Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0007  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 1, pp. 50-62  
KHẢO LUẬN TẦM NGUYÊN TỪ SONG THANH, ĐIỆP VẬN, ĐIỆP ÂM  
TRONG NGỤC TRUNG NHẬT KÍ  
Nguyễn Thị Thanh Chung  
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
Tóm tắt. Bài viết khảo luận về hệ thống từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung  
nhật kí, từ đó, nhận định về sự vay mượn và sáng tạo về ngôn từ của Hồ Chí Minh. Đồng  
thời, bài viết tìm hiểu về sự tương tác, phát triển của hệ thống ngôn từ này trong tiếng Việt  
hiện đại. Ngục trung nhật kí gồm 102 từ song thanh, điệp vận, điệp âm, trong đó từ được  
vay mượn chiếm 76%, từ được sáng tạo chiếm 24%. Những từ vay mượn và sáng tạo kết  
hợp hài hòa trong các tác phẩm, thể hiện tài năng ngôn từ của tác giả. Trong những từ song  
thanh, điệp vận, điệp âm thuộc Nhật kí trong tù có những từ gia nhập vào tiếng Việt và có  
những từ không gia nhập vào tiếng Việt. Từ gia nhập vào tiếng Việt chiếm 42% và từ  
không gia nhập vào tiếng Việt chiếm 58%. Những từ đã gia nhập vào tiếng Việt luôn có  
những biến đổi để trở nên phù hợp hơn với thực tiễn, tỉ lệ những từ biến đổi chiếm 16%. Số  
liệu này cho thấy sự giao thoa giữa tiếng Việt và tiếng Hán, giữa ngôn ngữ văn chương và  
ngôn ngữ đời thường, đồng thời khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt trong suốt  
chiều dài lịch sử của dân tộc.  
Từ khóa: Ngục trung nhật kí, Hồ Chí Minh, song thanh, điệp vận, điệp âm.  
1. Mở đầu  
Nhật kí trong tù là thi tập bằng chữ Hán được Hồ Chí Minh viết trong khoảng thời gian bị  
bắt giam tại Trung Quốc, văn bản của tác phẩm hiện được sao in trong cuốn Hồ Chí Minh và 5  
bảo vật quốc gia. Bài viết này đặt vấn đề từ câu thơ trong bài Vô đề thuộc Ngục trung nhật kí:  
身体在獄中, 精神在獄外 (Thân thể tại ngục trung/ Tinh thần tại ngục ngoại), hai câu thơ gồm  
các từ đọc bằng âm đọc Hán Việt như sau: thân thể, tinh thần, tại, ngục trung, ngục ngoại.  
Người sử dụng tiếng Việt thông thường có thể hiểu được một số từ trong những từ trên. Như  
vậy, từ trong tác phẩm văn chương bằng chữ Hán của người Việt Nam có mối quan hệ với tiếng  
Hán và được sự phát triển trong tiếng Việt hiện đại là vấn đề cần được tìm hiểu một cách chi tiết  
và hệ thống. Bài viết khảo luận về hệ thống từ song thanh (viết tắt ST), điệp vận (viết tắt ĐV),  
điệp âm (viết tắt ĐÂ) trong Ngục trung nhật kí (viết tắt NTNK), từ đó, nhận định về sự vay  
mượn và sáng tạo về ngôn từ của tác giả, đồng thời tìm hiểu về sự tương tác, phát triển của hệ  
thống ngôn từ này trong tiếng Việt hiện đại, góp phần khẳng định tài năng văn chương của tác  
giả, đồng thời góp phần xác định đặc điểm của tiếng Việt hiện đại.  
Ngày nhận bài: 2/1/2021. Ngày sửa bài: 29/1/2021. Ngày nhận đăng: 10/2/2021.  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thanh Chung. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
50  
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Đặc điểm vay mượn và sáng tạo của từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong  
Ngục trung nhật kí so với tiếng Hán  
Khái niệm từ ST, ĐV, ĐÂ được xác định trong nghiên cứu hệ thống từ vựng chỉ những  
từ có cấu tạo gồm phụ âm của các yếu tố tương đồng (ST), vần của các yếu tố tương đồng  
(ĐV), âm của các yếu tố tương đồng (ĐÂ). Các nhà nghiên cứu Hán ngữ thường sử dụng khái  
niệm thanh mẫu, vận mẫu. Song thanh (雙聲) chỉ thanh mẫu của hai chữ tương đồng nhau,  
điệp vận (疊韻) chỉ vận mẫu của hai chữ tương đồng nhau, điệp âm (疊音) chỉ hai chữ trùng  
phức về âm tiết. Loại từ ST, ĐV, ĐÂ được xác định từ âm đọc, không đề cập đến nghĩa của các  
yếu tố tạo nên từ. Về hình thể, từ ST, ĐV, ĐÂ được viết bằng chữ Hán trong thơ ca chữ Hán  
của Hồ Chí Minh và được viết bằng chữ Quốc ngữ khi phiên âm Hán Việt. Về mặt âm đọc, các  
từ ST, ĐV, ĐÂ tại Việt Nam được đọc theo âm Hán Việt, là cách đọc chữ Hán của người Việt.  
Bởi vì cách đọc khác biệt nên việc xác định từ ST, ĐV, ĐÂ giữa tiếng Hán và tiếng Việt không  
trùng khớp với nhau. Một số từ trong tiếng Hán là ST nhưng lại không phải là từ ST trong tiếng  
Việt ví dụ như từ 琵琶 tiếng Hán đọc /pí pá/ là từ ST nhưng tiếng Việt đọc âm /tì bà/ lại không  
phải là từ ST sẽ không được đề cập đến trong bài viết này.  
2.1.1. Bảng khảo sát và kết quả tổng hợp  
Phạm vi khảo sát thực hiện với tất cả các bài thơ trong NTNK (trong đó một số bài gồm kì  
nhất, kì nhị, kì tam, kì tứ), số từ ST, ĐV, ĐÂ xác định được là 102 từ. Bài viết khảo sát toàn bộ  
102 từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK để xác định đặc tính vay mượn và sáng tạo của hệ thống này  
so với tiếng Hán. Bảng khảo sát gồm (1) Thứ tự, (2) Nhan đề bài thơ, (3) Chữ Hán, (4) Âm Hán  
Việt, (5) Nghĩa của từ trong tác phẩm, (6) Phân loại, (7) Nghĩa của từ trong Hán ngữ đại từ điển  
(dấu trừ biểu thị từ không xuất hiện trong Hán ngữ đại từ điển), (8) Kết luận về đặc tính vay  
mượn hoặc sáng tạo của từ (dấu cộng biểu thị vay mượn, dấu trừ biểu thị sáng tạo). Dưới đây  
phần trích lục 5 trường hợp từ Bảng 1.  
Bảng 1. Bảng khảo sát khả năng vay mượn và sáng tạo của từ song thanh, điệp vận, điệp âm  
trong “Ngục trung nhật kí” (trích lục 5 trường hợp)  
(1)  
(2)  
Vấn thoại  
問話  
(3)  
(4)  
(5)  
(6)  
(7)  
(8)  
1
Ân cần Ân cần ĐV  
+
(+) 亦作「慇勤」. 情意恳切.  
(Tình cảm ân cần, tha thiết).  
[Quyển 7, trang 671, từ đây viết  
tắt thành Q7, tr.671]  
Tứ cá  
nguyệt liễu  
Bất  
bão  
Không  
no  
ST  
ST  
-
-
2
四個月了  
3
Bất  
bình  
Bất  
bình  
+
Điệt lạc跌  
(+) 不均平, 不公正 (Không  
công bằng). (+) 指不公正的事  
或人 (Chỉ người hoặc việc  
không công bằng). (+) 愤慨, 不  
满 (Phẫn nộ, bất mãn). (+) 不适  
, 欠安 (khó chịu). (+) 不和, 不  
洛
51  
Nguyễn Thị Thanh Chung  
睦 (Bất hòa). [Q1, tr.403]  
4
5
Cá cá  
Người  
người  
ĐÂ  
ĐÂ  
+
-
Tảo tình早  
(+) 一個一個,每一個 (Từng  
cái một, từng người một). [Q1,  
tr.1502]  
晴
Giải vãng  
Loan  
loan  
Quanh  
co  
-
Vũ Minh 解  
往武鳴  
Với các phương diện khảo sát như trên, kết quả tổng hợp về sự vay mượn và sáng tạo của  
từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK được thống kê trong bảng sau:  
Bảng 2. Bảng tổng hợp số liệu về tỉ lệ vay mượn và sáng tạo  
của từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong “Ngục trung nhật kí”  
TT  
Từ  
Vay mượn  
(từ)  
Tỉ lệ vay mượn  
Sáng tạo  
(từ)  
Tỉ lệ sáng tạo  
(%)  
(%)  
1
2
3
4
Từ song thanh  
Từ điệp vận  
Từ điệp âm  
Tổng  
37  
14  
27  
78  
36  
14  
26  
76  
16  
4
16  
4
4
4
24  
24  
2.1.2. Nhận định về đặc tính vay mượn và sáng tạo của từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK  
Bảng tổng kết số liệu cho thấy, số từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK gồm nhóm vay mượn và  
nhóm sáng tạo. Trong đó, nhóm vay mượn chiếm đến 76% và nhóm sáng tạo chiếm 24%. Số  
lượng từ vay mượn lại chiếm số lượng lớn vì tiếng Hán có lịch sử lâu đời với một lượng từ vô  
cùng phong phú, có khả năng phản ánh nhiều lĩnh vực, có thể kể đến lĩnh vực đời sống nội  
tâm, tinh thần của con người (bồi hồi 徘徊, ân cần 慇懃, tâm tình 心情, khảng khái 慷慨,  
triển chuyển 輾轉, du du 悠悠, nho nhã 儒雅, Tiều tụy 憔悴…), miêu tả tính chất (đại đại 大  
大, tiểu tiểu 小小, dị dị 易易, nan nan 難難, gian nan 艱難, hảo hảo 好好, hôn hôn 昏昏,  
không không空空, khúc khúc 曲曲, liệt liệt 烈烈, hiển hách 顯赫, huy hoàng 輝煌, phân phân  
紛紛, dao dao 遥遥, oanh oanh 轟轟, hào hùng 豪雄, hoan hỉ 歡喜, nhiệt liệt熱烈 , tịch mịch  
寂寞…), từ tượng thanh (đinh đang叮噹, ngân ngân 狺狺), từ chỉ hành động (hành hành 行  
行, bộ bộ 步步, lạc liễu 落了, lai lâm 來臨, thính thuyết 聽說, tán tụng 讚誦…), từ về tự  
nhiên (hoa hương 花香, thương thiên 蒼天…), từ chỉ thời gian, không gian (triêu triêu 朝朝,  
xứ xứ處處, hoàng hôn黃昏, thiên thu千秋...). Việc vay mượn chữ Hán để sáng tác văn  
chương ở Việt Nam có từ lâu đời, cách đây hơn ngàn năm. Sự vay mượn này cho thấy mối  
tương quan về văn hóa sâu đậm của các nước đồng văn, cũng là nền văn hóa phương Đông.  
Hệ thống từ ST, ĐV, ĐÂ thường có tính biểu cảm cao trong tác phẩm văn chương. Vậy nên,  
khi sáng tác văn chương bằng chữ Hán, người sáng tác vay mượn vốn từ phong phú từ tiếng  
Hán để tạo thành những tác phẩm nghệ thuật của mình. Hồ Chí Minh đã vay mượn từ ST,  
ĐV, ĐÂ của tiếng Hán, kết hợp chúng một cách hài hòa với những từ sáng tạo để tạo nên tác  
52  
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí  
phẩm ngôn từ nghệ thuật. Đó chính là sự điêu luyện, thể hiện tài năng của tác giả, nhất là khi  
tác giả sáng tác bằng ngôn ngữ vay mượn.  
Tỉ lệ từ ST, ĐV, ĐÂ được sáng tạo trong NTNK chiếm 24%. Từ ST, ĐV, ĐÂ là những  
từ được xem xét về phương diện âm thanh của các yếu tố tương đồng hoặc là hoàn toàn, hoặc  
là phần vần, hoặc là phụ âm. Cố nhiên, không phải bất cứ từ mang âm thanh tương đồng đứng  
cạnh nhau trong một văn bản lập tức trở thành từ ST, ĐV, ĐÂ. Những từ này trong tác phẩm  
NTNK được xem xét trong tương quan về vị trí câu thơ được ngắt nhịp ví dụ 2/1/2; 2/2/3…  
Việc đứng trong một vị trí đảm bảo mối tương quan chặt chẽ của từ là cơ sở để tạo thành từ  
ST, ĐV, ĐÂ. Tỉ lệ 24% cho thấy tác giả đã có sáng tạo trong quá trình sáng tác văn chương.  
Việc tạo thành những từ ST, ĐV, ĐÂ giúp cho tác phẩm có được tính biểu cảm cao hơn, ví dụ  
(Quế Lâm vô quế diệc vô lâm/ Chỉ kiến sơn cao dữ thủy thâm/ Dung ấm giam phòng chân khả  
phạ/ Bạch thiên hắc hắc, dạ trầm trầm - Quế Lâm không có quế cũng chẳng có rừng/ Chỉ thấy  
núi cao và nước sâu/ Bóng cây đa rủ xuống buồng giam, thực đáng sợ/ Ban ngày thì đen xì xì,  
ban đêm thì trầm tịch). Trong bài thơ, tác giả đã dùng hai tính từ cao và thâm để tả về núi và  
nước: sơn cao (núi cao), thủy thâm (nước sâu). Hai tính từ có cấu tạo là một từ tố trở thành  
bước đệm cho hai từ điệp âm xuất hiện ở câu cuối cùng khi tả cây đa gồm hắc hắc (đen xì xì)  
và trầm trầm (trầm tịch, vô thanh, thanh âm xa vắng). Trong hai từ điệp âm, từ trầm trầm là  
từ vay mượn còn từ hắc hắc là từ sáng tạo. Có thể thấy, từ hắc hắc không chỉ tạo ra âm hưởng  
mạnh về sự u ám của bóng cây đa mà còn diễn đạt được rõ nét ấn tượng về màu sắc của bóng  
cây đa vào ban ngày khi có sự đối lập bạch và hắc trong cụm từ: bạch thiên hắc hắc. Trong  
quá trình sáng tạo, các tác giả luôn phải có sự sử dụng ngôn từ một cách linh hoạt, có sự sáng  
tạo. Điều này đem đến sự mới mẻ cho ngôn từ văn học, đóng góp vào sự phát triển nền văn  
chương và ngôn ngữ của các dân tộc.  
2.2. Khảo luận sự phát triển của từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc Ngục  
trung nhật kí trong tiếng Việt hiện đại  
Phần thứ nhất của bài viết tìm hiểu mối tương quan giữa từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK và từ  
ST, ĐV, ĐÂ trong tiếng Hán phần nào thấy được sự vay mượn và sáng tạo của ngôn ngữ thi ca  
Việt Nam nói riêng và tiếng Việt trong thế kỉ XX nói chung. Phần thứ hai của bài viết tìm hiểu  
sự phát triển trong tiếng Việt của từ ST, ĐV, ĐÂ được Hồ Chí Minh sử dụng trong thơ chữ  
Hán. Khái niệm phát triển được hiểu là sự vận động của từ, có thể gia nhập, tồn tại trong tiếng  
Việt hiện đại hoặc bị loại trừ khỏi tiếng Việt hiện đại. Nhìn từ góc độ mối tương quan giữa tiếng  
Việt và tiếng Hán, nội dung này nghiên cứu khả năng phát triển của các yếu tố Hán Việt khi  
chúng được tạo thành từ và thực hiện quá trình gia nhập vào tiếng Việt. Khái niệm tiếng Việt  
hiện đại trong bài viết này chủ yếu được xác định với sự xuất hiện của từ trong các từ điển được  
xuất bản ở thế kỉ XX gồm cuốn Từ điển Hán Việt (Đào Duy Anh) và cuốn Từ điển Tiếng Việt  
(Hoàng Phê chủ biên).  
2.2.1. Bảng khảo sát  
Bài viết khảo sát toàn bộ từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK. Bảng khảo sát gồm: (1) Thứ tự, (2)  
Âm Hán Việt - Chữ Hán - Nghĩa của từ trong tác phẩm, (3) Nhan đề bài thơ (có thể được lược  
từ), (4) Phân loại, (5) Nghĩa của từ trong Hán ngữ đại từ điển (dấu trừ biểu thị không xuất hiện),  
(6) Nghĩa của từ trong Từ điển Hán Việt (dấu trừ biểu thị không xuất hiện), (7) Nghĩa của từ  
trong Từ điển Tiếng Việt (dấu trừ biểu thị không xuất hiện), (8) Kết luận về khả năng gia nhập  
vào tiếng Việt của từ gồm: Từ không gia nhập vào Tiếng Việt hiện đại (nhóm 1), Từ gia nhập  
vào tiếng Việt nhưng sau thoái lui khỏi tiếng Việt (nhóm 2), Từ gia nhập vào tiếng Việt hiện đại  
(nhóm 3). Bảng dưới đây trích lục 5 trường hợp:  
53  
Nguyễn Thị Thanh Chung  
Bảng 3. Bảng khảo sát khả năng phát triển trong tiếng Việt hiện đại  
của từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”  
(1)  
(2)  
(Bất bão  
- Không  
no)  
(3)  
(4)  
(5)  
(6)  
(7)  
(8)  
1
Tứ  
cá ST  
-
-
-
Nhóm  
1
nguyệt 四  
個月  
2
Song thập  
nhất 雙十  
ĐÂ  
-
-
Nhóm  
1
(+) 猛火炎炽貌 (Lửa  
cháy rừng rực). (+) 鲜  
明灿烂貌 (Vẻ tươi  
đẹp, rực rỡ). 3. 引申  
为显豁,显著 (Nghĩa  
(Liệt liệt  
- Oanh  
liệt)  
一
mở rộng chỉ sự nổi  
bật)… [Q7, tr.63]  
3
Ký Nê  
ĐÂ  
Xa xôi  
-
Nhóm  
2
(Dao dao  
(+)  
形容距离远  
Lỗ 寄尼魯  
(Hình dung cự li xa).  
- Xa xôi)  
(+) 形容时间长  
(Hình dung thời gian  
dài). (+) 形容摇摆不  
定的样子 (Miêu tả  
dáng vẻ lay động, bất  
định). [Q10, tr.1144]  
4
Tại Túc  
ST  
Tiếng  
tăm tốt  
– Có  
1.Sự coi trọng của Nhóm  
(Danh  
dự -  
(+)  
名望與聲譽  
dư luận xã hội, dựa  
trên giá trị tinh  
thần đạo đức tốt  
đẹp. 2. Cái nhằm  
mang lại danh dự,  
3
Vinh 在足  
(Danh vọng, thanh  
榮
danh). (+) 榮譽, 光榮  
danh  
Danh dự)  
(Vinh dự, vinh hạnh, mà  
quang vinh). [Q3, không  
tr.178]  
có chức nhằm tỏ rõ sự kính  
vụ.  
trọng của xã hội,  
của tập thể.  
5
ĐV  
-
Xác định về mặt Nhóm  
Dạ bán 夜  
(+) 安定心神 (Tinh  
thần ổn định). (+) 事  
tính chất hoặc biến  
đổi tính chất, phân  
3
(Định  
tính -  
Tính vốn  
có)  
半
biệt  
với  
định  
物固定的特性 (Đặc  
tính ổn định của sự  
việc). (+) 确定事物的  
lượng.  
成分或性质 (Bộ phận  
hoặc tính chất được  
xác định của sự vật…  
[Q3, tr.1363]  
54  
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí  
2.2.2. Phân loại  
2.2.2.1. Nhóm từ không gia nhập vào tiếng Việt  
Trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh có nhiều từ ST, ĐV, ĐÂ không gia nhập vào hệ  
thống từ của tiếng Việt hiện đại. Tiêu chí không gia nhập này được xác định với điều kiện  
chúng không xuất hiện trong Từ điển Hán Việt và Từ điển Tiếng Việt. Nhìn chung, từ điển là  
phần ngôn ngữ tinh lọc của cuộc sống, không thể đầy đủ, phong phú, phồn tạp như ngôn từ  
trong cuộc sống, ví dụ một số từ không có trong từ điển nhưng hiện tại người Việt vẫn hiểu và  
sử dụng như xứ xứ, trận trận nhưng sự không xuất hiện của một nhóm từ trong từ điển có dung  
lượng lên đến 38.410 mục từ đã phản ánh diện mạo của ngôn ngữ. Nhóm từ này được sử dụng  
trong thơ ca nhưng không gia nhập vào tiếng Việt. Đó chính là sự lựa chọn của tiếng Việt trên  
con đường phát triển của mình.  
Bảng 4. Bảng thống kê từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”  
không xuất hiện trong tiếng Việt hiện đại  
TT  
Chữ  
Hán  
Âm Hán Việt Nghĩa trong TT  
tác phẩm  
Chữ  
Hán  
Âm Hán  
Việt  
Nghĩa trong  
tác phẩm  
1
2
Bán bồn  
Bất bão  
Bộ bộ  
Nửa chậu  
Không no  
Từng bước  
Từng người  
Nhiều  
31  
32  
33  
34  
35  
36  
37  
38  
39  
40  
41  
42  
Nan nan  
Ngân ngân  
Ngục ngoại  
Nhân nhân  
Phân phân  
Tại tù  
Khó khăn  
Hầm hầm  
Ngoài ngục  
Người người  
Bời bời  
3
4
Cá cá  
5
Đa đa  
6
Đại đại  
Đại đoan  
Đăng đáo  
Dị dị  
To to  
Trong tù  
7
Mối lớn  
Tật túc  
Chân nhanh  
Tắm rửa  
8
Lên đến  
Tẩy tảo  
9
Dễ dàng  
Leng keng  
Dừng chân  
Thái lai  
Niềm vui tới  
Tham ăn  
10  
11  
12  
Đinh đang  
Đình đề  
Đổ đảm  
Tham thốn  
Thân thân  
Duỗi thẳng  
Gan đánh  
bạc  
Thán thượng Trên đống than  
13  
14  
15  
Đồ lộ  
Con đường  
U tối  
43  
44  
45  
Thành thiên  
Thế thượng  
Thiên thiên  
Suốt ngày  
Trên đời  
Hắc hắc  
Hành hành  
Đi từng  
bước  
Ngày ngày  
16  
17  
Hảo hảo  
Ngon lành  
46  
47  
Thiết thằng  
Xích sắt  
Hoa hương  
Hương hoa  
Thính thuyết  
Nghe nói  
55  
Nguyễn Thị Thanh Chung  
18  
19  
20  
Hôn hôn  
Say sưa  
48  
49  
50  
Thượng  
thanh  
Còn xanh  
Trời xanh  
Từng nếm  
Hướng  
phương  
Phương  
hướng  
Thương thiên  
Kê đề  
Gà gáy  
Thường  
thường  
21  
22  
23  
24  
25  
26  
27  
28  
29  
30  
Không không Rỗng không 51  
Thủy thâm  
Thụy thời  
Tị tập  
Nước sâu  
Khi ngủ  
Khúc khúc  
Lạc liễu  
Lai lâm  
Quanh co  
Rụng mất  
Đến tới  
52  
53  
54  
55  
56  
57  
58  
59  
60  
Tránh oanh tạc  
Nho nhỏ  
Tiểu tiểu  
Trận trận  
Triêu triêu  
Vãn vãn  
Vãn xan  
Xa mã  
Liệt liệt  
Oanh liệt  
Quanh co  
Trong lò  
Từng trận  
Mỗi sớm  
Tối tối  
Loan loan  
Lư lí  
Lung lý  
Trong ngục  
Trong ngục  
Cửa ải khó  
Cơm chiều  
Ngựa xe  
Lung trung  
Nan quan  
Xứ xứ  
Nơi nơi  
2.2.2.2. Nhóm từ dần thoái lui khỏi tiếng Việt  
Nhóm từ dần thoái lui khỏi tiếng Việt là nhóm từ ban đầu gia nhập vào tiếng Việt, sau đó  
thoái lui không xuất hiện trong tiếng Việt nữa. Cuốn Từ điển Hán Việt được xuất bản vào những  
năm ba mươi của thế kỉ 20, cuốn Từ điển tiếng Việt hoàn thành vào những thập niên cuối của  
thế kỉ 20, hai cuốn từ điển cách nhau khoảng hơn nửa thế kỉ, cho nên việc không lựa chọn một  
số từ của Từ điển tiếng Việt phần nào phản ánh sự thay đổi của tiếng Việt.  
Bảng 5. Bảng thống kê từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”  
bị loại dần khỏi tiếng Việt hiện đại  
TT Chữ  
Âm Hán  
Nghĩa trong  
tác phẩm  
Nghĩa trong Hán Việt  
Từ điển  
Hán  
Việt  
1
Căng căng  
Cuồng ca  
Đại đạo  
Dao dao  
Du du  
Run lên bần bật Nơm nớp sợ hãi – Cứng cỏi.  
2
Hát tràn  
Đường lớn  
Xa xôi  
Hát bướng, hình dung người bất đắc chí.  
3
Đạo lý căn bản – Đường lớn.  
4
Xa xôi.  
5
Vời vợi  
Xa xôi- Thong thả lơ lửng – Lòng thương nhớ  
vời vợi.  
6
Mạn mạn  
Chậm chậm  
Dài rộng, không có giới hạn.  
56  
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí  
7
8
Mang mang Mênh mang  
Nhã nhân Người nho nhã  
Xa xôi – Mỏi mệt.  
Người thanh tao không tục, người phong nhã.  
Người không có tương quan đến việc ấy.  
Tiếng ầm ầm.  
9
Nhàn nhân Người nhàn  
Oanh oanh Lẫy lừng  
10  
11  
Thiên  
Trên trời  
Trên trời.  
thượng  
12  
13  
14  
Tòng tiền  
Trước đây  
Im lìm  
Từ trước đến nay.  
Trầm trầm  
Cảnh tượng tối tăm – Tiếng xa như đứt nối.  
Trăn trở không yên, hình dung cái ý lo nghĩ.  
Triển  
chuyển  
Trằn trọc  
15  
Trư tử  
Con lợn  
Con lợn = người bị bán cho cho ngoại quốc để  
làm khổ công – Tiếng Tàu gọi các nghị viên  
khi Dân quốc mới lập.  
2.2.2.3. Nhóm từ có gia nhập vào tiếng Việt hiện đại  
Một số từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK gia nhập vào tiếng Việt hiện đại, được người Việt hiện  
nay sử dụng trong cuộc sống. Trong 102 từ được khảo sát có 27 từ hiện vẫn được người Việt  
Nam sử dụng. Bảng thống kê cụ thể như sau:  
Bảng 6. Bảng thống kê những từ song thanh, điệp vận, điệp âm  
thuộc “Ngục trung nhật kí” gia nhập vào tiếng Việt hiện đại  
TT Chữ Hán/ Âm  
đọc  
Nghĩa trong Từ  
điển Hán Việt  
Nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt  
1
-
Xác định về mặt tính chất hoặc biến đổi tính  
chất, phân biệt với định lượng.  
定性 Định tính  
名譽 Danh dự  
2
Tiếng tăm tốt – Có 1.Sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên  
danh mà không có giá trị tinh thần đạo đức tốt đẹp.  
chức vụ.  
2. (dùng phụ sau một số tổ hợp) Cái nhằm  
mang lại danh dự, nhằm tỏ rõ sự kính trọng  
của xã hội, của tập thể.  
3
4
Lúc chạng vạng, Khoảng thời gian mặt trời mới lặn, ánh sáng  
黃昏 Hoàng hôn  
人民 Nhân dân  
trời gần tối.  
yếu ớt và mờ dần.  
Người dân.  
1. Đông đảo người dân thuộc mọi tầng lớp,  
đang sống trong một khu vực nào đó.  
2. Thuộc về nhân dân, nhằm phục vụ nhân dân.  
5
6
7
Tâm địa và tính Chuyện tình cảm riêng tư của mỗi người  
tình  
心情 Tâm tình  
慇懃 Ân cần  
不平 Bất bình  
Tình ý chu đáo  
(Cách đối xử) tỏ ra quan tâm chu đáo và đầy  
nhiệt tình  
Không bằng lòng.  
1. Không hợp lẽ công bằng, không hợp với  
công lí.  
57  
Nguyễn Thị Thanh Chung  
2. Không bằng lòng mà sinh ra bực tức giận dữ.  
8
9
Dùng dằng đi lại.  
Bày tỏ rõ ràng.  
Ở trong trạng thái có những cảm xúc, ý nghĩ  
trở đi trở lại làm xao xuyến không yên,  
thường là khi nghĩ đến việc đã qua.  
徘徊 Bồi hồi  
指示 Chỉ thị  
1.Vạch ra cho cấp dưới thi hành.  
2. Điều cấp trên chỉ thị cho cấp dưới.  
10  
11  
Khốn khổ khó khăn Ở trong cảnh ngộ gặp nhiều khó khăn phải  
vượt qua.  
艱難 Gian nan  
豪雄 Hào hùng  
Hào kiệt, người có Có tính chất mạnh mẽ và sôi nổi.  
tài  
năng  
xuất  
chúng.  
12  
13  
14  
15  
Rực rỡ - Sáng chói. Rực rỡ và lẫy lừng.  
顯赫 Hiển hách  
歡喜 Hoan hỉ  
Vui vẻ.  
Rất vui mừng.  
Chói lọi, đẹp đẽ.  
Có vẻ đẹp chói lọi, rực rỡ.  
輝煌 Huy hoàng  
Có ý khí hăng hái 1.Có khí phách cứng cỏi và kiên cường,  
lại có cách hào hiệp không chịu khuất.  
Khảng  
khái  
– Dùng tiền không  
keo lận.  
2. Có tính chất cao thượng, vì nghĩa lớn.  
16  
Cái chuồng và cái Ngục tù, về mặt là nơi giam hãm,làm mất tự  
lồng để nhốt súc do.  
牢籠 Lao lung  
vật – Dùng thủ  
đoạn khôn khéo  
hay là quyền lực để  
kiềm chế người.  
17  
18  
19  
20  
Nhận cho kĩ càng Nhận thức rõ một sự thật, một chân lý nào  
認真 Nhận chân  
熱烈 Nhiệt liệt  
儒雅 Nho nhã  
再造 Tái tạo  
không cẩu thả.  
đó.  
Nóng nảy hăng hái. Với đầy nhiệt tình, biểu lộ trong thái độ hoan  
nghênh.  
Văn nhã ôn hòa Có dáng vẻ tao nhã của người có học thức  
như người nho nhã. (kiểu nho sĩ thời trước).  
Dựng cơ nghiệp lần 1.Tạo ra lại, làm ra lại.  
thứ hai – Lời cảm  
ơn người đã cứu  
mình.  
2. Phản ánh hiện thực có hư cấu, tưởng tượng  
nhưng chân thật và sinh động như làm sống  
lại hiện thực.  
21  
22  
23  
Khen ngợi.  
Khen ngợi, ca tụng quá đáng nhằm mục đích  
riêng.  
讚誦 Tán tụng  
身体 Thân thể  
千秋 Thiên thu  
Hình thể của thân Cơ thể của người.  
mình.  
Nghìn năm.  
Nghìn thu, nghìn năm, thường để chỉ thời  
gian vĩnh viễn.  
58  
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí  
24  
25  
26  
27  
Không có tiếng Vắng lặng không một tiếng động nào.  
寂寞 Tịch mịch  
tăng – Yên lặng.  
Khô héo – Khốn Có dáng vẻ tàn tạ, xơ xác đến thảm hại.  
憔悴 Tiều tụy  
khổ  
Tùy ý – ra vẻ thỏa Thư thái, không có điều gì phải phiền muộn.  
自在 Tự tại  
thích.  
Tùy ý.  
1.Tiện đâu làm đó không có nguyên tắc.  
2. Chỉ theo hoàn cảnh làm thế nào đó cho  
thích hợp.  
隨便 Tùy tiện  
2.2.3. Kết quả tổng hợp và nhận định  
Trên cơ sở khảo sát và phân loại các từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK với khả năng gia nhập  
vào tiếng Việt hiện đại, khả năng không gia nhập vào tiếng Việt hiện đại hoặc khả năng dần  
thoái lui khỏi tiếng Việt, bảng tổng hợp khả năng phát triển hệ thống từ này trong tiếng Việt  
được xác lập dưới đây.  
Bảng 7. Bảng tổng hợp khả năng gia nhập vào tiếng Việt  
của từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”  
Loại  
Số lượng (từ)  
Tỉ lệ (%)  
TT  
1
Từ không gia nhập tiếng Việt hiện đại  
Từ thoái lui khỏi tiếng Việt hiện đại  
60  
15  
58  
16  
26  
2
3
Từ gia nhập tiếng Việt hiện đại  
Tổng  
27  
102  
100  
Số liệu về sự phát triển của ST, ĐV, ĐÂ thuộc NTNK trong tiếng Việt được đưa đến một  
số nhận định như sau:  
Thứ nhất là sự phát triển trong tiếng Việt của những từ ST, ĐV, ĐÂ thuộc NTNK: Trong  
những từ từ ST, ĐV, ĐÂ thuộc NTNK có những từ gia nhập vào Tiếng Việt và những từ không  
gia nhập vào tiếng Việt. Tỉ lệ từ gia nhập vào tiếng Việt là 42% (bao gồm từ gia nhập vào tiếng  
Việt nhưng sau bị loại dần khỏi tiếng Việt chiếm 16%, từ gia nhập vào tiếng Việt chiếm 26%)  
và nhóm từ không gia nhập vào tiếng Việt chiếm 58%. Tỉ lệ 58% từ ST, ĐV, ĐÂ không gia  
nhập vào tiếng Việt cho thấy chữ Hán được người Việt Nam vay mượn và sử dụng thuộc hệ  
thống văn ngôn, vẫn có những đặc điểm khác biệt so với tiếng Việt, nhiều từ không xuất hiện  
trong vốn từ đương đại của người Việt. Những từ gia nhập vào tiếng Việt (chiếm đến 42%) thể  
hiện sự giao thoa mạnh mẽ giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Mối tương quan của hai tỉ lệ này còn  
cho thấy những tác phẩm văn học viết bằng chữ Hán có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ,  
phát triển, sàng lọc từ ngữ trong quá trình vay mượn này. Đây chính là một phần đóng góp của  
tác phẩm viết bằng chữ Hán đối với tiếng Việt.  
Thứ hai là sự phát triển trong tiếng Việt của những yếu tố cấu thành nên từ ST, ĐV, ĐÂ  
thuộc NTNK: Từ ST, ĐV, ĐÂ được cấu tạo bởi những yếu tố Hán Việt. Hệ thống yếu tố Hán  
Việt này có sức sống trong các tác phẩm văn thơ bằng chữ Hán, vậy nên ngay cả khi những từ  
ST, ĐV, ĐÂ không gia nhập vào tiếng Việt thì những yếu tố Hán Việt tạo thành những từ này  
vẫn đang được nuôi dưỡng trên mảnh đất văn học Việt Nam. Hệ thống yếu tố Hán Việt có vị trí  
quan trọng trong tiếng Việt và chúng cần được nhìn nhận ở cả chiều đồng đại và lịch đại. Những  
đóng góp của các tác giả thơ văn chữ Hán không chỉ ở một thời đại, thời gian nhất định mà còn  
được nhìn xuyên suốt sự phát triển của tiếng Việt. Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn cũng  
nhận định về vấn đề này khi đánh giá ngôn ngữ thơ ca của Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370)  
qua các bài thơ trong Giới Hiên thi tập. Ông viết: “Có thể nói, sở dĩ tiếng Việt đạt đến trình độ  
59  
Nguyễn Thị Thanh Chung  
như ngày nay, đủ sức để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp hiện đại hoá đất  
nước, một phần là cũng có nhờ vào việc thường xuyên bổ sung được những lớp từ ngữ Hán Việt  
rất mới, rất chuyên môn ở đủ các ngành chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật.  
Nhưng sở dĩ có được những đợt bổ sung từ ngữ hiện đại này lại là nhờ các thế hệ tiền nhân đời  
trước đã truyền lại được cho chúng ta một khối lượng đủ lớn các yếu tố Hán, đọc với cách đọc  
Hán Việt. Nếu cụ Nguyễn Trung Ngạn bỗng nhiên sống lại, cụ không thể hiểu được tính từ,  
trường hợp, nguyên tử, hoá phân, Anh ngữ, Mĩ kim có nghĩa là gì, hoặc cụ sẽ hiểu sai. Nhưng  
nếu tách riêng thành từ yếu tố thì chỉ các yếu tố tính, từ, trường, hoá, phân, anh, ngữ, mĩ, kim lại  
đều đã từng có mặt 700 năm về trước trong Giới Hiên thi tập, cái gia tài thơ ca cụ để lại  
cho chúng ta” [2; 134]. Ngôn từ trong tác NTNK cũng vậy, mặc dù 60 từ ST, ĐV, ĐÂ được  
thống kê trong Bảng 2 không gia nhập vào tiếng Việt nhưng 120 yếu tố Hán Việt của cấu thành  
nên các từ này như các yếu tố: bán, bất, đa, đại, đăng, đồ, hoa, hương, hôn, phương, hướng,  
lạc, trung, quan, nan, nhân, tại, tù, túc, lai, thượng, thiên, thính, thuyết, thanh, tiểu, trận, vãn…  
vẫn nương trú trong mảnh đất văn chương. Mỗi tác giả văn học Việt Nam khi sử dụng chữ Hán  
để sáng tác văn chương đã góp phần nuôi dưỡng những yếu tố góp phần tạo thành tiếng Việt.  
Thứ ba là sự vận động nội tại của các từ Hán Việt trong tiếng Việt. Sự biến đổi của hệ  
thống yếu tố Hán Việt thể hiện ở khả năng vận động ở sự chuyển biến về nghĩa. Có những từ đã  
thay đổi về nghĩa khi gia nhập vào tiếng Việt, dưới đây là một số trường hợp tiêu biểu.  
Bảng 8. Một số trường hợp tiêu biểu của sự vận động nội tại  
của các từ Hán Việt trong tiếng Việt  
TT  
Từ  
trong  
tác  
Nghĩa trong tiếng Hán  
Nghĩa  
trong Từ  
điển Hán điển Tiếng  
Việt Việt  
Tâm địa và Chuyện  
Nghĩa  
trong Từ  
Nhận định  
phẩm  
1
Từ thay đổi từ  
nghĩa chỉ cả  
đặc điểm tính  
cách còn lại  
nghĩa chỉ tình  
cảm riêng tư.  
(+) 心神, 情绪 (trạng thái tinh thần).  
tính tình.  
tình cảm  
riêng tư  
của mỗi  
người.  
Tâm  
tình/  
Tính  
tình  
(+) 兴致, 情趣 (hứng thú, hào  
hứng). [Q7, tr.384]  
2
Cái  
1. Ngục tù, Không còn  
lao lung/  
lao tù  
(+) 包羅, 容納 (bao quát, chứa  
đựng). (+) 猶掩蓋, 蓋過 (che đậy).  
(+) 籠絡;羅致 (lung lạc, lôi kéo).  
(+) 約束, 限制 (bó buộc, hạn chế).  
(+) 騙人的圈套 (cái bẫy để hại  
người). (+) 關禽獸的籠檻. 喻束縛  
人的事物. (cái lồng nhốt cầm thú, tỉ  
chuồng và nơi giam  
cái lồng để hãm làm  
nhốt súc  
vật – Dùng 2. Ở trong  
thủ đoạn  
khôn khéo bó buộc về  
hay là  
quyền lực  
để kiềm  
chế người. mức khổ  
ải.  
nghĩa chuồng  
nuôi nhốt gia  
mất tự do. súc.  
cảnh chịu  
vật chất  
lẫn tinh  
thần đến  
dụ cho vật trói buộc con người).  
[Q6, tr.243]  
3
Khen ngợi. Khen ngợi, Thêm hàm  
(+) 贊嘆稱頌. 誦, 通「頌」 (khen  
ca tụng  
quá đáng  
nghĩa khen vì  
động cơ xấu,  
tán tụng/ ngợi). [Q11, tr.476]  
khen  
ngơi  
nhằm mục khen không  
đích riêng. chính xác.  
60  
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí  
Sự thay đổi về nghĩa này khẳng định sự phát triển của tiếng Việt, đó cũng chính là sức sống  
mạnh mẽ của hệ thống yếu tố Hán Việt trong tiếng Việt. Thơ ca bằng chữ Hán tựa như một  
vườn ươm và những yếu tố Hán Việt tựa như những hạt mầm. Những hạt mầm được gieo trồng  
trong vườn ươm ngôn từ để nảy nở. Những yếu tố Hán Việt tạo thành từ Hán Việt, chúng trở  
thành một bộ phận quan trọng của tiếng Việt. Hệ thống từ ST, ĐV, ĐÂ góp phần vào sự phát  
triển này. Thơ ca chữ Hán của người Việt Nam sáng tác bằng chữ Hán, được đọc bằng âm Hán  
Việt đã nuôi dưỡng khả năng phát triển của các yếu tố Hán Việt, các từ Hán Việt. Có thể khẳng  
định thơ ca bằng chữ Hán của người Việt Nam không chỉ có mối tương quan với tiếng Hán mà  
còn có mối quan hệ mật thiết với tiếng Việt.  
3. Kết luận  
NTNK của Hồ Chí Minh là một thi tập giàu giá trị trên nhiều phương diện, trong đó có  
phương diện ngôn từ nghệ thuật. Trong ngôn từ nghệ thuật có một nhóm từ là ST, ĐV, ĐÂ với  
khả năng biểu đạt mạnh mẽ trong tác phẩm nghệ thuật. Nhóm từ này trong tác phẩm NTNK  
gồm 102 từ, trong đó từ được vay mượn chiếm 76% và sáng tạo chiếm 24%. Những từ vay  
mượn và sáng tạo kết hợp hài hòa trong các tác phẩm, thể hiện tài năng ngôn từ của Hồ Chí  
Minh. Hệ thống ngôn từ này còn có ý nghĩa trong phát triển vốn từ Hán Việt trong tiếng Việt  
khi chúng có sự gia nhập trong tiếng Việt. Trong những từ ST, ĐV, ĐÂ mà Hồ Chí Minh viết  
trong Nhật kí trong tù có những từ gia nhập vào tiếng Việt và có những từ không gia nhập vào  
tiếng Việt. Từ gia nhập vào tiếng Việt chiếm 42% và từ không gia nhập vào tiếng Việt chiếm  
58%. Số lượng này cho thấy sự giao thoa mạnh mẽ giữ tiếng Việt và tiếng Hán, cũng là sự giao  
thoa giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường. Những từ gia nhập vào tiếng Việt  
không nhất thành bất biến mà có những biến đổi không ngừng để trở nên phù hợp hơn với cuộc  
sống. Điều đó cũng góp phần khằng định sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt trong sự giao lưu  
và tiếp biến với ngôn ngữ nước ngoài trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.  
Ghi chú: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia  
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.02-2019.02.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đào Duy Anh, 2003. Từ điển Hán Việt, (tái bản có sửa chữa). Nxb Văn hóa thông tin, Hà  
Nội.  
[2] Nguyễn Tài Cẩn, 1998. Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn  
Trung Ngạn. Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
[3] Nguyễn Tài Cẩn, 2004. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nxb Đại  
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
[4] Đỗ Hữu Châu, 1999. Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội.  
[5] Thiều Chửu, 2007. Hán Việt tự điển. Nxb Thanh niên, Hà Nội.  
[6] Nguyễn Thiện Giáp, 2015. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. Nxb  
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.  
[7] Nhiều tác giả, 2014. Hồ Chí Minh và năm bảo vật quốc gia. Nxb Thông tin và truyền  
thông, Hà Nội.  
[8] 陳廷敬 - 張玉書等 (編撰), 2007. 康熙字典, 上海辭書出版社, 上海.  
[9] 夏征農 (主編), 1999. 辭海,中華書局發行所,北京.  
61  
Nguyễn Thị Thanh Chung  
[10] 罗竹風 (主編), 1994. 漢語大辭典,漢語大辭典出版社,上海.  
[11] 許愼, 說文解字, 2011.上海古書出版社,上海.  
[12] 呉澤炎, 黄秋耘, 劉葉秋(編纂), 1999. 辭源,商務印書館,北京.  
ABSTRACT  
Tracing and studying two-syllable words, two consecutive words  
with a similar sound and tone, and words with a similar sound in “Ngục trung nhật kí”  
Nguyen Thi Thanh Chung  
The Faculty of Philology, Hanoi National University of Education  
The paper examines the system of two-syllable words, two consecutive words with a  
similar sound and tone, and words with a similar sound in “Ngục trung nhật kí”. Based on that,  
it discusses the author’s word borrowing and forming. At the same time, the paper explores the  
interaction and development of this language system in modern Vietnamese. This group of  
words in “Ngục trung nhật kí” includes 102 words, of which borrowed words account for 76%  
and formed words 24%. The borrowed and formed words are harmoniously combined in the  
work, demonstrating Ho Chi Minh's linguistic talent. Among the two-syllable words, two  
consecutive words with a similar sound and tone, and words with a similar sound that Ho Chi  
Minh wrote in “Ngục trung nhật kí”, there were words that entered Vietnamese and those that  
did not, accounting for 42% and 58% respectively. The words which entered Vietnamese  
lexicon have undergone changes to become more suitable with the reality with the rate of  
modified words being 16%. This figure shows the intersection between Vietnamese and  
Chinese, between literary language and everyday language, and affirms the strong development  
of Vietnamese throughout the nation's history.  
Keywords: Ngục trung nhật kí, Ho Chi Minh, two-syllable words, two consecutive words  
with a similar sound and tone, and words with a similar sound  
62  
pdf 13 trang baolam 23680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_luan_tam_nguyen_tu_song_thanh_diep_van_diep_am_trong_ng.pdf