Nhận thức của người tiêu dùng về đặc điểm của website bán hàng B2C hiệu quả: Nghiên cứu trên thị trường Đà Nẵng

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA WEBSITE BÁN HÀNG  
B2C HIỆU QUẢ: NGHIÊN CỨU TRÊN THỊ TRƯỜNG ĐÀ NẴNG  
CHARACTERISTICS OF AN EFFECTIVE B2C WEBSITE PERCEIVED BY ONLINE  
CONSUMERS: CASE STUDY FOR DANANG CITY  
ThS. Nguyễn Hiền Anh  
Trường Đại học Thương mại  
Tóm tắt  
Nghiên cứu dựa trên nhận thức của người tiêu dùng đã có trải nghiệm mua hàng trực tuyến qua website  
nhận diện bốn nhóm thuộc tính đặc trưng của website bán lẻ trực tuyến hiệu quả – kênh thương mại điện tử hiệu  
quả nhất theo đánh giá của VECOM (2017). Nghiên cứu tiến hành phân tích 153 bảng câu hỏi hợp lệ được phát  
trực tiếp cho người tiêu dùng trên thị trường Đà Nẵng bằng phần mềm SPSS 20 nhằm xác định nhóm các thành  
tố của một website bán hàng trực tuyến chất lượng vào các nhóm nhân tố, và đo lường mức độ quan trọng của  
từng nhân tố. Kết luận: (1) người tiêu dùng đánh giá hiệu quả của một website bán hàng qua bốn đặc điểm,  
gồm nội dung website cung cấp, thiết kế website, độ tin cậy của website, tính năng tương tác của website;  
(2) tính năng tương tác và độ tin cậy có tác động mạnh nhất đến ý định mua hàng trực tuyến qua website của  
người tiêu dùng, tiếp đó là thiết kế website, và nội dung được trình bày trên website. Dựa vào kết quả phân tích,  
nghiên cứu đề xuất các doanh nghiệp, cả doanh nghiệp truyền thống, và doanh nghiệp thương mại điện tử nên  
điều chỉnh chiến lược website bán hàng trực tuyến dựa trên nhận thức của khách hàng để xây dựng một website  
hoạt động hiệu quả, đạt được các mục tiêu thương mại điện tử.  
Từ khóa: người tiêu dùng, mua hàng trực tuyến, trang bán hàng trực tuyến B2C, thị trường Đà Nẵng.  
Abstract  
Based on online customers’ point of view, the paper explores key characteristics of an effective B2C  
website – the most efficient e-commerce marketing distribution channel - in. The sufficient data is collected from  
153 online customers living in Danang city which is the big potential e-commerce market and analyzed by SPSS  
20 software to identify and group a website’s elements into factors, and measure the level of importance of each  
factor. The results are: (1) there are four groups which feature a perceived good quality website, including  
information provided on website, websiste design, trust, and interactivity; (2) interactivity and trust have the  
strongest effect on customers’ intention of online purchase, followed by website design and content. The study  
suggests that both traditional and e-commerce firms should build and manage their B2C website strategies based  
on their online customers’ perception in order to build an effective website and attain its e-commerce objectives.  
Keywords: B2C websites, demensions, online customers, online purchase intent  
1. Mở đầu  
Sự phát triển của Internet thay đổi cách thức mua hàng của người tiêu dùng, đem lại cho doanh  
nghiệp những cơ hội mới, phương thức mới tương tác với khách hàng và phân phối sản phẩm. Ngày  
nay, tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng website và internet ngày càng nhiều. Tại Việt Nam, 58% người tiêu  
dùng sử dụng Internet đã tham gia mua hàng trực tuyến, trong đó 36,2% mua hàng tháng (VECITA,  
2014). Nghiên cứu của Lưu Thuận và Trần Vân (2015) cho thấy 25% số người tiêu dùng được khảo sát  
dự định sẽ mua sắm ít hơn tại cửa hàng thực tế, trong khi 45-50% số người được hỏi khẳng định họ sẽ  
mua sắm trực thường xuyên. Các doanh nghiệp truyền thống và cả các doanh nghiệp thuần thương mại  
điện tử đều nỗ lực xây dựng và thực hiện chiến lược nhằm thu hút người tiêu dùng mua hàng trực  
tuyến. Các nghiên cứu về thị trường thương mại điện tử Việt Nam cho thấy tiềm năng của thị trường  
mua sắm trực tuyến, với tỷ lệ tăng trưởng doanh thu năm 2017 tăng 35%. Theo dự đoán của Hiệp  
hội Thương mại điện tử Việt Nam – VECOM (2017), tốc độ này sẽ được duy trì trong giai đoạn 2018  
– 2020, đến năm 2020, doanh số mua hàng trực tuyến sẽ đạt 10 tỷ USD, với 30% người tiêu dùng Việt  
719  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Nam sẽ tham gia mua sắm trực tuyến, mức chi trung bình khoảng 350 USD/người, gấp hơn 2 lần năm  
2015. Báo cáo của VECOM cũng chỉ ra ra tiềm năng của thị trường bán lẻ trực tuyến Đà Nẵng. Mặc  
dù là địa phương có xuất phát điểm thấp về thương mại điện tử, thị trường Đà Nẵng có tốc độ phát  
triển tương đối nhanh. Năm 2016, Đà Nẵng là địa phương có tỷ lệ người mua sắm trực tuyến cao nhất  
chỉ sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Là trung tâm kinh tế lớn của miền Trung và Tây Nguyên  
Việt Nam, thị trường bán lẻ Đà Nẵng có tốc độ tăng trưởng cao, với mức bán lẻ chia bình quân đầu  
người vượt qua Hà Nội và chỉ đứng sau TP. Hồ Chí Minh. Đà Nẵng được đánh giá là thị trường có sự  
phát triển mạnh mẽ trong giao dịch B2C, vì vậy đây là thị trường hàng đầu nằm trong kế hoạch phát  
triển thị trường khu vực miền Trung của nhiều doanh nghiệp bán lẻ thuần dot.com, đáng kể năm 2014  
Lazada đã mở kho hàng và văn phòng tại khu vực này. Các nhà bán lẻ truyền thống như Lotte,  
Vinmart, Trần Anh… cũng phát triển kênh bán hàng trực tuyến bên cạnh các kênh truyền thống nhằm  
nâng cao hiện diện tại thị trường này. Bên cạnh đó, các báo cáo của sở Công thương Đà Nẵng cũng ghi  
nhận số lượng tăng đáng kể của các doanh nghiệp trên địa bàn sử dụng website. Các chuyên gia cũng  
nhận định, thành công tại thị trường Đà Nẵng sẽ mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường thương mại điện  
tử B2C tại các tỉnh miền Trung khác, do nhu cầu mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng tại các thị  
trường miền Trung tuy cao nhưng chưa được khai thác một phần bởi thói quen mua sắm và nhận thức  
của người tiêu dùng ở thị trường này khác biệt (Thụy Hương, 2011).  
Trong số các phương thức bán hàng trực tuyến tại Việt Nam, bán hàng qua website có hiệu quả  
nhất, với 71% người tiêu dùng được hỏi đã tham gia mua sắm trực tuyến cho biết đã mua hàng trực  
tuyến thông qua hình thức này (VECITA, 2014). Tuy nhiên, kết quả từ báo cáo của VECOM (2017)  
cũng cho thấy mặc dù tỷ lệ các doanh nghiệp có website rất cao, khoảng 90% doanh nghiệp, hiệu quả  
của website còn hạn chế, thể hiện ở tỷ lệ người mua sắm trực tuyến tại bốn thành phố phố dẫn đầu về  
thương mại điện tử, trong đó có Đà Nẵng đã tăng từ 5,4% lên 8,8%, doanh số bán hàng trực tuyến năm  
2018 dù tăng gấp ba lần năm 2017 nhưng chỉ chiếm 2,7% tổng doanh số thị trường bán lẻ, con số vẫn  
còn thấp so với tổng tiềm năng thị trường. Trong số các đơn đặt hàng trên website, 36% đơn đặt hàng  
bị hủy với lý do “thay đổi quyết định” từ khách hàng. Làm thế nào để nâng cao hiệu quả website nhằm  
thu hút người tiêu dùng mua hàng là câu hỏi các nhà quản trị đặt ra. Để khai thác cơ hội thị trường bán  
lẻ trực tuyến Việt Nam nói chung, Đà Nẵng nói riêng, các doanh nghiệp cần phải đứng trên góc độ  
người tiêu dùng để thấu hiểu người tiêu dùng mong đợi gì từ một website bán hàng trực tuyến, những  
đặc điểm cần có của một website hiệu quả để điều chỉnh website thực tế của doanh nghiệp hiệu quả, do  
website được sử dụng để doanh nghiệp tương tác và giao dịch với khách hàng (Ranganathan,  
Ganapathy, 2002), do đó các đặc điểm của website ảnh hưởng tới mức độ hài lòng của khách hàng, và  
ý định mua của khách hàng (Ganguly và cộng sự, 2010). Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là nhận  
dạng những đặc điểm chính của một website bán hàng trực tuyến theo nhận thức người tiêu dùng trực  
tuyến sống tại thành phố Đà Nẵng. Dựa trên kết quả khảo sát 153 người tiêu dùng sống tại Đà Nẵng có  
ý định mua hàng trực tuyến, nghiên cứu này phác thảo những đặc điểm của website bán hàng trực  
tuyến được người tiêu dùng tìm kiếm và mong đợi, đồng thời đo lường tầm quan trọng của từng nhóm  
nhân tố đối với ý định mua hàng trực tuyến.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Vai trò của website trong phát triển thương mại điện tử B2C  
Sự phát triển của Internet thay đổi hành vi mua của người tiêu dùng, và đặt ra cơ hội cùng với  
thách thức lớn cho cả các doanh nghiệp truyền thống và các doanh nghiệp thương mại điện tử thuần  
túy. Số gia tăng của hộ gia đình sở hữu máy tính, thiết bị di động và tiếp cận internet là động lực chính  
để thương mại điện tử B2C phát triển. Theo Ganguly và cộng sự (2010) doanh số bán lẻ trực tuyến trên  
thị trường Mỹ đạt 144 tỷ đô la Mỹ năm 2010. Bán lẻ trực tuyến cũng bắt đầu được đầu tư tại thị trường  
các nước đang phát triển châu Á. Thị trường Việt Nam với 50 triệu/ 90 triệu dân có khả năng tiếp cận  
Internet là mảnh đất tiềm năng cho thương mại điện tử B2C phát triển. Ngày càng nhiều doanh nghiệp  
dot.com được điều hành bởi các doanh nghiệp quốc tế và doanh nghiệp nội địa thực hiện kinh doanh  
720  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
trên thị trường này. Các doanh nghiệp truyền thống cũng tích hợp các kênh bán hàng trực tuyến vào  
chiến lược kinh doanh, trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại điện tử thuần túy.  
Theo UNCTAD (2001), mức độ phát triển của thương mại điện tử B2C phụ thuộc phần lớn, và  
được phản ánh bởi sự phát triển của các website, do đây là cổng chính kết nối doanh nghiệp với người  
tiêu dùng trực tuyến. Tuy nhiên, mua sắm trực tuyến được người tiêu dùng nhận thức là có nhiều rủi ro  
(Cyr, 2008). Thực tế, theo báo cáo của công ty nghiên cứu thị trường Moore (2014), đa số người tiêu  
dùng chỉ truy cập website của các doanh nghiệp để tìm kiếm thông tin, so sánh sản phẩm, người bán,  
sau đó thực hiện mua hàng qua các kênh truyền thống. Vì vậy, để phát triển thành công các kênh  
thương mại điện tử B2C, cả doanh nghiệp dot.com thuần túy và doanh nghiệp truyền thống cần thấu  
hiểu nhận thức của người tiêu dùng về các đặc điểm của một website bán hàng trực tuyến hiệu quả.  
2.2. Nhận thức của người tiêu dùng về đặc điểm website bán hàng trực tuyến  
Ranganathan và Ganapathy (2002) định nghĩa website bán hàng trực tuyến là trình duyệt world  
wide web thông qua đó người tiêu dùng có thể mua sản phẩm/dịch vụ. Các trình duyệt này có thể  
thuộc sở hữu của các trung gian ảo, như Ebay, hoặc siêu thị ảo như Amazon, hoặc do các doanh nghiệp  
bán hàng theo cách thức truyền thống quản lý như Walmart. Định nghĩa này được nhóm tác giả áp  
dụng cho đối tượng là những doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ. Bidgolo (2002) kết luận  
không chỉ doanh nghiệp bán lẻ dot.com thuần túy, các doanh nghiệp truyền thống ngày nay cũng ý  
thức kênh website hỗ trợ doanh nghiệp tăng khả năng tiếp cận và bán hàng trực tiếp cho người tiêu  
dùng toàn cầu.  
Mặc dù khẳng định website bán hàng nên được xây dựng và thiết kế dựa trên nhận thức của  
người tiêu dùng do các họ chính là đối tượng website hướng đến và mục đích doanh nghiệp sử dụng  
website cũng nhằm tiếp cận và phục vụ khách hàng tốt hơn, vì vậy các đặc điểm của website tác động  
lên ý định mua, mức độ trung thành của người tiêu dùng mua hàng trực tuyến, trên thế giới, các nghiên  
cứu tập trung nhận dạng những đặc điểm của một webste bán hàng trực tuyến hiệu quả trên góc độ  
người tiêu dùng còn rời rạc và chưa có thống nhất (Ranganathan và Ganapathy, 2002). Nhóm tác giả  
Shen và Khalifa (2008) chia đặc tính của website bán hàng thành hai nhóm, gồm đặc điểm lý tính và  
cảm tính, dựa vào người tiêu dùng trực tuyến tìm kiếm lợi ích nào qua mua sắm trực tuyến. Tác giả  
nhấn mạnh đối với những người tìm kiếm lợi ích vật chất, đặc điểm lý tính là điều kiện tiên quyết để  
đảm bảo khách hàng sử dụng dịch vụ website, bao gồm khả năng tiếp cận, khả năng tìm kiếm thông tin  
hiệu quả, thông tin đầy đủ về dịch vụ và sản phẩm. Các đặc điểm cảm tính được nhóm tác giả định  
nghĩa là mức độ tương tác và khía cạnh xã hội của website. Đặc điểm cảm tính liên quan mật thiết đến  
cảm xúc tích cực người tiêu dùng trải nghiệm trên website, bao gồm các thành phần như hình ảnh hoạt  
hình, màu sắc, âm thanh, cách bài trí.  
Palmer (2002) tập trung nghiên cứu đặc điểm chức năng của website, kết luận hiệu quả của  
website dựa trên sự đóng góp của đặc điểm nội dung, tương tác, phản hồi, điều hướng, khả năng tải  
thông tin . Tác giả đề xuất các doanh nghiệp sử dụng website bán hàng cần chú trọng chất lượng nội  
dung và khả năng tiếp cận nội dung của website. Nhiều nghiên cứu cũng chú trọng đến một số đặc tính  
của website gồm độ khả dụng, thông tin, mức độ dễ dàng điều hướng, các trình bày, cơ chế thanh toán  
an toàn, khả năng tương tác … Một số nghiên cứu tập trung vào đặc điểm an ninh và riêng tư mà  
website sở hữu, như nghiên cứu của Suh và Han (2003), nghiên cứu của Hann và cộng sự (2002).  
Những nghiên cứu này cho rằng website bán hàng hiệu quả cần đảm bảo đặc tính tin cậy cho khách  
hàng, trong quá trình khách hàng chia sẻ thông tin cá nhân và mua hàng. Một trong những nghiên cứu  
nổi bật trong lĩnh vực hành vi khách hàng trực tuyến là nghiên cứu của Cheung và cộng sự (2003).  
Nghiên cứu đã tổng hợp kết quả của các nghiên cứu trước đó để xây dựng mô hình lý thuyết gồm năm  
nhóm nhân tố tác động đến ý định mua trực tuyến của khách hàng. Các tác giả phân loại các nhóm  
nhân tố thành hai loại, gồm hai nhóm nhân tố doanh nghiệp không kiểm soát được - đặc điểm khách  
hàng, và môi trường; và ba nhóm nhân tố doanh nghiệp có khả năng kiểm soát, gồm đặc tính sản  
phẩm, đặc điểm kênh, và đặc điểm người bán/trung gian. Efthymios (2004) đã tổng hợp 48 nghiên cứu  
721  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
trước đó về hành vi mua trực tuyến của người tiêu dùng, qua đó đề xuất các nhóm nhân tố hình thành  
một website bán lẻ thành công trên quan điểm của khách hàng, nhằm tạo cho khách hàng những trải  
nghiệm mua hàng trực tuyến tốt nhất. Theo nghiên cứu của tác giả, ba nhóm nhân tố tác động đến  
những trải nghiệm mua hàng trên web của người tiêu dùng bao gồm chức năng, tâm lý, và nội dung.  
Nhân tố chức năng nhấn mạnh những đặc điểm về chức năng của website gồm hai nhóm thành tố - tính  
khả dụng và tính tương tác. Hầu hết các nghiên cứu trước đó khẳng định tính khả dụng và tính tương  
tác là hai tác nhân chính ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến hành vi của người tiêu dùng trực tuyến.  
Nếu trình duyệt web chậm, hoặc không thực hiện đúng chức năng, hoặc khả năng tương tác thấp, hầu  
hết người tiêu dùng sẽ chuyển sang kênh mua hàng khác, do tiết kiệm thời gian và sự thuận tiện là hai  
lợi ích chính người tiêu dùng tìm kiếm và mong đợi khi quyết định mua hàng trực tuyến. Nhân tố tâm  
lý tập trung vào những đặc điểm liên quan đến độ tin cậy của người bán được đảm bảo trên website.  
Do sự tin cậy là một trong những rào cản của mua hàng trực tuyến, vì vậy website bán hàng phải cung  
cấp thông tin minh bạch, an toàn, đáng tin về người bán, sản phẩm, giá cả, thanh toán, dịch vụ bảo  
hành đối với người tiêu dùng. Những doanh nghiệp tích hợp đa kênh có lợi thế lớn khi tiến hành bán  
hàng trực tuyến do đã xây dựng được danh tiếng, sự nhận biết nhãn hiệu, từ đó dễ dàng tạo được sự tin  
tưởng đối với khách hàng trực tuyến muốn thực hiện giao dịch với họ. Nhân tố thứ ba là nội dung  
website, gồm hai thành tố chính – tính nghệ thuật, và marketing hỗn hợp. Tính nghệ thuật là thước đo  
chất lượng của người bán trực tuyến, và tạo được bầu không khí thích hợp thúc đẩy người tiêu dùng  
trong quá trình ra quyết định mua. Marketing hỗn hợp yêu cầu website phải sử dụng công nghệ thông  
tin cập nhật thông tin, theo dõi, quản lý đơn hàng, cung cấp dịch vụ khách hàng, tạo nên trải nghiệm  
cho khách hàng trực tuyến.  
Hầu hết các công trình đều tập trung nghiên cứu người tiêu dùng ở thị trường các nước phát  
triển, do tỷ lệ người tiêu dùng chấp nhận mua hàng trực tuyến thấp ở các nước đang phát triển như  
châu Á (Lee và cộng sự, 2010). Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ, ngày nay thị trường  
thương mại điện tử ở các nước châu Á đang thu hút các doanh nghiệp quốc tế và toàn cầu bởi tiềm  
năng vô cùng to lớn, và một trong những kênh tiếp cận và giao dịch hiệu quả ở các thị trường mới nổi  
này là website (Raganathan, Ganapathy, 2002). Để tiếp cận, thu hút, và xây dựng quan hệ với các  
khách hàng trực tuyến ở thị trường mới, doanh nghiệp cần thấu hiểu nhận thức của họ về một website  
bán hàng hiệu quả, những yếu tố của website ảnh hưởng đến quyết định chọn mua hàng trực tuyến của  
họ, do những khách hàng ở các thị trường khác nhau, các nền văn hóa khác nhau có thể nhận thức khác  
nhau thế nào là một website đáng tin cậy, thu hút, và hiệu quả (Cyr và Fraser, 2004).  
Dựa vào kết quả của những công trình nghiên cứu trước, nghiên cứu tổng hợp và nhận diện bốn  
nhóm đặc điểm cơ bản của website bán hàng trực tuyến theo quan điểm của người tiêu dùng – bao  
gồm nội dung website, thiết kế của website, tính năng tương tác của website, và mức độ an toàn của  
website, sau đó kiểm định tầm quan trọng của từng nhóm đặc điểm.  
2.2.1. Nội dung website  
Nội dung cung cấp trên website là yếu tố thành công tiên quyết của các doanh nghiệp bán hàng  
trực tuyến (Calkings và cộng sự, 2000). Palmer (2002) cũng cho rằng nội dung thông tin website đầy  
đủ, cập nhật là yêu cầu bắt buộc của website bán hàng. Nội dung website nghèo nàn, khó hiểu, khó tìm  
kiếm là một trong những lý do chủ yếu khiến người tiêu dùng không thực hiện mua hàng qua website  
(Verton, 2000). Nội dung website bao hàm thông tin, đặc điểm sản phẩm, dịch vụ, người bán được  
trình bày trên website. Huizingh (2000) cho rằng chất lượng nội dung của website được đánh giá bởi  
mức độ sẵn có về thông tin doanh nghiệp, các sản phẩm và dịch vụ doanh nghiệp cung cấp. Một trong  
những thách thức của doanh nghiệp khi thiết lập và quản lý website bán hàng trực tuyến là quyết định  
loại thông tin và cách thức truyền thông thông tin, tuy nhiên người mua khác nhau có nhu cầu thông  
tin khác nhau (Te’eni, 2001). Tầm quan trọng của nội dung website bán hàng trực tuyến thể hiện ở tác  
động của nó đến quyết định mua của khách hàng. Người tiêu dùng trực tuyến có thể quan tâm đến một  
website do những nội dung website đó cung cấp. Dựa vào so sánh những thông tin về giá và sản phẩm  
giữa các website, người tiêu dùng sẽ đưa ra quyết định cuối cùng. Vì vậy, website bán hàng trực tuyến  
722  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
nên tạo điều kiện cho người truy cập dễ dàng định vị và lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu.  
Thông tin cung cấp trên website phải hữu ích, có tác dụng hỗ trợ mỗi người tiêu dùng trong quá trình  
lựa chọn và ra quyết định mua. Thông tin về sản phẩm và dịch vụ càng đầy đủ và chi tiết, người tiêu  
dùng càng có ý định mua hàng trực tuyến cao. Không chỉ các doanh nghiệp dot.com thuần túy, các  
doanh nghiệp truyền thống ngày nay cũng sử dụng catalog điện tử trên website để hỗ trợ khách hàng.  
Brynjolfsson và Smith (2000) khẳng định khách hàng sẵn lòng trả giá cao hơn cho những nhà bán lẻ  
trực tuyến xây dựng website có nội dung chất lượng, và công cụ giúp khách hàng dễ dàng tìm kiếm sản  
phẩm theo nhu cầu, tra cứu thông tin và đánh giá sản phẩm. Vì vậy, website bán hàng nên cải thiện  
những tính năng trợ giúp như tính năng tìm kiếm, công cụ gợi ý, hình ảnh sản phẩm, bình luận và đánh  
giá về sản phẩm và người bán, dịch vụ đặt hàng và thanh toán nhanh chóng để thu hút khách hàng.  
2.2.2. Thiết kế của website  
Bên cạnh đó, thiết kế cũng là nhân tố quan trọng để thu hút, duy trì sự chú ý, thích thú của  
khách hàng với website. Thiết kế webite được định nghĩa là cách thức nội dung trên website được  
truyền tải tới người tiêu dùng. Ganguly và cộng sự (2010) nhấn mạnh tầm quan trọng của thiết kế  
website đến ý định mua và sự hài lòng của khách hàng do khách hàng tham gia tiến trình quyết định  
mua, tương tác với cửa hàng trực tuyến thông qua giao diện kỹ thuật chứ không phải nhân viên bán  
hàng. Cyr (2008) cho rằng thiết kế website phải hội tụ ba đặc điểm, gồm thiết kế thông tin, thiết kế  
hình ảnh, và thiết kế điều hướng. Trong đó, thiết kế thông tin gồm nội dung và cấu trúc thông tin, thiết  
kế điều hướng gồm các thành phần tương tác, và thiết kế hình ảnh gồm thành phần trình diễn. Các  
nghiên cứu của Cyr và Ganguly đều khẳng định do lợi ích nổi bật của mua hàng trực tuyến là cung cấp  
thông tin giúp khách hàng đánh giá các chọn lựa, nội dung và thiết kế của website bán hàng phải có sự  
tương tác với nhau. Khách hàng nhận thức độ khả dụng của một website qua thiết kế của nó bao gồm  
thời gian tải trang, cách thức nội dung website được sắp xếp và trình bày, hiệu ứng. Nói cách khác,  
website phải được thiết kế để khách hàng dễ dàng định vị thông tin, truy cập và tải xuống vào những  
nội dung thông tin quan tâm và sử dụng trong quá trình ra quyết định mua, đồng thời phải giúp khách  
hàng tiết kiệm thời gian, và mang tính nghệ thuật nhằm tác động đến thái độ tích cực của khách hàng  
đối với website, từ đó ảnh hưởng tới ý định mua (Raijas, Tuunainen, 2001). Đồng thời các thông tin  
trên website nên được liên kết với các công cụ tìm kiếm để tăng sự thu hút người tiêu dùng (Kim và  
cộng sự, 2003). Nghiên cứu của Shneiderman (1998) cho thấy người tiêu dùng sẽ cảm thấy khó chịu  
và giảm ý định mùa hàng trên website nếu tốc độ tải trang từ 30s trở lên, và thời gian tải trang chấp  
nhận được ngày càng rút ngắn (Ranganathan, Ganapathy, 2015). Nhiều nghiên cứu khẳng định để khắc  
phục hạn chế của mua hàng trực tuyến, thiết kế website nên tích hợp hình ảnh, chữ, video, nhạc, hoặc  
đa phương tiện khác có khả năng hút sự chú ý của khách hàng cao hơn (Kim và cộng sự, 2003).  
2.2.3. Tính năng tương tác của website  
Một đặc điểm khác biệt của bán hàng qua các kênh thương mại điện tử là khả năng tương tác  
giữa khách hàng với doanh nghiệp, thậm chí tương tác giữa khách hàng với khách hàng (Lee, 2002).  
Các doanh nghiệp thiết lập và giới thiệu các phương thức để khách hàng liên hệ với đại diện doanh  
nghiệp, như mẫu email, cửa sổ hội thoại, bình luận. Các doanh nghiệp hiện nay còn liên kết website  
với các tài khoản doanh nghiệp trên mạng xã hội, như facebook, zalo để tăng khả năng phản hồi khách  
hàng nhanh nhất. Nhiều website liệt kê những câu hỏi và câu trả lời sẵn (FQAs) cho các vấn đề phổ  
biến của khách hàng. Một số nghiên cứu chỉ ra những website có phần FQAs thu hút được nhiều lượt  
thăm và mua hàng hơn những website không có phần này (Kim và cộng sự, 2003). Đồng thời, tương  
tác còn được thể hiện ở sự tùy chỉnh chào hàng, thông điệp cho từng cá nhân khách hàng của doanh  
nghiệp. Các nghiên cứu chỉ ra khách hàng có ý định mua hàng cao hơn nếu website có khả năng cá  
nhân hóa nội dung, tạo điều kiện cho người tiêu dùng xác định và lựa chọn những sản phẩm phù hợp  
với nhu cầu của mình (Nah, Davis, 2002).  
2.2.4. Mức độ an toàn của website  
Một trong những vấn đề người tiêu dùng quan tâm khi mua hàng trực tuyến là mức độ an toàn  
723  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
được cam kết của website, thể hiện ở mức độ an ninh, và tính bảo mật mà website có thể cung cấp cho  
khách hàng, đặc biệt là an ninh trong giao dịch. Nhận thức về mức độ an toàn website kém chính là rào  
cản lớn nhất cản trở người tiêu dùng mua sắm qua các kênh thương mại điện tử, khi người tiêu dùng bị  
yêu cầu khai nhiều thông tin để hoàn thành quy trình đặt hàng (Lee, 2002). Để khắc phục tình trạng  
này, nhiều doanh nghiệp yêu cầu khách hàng khi mua hàng trực tuyến phải tạo tài khoản cá nhân,  
hoặc/và cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán ngoại tuyến phù hợp trên website (Liang,  
2002). Liên quan đến vấn đề an ninh, một đặc điểm của website mà khách hàng mua sắm trực tuyến  
quan tâm là bảo mật thông tin cá nhân. Nhiều người tiêu dùng e ngại khi họ đăng ký tài khoản trên một  
website, các thông tin cá nhân như số thẻ tín dụng, số điện thoại, địa chỉ sẽ bị doanh nghiệp phát tán  
hoặc sử dụng sai mục đích. Nhận thức được vấn đề này, nhiều doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ trực  
tuyến xây dựng và công bố chính sách bảo mật thông tin khách hàng như tạo tài khoản và mật khẩu  
giao dịch cho từng khách hàng (Liang, Lai, 2002).  
Kết luận, một website bán hàng trực tuyến hiệu quả phải cung cấp cho khách hàng thông tin  
đầy đủ, đa dạng, cập nhật, cá nhân hóa theo yêu cầu một cách nhanh chóng, dễ dàng, nghệ thuật; đồng  
thời có công cụ hỗ trợ khách hàng trong quá trình đánh giá, quyết định mua; tăng khả năng tương tác  
của khách hàng với doanh nghiệp; tích hợp phương pháp bảo mật và an ninh hiệu quả để tăng sự tin  
tưởng của khách hàng.  
3. Thiết kế nghiên cứu  
Nghiên cứu được tiến hành trên thị trường thành phố Đà Nẵng nhằm khám phá nhận thức của  
người tiêu dùng trên thị trường này về website bán lẻ trực tuyến. Là địa phương có 9 năm liền dẫn đầu  
chỉ số sẵn sàng ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông (VECOM, 2017); Đà Nẵng  
là thị trường tiềm năng phát triển thương mại điện tử. Những năm gần đây, những website của các  
doanh nghiệp bán lẻ trực tuyến lớn theo hình thức B2C như Lazada, Tiki, A đây rồi, Lotte, Vuivui đã  
thiết lập văn phòng đại diện tại Đà Nẵng và có kế hoạch phát triển hoạt động kinh doanh trên thị  
trường này. Các doanh nghiệp truyền thống cũng tích cực phát triển website của riêng mình để tiếp cận  
với người tiêu dùng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, tỷ lệ đơn đặt hàng qua  
các website này còn thấp. Do vậy, khám phá những nhân tố xây dựng nên một website hiệu quả theo  
nhận thức của người tiêu dùng sẽ giúp các doanh nghiệp có cơ sở xây dựng và quản lý website bán  
hàng trực tuyến hiệu quả, do mọi đặc tính kỹ thuật, quyết định liên quan đến website phải xuất phát  
trên quan điểm đáp ứng nhu cầu khách hàng.  
Bảng câu hỏi gồm 17 câu liên quan đến các đặc điểm của website bán hàng trực tuyến được lựa  
chọn, tổng hợp, điều chỉnh từ nghiên cứu của Ranganathan và Ganapathy (2002); và Efthymios (2004)  
để phù hợp với thị trường Việt Nam. Các câu hỏi sử dụng thang đo từ 1 đến 5 trong đó 1 là hoàn toàn  
không đồng ý và 5 là hoàn toàn đồng ý. Người tham gia khảo sát còn được hỏi khả năng mua hàng qua  
các website bán lẻ trực tuyến của mình trong vòng 6 tháng tới với thang đo từ 1 đến 5, trong đó 1 là  
không đời nào và 5 là chắc chắn.  
Trong số 250 bảng câu hỏi được phát ra trong 3 tuần, có 153 bảng hỏi thu về hợp lệ, tương  
đương với tỷ lệ phản hồi đạt mức 61.2%. Bảng câu hỏi được phát trực tiếp cho người tiêu dùng trên thị  
trường Đà Nẵng tại các trung tâm thương mại, với câu hỏi sàng lọc để lựa chọn khảo sát những người  
đã thực hiện mua hàng trực tuyến qua website bán lẻ trong sáu tháng gần nhất. Nghiên cứu phân tích  
dựa trên kết quả trên những phiếu hợp lệ, là những phiếu trả mua hàng qua website của các nhà bán lẻ  
trực tuyến, cả doanh nghiệp thương mại điện tử thuần túy và website của các doanh nghiệp truyền  
thống. Lựa chọn đối tượng này là do nghiên cứu sử dụng định nghĩa website bán hàng trực tuyến của  
Ranganathan và Ganapathy (2002), áp dụng cho các nhà bán lẻ. Đồng thời, theo điều tra của VECOM  
(2017), người tiêu dùng mua sắm trực tuyến ở thị trường Đà Nẵng chủ yếu qua các website của các  
nhà bán lẻ trực tuyến như Shopee, 123mua.vn, adayroi, và các doanh nghiệp truyền thống có website.  
Trong 153 người được hỏi có 74.5% là phụ nữ, và 25.5% là nam. Về độ tuổi, 68% đang ở độ tuổi  
18-30, 27.5% từ 31-45 tuổi, và 4.6% thuộc nhóm tuổi 46-60. Phần lớn những người được hỏi dùng  
724  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Internet trên 3 năm, chiếm 66,7%. 70,6% người được hỏi mua hàng trực tuyến qua website từ 2-5 lần  
trong vòng 6 tháng gần nhất;10,5% mua 10 lần, khoảng 14,4% mua 1 lần. 30,1% người ghi nhận giá trị  
mỗi đơn mua hàng trực tuyến qua website từ từ 500.000 đến 1.000.000VNĐ, trong đó 36,6% người được  
hỏi mua hàng trực tuyến với giá trị mỗi đơn hàng từ 100.000 đến 500.000VNĐ, 13.1% mua từ 1.000.000  
đến 5.000.000 VNĐ mỗi lần, 13,1% mua dưới 100.000 VNĐ. 78,3% người được hỏi thực hiện giao dịch  
trực tuyến gần nhất trên website của các nhà bán lẻ dot.com thuần túy. Những mặt hàng được mua trực  
tuyến nhiều nhất là thời trang (93,2%), các sản phẩm gia dụng (54%), đồ điện tử (47,6%).  
4. Kết quả phân tích và thảo luận  
4.1. Kết quả phân tích  
Nghiên cứu phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng để nhóm các đặc điểm cần thiết  
của website bán lẻ trực tuyến theo nhận thức của người tiêu dùng. Lựa chọn phân tích EFA để nhóm  
những thuộc tính của website bán hàng trực tuyến vào các nhóm đặc điểm liên quan. Kết quả EFA cho  
thấy có bốn nhóm nhân tố phản ánh các đặc điểm một website bán lẻ trực tuyến cần có, gồm: nội dung  
website, thiết kế website, độ an toàn của website, tính năng tương tác của website (trình bày chi tiết ở  
bảng 1 và phụ lục).  
Bảng 1 – Nhóm nhân tố, các biến, hệ số tải  
Rotated Component Matrixa  
Component  
1
2
3
4
TT1  
TT2  
TT3  
TT4  
AT1  
AT2  
AT3  
AT4  
AT5  
TK1  
TK2  
TK3  
TK4  
ND1  
ND2  
ND3  
ND4  
.852  
.849  
.784  
.723  
.852  
.731  
.718  
.625  
.601  
.846  
.789  
.787  
.749  
.843  
.822  
.761  
.637  
Extraction Method: Principal Component Analysis.  
Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.  
a. Rotation converged in 6 iterations.  
725  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Để đảm bảo mức độ quan hệ chặt chẽ giữa các biến trong cùng một nhóm nhân tố, hệ số  
Cronbach’s alpha được sử dụng nhằm đánh giá độ tin cậy của các nhân tố. Kết quả cho thấy hệ số  
tương quan biến tổng của các nhóm nhân tố đều >0,6, hệ số tương quan từng biến quan sát đều >0,6 và  
nhỏ hơn hệ số tương quan biến tổng, phù hợp cho các bước phân tích tiếp theo (trình bày chi tiết ở  
bảng 2).  
Bảng 2 – Hệ số Cronbach’s alpha  
Nhóm nhân tố Cronbach’s alpha Nhóm nhân tố Cronbach’s alpha  
ND  
0.820  
0.803  
0.808  
0.758  
0.714  
AT  
0.772  
0.681  
0.747  
0.711  
0.745  
0.760  
0.857  
0.847  
0.798  
0.793  
0.806  
ND1  
ND2  
ND3  
ND4  
AT1  
AT2  
AT3  
AT4  
AT5  
TT  
TK  
0.839  
0.785  
0.781  
0.761  
0.833  
TK1  
TK2  
TK3  
TK4  
TT1  
TT2  
TT3  
TT4  
Phân tích phân biệt discriminant analysis được thực hiện để đánh giá mức độ quan trọng của  
từng nhóm đặc điểm, và khả năng dự đoán ý định mua hàng qua website bán lẻ. Người tiêu dùng trực  
tuyến được phân biệt thành hai nhóm dựa trên kết quả bình quân của ý định mua. Phân tích phân biệt  
chia người tiêu dùng thành hai nhóm, nhóm có điểm ý định mua cao hơn điểm bình quân, và nhóm có  
điểm ý định mua thấp hơn điểm bình quânTheo kết quả phân tích, trong số 153 người được hỏi, có 92  
trường hợp có ý định mua hàng qua website bán lẻ cao, và 61 trường hợp có ý định mua hàng qua  
website bán lẻ thấp. Để kiểm tra tính đúng đắn của hàm phân biệt được ước lượng, ta phải thực hiện  
kiểm tra trên mẫu được chọn một cách ngẫu nhiên. Tỷ lệ này 65,4% (bảng 3c), có thể kết luận mô hình  
phân biệt này là khá tốt.  
Kết quả phân tích độ quan trọng của các nhóm đặc điểm được trình bày ở bảng 3a và 3b. Với  
hệ số Wilk’s lamda = 0.890, giá trị p = 0.000, kết luận có sự phân biệt có ý nghĩa thống kê ở mức ý  
nghĩa 5%. Hệ số tương quan canonical tương ứng là 0.532, cho thấy 28.3% của phương sai biến ý định  
mua trực tuyến được giải thích bởi mô hình này. Tầm quan trọng của các nhóm nhân tố được thể hiện  
qua độ lớn trị tuyệt đối của hệ số Canonical Discriminant Function Coefficients. Dựa vào kết quả, sắp  
xếp các nhóm nhân tố theo thứ tự quan trọng giảm dần: tính năng tương tác, mức độ an toàn, thiết kế  
website, nội dung website.  
Bảng 3 – Kết quả phân tích phân biệt  
(a) Hệ số Wilks’ Lamda  
Wilks’ Lambda  
Test of Function(s) Wilks’ Lambda Chi-square df Sig.  
1
.890  
57.315 4 .000  
726  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
(b) Hệ số Standardized Canonical Coefficients  
Standardized Canonical Discriminant Function Coefficients  
Function  
1
AT  
ND  
TT  
TK  
.692  
-.254  
.707  
.363  
(c) Kết quả phân loại dựa trên mẫu phân tích  
Classification Resultsa,c  
Predicted Group Membership  
Y dinh thap Y dinh cao  
Total  
Y dinh thap  
Y dinh cao  
Y dinh thap  
Y dinh cao  
26  
18  
35  
74  
61  
92  
Count  
Cross-validated  
42.6  
19.6  
57.4  
80.4  
100.0  
100.0  
%
Cross validation is done only for those cases in the analysis. In cross validation, each case is classified by the  
functions derived from all cases other than that case.  
65.4% of cross-validated grouped cases correctly classified.  
4.2. Thảo luận  
Kết quả phân tích cho thấy trên quan điểm người tiêu dùng trên thị trường Đà Nẵng, một  
website bán lẻ trực tuyến cần phải hội tụ đủ các nhân tố thông tin, thiết kế, tin cậy, tương tác. Trong đó  
nhân tố quan trọng nhất, tác động mạnh nhất đến ý định mua hàng trực tuyến qua website là tương tác.  
Trong số các thành tố thuộc tương tác, khả năng website cung cấp cho khách hàng cách thức tương tác,  
liên lạc trực tuyến với người bán và được người bán phản hồi ngay là quan trọng nhất (TT1, hệ số tải  
cao nhất = 0.852). Thành tố có hệ số tải cao thứ hai trong nhóm nhân tố tương tác là khả năng website  
tùy chỉnh, chọn lọc sản phẩm/dịch vụ, chào hàng theo đặc điểm, nhu cầu cá nhân (0.849), có thể là gợi  
ý quan trọng cho các doanh nghiệp phát triển chiến lược website để thu hút và xây dựng quan hệ với  
khách hàng.  
Nhân tố quan trọng thứ hai là tin cậy. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu trước đó của nhóm  
tác giả Lưu Thuận và Trần Vân (2015), Lê Huy (2008) chỉ ra rào cản lớn nhất trong ứng dụng kênh  
thương mại điện tử ở thị trường Việt Nam là do người tiêu dùng không quen với hình thức thanh toán  
điện tử, và nghi ngờ mức độ an toàn của hình thức thanh toán này. Khảo sát của VECOM (2017) cũng  
cho thấy uy tín của người bán hay website bán hàng chính là yếu tố người mua sắm trực tuyến quan  
tâm hàng đầu. Đồng thời khách hàng cũng mong muốn doanh nghiệp minh bạch và đảm bảo các chính  
sách bảo hành, đổi trả sản phẩm. Người tiêu dùng mong muốn các giao dịch mua hàng của mình được  
bảo mật, lưu giữ thông qua hình thức thiết lập tài khoản cá nhân được bảo vệ bằng mật khẩu trên  
website. Do độ tin cậy có tác động mạnh lên ý định mua hàng trực tuyến, các doanh nghiệp khi xây  
dựng và điều hành website cần chú ý đến vấn đề này, nâng cao niềm tin của khách hàng. Đây là điều  
cấp thiết để một website thành công, khi khảo sát của VECOM (2017) cho thấy 30% số đơn hàng trực  
tuyến bị khách hàng phản hồi sản phẩm không giống như giới thiệu của người bán.  
727  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
Kết quả phân tích đồng quan điểm với nghiên cứu của Ranganathan và Ganapathy (2002), theo  
đó hai nhân tố ít quan trọng hơn ảnh hưởng đến ý định mua trực tuyến của người tiêu dùng là thiết kế,  
và cuối cùng là thông tin. Kết quả này cho thấy khách hàng mong muốn thông tin trên website được  
sắp xếp, cấu trúc dễ dàng theo một trật tự hợp lý, dễ dàng tìm kiếm. Đồng thời, tốc độ xử lý thông tin  
của website phải nhanh chóng, điều này phù hợp với quan niệm của khách hàng về lợi ích của mua  
hàng trực tuyến là tiết kiệm thời gian. Ngoài ra, giao diện website cần được trình bày chuyên nghiệp,  
nghệ thuật, làm nổi bật phong cách của người bán và phù hợp với định vị thương hiệu cũng là nội dung  
các doanh nghiệp cần quan tâm. Nội dung thông tin trên website là yêu cầu thiết yếu với tất cả website  
bán hàng trực tuyến. Doanh nghiệp cần hoàn thiện, thường xuyên cập nhật các thông tin trên website  
theo yêu cầu của khách hàng, và sử dụng thông tin là một trong các vũ khí cạnh tranh hiệu quả.  
5. Kết luận và đề xuất  
5.1. Kết luận  
Hãng nghiên cứu và tư vấn Frost and Sullivan dự báo quy mô thị trường thương mại điện tử  
Việt Nam sẽ đạt 3,7 tỷ USD vào năm 2020, tương đương tốc độ tăng trưởng 45%/năm. Đà Nẵng với  
thị trường dân số 1 triệu người, là thành phố có chỉ số sẵn sàng ứng dụng và phát triển công nghệ  
thông tin và truyền thông dẫn dầu trong 9 năm liền, là thị trường triển vọng cho các doanh nghiệp bán  
lẻ phát triển hình thức bán hàng trực tuyến. Nghiên cứu của VECOM (2017) cho thấy các doanh  
nghiệp truyền thống áp dụng thêm hình thức bán hàng trực tuyến gia tăng lợi nhuận trung bình  
43%/năm. Trong đó, kênh hiệu quả nhất là bán hàng qua website. Với các doanh nghiệp bán lẻ thương  
mại điện tử thuần túy, việc xây dựng website với những đặc điểm phù hợp với mong muốn của khách  
hàng là yêu cầu sống còn để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh. Vì vậy, thấu hiểu mong muốn,  
kỳ vọng của khách hàng về một website bán hàng trực tuyến chất lượng là điều kiện tiên quyết để  
thành công của các doanh nghiệp. Nghiên cứu này đưa ra các phân tích và kết luận dựa trên điều tra  
nhận thức của những người tiêu dùng đã có kinh nghiệm mua hàng trực tuyến qua website về những  
đặc điểm của một website bán hàng chất lượng. Các doanh nghiệp có thể sử dụng các kết quả nghiên  
cứu và đối sánh, đánh giá với website của doanh nghiệp, từ đó nhận dạng các điểm cần cải tiến, điều  
chỉnh, xây dựng chiến lược website phù hợp với đặc điểm bản thân doanh nghiệp, nhu cầu khách hàng,  
điều kiện thị trường nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.  
Để kiểm định lại những kết quả của nghiên cứu, các nghiên cứu trong tương lai nên được thực  
hiện với quy mô mẫu lớn hơn, và nên tiến hành trên phạm vi địa lý rộng hơn để có thể so sánh có sự  
khác biệt trong nhận thức người tiêu dùng về các đặc điểm của một website hiệu quả ở các thị trường  
khác nhau không. Ngoài ra, nghiên cứu tiếp theo có thể sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu qua  
Internet, với mục đích điều tra hành vi của người tiêu dùng trong môi trường trực tuyến. Thêm nữa,  
nghiên cứu sau nên nghiên cứu và so sánh nhận thức của khách hàng về đặc điểm của website bán lẻ  
trực tuyến của doanh nghiệp truyền thống sử dụng website bán hàng và các doanh nghiệp bán lẻ  
dot.com thuần túy, từ đó đưa ra đề xuất cụ thể cho từng loại hình doanh nghiệp. Các nghiên cứu trong  
tương lai cũng có thể tiến hành nghiên cứu và đánh giá mức độ quan trọng của các nhóm đặc điểm của  
website bán lẻ trực tuyến theo loại sản phẩm.  
5.2. Đề xuất  
Đối với doanh nghiệp: Việc ứng dụng thương mại điện tử là con đường ngắn nhất, hiệu quả  
nhất để tiếp cận thị trường, đẩy mạnh hoạt động marketing, quảng bá và bảo vệ nhãn hiệu của doanh  
nghiệp (Ethymios, 2004). Tuy nhiên, trên thực tế, theo nghiên cứu của VECOM (2017), doanh nghiệp  
Việt Nam chưa có định hướng rõ ràng, chưa thật sự đẩy mạnh ứng dụng bán hàng qua các kênh thương  
mại điện tử. Số lượng doanh nghiệp xây dựng website hàng năm tăng lên nhưng phần lớn dừng ở mức  
cung cấp thông tin sản phẩm, dịch vụ đang kinh doanh, giá cả hàng hóa; chức năng bán hàng, thanh  
toán trực tuyến chưa được thực hiện nhiều. Một trong những nguyên nhân của hạn chế này là do doanh  
nghiệp chưa biết cách xây dựng và quản lý website bán hàng trực tuyến đáp ứng nhu cầu của khách  
hàng hiệu quả. Đối với các doanh nghiệp bán lẻ thương mại điện tử thuần túy, mặc dù đã và đang đầu  
728  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
tư để phát triển hoạt động kinh doanh, song kết quả chưa như kỳ vọng. Cụ thể, Tiki, Shopee mặc dù  
nhận được phản hồi tích cực của khách hàng, nhưng báo cáo tài chính năm 2017 vẫn lỗ (VECOM,  
2017). Vì vậy, kết quả của nghiên cứu này hỗ trợ các doanh nghiệp hiểu những đặc điểm nào của  
website người tiêu dùng mong đợi, từ đó điều chỉnh chiến lược website phù hợp. Cụ thể, (1) các doanh  
nghiệp nên đầu tư vào tăng tính năng tương tác với khách hàng của website, vì đây là điểm khác biệt  
lớn nhất giữa kênh thương mại điện tử và các kênh bán hàng truyền thống. Tính năng tương tác được  
thể hiện ở website cung cấp các phương án giúp khách hàng giao tiếp với người bán và đảm bảo được  
phản hồi ngay; website cung cấp tính năng giúp người mua giao tiếp với nhau; website cung cấp tính  
năng hỗ trợ người mua tùy chỉnh chọn lựa, tìm kiếm thông tin dựa theo nhu cầu cá nhân. (2) xây dựng  
website nhấn mạnh độ an toàn cung cấp cho khách hàng, và sự tin tưởng khi mua hàng qua website, từ  
đó gia tăng ý định mua hàng trực tuyến. Theo đó, website nên cung cấp cho người tiêu dùng tài khoản  
và mật khẩu để đảm bảo thông tin cá nhân được bảo vệ; công khai các chính sách và mục đích sử dụng  
thông tin người tiêu dùng cung cấp; minh bạch các chính sách đổi trả hàng do tác động đến rủi ro nhận  
thức được của người tiêu dùng về mua hàng trực tuyến (Cyr, 2008), đặc biệt có chính sách bảo mật về  
thanh toán điện tử cho người tiêu dùng, đồng thời cung cấp các hình thức thanh toán khác nhau để  
người tiêu dùng lựa chọn. Đặc điểm này vô cùng quan trọng với khách hàng tại thị trường các nước  
đang phát triển, do người tiêu dùng có thói quen thanh toán bằng tiền mặt thay vì thanh toán qua thẻ.  
Thống kê trên thị trường Việt Nam, gần hai phần ba giao dịch mua hàng qua các kênh thương mại điện  
tử thanh toán theo hình thức nhận hàng trả tiền (Lưu Thuận, Trần Vân, 2015).  
Bên cạnh đó, (3) doanh nghiệp nên đầu tư đảm bảo đặc tính nội dung và thiết kế của website.  
Cụ thể, thiết kế website nên vừa có tính nghệ thuật, vừa có phong cách chuyên nghiệp, với bố cục và  
cách bài trí hỗ trợ khách hàng tìm kiếm thông tin nhanh chóng, đầy đủ, cập nhật, từ đó nâng cao lòng  
trung thành của các khách hàng mua trực tuyến, nhấn mạnh hình ảnh của doanh nghiệp.  
Đối với cơ quan quản lý thành phố Đà Nẵng và Nhà nước: (1) tạo môi trường để doanh  
nghiệp tham gia và ứng dụng website bán lẻ trực tuyến tích cực, hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp cho  
các doanh nghiệp lộ trình cụ thể và khả thi để có thể ứng dụng website bán lẻ trực tuyến và các ứng  
dụng thương mại điện tử khác trong điều kiện của từng doanh nghiệp. (2) xây dựng và hoàn thiện các  
quy định pháp luật giám sát hoạt động, đồng thời tạo niềm tin của chính doanh nghiệp và bảo vệ người  
tiêu dùng khi tham gia vào hoạt động bán hàng trực tuyến qua website, (3) Xây dựng và triển khai các  
đề án đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng về thương mại điện tử, trong đó bao gồm cả nhân sự kỹ  
thuật, nhân sự quản lý, và nhân sự marketing nhằm thiết lập và triển khai chiến lược website bán hàng  
trực tuyến phù hợp với mục tiêu doanh nghiệp, đặc điểm thị trường, và nhu cầu của khách hàng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bidgoli, H. (2002) Electronic Commerce: Principles and Practice, Academic Press.  
2. Calkins, J., Farello, M., & Smith, C. (2000). From retailing to e-tailing. The McKinsey Quarterly, 1.  
3. Cheung, C.M.K., Zhu, L., Kwong, T., Chan, G.W.W. and Limayem, M. (2003), “Online consumer behavior:  
a review and agenda for future research”, Proceedings of the 16th Bled e-Commerce Conference, Bled, 9-11  
June.  
4. Cyr, D., Fraser, S. (2004) Localization of Web Design: An Empirical Comparison of German, Japanese, and  
U.S. Website Characteristics. Journal of the American Society of Information Science and Technology, 55,  
1199-1208.  
5. Cyr, D. (2008) ‘Modeling website design across cultures: relationships to trust, satisfaction, and  
6. E-loyalty, Journal of Management Information Systems, Vol. 24, No. 4, pp.47–72.  
7. Efthymios Constantinides. (2004). “Influencing the online consumer’s behavior: the Web experience”,  
Internet Research, Vol 14, No. 2, pp. 111-126  
729  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 1 năm 2018  
8. Ho, J. (1997), “Evaluating the world wide web: a global study of commercial sites”, Journal of Computer  
Mediated Communication, Vol. 3  
9. Kim, S.-E., Shaw, T. and Schneider, H. (2003), “Web site design benchmarking within industry groups”,  
Internet Research: Electronic Networking Applications and Policy, Vol. 13 No. 1, pp. 17-26.  
10. Lee, P-M. (2002), “Behavioral model of online purchasers in e-commerce environment”, Electronic  
Commerce Research, Vol. 2, pp. 75-85.  
11. Lee, H.W., Osman, M.A., Zakaria, N., Tan, B. (2010), “Adoption of E-Commerce Online Shopping in  
Malaysia”. 7th International Conference on e-Business Engineering, 10-12, pp.140-143.  
12. Lê Văn Huy. (2008), “Mô hình Nghiên cứu hội nhập TMĐT trong các doanh nghiệp tại Việt Nam”, Luận  
văn thạc sỹ kinh tế trường Đại học Kinh tế, Đà Nẵng.  
13. Liang, T.-P. and Lai, H.-J. (2002), “Effect of store design on consumer purchases: an empirical study of  
online bookstores”, Information & Management, Vol. 39, pp. 431-44.  
14. Lưu Tiến Thuận, Trần Thị Thanh Vân. (2015), “Các yếu tố tác động đến việc ứng dụng thương mại điện tử  
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Cần Thơ” , Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần  
Thơ, Vol 36, Phần D: Khoa học Chính trị, Kinh tế và Pháp luật, pp.101-107  
15. MOORE (2014), B2C e-commerce – người tiêu dùng và hoạt động quảng cáo trực tuyến  
16. Nah, F.F.-H., Davis, S. (2002), “HCI Internet research issues in e-commerce”, Journal of Electronic  
Commerce Research, Special Issue: Human Factors in Web-based Interaction, Vol. 3, No. 3, pp.98-113  
17. Palmer, J. W. (2002). Web site usability, design, and performance metrics. Information Systems Research,  
13(2), 151-167.  
18. Raganathan, Ganapathy. (2002), “Key demensions of Business to Consumer websites”, Information &  
Management, Vol 39, pp.457-465  
19. Raijas, A. and Tuunainen, V.K. (2001), “Critical factors in electronic grocery shopping”, The International  
Review of Retail, Distribution and Consumer Research, Vol. 11, pp. 255-65  
20. Rovenpor J. (2003), Explaining the E-commerce shakeout: Why did so many Internet-based businesses fail?  
E-Service journal, Vol 3, No.2, pp.53–77  
21. Shen. Kathy Ning, Khalifa. Mohamed. (2008), Explaining the adoption of transactional B2C mobile  
commerce, Journal of Enterprise Information Management, Vol. 21, Issue2, pp.110-124  
22. Shneiderman, B. (1998), “Designing the user interface: strategies for effective human –computer  
interaction”, Addison-Weasley Reading, MA  
23. Te’eni, D. (2001), “A Cognitive-Affective Model of Organizational Communication for Designing IT”, MIS  
Quarterly, Vol 25, No.2, pp.251–312  
24. Thụy Hương (2011), “Ứng dụng thương mại điện tử: Cơ hội cho doanh nghiệp và người tiêu dùng”, Bản tin  
Khoa học và Công nghệ TT-Huế, Vol 4, pp.23-24.  
25. UNCTAD, E-Commerce and Development Report. United Nations, Geneva, 2001.  
26. Verton, D. (2000, October 18). Online sales stall at the checkout counter. Computerword.  
27. VECOM. (2017), Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam  
28. VECITA. (2014), Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam  
730  
pdf 12 trang baolam 18980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nhận thức của người tiêu dùng về đặc điểm của website bán hàng B2C hiệu quả: Nghiên cứu trên thị trường Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhan_thuc_cua_nguoi_tieu_dung_ve_dac_diem_cua_website_ban_ha.pdf