Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí
HNUE JOURNAL OF SCIENCE
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0007
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 1, pp. 50-62
KHẢO LUẬN TẦM NGUYÊN TỪ SONG THANH, ĐIỆP VẬN, ĐIỆP ÂM
TRONG NGỤC TRUNG NHẬT KÍ
Nguyễn Thị Thanh Chung
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Tóm tắt. Bài viết khảo luận về hệ thống từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung
nhật kí, từ đó, nhận định về sự vay mượn và sáng tạo về ngôn từ của Hồ Chí Minh. Đồng
thời, bài viết tìm hiểu về sự tương tác, phát triển của hệ thống ngôn từ này trong tiếng Việt
hiện đại. Ngục trung nhật kí gồm 102 từ song thanh, điệp vận, điệp âm, trong đó từ được
vay mượn chiếm 76%, từ được sáng tạo chiếm 24%. Những từ vay mượn và sáng tạo kết
hợp hài hòa trong các tác phẩm, thể hiện tài năng ngôn từ của tác giả. Trong những từ song
thanh, điệp vận, điệp âm thuộc Nhật kí trong tù có những từ gia nhập vào tiếng Việt và có
những từ không gia nhập vào tiếng Việt. Từ gia nhập vào tiếng Việt chiếm 42% và từ
không gia nhập vào tiếng Việt chiếm 58%. Những từ đã gia nhập vào tiếng Việt luôn có
những biến đổi để trở nên phù hợp hơn với thực tiễn, tỉ lệ những từ biến đổi chiếm 16%. Số
liệu này cho thấy sự giao thoa giữa tiếng Việt và tiếng Hán, giữa ngôn ngữ văn chương và
ngôn ngữ đời thường, đồng thời khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt trong suốt
chiều dài lịch sử của dân tộc.
Từ khóa: Ngục trung nhật kí, Hồ Chí Minh, song thanh, điệp vận, điệp âm.
1. Mở đầu
Nhật kí trong tù là thi tập bằng chữ Hán được Hồ Chí Minh viết trong khoảng thời gian bị
bắt giam tại Trung Quốc, văn bản của tác phẩm hiện được sao in trong cuốn Hồ Chí Minh và 5
bảo vật quốc gia. Bài viết này đặt vấn đề từ câu thơ trong bài Vô đề thuộc Ngục trung nhật kí:
các từ đọc bằng âm đọc Hán Việt như sau: thân thể, tinh thần, tại, ngục trung, ngục ngoại.
Người sử dụng tiếng Việt thông thường có thể hiểu được một số từ trong những từ trên. Như
vậy, từ trong tác phẩm văn chương bằng chữ Hán của người Việt Nam có mối quan hệ với tiếng
Hán và được sự phát triển trong tiếng Việt hiện đại là vấn đề cần được tìm hiểu một cách chi tiết
và hệ thống. Bài viết khảo luận về hệ thống từ song thanh (viết tắt ST), điệp vận (viết tắt ĐV),
điệp âm (viết tắt ĐÂ) trong Ngục trung nhật kí (viết tắt NTNK), từ đó, nhận định về sự vay
mượn và sáng tạo về ngôn từ của tác giả, đồng thời tìm hiểu về sự tương tác, phát triển của hệ
thống ngôn từ này trong tiếng Việt hiện đại, góp phần khẳng định tài năng văn chương của tác
giả, đồng thời góp phần xác định đặc điểm của tiếng Việt hiện đại.
Ngày nhận bài: 2/1/2021. Ngày sửa bài: 29/1/2021. Ngày nhận đăng: 10/2/2021.
50
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Đặc điểm vay mượn và sáng tạo của từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong
Ngục trung nhật kí so với tiếng Hán
Khái niệm từ ST, ĐV, ĐÂ được xác định trong nghiên cứu hệ thống từ vựng chỉ những
từ có cấu tạo gồm phụ âm của các yếu tố tương đồng (ST), vần của các yếu tố tương đồng
(ĐV), âm của các yếu tố tương đồng (ĐÂ). Các nhà nghiên cứu Hán ngữ thường sử dụng khái
niệm thanh mẫu, vận mẫu. Song thanh (雙聲) chỉ thanh mẫu của hai chữ tương đồng nhau,
điệp vận (疊韻) chỉ vận mẫu của hai chữ tương đồng nhau, điệp âm (疊音) chỉ hai chữ trùng
phức về âm tiết. Loại từ ST, ĐV, ĐÂ được xác định từ âm đọc, không đề cập đến nghĩa của các
yếu tố tạo nên từ. Về hình thể, từ ST, ĐV, ĐÂ được viết bằng chữ Hán trong thơ ca chữ Hán
của Hồ Chí Minh và được viết bằng chữ Quốc ngữ khi phiên âm Hán Việt. Về mặt âm đọc, các
từ ST, ĐV, ĐÂ tại Việt Nam được đọc theo âm Hán Việt, là cách đọc chữ Hán của người Việt.
Bởi vì cách đọc khác biệt nên việc xác định từ ST, ĐV, ĐÂ giữa tiếng Hán và tiếng Việt không
trùng khớp với nhau. Một số từ trong tiếng Hán là ST nhưng lại không phải là từ ST trong tiếng
Việt ví dụ như từ 琵琶 tiếng Hán đọc /pí pá/ là từ ST nhưng tiếng Việt đọc âm /tì bà/ lại không
phải là từ ST sẽ không được đề cập đến trong bài viết này.
2.1.1. Bảng khảo sát và kết quả tổng hợp
Phạm vi khảo sát thực hiện với tất cả các bài thơ trong NTNK (trong đó một số bài gồm kì
nhất, kì nhị, kì tam, kì tứ), số từ ST, ĐV, ĐÂ xác định được là 102 từ. Bài viết khảo sát toàn bộ
102 từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK để xác định đặc tính vay mượn và sáng tạo của hệ thống này
so với tiếng Hán. Bảng khảo sát gồm (1) Thứ tự, (2) Nhan đề bài thơ, (3) Chữ Hán, (4) Âm Hán
Việt, (5) Nghĩa của từ trong tác phẩm, (6) Phân loại, (7) Nghĩa của từ trong Hán ngữ đại từ điển
(dấu trừ biểu thị từ không xuất hiện trong Hán ngữ đại từ điển), (8) Kết luận về đặc tính vay
mượn hoặc sáng tạo của từ (dấu cộng biểu thị vay mượn, dấu trừ biểu thị sáng tạo). Dưới đây
phần trích lục 5 trường hợp từ Bảng 1.
Bảng 1. Bảng khảo sát khả năng vay mượn và sáng tạo của từ song thanh, điệp vận, điệp âm
trong “Ngục trung nhật kí” (trích lục 5 trường hợp)
(1)
(2)
Vấn thoại
問話
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
1
Ân cần Ân cần ĐV
+
(Tình cảm ân cần, tha thiết).
[Quyển 7, trang 671, từ đây viết
tắt thành Q7, tr.671]
Tứ cá
nguyệt liễu
Bất
bão
Không
no
ST
ST
-
-
2
四個月了
3
Bất
bình
Bất
bình
+
Điệt lạc跌
(+) 不均平, 不公正 (Không
công bằng). (+) 指不公正的事
或人 (Chỉ người hoặc việc
không công bằng). (+) 愤慨, 不
满 (Phẫn nộ, bất mãn). (+) 不适
, 欠安 (khó chịu). (+) 不和, 不
洛
51
Nguyễn Thị Thanh Chung
睦 (Bất hòa). [Q1, tr.403]
4
5
Cá cá
Người
người
ĐÂ
ĐÂ
+
-
Tảo tình早
(+) 一個一個,每一個 (Từng
cái một, từng người một). [Q1,
tr.1502]
晴
Giải vãng
Loan
loan
Quanh
co
-
Vũ Minh 解
往武鳴
Với các phương diện khảo sát như trên, kết quả tổng hợp về sự vay mượn và sáng tạo của
từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK được thống kê trong bảng sau:
Bảng 2. Bảng tổng hợp số liệu về tỉ lệ vay mượn và sáng tạo
của từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong “Ngục trung nhật kí”
TT
Từ
Vay mượn
(từ)
Tỉ lệ vay mượn
Sáng tạo
(từ)
Tỉ lệ sáng tạo
(%)
(%)
1
2
3
4
Từ song thanh
Từ điệp vận
Từ điệp âm
Tổng
37
14
27
78
36
14
26
76
16
4
16
4
4
4
24
24
2.1.2. Nhận định về đặc tính vay mượn và sáng tạo của từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK
Bảng tổng kết số liệu cho thấy, số từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK gồm nhóm vay mượn và
nhóm sáng tạo. Trong đó, nhóm vay mượn chiếm đến 76% và nhóm sáng tạo chiếm 24%. Số
lượng từ vay mượn lại chiếm số lượng lớn vì tiếng Hán có lịch sử lâu đời với một lượng từ vô
cùng phong phú, có khả năng phản ánh nhiều lĩnh vực, có thể kể đến lĩnh vực đời sống nội
chương ở Việt Nam có từ lâu đời, cách đây hơn ngàn năm. Sự vay mượn này cho thấy mối
tương quan về văn hóa sâu đậm của các nước đồng văn, cũng là nền văn hóa phương Đông.
Hệ thống từ ST, ĐV, ĐÂ thường có tính biểu cảm cao trong tác phẩm văn chương. Vậy nên,
khi sáng tác văn chương bằng chữ Hán, người sáng tác vay mượn vốn từ phong phú từ tiếng
Hán để tạo thành những tác phẩm nghệ thuật của mình. Hồ Chí Minh đã vay mượn từ ST,
ĐV, ĐÂ của tiếng Hán, kết hợp chúng một cách hài hòa với những từ sáng tạo để tạo nên tác
52
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí
phẩm ngôn từ nghệ thuật. Đó chính là sự điêu luyện, thể hiện tài năng của tác giả, nhất là khi
tác giả sáng tác bằng ngôn ngữ vay mượn.
Tỉ lệ từ ST, ĐV, ĐÂ được sáng tạo trong NTNK chiếm 24%. Từ ST, ĐV, ĐÂ là những
từ được xem xét về phương diện âm thanh của các yếu tố tương đồng hoặc là hoàn toàn, hoặc
là phần vần, hoặc là phụ âm. Cố nhiên, không phải bất cứ từ mang âm thanh tương đồng đứng
cạnh nhau trong một văn bản lập tức trở thành từ ST, ĐV, ĐÂ. Những từ này trong tác phẩm
NTNK được xem xét trong tương quan về vị trí câu thơ được ngắt nhịp ví dụ 2/1/2; 2/2/3…
Việc đứng trong một vị trí đảm bảo mối tương quan chặt chẽ của từ là cơ sở để tạo thành từ
ST, ĐV, ĐÂ. Tỉ lệ 24% cho thấy tác giả đã có sáng tạo trong quá trình sáng tác văn chương.
Việc tạo thành những từ ST, ĐV, ĐÂ giúp cho tác phẩm có được tính biểu cảm cao hơn, ví dụ
(Quế Lâm vô quế diệc vô lâm/ Chỉ kiến sơn cao dữ thủy thâm/ Dung ấm giam phòng chân khả
phạ/ Bạch thiên hắc hắc, dạ trầm trầm - Quế Lâm không có quế cũng chẳng có rừng/ Chỉ thấy
núi cao và nước sâu/ Bóng cây đa rủ xuống buồng giam, thực đáng sợ/ Ban ngày thì đen xì xì,
ban đêm thì trầm tịch). Trong bài thơ, tác giả đã dùng hai tính từ cao và thâm để tả về núi và
nước: sơn cao (núi cao), thủy thâm (nước sâu). Hai tính từ có cấu tạo là một từ tố trở thành
bước đệm cho hai từ điệp âm xuất hiện ở câu cuối cùng khi tả cây đa gồm hắc hắc (đen xì xì)
và trầm trầm (trầm tịch, vô thanh, thanh âm xa vắng). Trong hai từ điệp âm, từ trầm trầm là
từ vay mượn còn từ hắc hắc là từ sáng tạo. Có thể thấy, từ hắc hắc không chỉ tạo ra âm hưởng
mạnh về sự u ám của bóng cây đa mà còn diễn đạt được rõ nét ấn tượng về màu sắc của bóng
cây đa vào ban ngày khi có sự đối lập bạch và hắc trong cụm từ: bạch thiên hắc hắc. Trong
quá trình sáng tạo, các tác giả luôn phải có sự sử dụng ngôn từ một cách linh hoạt, có sự sáng
tạo. Điều này đem đến sự mới mẻ cho ngôn từ văn học, đóng góp vào sự phát triển nền văn
chương và ngôn ngữ của các dân tộc.
2.2. Khảo luận sự phát triển của từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc Ngục
trung nhật kí trong tiếng Việt hiện đại
Phần thứ nhất của bài viết tìm hiểu mối tương quan giữa từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK và từ
ST, ĐV, ĐÂ trong tiếng Hán phần nào thấy được sự vay mượn và sáng tạo của ngôn ngữ thi ca
Việt Nam nói riêng và tiếng Việt trong thế kỉ XX nói chung. Phần thứ hai của bài viết tìm hiểu
sự phát triển trong tiếng Việt của từ ST, ĐV, ĐÂ được Hồ Chí Minh sử dụng trong thơ chữ
Hán. Khái niệm phát triển được hiểu là sự vận động của từ, có thể gia nhập, tồn tại trong tiếng
Việt hiện đại hoặc bị loại trừ khỏi tiếng Việt hiện đại. Nhìn từ góc độ mối tương quan giữa tiếng
Việt và tiếng Hán, nội dung này nghiên cứu khả năng phát triển của các yếu tố Hán Việt khi
chúng được tạo thành từ và thực hiện quá trình gia nhập vào tiếng Việt. Khái niệm tiếng Việt
hiện đại trong bài viết này chủ yếu được xác định với sự xuất hiện của từ trong các từ điển được
xuất bản ở thế kỉ XX gồm cuốn Từ điển Hán Việt (Đào Duy Anh) và cuốn Từ điển Tiếng Việt
(Hoàng Phê chủ biên).
2.2.1. Bảng khảo sát
Bài viết khảo sát toàn bộ từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK. Bảng khảo sát gồm: (1) Thứ tự, (2)
Âm Hán Việt - Chữ Hán - Nghĩa của từ trong tác phẩm, (3) Nhan đề bài thơ (có thể được lược
từ), (4) Phân loại, (5) Nghĩa của từ trong Hán ngữ đại từ điển (dấu trừ biểu thị không xuất hiện),
(6) Nghĩa của từ trong Từ điển Hán Việt (dấu trừ biểu thị không xuất hiện), (7) Nghĩa của từ
trong Từ điển Tiếng Việt (dấu trừ biểu thị không xuất hiện), (8) Kết luận về khả năng gia nhập
vào tiếng Việt của từ gồm: Từ không gia nhập vào Tiếng Việt hiện đại (nhóm 1), Từ gia nhập
vào tiếng Việt nhưng sau thoái lui khỏi tiếng Việt (nhóm 2), Từ gia nhập vào tiếng Việt hiện đại
(nhóm 3). Bảng dưới đây trích lục 5 trường hợp:
53
Nguyễn Thị Thanh Chung
Bảng 3. Bảng khảo sát khả năng phát triển trong tiếng Việt hiện đại
của từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”
(1)
(2)
(Bất bão
- Không
no)
(3)
(4)
(5)
(6)
(7)
(8)
1
Tứ
cá ST
-
-
-
Nhóm
1
nguyệt 四
個月
2
Song thập
nhất 雙十
ĐÂ
-
-
Nhóm
1
(+) 猛火炎炽貌 (Lửa
cháy rừng rực). (+) 鲜
明灿烂貌 (Vẻ tươi
đẹp, rực rỡ). 3. 引申
为显豁,显著 (Nghĩa
(Liệt liệt
- Oanh
liệt)
一
mở rộng chỉ sự nổi
bật)… [Q7, tr.63]
3
Ký Nê
ĐÂ
Xa xôi
-
Nhóm
2
(Dao dao
(+)
形容距离远
Lỗ 寄尼魯
(Hình dung cự li xa).
- Xa xôi)
(+) 形容时间长
(Hình dung thời gian
dài). (+) 形容摇摆不
定的样子 (Miêu tả
dáng vẻ lay động, bất
định). [Q10, tr.1144]
4
Tại Túc
ST
Tiếng
tăm tốt
– Có
1.Sự coi trọng của Nhóm
(Danh
dự -
(+)
名望與聲譽
dư luận xã hội, dựa
trên giá trị tinh
thần đạo đức tốt
đẹp. 2. Cái nhằm
mang lại danh dự,
3
Vinh 在足
(Danh vọng, thanh
榮
danh). (+) 榮譽, 光榮
danh
Danh dự)
(Vinh dự, vinh hạnh, mà
quang vinh). [Q3, không
tr.178]
có chức nhằm tỏ rõ sự kính
vụ.
trọng của xã hội,
của tập thể.
5
ĐV
-
Xác định về mặt Nhóm
Dạ bán 夜
(+) 安定心神 (Tinh
thần ổn định). (+) 事
tính chất hoặc biến
đổi tính chất, phân
3
(Định
tính -
Tính vốn
có)
半
biệt
với
định
物固定的特性 (Đặc
tính ổn định của sự
việc). (+) 确定事物的
lượng.
成分或性质 (Bộ phận
hoặc tính chất được
xác định của sự vật…
[Q3, tr.1363]
54
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí
2.2.2. Phân loại
2.2.2.1. Nhóm từ không gia nhập vào tiếng Việt
Trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh có nhiều từ ST, ĐV, ĐÂ không gia nhập vào hệ
thống từ của tiếng Việt hiện đại. Tiêu chí không gia nhập này được xác định với điều kiện
chúng không xuất hiện trong Từ điển Hán Việt và Từ điển Tiếng Việt. Nhìn chung, từ điển là
phần ngôn ngữ tinh lọc của cuộc sống, không thể đầy đủ, phong phú, phồn tạp như ngôn từ
trong cuộc sống, ví dụ một số từ không có trong từ điển nhưng hiện tại người Việt vẫn hiểu và
sử dụng như xứ xứ, trận trận nhưng sự không xuất hiện của một nhóm từ trong từ điển có dung
lượng lên đến 38.410 mục từ đã phản ánh diện mạo của ngôn ngữ. Nhóm từ này được sử dụng
trong thơ ca nhưng không gia nhập vào tiếng Việt. Đó chính là sự lựa chọn của tiếng Việt trên
con đường phát triển của mình.
Bảng 4. Bảng thống kê từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”
không xuất hiện trong tiếng Việt hiện đại
TT
Chữ
Hán
Âm Hán Việt Nghĩa trong TT
tác phẩm
Chữ
Hán
Âm Hán
Việt
Nghĩa trong
tác phẩm
1
2
Bán bồn
Bất bão
Bộ bộ
Nửa chậu
Không no
Từng bước
Từng người
Nhiều
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
Nan nan
Ngân ngân
Ngục ngoại
Nhân nhân
Phân phân
Tại tù
Khó khăn
Hầm hầm
Ngoài ngục
Người người
Bời bời
3
4
Cá cá
5
Đa đa
6
Đại đại
Đại đoan
Đăng đáo
Dị dị
To to
Trong tù
7
Mối lớn
Tật túc
Chân nhanh
Tắm rửa
8
Lên đến
Tẩy tảo
9
Dễ dàng
Leng keng
Dừng chân
Thái lai
Niềm vui tới
Tham ăn
10
11
12
Đinh đang
Đình đề
Đổ đảm
Tham thốn
Thân thân
Duỗi thẳng
Gan đánh
bạc
Thán thượng Trên đống than
13
14
15
Đồ lộ
Con đường
U tối
43
44
45
Thành thiên
Thế thượng
Thiên thiên
Suốt ngày
Trên đời
Hắc hắc
Hành hành
Đi từng
bước
Ngày ngày
16
17
Hảo hảo
Ngon lành
46
47
Thiết thằng
Xích sắt
Hoa hương
Hương hoa
Thính thuyết
Nghe nói
55
Nguyễn Thị Thanh Chung
18
19
20
Hôn hôn
Say sưa
48
49
50
Thượng
thanh
Còn xanh
Trời xanh
Từng nếm
Hướng
phương
Phương
hướng
Thương thiên
Kê đề
Gà gáy
Thường
thường
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
Không không Rỗng không 51
Thủy thâm
Thụy thời
Tị tập
Nước sâu
Khi ngủ
Khúc khúc
Lạc liễu
Lai lâm
Quanh co
Rụng mất
Đến tới
52
53
54
55
56
57
58
59
60
Tránh oanh tạc
Nho nhỏ
Tiểu tiểu
Trận trận
Triêu triêu
Vãn vãn
Vãn xan
Xa mã
Liệt liệt
Oanh liệt
Quanh co
Trong lò
Từng trận
Mỗi sớm
Tối tối
Loan loan
Lư lí
Lung lý
Trong ngục
Trong ngục
Cửa ải khó
Cơm chiều
Ngựa xe
Lung trung
Nan quan
Xứ xứ
Nơi nơi
2.2.2.2. Nhóm từ dần thoái lui khỏi tiếng Việt
Nhóm từ dần thoái lui khỏi tiếng Việt là nhóm từ ban đầu gia nhập vào tiếng Việt, sau đó
thoái lui không xuất hiện trong tiếng Việt nữa. Cuốn Từ điển Hán Việt được xuất bản vào những
năm ba mươi của thế kỉ 20, cuốn Từ điển tiếng Việt hoàn thành vào những thập niên cuối của
thế kỉ 20, hai cuốn từ điển cách nhau khoảng hơn nửa thế kỉ, cho nên việc không lựa chọn một
số từ của Từ điển tiếng Việt phần nào phản ánh sự thay đổi của tiếng Việt.
Bảng 5. Bảng thống kê từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”
bị loại dần khỏi tiếng Việt hiện đại
TT Chữ
Âm Hán
Nghĩa trong
tác phẩm
Nghĩa trong Hán Việt
Từ điển
Hán
Việt
1
Căng căng
Cuồng ca
Đại đạo
Dao dao
Du du
Run lên bần bật Nơm nớp sợ hãi – Cứng cỏi.
2
Hát tràn
Đường lớn
Xa xôi
Hát bướng, hình dung người bất đắc chí.
3
Đạo lý căn bản – Đường lớn.
4
Xa xôi.
5
Vời vợi
Xa xôi- Thong thả lơ lửng – Lòng thương nhớ
vời vợi.
6
Mạn mạn
Chậm chậm
Dài rộng, không có giới hạn.
56
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí
7
8
Mang mang Mênh mang
Nhã nhân Người nho nhã
Xa xôi – Mỏi mệt.
Người thanh tao không tục, người phong nhã.
Người không có tương quan đến việc ấy.
Tiếng ầm ầm.
9
Nhàn nhân Người nhàn
Oanh oanh Lẫy lừng
10
11
Thiên
Trên trời
Trên trời.
thượng
12
13
14
Tòng tiền
Trước đây
Im lìm
Từ trước đến nay.
Trầm trầm
Cảnh tượng tối tăm – Tiếng xa như đứt nối.
Trăn trở không yên, hình dung cái ý lo nghĩ.
Triển
chuyển
Trằn trọc
15
Trư tử
Con lợn
Con lợn = người bị bán cho cho ngoại quốc để
làm khổ công – Tiếng Tàu gọi các nghị viên
khi Dân quốc mới lập.
2.2.2.3. Nhóm từ có gia nhập vào tiếng Việt hiện đại
Một số từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK gia nhập vào tiếng Việt hiện đại, được người Việt hiện
nay sử dụng trong cuộc sống. Trong 102 từ được khảo sát có 27 từ hiện vẫn được người Việt
Nam sử dụng. Bảng thống kê cụ thể như sau:
Bảng 6. Bảng thống kê những từ song thanh, điệp vận, điệp âm
thuộc “Ngục trung nhật kí” gia nhập vào tiếng Việt hiện đại
TT Chữ Hán/ Âm
đọc
Nghĩa trong Từ
điển Hán Việt
Nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt
1
-
Xác định về mặt tính chất hoặc biến đổi tính
chất, phân biệt với định lượng.
2
Tiếng tăm tốt – Có 1.Sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên
danh mà không có giá trị tinh thần đạo đức tốt đẹp.
chức vụ.
2. (dùng phụ sau một số tổ hợp) Cái nhằm
mang lại danh dự, nhằm tỏ rõ sự kính trọng
của xã hội, của tập thể.
3
4
Lúc chạng vạng, Khoảng thời gian mặt trời mới lặn, ánh sáng
黃昏 Hoàng hôn
人民 Nhân dân
trời gần tối.
yếu ớt và mờ dần.
Người dân.
1. Đông đảo người dân thuộc mọi tầng lớp,
đang sống trong một khu vực nào đó.
2. Thuộc về nhân dân, nhằm phục vụ nhân dân.
5
6
7
Tâm địa và tính Chuyện tình cảm riêng tư của mỗi người
tình
心情 Tâm tình
Tình ý chu đáo
(Cách đối xử) tỏ ra quan tâm chu đáo và đầy
nhiệt tình
Không bằng lòng.
1. Không hợp lẽ công bằng, không hợp với
công lí.
57
Nguyễn Thị Thanh Chung
2. Không bằng lòng mà sinh ra bực tức giận dữ.
8
9
Dùng dằng đi lại.
Bày tỏ rõ ràng.
Ở trong trạng thái có những cảm xúc, ý nghĩ
trở đi trở lại làm xao xuyến không yên,
thường là khi nghĩ đến việc đã qua.
1.Vạch ra cho cấp dưới thi hành.
2. Điều cấp trên chỉ thị cho cấp dưới.
10
11
Khốn khổ khó khăn Ở trong cảnh ngộ gặp nhiều khó khăn phải
vượt qua.
艱難 Gian nan
豪雄 Hào hùng
Hào kiệt, người có Có tính chất mạnh mẽ và sôi nổi.
tài
năng
xuất
chúng.
12
13
14
15
Rực rỡ - Sáng chói. Rực rỡ và lẫy lừng.
Vui vẻ.
Rất vui mừng.
Chói lọi, đẹp đẽ.
Có vẻ đẹp chói lọi, rực rỡ.
輝煌 Huy hoàng
Có ý khí hăng hái 1.Có khí phách cứng cỏi và kiên cường,
lại có cách hào hiệp không chịu khuất.
Khảng
khái
– Dùng tiền không
keo lận.
2. Có tính chất cao thượng, vì nghĩa lớn.
16
Cái chuồng và cái Ngục tù, về mặt là nơi giam hãm,làm mất tự
lồng để nhốt súc do.
牢籠 Lao lung
vật – Dùng thủ
đoạn khôn khéo
hay là quyền lực để
kiềm chế người.
17
18
19
20
Nhận cho kĩ càng Nhận thức rõ một sự thật, một chân lý nào
儒雅 Nho nhã
không cẩu thả.
đó.
Nóng nảy hăng hái. Với đầy nhiệt tình, biểu lộ trong thái độ hoan
nghênh.
Văn nhã ôn hòa Có dáng vẻ tao nhã của người có học thức
như người nho nhã. (kiểu nho sĩ thời trước).
Dựng cơ nghiệp lần 1.Tạo ra lại, làm ra lại.
thứ hai – Lời cảm
ơn người đã cứu
mình.
2. Phản ánh hiện thực có hư cấu, tưởng tượng
nhưng chân thật và sinh động như làm sống
lại hiện thực.
21
22
23
Khen ngợi.
Khen ngợi, ca tụng quá đáng nhằm mục đích
riêng.
千秋 Thiên thu
Hình thể của thân Cơ thể của người.
mình.
Nghìn năm.
Nghìn thu, nghìn năm, thường để chỉ thời
gian vĩnh viễn.
58
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí
24
25
26
27
Không có tiếng Vắng lặng không một tiếng động nào.
tăng – Yên lặng.
Khô héo – Khốn Có dáng vẻ tàn tạ, xơ xác đến thảm hại.
khổ
Tùy ý – ra vẻ thỏa Thư thái, không có điều gì phải phiền muộn.
thích.
Tùy ý.
1.Tiện đâu làm đó không có nguyên tắc.
2. Chỉ theo hoàn cảnh làm thế nào đó cho
thích hợp.
2.2.3. Kết quả tổng hợp và nhận định
Trên cơ sở khảo sát và phân loại các từ ST, ĐV, ĐÂ trong NTNK với khả năng gia nhập
vào tiếng Việt hiện đại, khả năng không gia nhập vào tiếng Việt hiện đại hoặc khả năng dần
thoái lui khỏi tiếng Việt, bảng tổng hợp khả năng phát triển hệ thống từ này trong tiếng Việt
được xác lập dưới đây.
Bảng 7. Bảng tổng hợp khả năng gia nhập vào tiếng Việt
của từ song thanh, điệp vận, điệp âm thuộc “Ngục trung nhật kí”
Loại
Số lượng (từ)
Tỉ lệ (%)
TT
1
Từ không gia nhập tiếng Việt hiện đại
Từ thoái lui khỏi tiếng Việt hiện đại
60
15
58
16
26
2
3
Từ gia nhập tiếng Việt hiện đại
Tổng
27
102
100
Số liệu về sự phát triển của ST, ĐV, ĐÂ thuộc NTNK trong tiếng Việt được đưa đến một
số nhận định như sau:
Thứ nhất là sự phát triển trong tiếng Việt của những từ ST, ĐV, ĐÂ thuộc NTNK: Trong
những từ từ ST, ĐV, ĐÂ thuộc NTNK có những từ gia nhập vào Tiếng Việt và những từ không
gia nhập vào tiếng Việt. Tỉ lệ từ gia nhập vào tiếng Việt là 42% (bao gồm từ gia nhập vào tiếng
Việt nhưng sau bị loại dần khỏi tiếng Việt chiếm 16%, từ gia nhập vào tiếng Việt chiếm 26%)
và nhóm từ không gia nhập vào tiếng Việt chiếm 58%. Tỉ lệ 58% từ ST, ĐV, ĐÂ không gia
nhập vào tiếng Việt cho thấy chữ Hán được người Việt Nam vay mượn và sử dụng thuộc hệ
thống văn ngôn, vẫn có những đặc điểm khác biệt so với tiếng Việt, nhiều từ không xuất hiện
trong vốn từ đương đại của người Việt. Những từ gia nhập vào tiếng Việt (chiếm đến 42%) thể
hiện sự giao thoa mạnh mẽ giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Mối tương quan của hai tỉ lệ này còn
cho thấy những tác phẩm văn học viết bằng chữ Hán có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ,
phát triển, sàng lọc từ ngữ trong quá trình vay mượn này. Đây chính là một phần đóng góp của
tác phẩm viết bằng chữ Hán đối với tiếng Việt.
Thứ hai là sự phát triển trong tiếng Việt của những yếu tố cấu thành nên từ ST, ĐV, ĐÂ
thuộc NTNK: Từ ST, ĐV, ĐÂ được cấu tạo bởi những yếu tố Hán Việt. Hệ thống yếu tố Hán
Việt này có sức sống trong các tác phẩm văn thơ bằng chữ Hán, vậy nên ngay cả khi những từ
ST, ĐV, ĐÂ không gia nhập vào tiếng Việt thì những yếu tố Hán Việt tạo thành những từ này
vẫn đang được nuôi dưỡng trên mảnh đất văn học Việt Nam. Hệ thống yếu tố Hán Việt có vị trí
quan trọng trong tiếng Việt và chúng cần được nhìn nhận ở cả chiều đồng đại và lịch đại. Những
đóng góp của các tác giả thơ văn chữ Hán không chỉ ở một thời đại, thời gian nhất định mà còn
được nhìn xuyên suốt sự phát triển của tiếng Việt. Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn cũng
nhận định về vấn đề này khi đánh giá ngôn ngữ thơ ca của Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370)
qua các bài thơ trong Giới Hiên thi tập. Ông viết: “Có thể nói, sở dĩ tiếng Việt đạt đến trình độ
59
Nguyễn Thị Thanh Chung
như ngày nay, đủ sức để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp hiện đại hoá đất
nước, một phần là cũng có nhờ vào việc thường xuyên bổ sung được những lớp từ ngữ Hán Việt
rất mới, rất chuyên môn ở đủ các ngành chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật.
Nhưng sở dĩ có được những đợt bổ sung từ ngữ hiện đại này lại là nhờ các thế hệ tiền nhân đời
trước đã truyền lại được cho chúng ta một khối lượng đủ lớn các yếu tố Hán, đọc với cách đọc
Hán Việt. Nếu cụ Nguyễn Trung Ngạn bỗng nhiên sống lại, cụ không thể hiểu được tính từ,
trường hợp, nguyên tử, hoá phân, Anh ngữ, Mĩ kim có nghĩa là gì, hoặc cụ sẽ hiểu sai. Nhưng
nếu tách riêng thành từ yếu tố thì chỉ các yếu tố tính, từ, trường, hoá, phân, anh, ngữ, mĩ, kim lại
đều đã từng có mặt 700 năm về trước trong Giới Hiên thi tập, cái gia tài thơ ca cụ để lại
cho chúng ta” [2; 134]. Ngôn từ trong tác NTNK cũng vậy, mặc dù 60 từ ST, ĐV, ĐÂ được
thống kê trong Bảng 2 không gia nhập vào tiếng Việt nhưng 120 yếu tố Hán Việt của cấu thành
nên các từ này như các yếu tố: bán, bất, đa, đại, đăng, đồ, hoa, hương, hôn, phương, hướng,
lạc, trung, quan, nan, nhân, tại, tù, túc, lai, thượng, thiên, thính, thuyết, thanh, tiểu, trận, vãn…
vẫn nương trú trong mảnh đất văn chương. Mỗi tác giả văn học Việt Nam khi sử dụng chữ Hán
để sáng tác văn chương đã góp phần nuôi dưỡng những yếu tố góp phần tạo thành tiếng Việt.
Thứ ba là sự vận động nội tại của các từ Hán Việt trong tiếng Việt. Sự biến đổi của hệ
thống yếu tố Hán Việt thể hiện ở khả năng vận động ở sự chuyển biến về nghĩa. Có những từ đã
thay đổi về nghĩa khi gia nhập vào tiếng Việt, dưới đây là một số trường hợp tiêu biểu.
Bảng 8. Một số trường hợp tiêu biểu của sự vận động nội tại
của các từ Hán Việt trong tiếng Việt
TT
Từ
trong
tác
Nghĩa trong tiếng Hán
Nghĩa
trong Từ
điển Hán điển Tiếng
Việt Việt
Tâm địa và Chuyện
Nghĩa
trong Từ
Nhận định
phẩm
1
Từ thay đổi từ
nghĩa chỉ cả
đặc điểm tính
cách còn lại
nghĩa chỉ tình
cảm riêng tư.
(+) 心神, 情绪 (trạng thái tinh thần).
tính tình.
tình cảm
riêng tư
của mỗi
người.
Tâm
tình/
Tính
tình
(+) 兴致, 情趣 (hứng thú, hào
hứng). [Q7, tr.384]
2
Cái
1. Ngục tù, Không còn
lao lung/
lao tù
(+) 包羅, 容納 (bao quát, chứa
đựng). (+) 猶掩蓋, 蓋過 (che đậy).
(+) 籠絡;羅致 (lung lạc, lôi kéo).
(+) 約束, 限制 (bó buộc, hạn chế).
(+) 騙人的圈套 (cái bẫy để hại
người). (+) 關禽獸的籠檻. 喻束縛
人的事物. (cái lồng nhốt cầm thú, tỉ
chuồng và nơi giam
cái lồng để hãm làm
nhốt súc
vật – Dùng 2. Ở trong
thủ đoạn
khôn khéo bó buộc về
hay là
quyền lực
để kiềm
chế người. mức khổ
ải.
nghĩa chuồng
nuôi nhốt gia
mất tự do. súc.
cảnh chịu
vật chất
lẫn tinh
thần đến
dụ cho vật trói buộc con người).
[Q6, tr.243]
3
Khen ngợi. Khen ngợi, Thêm hàm
ca tụng
quá đáng
nghĩa khen vì
động cơ xấu,
tán tụng/ ngợi). [Q11, tr.476]
khen
ngơi
nhằm mục khen không
đích riêng. chính xác.
60
Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí
Sự thay đổi về nghĩa này khẳng định sự phát triển của tiếng Việt, đó cũng chính là sức sống
mạnh mẽ của hệ thống yếu tố Hán Việt trong tiếng Việt. Thơ ca bằng chữ Hán tựa như một
vườn ươm và những yếu tố Hán Việt tựa như những hạt mầm. Những hạt mầm được gieo trồng
trong vườn ươm ngôn từ để nảy nở. Những yếu tố Hán Việt tạo thành từ Hán Việt, chúng trở
thành một bộ phận quan trọng của tiếng Việt. Hệ thống từ ST, ĐV, ĐÂ góp phần vào sự phát
triển này. Thơ ca chữ Hán của người Việt Nam sáng tác bằng chữ Hán, được đọc bằng âm Hán
Việt đã nuôi dưỡng khả năng phát triển của các yếu tố Hán Việt, các từ Hán Việt. Có thể khẳng
định thơ ca bằng chữ Hán của người Việt Nam không chỉ có mối tương quan với tiếng Hán mà
còn có mối quan hệ mật thiết với tiếng Việt.
3. Kết luận
NTNK của Hồ Chí Minh là một thi tập giàu giá trị trên nhiều phương diện, trong đó có
phương diện ngôn từ nghệ thuật. Trong ngôn từ nghệ thuật có một nhóm từ là ST, ĐV, ĐÂ với
khả năng biểu đạt mạnh mẽ trong tác phẩm nghệ thuật. Nhóm từ này trong tác phẩm NTNK
gồm 102 từ, trong đó từ được vay mượn chiếm 76% và sáng tạo chiếm 24%. Những từ vay
mượn và sáng tạo kết hợp hài hòa trong các tác phẩm, thể hiện tài năng ngôn từ của Hồ Chí
Minh. Hệ thống ngôn từ này còn có ý nghĩa trong phát triển vốn từ Hán Việt trong tiếng Việt
khi chúng có sự gia nhập trong tiếng Việt. Trong những từ ST, ĐV, ĐÂ mà Hồ Chí Minh viết
trong Nhật kí trong tù có những từ gia nhập vào tiếng Việt và có những từ không gia nhập vào
tiếng Việt. Từ gia nhập vào tiếng Việt chiếm 42% và từ không gia nhập vào tiếng Việt chiếm
58%. Số lượng này cho thấy sự giao thoa mạnh mẽ giữ tiếng Việt và tiếng Hán, cũng là sự giao
thoa giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ đời thường. Những từ gia nhập vào tiếng Việt
không nhất thành bất biến mà có những biến đổi không ngừng để trở nên phù hợp hơn với cuộc
sống. Điều đó cũng góp phần khằng định sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt trong sự giao lưu
và tiếp biến với ngôn ngữ nước ngoài trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.
Ghi chú: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 602.02-2019.02.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đào Duy Anh, 2003. Từ điển Hán Việt, (tái bản có sửa chữa). Nxb Văn hóa thông tin, Hà
Nội.
[2] Nguyễn Tài Cẩn, 1998. Ảnh hưởng Hán văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn
Trung Ngạn. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[3] Nguyễn Tài Cẩn, 2004. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[4] Đỗ Hữu Châu, 1999. Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội.
[5] Thiều Chửu, 2007. Hán Việt tự điển. Nxb Thanh niên, Hà Nội.
[6] Nguyễn Thiện Giáp, 2015. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. Nxb
Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
[7] Nhiều tác giả, 2014. Hồ Chí Minh và năm bảo vật quốc gia. Nxb Thông tin và truyền
thông, Hà Nội.
[8] 陳廷敬 - 張玉書等 (編撰), 2007. 康熙字典, 上海辭書出版社, 上海.
[9] 夏征農 (主編), 1999. 辭海,中華書局發行所,北京.
61
Nguyễn Thị Thanh Chung
[10] 罗竹風 (主編), 1994. 漢語大辭典,漢語大辭典出版社,上海.
[11] 許愼, 說文解字, 2011.上海古書出版社,上海.
[12] 呉澤炎, 黄秋耘, 劉葉秋(編纂), 1999. 辭源,商務印書館,北京.
ABSTRACT
Tracing and studying two-syllable words, two consecutive words
with a similar sound and tone, and words with a similar sound in “Ngục trung nhật kí”
Nguyen Thi Thanh Chung
The Faculty of Philology, Hanoi National University of Education
The paper examines the system of two-syllable words, two consecutive words with a
similar sound and tone, and words with a similar sound in “Ngục trung nhật kí”. Based on that,
it discusses the author’s word borrowing and forming. At the same time, the paper explores the
interaction and development of this language system in modern Vietnamese. This group of
words in “Ngục trung nhật kí” includes 102 words, of which borrowed words account for 76%
and formed words 24%. The borrowed and formed words are harmoniously combined in the
work, demonstrating Ho Chi Minh's linguistic talent. Among the two-syllable words, two
consecutive words with a similar sound and tone, and words with a similar sound that Ho Chi
Minh wrote in “Ngục trung nhật kí”, there were words that entered Vietnamese and those that
did not, accounting for 42% and 58% respectively. The words which entered Vietnamese
lexicon have undergone changes to become more suitable with the reality with the rate of
modified words being 16%. This figure shows the intersection between Vietnamese and
Chinese, between literary language and everyday language, and affirms the strong development
of Vietnamese throughout the nation's history.
Keywords: Ngục trung nhật kí, Ho Chi Minh, two-syllable words, two consecutive words
with a similar sound and tone, and words with a similar sound
62
Bạn đang xem tài liệu "Khảo luận tầm nguyên từ song thanh, điệp vận, điệp âm trong Ngục trung nhật kí", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
khao_luan_tam_nguyen_tu_song_thanh_diep_van_diep_am_trong_ng.pdf

