỮ HỌC - NGHIÊN CỨU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT  
GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA TỪ LÁY  
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI NGUYỄN HUY TƯỞNG  
LÊ NHẬT KÝ*  
Trong truyện viết cho thiếu nhi, Nguyễn Huy Tưởng sử dụng nhiều từ láy đôi,  
phù hợp với khả năng tiếp nhận của bạn đọc nhỏ tuổi. Dấu ấn sáng tạo của nhà  
văn được thể hiện qua việc kiến tạo một số từ láy tư, hoặc ở cách kết hợp với  
những từ ngữ khác. Từ láy làm cho nội dung miêu tả trở thành một lớp văn cơ  
bản trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng. Nhờ vậy, hiện thực đời sống lao  
động và chiến đấu của cha ông xưa đã được tái hiện một cách cụ thể, sinh động  
trong những câu văn giàu hình tượng và biểu cảm.  
Từ khóa: Nguyễn Huy Tưởng, từ láy, truyện thiếu nhi, miêu tả, biểu cảm  
Nhận bài ngày: 12/12/2018; đưa vào biên tập: 1/1/2019; phản biện: 5/3/2019; duyệt  
đăng: 31/7/2019  
1. ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG TỪ LÁY  
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI NGUYỄN  
HUY TƯỞNG  
miêu tả của mình để cho nó được  
hiển thị như những thước phim điện  
ảnh” (Lê Huy Anh, 2001: 304). Có thể  
nói, chủ đích miêu tả nói trên đã mở  
đường cho từ láy thâm nhập vào  
truyện thiếu nhi của tác giả một cách  
thường xuyên tạo nên phong cách  
truyện thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng.  
Qua từng sáng tác, nhà văn đã không  
ngừng phát huy tối đa nguồn lực từ  
lớp từ này, khiến cho tác phẩm trở  
nên dồi dào âm thanh, hình ảnh và  
ngôn từ tinh tế.  
Truyện viết cho thiếu nhi là một thành  
tựu quan trọng của Nguyễn Huy  
Tưởng (1912 - 1960). Với nhóm tác  
phẩm này, nhà văn mong muốn đem  
đến cho các em những trang viết hấp  
dẫn, cụ thể về lịch sử oai hùng của  
cha ông qua hàng ngàn năm dựng  
nước và giữ nước. Vì thế, ông “đã  
không tiếc công vận dụng khả năng  
Qua 10 truyện ngắn tiêu biểu của nhà  
văn Nguyễn Huy Tưởng (2013),  
* Trường Đại học Quy Nhơn.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (250) 2019  
49  
chúng tôi tổng hợp được tổng cộng đoàn quân áo vải hành quân thần tốc  
739 từ láy, 1.225 lượt dùng, cụ thể từ Phú Xuân ra Thăng Long cho đến  
như sau:  
các trận đánh ở Ngọc Hồi, Hạ Hồi…  
Theo đó, số lượng từ láy được khai  
thác nhiều nhất, gấp nhiều lần so với  
9 tác phẩm của ông đã được thống kê:  
303 từ láy, 357 lượt dùng.  
Số từ Số lượt  
TT  
Tác phẩm  
láy  
143  
82  
dùng  
161  
96  
1
2
3
4
5
6
Cô bé gan dạ  
Chiếc bánh chưng  
Truyện Tấm Cám  
Tìm mẹ  
Đặc điểm nổi bật của hệ thống từ láy  
trong truyện thiếu nhi Nguyễn Huy  
Tưởng là sự sáng rõ về ý nghĩa,  
không cầu kỳ về hình thức như vẫn  
thường gặp trong thơ văn dành cho  
các đối tượng độc giả khác. Đó là kết  
quả lựa chọn của Nguyễn Huy Tưởng  
từ nguồn từ vựng phổ biến sao cho  
vừa đạt được yêu cầu miêu tả, vừa  
phù hợp với đối tượng bạn đọc thiếu  
nhi.  
99  
114  
61  
49  
Thằng Quấy  
76  
87  
Con Cóc là cậu ông 69  
88  
Giời  
7
8
Con chim Trĩ lông  
trắng  
19  
86  
20  
An Dương Vương  
xây thành Ốc  
108  
9
Hai bàn tay chiến sĩ 116  
133  
357  
Dấu ấn sáng tạo của nhà văn được  
thể hiện ở cách điều phối, kết hợp từ  
ngữ với hai biểu hiện cơ bản sau đây:  
10  
Kể chuyện Quang  
303  
Trung  
Tổng cộng  
1.225  
- Thứ nhất, kết hợp từ láy với từ láy,  
kiểu như: hãi hùng ngùn ngụt, hoang  
mang khủng khiếp, hoan hô vui vẻ (Kể  
chuyện Quang Trung), nhẹ nhàng  
uyển chuyển (Chiếc bánh chưng), um  
tùm lạnh lẽo (An Dương Vương xây  
thành Ốc)… Trong trường hợp này,  
các từ láy được đặt cạnh nhau và  
không bị phân cách bởi dấu phẩy. Kết  
quả, chúng lập thành một tổ hợp ngôn  
ngữ “lâm thời” có dáng dấp của từ láy  
tư. Nguyễn Huy Tưởng đã thực hiện  
cách tổ hợp này tới 26 lần, làm gia  
tăng đáng kể khả năng miêu tả và  
biểu cảm của từ láy.  
Thống kê cho thấy, từ láy được dùng  
ở mỗi tác phẩm ít nhiều có khác nhau.  
Điều này tùy thuộc vào dung lượng  
hiện thực mà nhà văn mong muốn thể  
hiện. Ví như truyện Con chim Trĩ lông  
trắng, Nguyễn Huy Tưởng chỉ tập  
trung vào nội dung chuyện con chim  
Trĩ “nhớ nước đã bỏ cành tuyết của  
phương Bắc bay về phương Nam với  
nắng vàng rực rỡ”. Nội dung ngắn gọn,  
được diễn tả trong khoảng 800 chữ  
nên số lượng từ láy dùng khá khiêm  
tốn (19 từ, 20 lượt dùng). Trong khi đó,  
ở Kể chuyện Quang Trung, nhà văn  
huy động tới gần 14.000 chữ để tái - Thứ hai, kết hợp từ láy với một số từ  
hiện cả một cuộc chiến chống ngoại ngữ khác vốn ít gặp trong giao tiếp  
xâm phương Bắc, bắt đầu từ cảnh thường ngày cũng như trong sáng tác  
LÊ NHẬT KÝ – GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA TỪ LÁY TRONG TRUYỆN…  
50  
văn chương. Cụ thể như những trường dàng, mát mẻ, hiền lành” (Thằng  
hợp sau: nhai gau gáu (Cô bé gan dạ), Quấy);  
khóc nhếch nhác (Con Cóc là cậu ông  
Giời), đốt quẫy quẫy (Hai bàn tay  
chiến sĩ), đỏ ngàu ngàu, ướt luốt tuốt,  
chạy thang lang (Kể chuyện Quang  
Trung)…  
“Hai bàn tay bị đốt quẫy quẫy. Anh thít  
lên. Hai hàm răng anh nghiến lại. Thịt  
anh bắt đầu cháy xèo xèo, khét khét  
như mùi súc vật bị thui” (Hai bàn tay  
chiến sĩ);  
Những kết hợp có phần táo bạo ở trên  
không vi phạm quy chuẩn về sự trong  
sáng của tiếng Việt, tạo được ấn  
tượng mạnh cho người đọc về phương  
diện ngôn ngữ tác phẩm. Đó chính là  
sự sáng tạo ngôn ngữ của Nguyễn  
Huy Tưởng.  
“Nhưng dưới khe sâu, người bố kêu  
thê thảm: Chúa làng giết tôi rồi! Và lá  
rừng rì rào: Chúa làng giết người! Núi  
thì thầm: Chúa làng giết người! Khe  
sâu róc rách: Chúa làng giết người!”  
(Tìm mẹ).  
Miêu tả được Nguyễn Huy Tưởng  
thực hiện thường xuyên trong mọi tác  
phẩm viết cho thiếu nhi. Nhờ vậy,  
truyện thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng  
tạo được khoảng cách nghệ thuật  
cần thiết so với truyện kể dân gian  
vốn bị phương thức truyền miệng chi  
phối nên chấp nhận dừng lại ở mức  
độ trần thuật khái quát. Nói cách khác,  
truyện thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng  
được viết theo phong cách tự sự hiện  
đại, dành cho các độc giả có đủ khả  
năng tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm.  
Với những yếu tố ngoài cốt truyện,  
nhà văn, đặc biệt chú ý phát triển, gia  
2. GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA TỪ LÁY  
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI NGUYỄN  
HUY TƯỞNG  
2.1. Giá trị miêu tả  
Như đã nói, chú trọng miêu tả là  
phong cách nghệ thuật của nhà văn  
Nguyễn Huy Tưởng khi tái hiện thế  
giới cổ tích và lịch sử cho thiếu nhi.  
Xuất phát từ đặc điểm tiếp nhận của  
bạn đọc thiếu nhi, Nguyễn Huy Tưởng  
đã chọn lối văn miêu tả ngắn gọn, đủ  
để các em ghi nhớ về đặc điểm diện  
mạo và phẩm chất của đối tượng. Cố  
nhiên, nhà văn sẽ phải sử dụng nhiều  
loại từ khác nhau vào việc phục vụ tăng miêu tả thiên nhiên, miêu tả  
yêu cầu miêu tả. Riêng với từ láy, ngoại hình và đời sống tâm lý nhân  
không thể phủ nhận nó có ưu thế vượt  
trội khi giúp nhà văn chạm khắc đối  
tượng một cách sắc nét, hiệu quả.  
Không phải ngẫu nhiên mà trong  
truyện thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng,  
chúng ta bắt gặp nhiều câu, đoạn văn  
có mật độ từ láy dày đặc. Đơn cử:  
vật…  
Trong di sản truyện thiếu nhi của  
Nguyễn Huy Tưởng, có năm tác phẩm  
được ông sáng tác theo cách thức viết  
lại truyện cổ dân gian. Đó là các  
truyện: Chiếc bánh chưng, Tìm mẹ,  
Con Cóc là cậu ông Giời, Truyện Tấm  
Cám và An Dương Vương xây thành  
Ốc. Theo Nguyễn Thị Huế, truyện  
“Mặt Giăng đang đỏ rực như lửa,  
bỗng mờ mờ đi, sáng nhạt nhạt, dịu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (250) 2019  
51  
Nguyễn Huy Tưởng “được viết ra từ không có một giọt mưa nào. Khắp nơi  
nguồn truyện kể dân gian nhưng […]  
đã được ông đem thêm vào đó luồng  
không khí mới của văn chương và của  
tư tưởng thời đại, tạo nên những tác  
phẩm có sức hấp dẫn đối với mọi đối  
tượng bạn đọc” (Nguyễn Thị Huế  
2014). Làm nên “sức hấp dẫn” đó,  
không thể phủ nhận vai trò của các từ  
láy đã được Nguyễn Huy Tưởng sử  
dụng trong tác phẩm của mình.  
đất đai nứt nẻ, cây cỏ khát nước chết  
rụi, các con thú cũng chết dần chết  
mòn vì khát. Muôn loài đều kêu than  
ai oán, vậy mà trời đâu có thấu” (Viện  
Văn học 2007: 29), có thể thấy sự  
khác biệt về miêu tả là khá rõ. Cụ thể,  
cả đoạn văn từ láy chỉ được sử dụng  
một lần là “đất đai nứt nẻ” khi miêu tả  
về tình trạng hạn hán. Trong khi đó,  
đoạn văn của Nguyễn Huy Tưởng sử  
dụng các từ láy rừng rực, hạn hán,  
phừng phừng, nhảy nhót, nghễu  
nghện tới 9 lần, vừa theo phương  
thức lặp lại, vừa bố trí chúng vào các  
câu văn có quan hệ đối lập về ngữ  
nghĩa. Nghệ thuật điệp và đối như  
vậy đã mang lại hiệu quả miêu tả rõ  
rệt. Cảnh hạn hán và nỗi điêu đứng  
của muôn vật dưới ánh mặt trời qua  
ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng hiện ra  
thật khủng khiếp, đáng sợ!  
Lấy ví dụ truyện Con Cóc là cậu ông  
Giời. Trong truyện này, Nguyễn Huy  
Tưởng sử dụng tổng cộng 69 từ láy  
với 88 lượt dùng. Ngay từ đầu tác  
phẩm, dấu ấn miêu tả của ngòi bút  
Nguyễn Huy Tưởng bộc lộ rõ qua việc  
kể về cảnh hạn hán: “Ngày xửa ngày  
xưa, thuở ấy thế gian chưa có người,  
mới chỉ có cây cỏ, chim muông và các  
giống thú. Cây cỏ đang xanh, chim  
chóc đang bay lượn, ếch nhái đang  
nhảy nhót, thú dữ đang nghễu nghện  
đi từng đàn từng lũ, thì Giời ra tai một  
cơn hạn hán chưa từng có bao giờ.  
Cơn hạn hán ấy kéo hết tháng này  
đến tháng khác. Trên không, lúc nào  
cũng chỉ thấy mặt giời đỏ rực như cục  
than hồng, cháy rừng rực, rừng rực.  
Quả đất ngày cũng như đêm phừng  
phừng lửa. Ao chuôm sông ngòi bỗng  
cạn khô. Cây cỏ đang xanh bỗng  
cháy trụi. Ếch nhái đang nhảy nhót  
bỗng chết khô trong ao. Thú dữ đang  
nghễu nghện đi từng đàn từng lũ  
bỗng nằm lăn cả trong rừng trong  
núi”. Đối chiếu với đoạn văn tương tự  
Tương tự, khi khắc họa nhân vật Tấm  
(Truyện Tấm Cám), Nguyễn Huy  
Tưởng cũng sử dụng nhiều từ láy có  
tác dụng làm toát lên vẻ đẹp của một  
cô gái được sinh ra trong một gia đình  
có cha mẹ giàu lòng nhân ái: kháu  
khỉnh, dịu dàng, hồng hồng, chăm chỉ,  
ngoan ngoãn, thực thà, rực rỡ… Khi  
cha mẹ mất, Tấm phải sống cuộc đời  
đày đọa dưới bàn tay độc ác của mẹ  
con dì ghẻ, nhà văn lại huy động tới  
những từ láy khác phù hợp hơn để  
diễn tả: làm lụng, đánh đập, thảm thiết,  
phũ phàng, nức nở, rách rưới…  
Dường như mọi lớp truyện, mọi chi  
sau đây trong truyện kể dân gian Cóc tiết của truyện kể dân gian đều được  
Nguyễn Huy Tưởng tìm cách phát huy,  
kiện Trời: “Nhưng đã ba năm nay,  
LÊ NHẬT KÝ – GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA TỪ LÁY TRONG TRUYỆN…  
52  
phát triển bằng năng lực tưởng tượng Trong An Dương Vương xây thành Ốc,  
và vốn sống phong phú của bản thân  
nhà văn. Với sự ưu tiên như vậy nên  
so với cả một số cây bút hiện đại cùng  
khai thác đề tài truyện cổ, trung thành  
với lối viết trần thuật khái quát, thông  
tin ngắn gọn về nhân vật, sự việc thì  
Nguyễn Huy Tưởng vẫn có những  
khác biệt nhất định. Nguyễn Huy  
Tưởng chú tâm phát triển nhằm làm  
cho nội dung hiện thực được hiển thị  
chi tiết hơn, cụ thể hơn. Nhà văn  
Phong Thu có lý khi viết rằng: “Truyện  
kể miệng, có thể vắn tắt lướt qua.  
Nhưng truyện viết để đọc thì viết như  
Con Cóc là cậu ông Giời, giá trị văn  
học mới cao” (Phong Thu, 1999: 347).  
Nhận xét trên là về một tác phẩm cụ  
thể nhưng phù hợp với những trường  
hợp còn lại như An Dương Vương xây  
thành Ốc, Tìm mẹ, Chiếc bánh  
chưng…  
người đọc thật sự hứng khởi với đoạn  
văn tả nhà vua cùng thần Kim Quy trỏ  
thẳng kiếm đi diệt Kê tinh: “Nói xong,  
Kim Quy trỏ thẳng kiếm tiến lên phía  
trước. Lưỡi kiếm sáng như ánh giăng.  
An Dương Vương cũng trỏ thẳng kiếm,  
tiến sau. Lưỡi kiếm cũng sáng như  
ánh giăng. Hai lưỡi kiếm lấp loáng  
trong đêm tối. Vua và Kim Quy chạy  
như bay về gò Ông Cô”. Ở đoạn văn  
này, câu văn sử dụng từ láy lấp loáng  
thực sự là một điểm sáng, diễn tả  
được sự đồng hành tuyệt đối giữa  
thần và người trong cuộc chiến chống  
lại cái ác. Ở nghĩa trực tiếp, từ láy lấp  
loáng diễn tả sự hòa điệu của ánh  
sáng từ hai lưỡi kiếm, “chiếu thành vệt  
lúc ngắn lúc dài, khi có khi không, liên  
tiếp” (Viện Ngôn ngữ học 2001: 554).  
Trên nền nghĩa như vậy, người đọc  
nhận thấy hình tượng An Dương  
Vương bỗng nổi bật lên, đẹp hơn với  
tư thế của một con người chủ động,  
quyết đoán, dám đối diện với thế lực  
hắc ám. Về kỹ thuật, câu văn “Hai lưỡi  
kiếm lấp loáng trong đêm tối” là sự  
chuyển đổi hình thức miêu tả khác,  
tránh được cảm xúc đơn điệu nếu nhà  
văn tiếp tục lặp lại lần nữa cách nói  
“Lưỡi kiếm sáng như ánh giăng”.  
Đối tượng miêu tả của Nguyễn Huy  
Tưởng trong truyện thiếu nhi bao gồm  
thiên nhiên ngoại cảnh, nhân vật và  
các sự kiện đời sống sinh hoạt và lịch  
sử. Như vậy, giá trị miêu tả của từ láy  
sẽ được xem xét dựa trên khả năng  
khắc họa từng đối tượng cụ thể đó. Là  
một ngòi bút có khuynh hướng sử thi  
hoành tráng nên dù viết về đề tài gì,  
Nguyễn Huy Tưởng đều “dồn” cho đối  
tượng những đường nét, tầm vóc  
hoặc được bao bọc bởi vầng hào  
quang lịch sử. Lưu ý tới điều này để  
thấy việc lựa chọn các yếu tố ngôn  
ngữ nói chung, từ láy nói riêng của  
Nguyễn Huy Tưởng cũng bị chi phối  
sâu sắc từ nguồn cảm hứng đậm chất  
sử thi này.  
Ở truyện Kể chuyện Quang Trung, hệ  
thống từ láy khắc họa cảm hứng sử  
thi hoành tráng được Nguyễn Huy  
Tưởng sử dụng một cách đa dạng.  
Trước hết, đó là miêu tả thiên nhiên  
ngoại cảnh trên tư cách môi trường  
vận động của các nhân vật. Ông nói  
về “những vừng mây bụi đỏ ngàu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (250) 2019  
53  
ngàu”; về những con sông “tiếng sóng dụng những từ láy đồng nghĩa hay  
đùng đùng”, “nước mênh mông lẫn gần nghĩa, kiểu như: vui vẻ/vui vầy,  
vào trong bóng tối mịt mù”; về “con mênh mông/mênh mang… Với bạn  
đường thiên lý gập ghềnh, khuất đọc vốn ưa thích sự mới mẻ thì cách  
khúc”; về “những cánh đồng trơ gốc rạ diễn đạt này lá khá phù hợp.  
mênh mông bát ngát” và cảnh kinh  
thành “đang cháy ngùn ngụt”… Trên  
nền không gian ấy, nhà văn lần lượt  
khắc họa vẻ đẹp của người lính Tây  
Sơn với những gương mặt “lì lợm,  
dạn dày sương gió”, lúc nào cũng  
“đăm đăm nhìn về phía trước”, lúc  
chiến đấu thì “thoăn thoắt trèo thang  
Cũng cần nói thêm, trong một số  
trường hợp, từ láy có tác dụng nhân  
hóa sự vật, tạo nên sự hòa điệu giữa  
cái nhìn của nhà văn với cái nhìn của  
trẻ thơ. Có thể kể tới từ láy trong một  
số đoạn văn sau: “Nhưng dưới khe  
sâu, người bố kêu thê thảm: Chúa  
làng giết tôi rồi! Và lá rừng rì rào:  
lên ùn ùn”. Trái lại, về kẻ thù, Nguyễn Chúa làng giết người! Núi thì thầm:  
Chúa làng giết người! Khe sâu róc  
rách: Chúa làng giết người!” (Tìm mẹ);  
“Những làng mạc chung quanh ngơ  
ngác chưa biết chuyện gì…” (Kể  
chuyện Quang Trung).  
Huy Tưởng cũng dùng không ít những  
từ láy để miêu tả bản chất đớn hèn khi  
lâm trận: “chúng mếu máo gọi nhau”,  
“viên tướng run rẩy chạy ra”, “chúng  
cứ chạy lúng túng như ếch vào xiếc”,  
“phó tướng hớt hơ hớt hải chạy lại”…  
Những từ láy kể trên hầu hết đều  
hướng tới diễn tả cái động, diễn tả  
các sự kiện đang trong quá trình diễn  
biến. Nói cách khác, Nguyễn Huy  
Tưởng ít khi miêu tả hiện thực yên ả,  
Như vậy, miêu tả là một giá trị nổi bật  
của truyện thiếu nhi Nguyễn Huy  
Tưởng, là kết quả dụng công của một  
ngòi bút muốn tái hiện đời sống hiện  
thực một cách cụ thể, sinh động. Từ  
những trang văn miêu tả như vậy, bạn  
trầm lặng mà hứng thú hơn với cái dữ đọc còn cảm nhận được thái độ, tình  
cảm đầy tin yêu của nhà văn đối với  
cuộc sống.  
dội, ẩn chứa nhiều biến động bất ngờ.  
Cố nhiên, sức mạnh của mỗi từ láy  
luôn phụ thuộc vào cách dùng linh 2.2. Giá trị biểu cảm  
hoạt của Nguyễn Huy Tưởng. Thường  
khi cần nhấn mạnh, nhà văn sẽ đặt từ  
láy ở trước động từ (thút thít khóc);  
lặp lại nhiều lần (ví dụ, trong Thằng  
Quấy, từ láy trùng trục được nhắc tới  
10 lần để tả ngoại hình nhân vật  
Quấy); hoặc kết hợp với so sánh để ý  
nghĩa thêm sáng rõ (lộng lẫy hơn ánh  
Theo Hà Quang Năng: “Mỗi từ láy  
chứa đựng trong mình một sự thể  
hiện tinh tế, sinh động về sự cảm thụ  
chủ quan, về cách đánh giá và thái độ  
của người nói trước sự vật và hiện  
tượng của đời sống xã hội” (Hà  
Quang Năng, 2005: 3). Điều này có ý  
nghĩa tương đồng khi nói về giá trị  
sáng, nhớn nhác như đàn gà). Sự linh biểu cảm của từ láy trong truyện thiếu  
nhi Nguyễn Huy Tưởng.  
hoạt cũng thể hiện ở việc nhà văn sử  
LÊ NHẬT KÝ – GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA TỪ LÁY TRONG TRUYỆN…  
54  
Khác dân gian, Nguyễn Huy Tưởng đun, những ngày gần hết năm, dưới  
con mắt che chở của tổ tiên”.  
trần thuật câu chuyện bằng giọng điệu  
nhuốm màu sắc chủ quan, thể hiện rõ  
cái yêu cái ghét của bản thân đối với  
từng nhân vật và sự kiện. Với đặc  
điểm trần thuật như vậy, Nguyễn Huy  
Tưởng tất yếu sẽ sử dụng từ láy như  
một giải pháp căn bản. Theo quan sát  
của chúng tôi, giá trị biểu cảm của từ  
láy trong truyện thiếu nhi Nguyễn Huy  
Tưởng thể hiện qua hai hình thức tổ  
chức ngôn ngữ của nhà văn.  
Ngược lại, trong Hai bàn tay chiến sĩ  
và Con Cóc là cậu ông Giời, phương  
thức trữ tình ngoại đề được thực hiện  
ở cả đầu và cuối truyện:  
- Hai bàn tay chiến sĩ: “Tôi còn nhớ  
Hội nghị chiến sĩ toàn quân đầu năm  
1952. Bẩm lên báo cáo thành tích  
trước Hội nghị. Cả hội trường cảm  
động nhìn đôi bàn tay tàn tật của anh.  
Đôi bàn tay còng queo, teo lại. Các  
ngón tay đều cụt, một hai ngón còn lại  
thì dại đờ như mấy cây trơ trụi trong  
một cái vườn đã cháy hết” (đầu  
truyện); “Các em, đến đây tôi tạm  
ngừng câu chuyện chiến sĩ Bẩm.  
Chắc chắn rằng khi nghe kể, các em  
rất căm thù những kẻ độc ác đã hủy  
hoại đôi bàn tay của một con người.  
Trước hết, từ láy xuất hiện trong các  
đoạn văn có tính chất trữ tình ngoại  
đề, là lời trò chuyện trực tiếp của nhà  
văn với bạn đọc. Hình thức này được  
Nguyễn Huy Tưởng sử dụng ở khá  
nhiều tác phẩm, như: Chiếc bánh  
chưng, Con Cóc là cậu ông Giời, Hai  
bàn tay chiến sĩ… Thường những  
đoạn trữ tình như vậy sẽ xuất hiện ở Đồng thời các em cũng thấy rõ cái giá  
đầu hay cuối, hoặc cả đầu cả cuối tác trị của đôi bàn tay. Biết bao nhiêu bàn  
tay đã bị trụi, bị cụt như tay anh Bẩm  
để mở cho chúng ta cuộc sống hòa  
bình ngày nay. Chúng ta đang sống  
trong một xã hội không ai có quyền  
hủy hoại bàn tay của người khác. Mọi  
người quý trọng bàn tay của mọi  
người” (cuối truyện).  
phẩm.  
Với truyện Chiếc bánh chưng, Nguyễn  
Huy Tưởng chỉ trữ tình ở đầu tác  
phẩm: “Ngày tư chắc cũng có nhiều  
em ăn bánh chưng hàng, nhưng nó  
cũng như món quà thường, không có  
ý vị gì. Chỉ có bánh chưng ngày Tết  
mới thơm tho, mới ngon lành, mới quý. - Con Cóc là cậu ông Giời: “Các em  
Nó là phần thưởng của công cày sâu  
cuốc bẫm, nó là tinh hoa của mùa  
màng. Nó còn đượm mùi đồng lúa; nó  
hãy trông con cóc kia. Hình thù nó xấu.  
Da nó sần sùi. Người ta có cảm tưởng  
rằng nó rất bẩn. Có người vừa thấy nó  
là kết quả của công sắm sửa, công là đã rú lên rồi. Cóc sống một cuộc  
gói, công đun của cả một gia đình  
trong muôn vàn gia đình chăm chỉ ở  
xứ sở Việt Nam ta. Cho nên tôi, riêng  
đời tối tăm. Nó không muốn ló ra  
ngoài, hình như nó cũng thấy rằng nó  
không được đẹp mắt cho lắm. Nhưng  
tôi, chỉ quý, chỉ yêu bánh chưng ngày khoan! Đừng ghét nó mà tội nghiệp”  
Tết do cha mẹ tôi gói, do anh em tôi  
(đầu truyện); “Từ đấy mỗi khi cóc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 6 (250) 2019  
55  
nghiến răng thì thường thường là giời nhà văn trước nỗi đau da thịt mà nhân  
mưa xuống. Cóc oai như thế nên các vật Bẩm đang trải qua: “Hai bàn tay bị  
cụ ta còn gọi Cóc là cậu ông Giời. Các  
cụ còn khuyên mọi người không nên  
đánh cóc. Tuy xấu xí nhưng nó rất có  
công và tốt bụng” (cuối truyện).  
đốt quẫy quẫy. Anh thít lên. Hai hàm  
răng anh nghiến lại. Thịt anh bắt đầu  
cháy xèo xèo, khét khét như mùi súc  
vật bị thui”; “Anh đành chống tay  
xuống cát, chịu đựng sự hành hạ của  
đàn kiến lửa. Nước mắt Bẩm chảy  
ròng ròng” (Hai bàn tay chiến sĩ)…  
Trong trường hợp này, sự tỏa sáng  
của từ láy rất cần tới nghệ thuật sử  
dụng khéo léo của nhà văn. Đối với  
người đọc, ngoài việc ngẫm từ trong  
ngữ cảnh còn cần phải biết hệ thống,  
gắn kết các từ lại với nhau để thông  
tin miêu tả và biểu cảm được tiếp  
nhận đầy đủ, trọn vẹn hơn.  
Nội dung các trích đoạn trên là thông  
điệp cuộc sống mà nhà văn muốn  
truyền dạy cho các em. Cụ thể, đó là  
thái độ trân quý bánh chưng ngày Tết  
vì nó “mới thơm tho, mới ngon lành,  
mới quý”; là cách nhìn vật, nhìn người  
không qua hình thức, như con cóc  
“tuy xấu xí nhưng rất có công và tốt  
bụng”; và “không ai có quyền hủy hoại  
bàn tay của người khác”. Trong các  
thông điệp đó, từ láy xuất hiện ít  
nhưng gần như giữ vai trò “nhãn tự”,  
thể hiện một cách khái quát nhất, cốt  
lõi nhất tư tưởng tình cảm của nhà  
văn.  
3. KẾT LUẬN  
Xuất phát từ yêu cầu miêu tả và biểu  
cảm, Nguyễn Huy Tưởng đã sử dụng  
một số lượng lớn từ láy trong truyện  
thiếu nhi của ông. Điều đó đảm bảo  
cho từ láy trở thành một thành phần  
cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ  
truyện thiếu nhi.  
Phổ biến hơn, đó là kết hợp biểu cảm  
với miêu tả, thông qua miêu tả nhà  
văn kín đáo gửi gắm tình cảm của  
mình vào trong từng câu chữ, trong đó  
có các từ láy. Chẳng hạn, trong đoạn  
văn nói về chị em Tấm sau đây, chúng  
ta thấy rõ lòng yêu mến Tấm của tác  
giả khi ông sử dụng hình thức miêu tả  
so sánh đối lập với sự tham gia của  
một số từ láy chỉ phẩm chất con người:  
“Má Tấm trắng hồng hồng, mặt Cám  
thì sần sùi da cóc (…). Tấm chăm chỉ,  
Đặc điểm chung của hệ thống từ láy  
trong truyện thiếu nhi Nguyễn Huy  
Tưởng là sự áp đảo của các từ láy đôi,  
sự quen thuộc và sáng rõ về mặt ý  
nghĩa từ vựng. Các từ láy đã được  
Nguyễn Huy Tưởng sử dụng vào việc  
tái hiện bức tranh đời sống lao động  
và chiến đấu của cha ông xưa cũng  
ngoan ngoãn, lễ phép, thực thà bao như nay. Trên cơ sở miêu tả đó, các  
nhiêu, thì Cám lười biếng, bướng bỉnh, từ láy cũng đồng thời truyền tải thái độ,  
hỗn láo, gian giảo bấy nhiêu…” tình cảm của nhà văn đối với con  
(Truyện Tấm Cám). Hoặc, trong người và hiện thực. Tựu trung, đó là  
tình cảm tự hào, mến yêu của nhà văn  
đối với các giá trị vật chất, tinh thần do  
những câu chữ sau, người đọc cảm  
nhận được sự đồng cảm sâu xa của  
LÊ NHẬT KÝ – GIÁ TRỊ THẨM MỸ CỦA TỪ LÁY TRONG TRUYỆN…  
56  
cha ông tạo dựng và lưu truyền cho phẩm của ông mang phong cách truyện  
muôn đời.  
ngắn hiện đại, phù hợp và hấp dẫn  
thật sự đối với bạn đọc thiếu nhi. Đây  
là một kinh nghiệm tốt, hữu ích đối với  
việc rèn dạy học sinh làm văn miêu tả  
trong bối cảnh giáo dục hiện nay.  
Việc sử dụng từ láy một cách thường  
xuyên đã góp phần làm nên lớp văn  
miêu tả trong truyện thiếu nhi Nguyễn  
Huy Tưởng. Điều đó khiến cho tác  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Hà Quang Năng. 2005. Dạy và học từ láy trong nhà trường phổ thông. Hà Nội: Nxb.  
Giáo dục.  
2. Lê Huy Anh. 2001. “Truyện Tìm mẹ”, Nguyễn Huy Tưởng khát vọng một đời văn. Hà  
Nội: Nxb. Văn học.  
3. Nguyễn Huy Tưởng. 2013. Những truyện hay viết cho thiếu nhi. Hà Nội: Nxb. Kim  
Đồng.  
4. Nguyễn Thị Huế. 2014. “Thế giới cổ tích của Nguyễn Huy Tưởng”, http://hanoitv.vn,  
truy cập ngày 6/9/2018.  
5. Phong Thu. 1999. Tuyển tập truyện viết cho thiếu nhi từ sau cách mạng tháng Tám.  
Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
6. Tô Hoài. 2004. 101 truyện ngày xưa. Hà Nội: Nxb. Văn học.  
7. Viện Ngôn ngữ học. 2001. Từ điển tiếng Việt, Đà Nẵng: Nxb. Đà Nẵng - Trung tâm từ  
điển.  
8. Viện Văn học. 2007. Tuyển tập văn học dân gian, Tập II, quyển 1. Hà Nội: Nxb. Giáo  
dục.  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 18200 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị thẩm mỹ của từ láy trong truyện thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_tham_my_cua_tu_lay_trong_truyen_thieu_nhi_nguyen_huy.pdf