Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dùng tại Hải Phòng trong việc sử dụng ví điện tử

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÙNG  
TẠI HẢI PHÒNG TRONG VIỆC SỬ DỤNG VÍ ĐIỆN TỬ  
Bùi Thị Bích Hằng, Phạm Thu Hồi,  
Võ Đức Thiện, Nguyễn Thị Ngọc Anh  
Khoa Kế toán - Tài chính  
Email:hangbtb@dhhp.edu.vn  
Ngày nhận bài: 24/8/2020  
Ngày PB đánh giá: 22/9/2020  
Ngày duyệt đăng: 25/9/2020  
TÓM TẮT: Bài viết tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dùng tại Hải  
Phòng trong việc sử dụng ví điện tử. Các phương pháp kiểm định trung bình của tổng thể, kiểm định  
nhân tố khám phá, phân tích hồi quy đa biến được sử dụng nhằm đánh giá mức độ đáp ứng của các nhân  
tố tới nhu cầu sử dụng ví điện tử và làm rõ tác động của các nhân tố đó đến sự hài lòng trong việc sử  
dụng ví điện tử tại Hải Phòng. Trên cơ sở đó, gợi ý một số nội dung mà các đơn vị cung ứng ví cần tập  
trung hoàn thiện để thúc đẩy sự phát triển của ví điện tử trong thời gian tới.  
Từ khóa: thanh toán điện tử, ví điện tử, Hải Phòng  
THE FACTORS AFFECT THE SATISFACTION OF HAI PHONG CUSTOMERS  
IN THE USE OF E-WALLETS  
ABSTRACT: This article focuses on analyzing the factors which affect the satisfaction of Hai Phong  
customers when using E-wallets. One simple T- Test, Factor analysis EFA, Multiple regression analysis in  
SPSS are used to assess the responsiveness of these factors and show the relationship between these factor  
and the customers satisfaction when they use E-wallets. Thereby, the author gives some suggestions for  
e-wallet providers to promote the development of electronic payment in the future.  
Keywords: electronic payment, electronic wallet, Hai Phong.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Ứng dụng thanh toán trên điện thoại  
tử tại Việt Nam cũng làm thị trường này  
thêm sôi động và hấp dẫn. Hiện nay, Ngân  
hàng Nhà nước đã cấp phép dịch vụ trung  
gian thanh toán cho 35 tổ chức không phải  
ngân hàng, trong đó có 29 ví điện tử [4].  
Số lượng ví điện tử tăng lên cũng tạo thêm  
cho người dùng nhiều sự lựa chọn.  
đang dần thay đổi thói quen mua sắm ở các  
nước Châu Á, và xu hướng đó cũng đang  
dần lan rộng vào Việt Nam. Trong bối cảnh  
bối cảnh thương mại điện tử tại Việt Nam  
trở thành điểm nóng và phát triển mạnh  
mẽ, các hình thức thanh toán qua các ứng  
dụng như dịch vụ ví điện tử đã xuất hiện  
nhiều trong các giao dịch thanh toán và  
dần trở thành hình thức thanh toán điện tử  
được nhiều người lựa chọn sử dụng. Bên  
cạnh đó, cuộc chạy đua của các ví điện  
Về mặt pháp lý, thanh toán bằng ví  
điện tử cũng là một trong các hình thức  
thanhtoánkhôngdùngtiềnmặtđượcChính  
phủ khuyến khích và có các văn bản pháp  
luật hướng dẫn thực hiện. Trong thông tư  
số 23/2019/TT-NHNN ngày 22/11/ 2019  
(sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
54  
tư số 39/2014/TT-NHNN), Thông tư số  
47/VBHN-NHNN ngày 9/12/2019 Ngân  
hàng nhà nước đã có những quy định cụ  
thể để định hướng hình thức dịch vụ trung  
gian thanh toán nói chung và dịch vụ ví  
điện tử nói riêng [3][2]. Những yếu tố  
này này nằm tạo tiền đề cho sự phát triển  
mạnh mẽ của hình thức thanh toán bằng ví  
điện tử trong thời gian tới.  
Mô hình nghiên cứu: Tác giả đã tham  
khảo việc xây dựng mô hình trên cơ sở  
vận dụng lý thuyết mô hình SERVPERF  
[7] nhằm đánh giá chất lượng dịch vụ  
thông qua 5 thành phần chất lượng dịch  
vụ bao gồm: (1) Tin cậy, (2) Đáp ứng,  
(3) Năng lực phục vụ, (4) Đồng cảm, (5)  
Phương tiện hữu hình. Ở nước ta, một số  
nghiên cứu về đánh giá chất lượng dịch  
vụ của Nguyễn Hà Khiêm (2018) [1], Hồ  
Diễm Thuần (2012) [5] cũng sử dụng  
thang đo này.  
Tại Hải Phòng, người tiêu dùng cũng  
đã có sự tiếp cận, trải nghiệm với hình thức  
thanh toán ví điện tử. Tuy nhiên, không thể  
phủ nhận, việc thanh toán bằng ví điện tử  
cũng như các kiến thức liên quan đến dịch  
vụ này vẫn chưa thực sự được sử dụng phổ  
biến với một bộ phận người dân. Bài viết  
phân tích các nhân tố tác động tới sự hài  
lòng của người dùng tại Hải Phòng đối với  
việc sử dụng ví điện tử nhằm tìm ra cơ sở  
xây dựng những biện pháp nhằm thúc đẩy  
hơn nữa hình thức thanh toán hiện đại này.  
Căn cứ vào thực tế nghiên cứu, nhóm  
tác giả đã lựa chọn các nhân tố phù hợp  
với dịch vụ ví điện tử, sau đó phỏng vấn  
20 người bao gồm nhiều ngành nghề như  
học sinh sinh viên, cán bộ ngân hàng,  
công nhân viên chức, kinh doanh tự do…  
để điều chỉnh các biến quan sát nhằm đảm  
bảo thang đo xây dựng phù hợp với lý  
thuyết và được cụ thể hóa bằng thực tiễn.  
Mô hình đánh giá sự hài lòng của người  
dùng tại Hải Phòng với ví điện tử được tác  
giả đề xuất như sau:  
2. PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH  
NGHIÊN CỨU  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
55  
Phương pháp nghiên cứu:  
hiện với kích thước mẫu là 900.  
Nghiên cứu chính thức được thực  
hiện bằng phương pháp định lượng, dữ liệu  
sơ cấp được thu thập thông qua quá trình  
phát phiếu điều tra trực tiếp, phỏng vấn  
và gửi phiếu khảo sát online từ tính năng  
tạo phiếu khảo sát của google. Đường link  
phiếu khảo sát online:  
e/1FAIpQLSd_N7k5OAgF4qIaICHbbq_  
WRyQkFCAJ1Ul0ueXMH_6xP_SKoA/viewform  
Phiếu khảo sát được gửi cho các các  
đối tượng thuộc các độ tuổi, ngành nghề  
và ở các mức thu nhập khác nhau tại Hải  
Phòng. Các câu hỏi trong phiếu khảo sát  
là các câu hỏi đóng (định lượng theo thang  
đo 5 bậc Likert mô tả thực trạng các ví  
điện tử đang sử dụng với 5 mức độ từ 1-  
hoàn toàn đồng ý đến mức 5- hoàn toàn  
không đồng ý) và các câu hỏi mở để người  
được khảo sát đưa ra ý kiến đề xuất.  
Liên quan đến quy mô của mẫu  
nghiên cứu, có nhiều quan điểm khác  
nhau trong việc xác định kích thước mẫu.  
Theo Tabachnick & Fidell(2007) [8], đối  
với phân tích hồi quy đa biến: cỡ mẫu tối  
thiểu cần đạt được tính theo công thức là  
n= 50 + 8*m, trong đó n là kích thước mẫu  
và m là số biến độc lập đưa vào mô hình  
hồi quy. Với đề tài này, nhóm nghiên cứu  
đã thảo luận và xem xét các tham số trong  
mô hình. Dựa trên số chỉ báo đo lường và  
thực tế quá trình nghiên cứu, nhóm thực  
Phương pháp xử lý dữ liệu: Tác giả  
sử dụng phần mềm SPSS26 để phân tích  
dữ liệu. Hoạt động phân tích được thực  
hiện với các nội dung: Làm sạch và mã  
hóa dữ liệu; Phân tích thống kê mô tả;  
Kiểm định độ tin cậy của thang đo; Kiểm  
định giả thuyết về trung bình của tổng thể  
(kiểm định One Sample – Ttest), Kiểm  
định nhân tố khám phá EFA; Phân tích hồi  
quy mức độ ảnh hưởng của các nhân tố.  
3. KÊT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Thống kê mô tả  
Kết thúc điều tra, số phiếu câu hỏi  
hoàn chỉnh thu về và đạt yêu cầu đưa vào  
nghiên cứu là 759, chỉ chiếm tỷ lệ 84,3%.  
Trong đó có 455 phiếu trả lời đã hoặc  
đang sử dụng ví điện tử chiếm tỷ lệ 59,9%  
và 304 phiếu trả lời chưa từng sử dụng ví  
điện tử chiếm tỷ lệ 40,1%. Trong số phiếu  
khảo sát thu về được, có 304 ý kiến không  
sử dụng ví điện tử. Lý do không dùng ví  
điện tử của người được khảo sát được tổng  
hợp như sau: Chưa từng nghe về ví điện  
tử; Chưa hiểu ví điện tử, sợ rủi ro; Cảm  
thấy cài đặt và sử dụng ví điện tử khá phức  
tạp; Không sử dụng smartphone; Chỉ giao  
dịch tiền mặt là chủ yếu….  
Cấu trúc mẫu điều tra được thống kê  
theo các tiêu chí như độ tuổi, nghề nghiệp,  
mức thu nhập, tần suất sử dụng ví điện tử. Kết  
quả thống kê mô tả được thể hiện như sau:  
Bảng 1: Đặc điểm mẫu khảo sát (n=455)  
Đặc điểm  
Số lượng Tỷ lệ %  
Dưới 25 tuổi  
Từ 25 - 34 tuổi  
Từ 35 - 44 tuổi  
Từ 45 tuổi trở lên  
197  
103  
115  
40  
43.30  
22.64  
25.27  
8.79  
Độ tuổi  
Học sinh, sinh viên  
Nhân viên văn phòng, cán bộ công nhân viên chức  
Công nhân  
Nông dân  
127  
159  
124  
7
27.91  
34.95  
27.25  
1.54  
Nghề nghiệp  
Buôn bán, kinh doanh  
Hưu trí  
30  
8
6.59  
1.76  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
56  
Mức thu nhập  
Dưới 5 triệu đồng  
Từ 5 - 10 triệu  
Từ 10 - 20 triệu  
Trên 20 triệu  
Từ 1 – 2 lần  
173  
153  
97  
38.02  
33.63  
21.32  
7.03  
32  
Số lần sử dụng/  
tháng  
159  
134  
81  
34.95  
29.45  
17.8  
Từ 3 - 5 lần  
Từ 6 - 10 lần  
Trên 10 lần  
81  
17.8  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp kết quả phân tích dữ liệu từ SPSS26)  
Cơ cấu độ tuổi: Trong số 455 người có  
sử dụng ví điện tử có 197 người thuộc độ  
tuổi dưới 25 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất  
là 43,30%, tiếp theo là độ tuổi từ 35 – 44  
tuổi chiếm 25,27%, độ tuổi từ 25 – 34 tuổi  
chiếm 22,64% và tỷ trọng thấp nhất là từ  
45 tuổi trở lên có 40 người chiếm 8,79%.  
lần/ tháng. Như vậy, tần số sử dụng trong  
1 tuần của những người được khảo sát  
phần lớn là từ 5 lần trở xuống.  
3.2. Đánh giá mức độ tin cậy của thang đo  
Để đánh giá mức độ tin cậy của  
thang đo, ta lần lượt kiểm định thang đo  
Cronbach’sAlpha cho từng nhóm biến quan  
sát của các nhân tố Độ tin cậy, Khả năng đáp  
ứng, Năng lực phục vụ, Sự đồng cảm, Hình  
ảnh trực quan, Tính thuận tiện. Phép kiểm  
định này phản ánh mức độ tương quan chặt  
chẽ giữa các biến trong cùng 1 nhân tố, từ đó  
cho biết các thang đo trong mô hình có đảm  
bảo độ tin cậy theo yêu cầu đề ra của kiểm  
định này hay không?  
Cơ cấu theo nghề nghiệp: Trong  
455 người có sử dụng ví điện tử có 159  
người là nhân viên văn phòng, cán bộ  
công nhân viên chức chiếm 34,95%; tiếp  
theo là học sinh, sinh viên chiếm 27,91%;  
công nhân với số lượng 124 người chiếm  
27,25%, buôn bán kinh doanh đứng thứ  
4 với 6,59% và đứng thứ 5 là hưu trí với  
số lượng 8 người chiếm 1,76%, cuối cùng  
chiếm tỉ trọng thấp nhất 7 người là nông  
dân với 1,54%.  
Các tiêu chuẩn trong kiểm định độ tin  
cậy thang đo Cronbach’s Alpha [6]:  
- Nếu một biến đo lường có hệ số  
tương quan biến tổng Corrected Item – To-  
tal Correlation ≥ 0.3 thì biến đó đạt yêu cầu.  
Cơ cấu theo thu nhập: Số lượng  
người khảo sát nhiều nhất là có mức thu  
nhập dưới 5 triệu đồng/tháng có 173 người  
chiếm 38,02%. Tiếp theo là mức thu nhập  
từ 5 – 10 triệu chiếm 33,63%; đứng thứ  
ba là mức thu nhập từ 10 – 20 triệu chiếm  
21,32% và cuối cùng chiếm tỉ trọng thấp  
nhất là mức thu nhập trên 20 triệu đồng/  
tháng có 32 người chiếm 7,03%.  
- Hệ số Cronbach Alpha là hệ số cho  
phép đánh giá xem nếu đưa các biến quan  
sát nào đó thuộc về một biến nghiên cứu  
(biến tiềm ẩn, nhân tố) thì nó có phù hợp  
không. Hair etal (2006) đưa ra quy tắc  
đánh giá như sau: Giá trị hệ số Cronbach’s  
Alpha chung từ 0.6 trở lên thì thang đo  
lường đủ điều kiện. Hệ số này từ 0.6 đến  
0.7 là chấp nhận được với các nghiên cứu  
mới, từ 0.7 đến 0.8 là thang đo lường sử  
dụng được và từ 0.8 đến gần 1 thì thang đo  
lường là tốt.  
Cơ cấu theo số lần sử dụng ví điện tử:  
Tần suất sử dụng ví điện tử của mọi người  
đa phần từ 1 – 2 lần/tháng chiếm 34,95%;  
tiếp theo là từ 3 – 5 lần với 29,45%; cùng  
có tỷ lệ thấp nhất 17,80% là tần suất dử  
dụng ví điện tử từ 6 – 10 lần và trên 10  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
57  
- Nếu giá trị Cronbach’s Alpha nếu  
loại biến lớn hơn hệ số Cronbach’s Alpha  
và Hệ số tương quan biến tổng nhỏ hơn  
0.3 thì sẽ loại biến quan sát đang xem xét  
để tăng độ tin cậy của thang đo.  
Bảng 2: Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo các biến trong mô hình  
Biến thỏa mãn độ tin cậy Cronbach’s Alpha (CA)  
Hệ số  
Biến bị loại  
Thang  
đo  
CA  
tổng thể  
CA nếu  
Tên biến  
tương quan  
biến tổng  
0,495  
loại biến  
TC1 - Đơn vị cung ứng ví điện tử có  
uy tín  
0,734  
Độ tin  
cậy  
0,685 TC2 - Thực hiện dịch vụ đúng cam kết  
TC3 - Thông tin khách hàng được  
bảo mật  
0,642  
0,505  
0,490  
0,609  
ĐƯ1 - Thao tác thực hiện đơn giản  
ĐƯ2 - Liên kết ví điện tử với tài khoản  
ngân hàng/thẻ ngân hàng dễ dàng  
0,788  
0,811  
0,689  
0,683  
Khả  
năng  
đáp  
0,811  
ĐƯ3 - Dịch vụ đa dạng, đáp ứng  
0,613  
0,771  
nhu cầu khách hàng  
ứng  
ĐƯ4 - Phí dịch vụ hợp lý  
NL2 - Thời gian xử lý giao dịch  
nhanh chóng, chính xác  
NL3 - Các tính năng ngày càng hoàn  
thiện và đa dạng.  
0,395  
0,588  
0,894  
0,863  
NL1 - Hướng  
dẫn kích hoạt  
dễ hiểu, dễ  
thực hiện  
Năng  
lực  
phục  
vụ  
0,724  
0,696  
0,806  
0,817  
0,856  
NL4 - Thông tin các dịch vụ và  
chương trình khuyến mại được thể  
hiện đầy đủ.  
NL5 - Ít xảy ra sự cố  
ĐC2 - Các kênh tiếp nhận yêu cầu  
hỗ trợ của khách hàng đều phản hồi  
0,797  
0,466  
0,776  
0,764  
ĐC1 - Bộ  
phận chăm sóc  
khách hàng có  
sự lắng nghe  
và nhiệt tình  
giải đáp  
Sự  
đồng  
cảm  
nhanh chóng.  
ĐC3 - Trợ giúp giải quyết sự cố của  
khách hàng nhanh, chính xác.  
0,865  
0,404  
0,764  
HA1 - Giao diện hiện đại, bố cục  
trình bày hợp lý  
HA2 - Hình ảnh minh họa ấn tượng,  
màu sắc hài hòa.  
HA3 - Chương trình khuyến mại  
hiển thị nổi bật dễ nhận biết  
0,885  
0,859  
0,846  
0,804  
0,866  
0,907  
Hình  
ảnh  
trực  
0,934  
0,917  
quan  
TT2 - Giúp khách hàng giảm đáng  
kể các giao dịch tiền mặt  
0,916 TT1 - Dễ dàng  
Tính  
thuận  
tiện  
tiếp cận  
0,922 TT3 - Có thể sử dụng mọi lúc mọi nơi  
TT4 - Nhiều nhà cung ứng chấp  
nhận thanh toán bằng ví điện tử  
0,886  
0,836  
0,851  
0,892  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp kết quả phân tích dữ liệu từ SPSS26)  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
58  
Như vậy, sau khi tiến hành kiểm định  
Cronbach’s Alpha cho 6 thang đo độc lập  
và loại bỏ 3 biến quan sát không đủ độ tin  
cậy, còn lại 19 biến quan sát được giữ lại để  
phân tích.  
Với nội dung nghiên cứu về sự hài  
lòng của người dùng với dịch vụ thanh  
toán bằng ví điện tử, tác giả đã sử dụng  
thang đo Likert 5 mức độ: 1. Hoàn toàn  
đồng ý 2. Đồng ý, 3. Bình thường, 4.  
Không đồng ý và 5. Hoàn toàn không  
đồng ý. Giả thuyết ban đầu được đưa ra  
là: Điểm đánh giá trung bình mức độ hài  
lòng của người dùng với các nhân tố Độ  
tin cậy, Khả năng đáp ứng, Năng lực phục  
vụ, Sự đồng cảm, Hình ảnh trực quan và  
Tính thuận tiện bằng 3. Nếu giả thuyết này  
được chấp nhận tức các nhân tố đáp ứng  
nhu cầu sử dụng ví điện tử ở mức độ bình  
thường. Nếu giả thuyết bị bác bỏ, dựa vào  
giá trị trung bình của các nhân tố ta có thể  
kết luận về mức độ đáp ứng của các nhân  
tố đó với nhu cầu sử dụng ví điện tử là cao  
hay thấp hơn mức bình thường.  
3.3. Đánh giá mức độ đáp ứng của các  
nhân tố với nhu cầu thanh toán bằng ví  
điện tử tại Hải Phòng  
Mức độ đáp ứng của các nhân tố Năng  
lực phục vụ, Hình ảnh trực quan, Độ tin  
cậy, khả năng đáp ứng và sự đồng cảm,  
Tính thuận tiện với nhu cầu thanh toán  
bằng ví điện tử được đánh giá thông qua  
kiểm định One Sample – Ttest (kiểm định  
giả thuyết về trung bình của tổng thể).  
Mục đích của kiểm định là so sánh  
giá trị trung bình của tổng thể với một số  
cụ thể, với giả thuyết ban đầu cho rằng giá  
trị trung bình cần kiểm nghiệm bằng giá  
trị cụ thể nào đó. Nếu kết quả kiểm định  
cho chỉ số Sig. nhỏ hơn mức tin cậy thì  
bác bỏ giả thuyết này.  
Kết quả kiểm định T đều cho giá trị  
Sig.<0,05. Như vậy, với độ tin cậy 95% giả  
thuyết H0 bị bác bỏ, điểm đánh giá trung bình  
của người dùng với các nhân tố là khác 3.  
Bảng 3: Kết quả kiểm định One Sample – T test  
Test value = 3  
Sig.  
Giá trị trung  
bình  
Nhân tố  
Khác biệt  
trung bình  
T
TC1  
TC2  
TC3  
ĐƯ1  
ĐƯ2  
ĐƯ3  
ĐƯ4  
NL2  
NL3  
NL4  
NL5  
ĐC2  
ĐC3  
HA1  
-22,515  
-36,763  
-27,063  
6,083  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
-1,303  
-1,185  
-0,925  
0,196  
0,281  
0,218  
0,147  
-1,266  
-1,246  
-1,251  
-1,305  
0,130  
0,211  
1,70  
1,82  
2,07  
3,20  
3,28  
3,22  
3,15  
1,73  
1,75  
1,75  
1,69  
3,13  
3,21  
2,00  
9,133  
6,933  
3,712  
-40,601  
-41,933  
-40,866  
-44,912  
4,352  
6,590  
-26,863  
-0,998  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
59  
HA2  
HA3  
TT2  
TT3  
TT4  
-28,828  
-26,534  
31,449  
32,956  
27,225  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
-1,046  
-1,004  
1,95  
2,00  
1,19121  
1,25055  
1,099  
4,1912  
4,2505  
4,10  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp kết quả phân tích dữ liệu từ SPSS26)  
Từ kết quả giá trị trung bình trong  
kiểm định ta thấy, mức độ đáp ứng của  
các nhân tố Độ tin cậy, Năng lực phục  
vụ, Hình ảnh trực quan là trên mức bình  
thường vì giá trị trung bình của các tiêu  
chí đưa vào kiểm định nhỏ hơn 3. Nhân tố  
Khả năng đáp ứng, Sự đồng cảm, và Tính  
thuận tiện là các nhân tố có giá trị trung  
bình lớn hơn 3. Các tiêu chí có giá trị lớn  
tức mức độ đồng ý của người dùng chưa  
được cao thuộc nhân tố Tính thuận tiện và  
Khả năng đáp ứng.  
các cộng sự (1998, 111), điều kiện để phân  
tích nhân tố khám phá là phải thỏa mãn các  
yêu cầu: (1) Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-  
Olkin) đạt giá trị từ 0.5 đến 1; (2) Kiểm định  
Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0.05);  
(3) Tổng phương sai trích (Total variance  
Explain) > 50%, Eigenvalue (đại diện phần  
biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố)  
>1; (4) Hệ số tải nhân tố (Factor loading ) >  
0.3 (với cỡ mẫu từ 350 trở lên).  
Lần kiểm định đầu tiên, biến quan  
sát ĐƯ4 xuất hiện ở hai nhóm nhân tố và  
chênh lệch hệ số tải <0.3. Tác giả đã loại  
biến quan sát này và kiểm định lại, thu  
được các kết quả tổng hợp như sau:  
3.4. Kiểm định nhân tố khám phá EFA  
Tác giả tiếp tục phân tích nhân tố khám  
phá EFA với 6 thang đo trên. Theo Hair &  
Bảng 4: Kiểm định KMO và Bartlett’s Test  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.  
0,801  
6505,437  
153  
Bartlett’s Test of  
Sphericity  
Approx. Chi-Square  
Df  
Sig.  
0,000  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp kết quả phân tích dữ liệu từ SPSS26)  
Tổng phương sai trích: 80,482%.  
Bảng 5: Ma trận xoay  
Rotated Component Matrixa  
Component  
1
2
3
4
5
ĐƯ2  
ĐƯ1  
ĐC3  
ĐC2  
ĐƯ3  
HA2  
HA1  
HA3  
NL3  
0,911  
0,876  
0,874  
0,873  
0,806  
0,930  
0,907  
0,901  
0,873  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
60  
NL5  
NL4  
NL2  
TT3  
TT2  
TT4  
TC3  
TC2  
TC1  
0,848  
0,826  
0,665  
0,347  
0,381  
0,922  
0,912  
0,901  
0,830  
0,796  
0,745  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp kết quả phân tích dữ liệu từ SPSS26)  
Trong bảng ma trận xoay, thang đo đã  
thể hiện được giá trị hội tụ và giá trị phân  
biệt. Theo đó, biến NL2 và biến TC2 đều  
tải lên 2 nhóm nhân tố nhưng chênh lệch  
hệ số tải >0.3 nên hai biến quan sát này  
vẫn được giữ lại để phân tích.  
Bảng 6: Mô hình điều chỉnh sau kiểm định Cronbach’s Alpha  
và nhân tố khám phá  
TT  
1
Nhân tố  
Thang đo  
TC  
Tên biến  
TC1, TC2, TC3  
Độ tin cậy  
2
3
4
5
Khả năng đáp ứng và đồng cảm  
Năng lực phục vụ  
Hình ảnh trực quan  
Tính thuận tiện  
ĐƯĐC  
NL  
HA  
ĐƯ1, ĐƯ2, ĐƯ3, ĐC2, ĐC3  
NL2, NL3, NL4, NL5  
HA1, HA2, HA3  
TT  
TT2, TT3, TT4  
Kết quả phân tích nhân tố từ 6 thang đo  
ban đầu tạo thành 5 thang đo gồm 18  
biến, một số biến của các thang đo ban  
đầu được sắp xếp lại vào các thang đo  
phù hợp. Tác giả tiếp tục sử dụng thang  
đo này để phân tích hồi quy.  
đối với ví điện tử.  
SHL= β1 TC+ β2ĐƯĐC + β3 NL+β4HA+  
β5TT+ε  
Trong đó:  
Biến độc lập:  
ĐTC: Độ tin cậy; ĐƯĐC: Khả năng đáp  
ứng và đồng cảm; NL: Năng lực phục vụ;  
HA: Hình ảnh trực quan; TT: Tính thuận tiện  
3.5. Phân tích hồi quy  
Phân tích hồi quy được tiến hành  
nhằm đánh giá ảnh hưởng của các nhân  
tố Độ tin cậy, Khả năng đáp ứng và đồng  
cảm, Năng lực phục vụ, Hình ảnh trực  
quan và Tính thuận tiện tới sự biến động  
của nhân tố sự hài lòng của người dùng  
Biến phụ thuộc:  
- SHL: Sự hài lòng trong việc sử dụng  
ví điện tử  
Kết quả phân tích hồi quy được thể  
hiện như sau:  
Bảng 7: Kết quả phân tích hồi quy  
Model Summaryb  
Adjusted R  
Square  
Std. Error of  
the Estimate  
.656  
Durbin-  
Watson  
Model  
1
R
.728a  
R Square  
.530  
.525  
.709  
a. Predictors: (Constant), TT, TC, NL, HA, ĐƯĐC  
b. Dependent Variable: SHL  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
61  
ANOVAa  
Model  
1
Sum of Squares  
217.820  
Df  
Mean Square  
F
Sig.  
.000b  
Regression  
Residual  
Total  
5
449  
454  
43.564 101.345  
.430  
193.006  
410.826  
a. Dependent Variable: SHL  
b. Predictors: (Constant), TT, TC, NL, HA, ĐƯĐC  
Coefficientsa  
Model  
B
Unstandardized  
Coefficients  
Standardized  
Coefficients  
t
Sig.  
Collinearity  
Statistics  
VIF  
Tolerance  
Std.  
Beta  
Error  
1
(Constant)  
TC  
ĐƯĐC  
HA  
NL  
TT  
-1.954  
.313  
-6.236  
3.030  
.665 17.939  
.000  
.138  
1.063  
.138  
.208  
.287  
.046  
.059  
.045  
.065  
.043  
.105  
.003 .878 1.139  
.000 .761 1.315  
.002 .854 1.171  
.001 .782 1.279  
.000 .880 1.137  
.108  
.118  
.232  
3.073  
3.212  
6.718  
a. Dependent Variable: SHL  
- Đánh giá độ phù hợp của mô hình  
hồi quy đa biến: Hệ số R bình phương  
hiệu chỉnh (Adjusted R Square) là 0.525,  
điều này cho thấy mô hình hồi quy tuyến  
tính này phù hợp với tập dữ liệu của mẫu ở  
mức 52,5%>50%. Kết quả này được đánh  
giá là tốt.  
SHL = 0,665 ĐƯĐC + 0,232 TT + 0,118  
NL + 0,108 HA + 0,105 TC +ε  
Dựa vào độ lớn của hệ số hồi quy  
chuẩn hóa Beta, thứ tự mức độ tác động  
từ mạnh nhất tới yếu nhất của các biến  
độc lập tới biến phụ thuộc SHL là: ĐƯĐC  
(0,665) > TT(0,232 ) > NL (0,118 ) > HA  
(0,108) > TC (0,105).  
- Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp  
với tổng thể của mô hình, kiểm định F cho  
giá trị sig.=0.000 <0.05 mô hình hồi quy  
tuyến tính xây dựng được là phù hợp với  
tổng thể.  
4.THẢOLUẬNKẾTQUẢNGHIÊNCỨU  
- Ví điện tử chưa thực sự phổ biến  
ở Hải Phòng. Kết quả điều tra cho thấy  
40,09% (304/759) số người được khảo sát  
chưa từng sử dụng ví điện tử. Lý do chủ  
yếu thu nhận được trong quá trình tập hợp  
phiếu khảo sát và phỏng vấn là do thói  
quen dùng tiền mặt vẫn phổ biến; tâm lý  
ngại tiếp cận phương thức thanh toán mới.  
- Sig. hệ số hồi quy của các biến độc  
lập giá trị Sig. đều <0.05 chứng tỏ 5 biến  
độc lập đều tác động có ý nghĩa thống kê  
đến biến phụ thuộc. Nghĩa là 5 biến này  
đều được chấp nhận, không loại bỏ. Mặt  
khác, tất cả các biến độc lập đều có Beta  
>0 nên 5 biến này có tương quan dương  
với sự hài lòng trong việc sử dụng ví điện  
tử. Hệ số phóng đại phương sai VIF<2  
vậy không có hiện tượng đa cộng tuyến  
xảy ra.  
- Tần suất sử dụng ví điện tử còn ít,  
chủ yếu dưới 5 lần/tháng (64,4 % số người  
được khảo sát), mục đích sử dụng còn  
chưa đa dạng.  
- Dựa vào độ lớn của hệ số hồi quy  
chuẩn hóa Beta, hai nhân tố Khả năng  
Mô hình hồi quy thu được:  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
62  
NguyenHaKhiem_K33.QTR.DN_TomTat.pdf,  
đáp ứng và đồng cảm và Sự thuận tiện có  
ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của  
người dùng đối với ví điện tử; tiếp đến là  
nhân tố Năng lực phục vụ. Hai nhân tố  
Hình ảnh trực quan và Độ tin cậy có ảnh  
hưởng yếu nhất đến sự hài lòng.  
26/6/2020.  
2. Ngân hàng Nhà nước (2019), Thông tư  
số 47/VBHN-NHNN ngày 9/12/2019, Hướng  
dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán.  
3. Ngân hàng Nhà nước (2019), Thông  
tư số 23/2019/TT-NHNN, sửa đổi, bổ sung  
một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-  
NHNN ngày 11/12/2014 của Ngân hàng Nhà  
nước việt Nam, Hướng dẫn về dịch vụ trung  
gian thanh toán.  
- Từ kết quả phân tích giá trị trung  
bình, có thể đánh giá mức độ đáp ứng của  
các nhân tố Khả năng đáp ứng và đồng  
cảm và Sự thuận tiện vẫn còn những mặt  
chưa được đánh giá cao cụ thể là Có thể sử  
dụng mọi lúc mọi nơi; Giúp khách hàng  
giảm đáng kể các giao dịch tiền mặt;  
Nhiều nhà cung ứng chấp nhận thanh  
toán bằng ví điện tử.  
4. Ngân hàng Nhà nước (2019), Danh  
sách các tổ chức không phải là ngân hàng  
được NHNN cấp giấy phép hoạt động cung  
ứng dịch vụ trung gian thanh toán đến  
portal/vi/menu/trangchu/tk/hdtt/gdchtttqg?_  
afrLoop=3879974764890664#%40%3F_afrLo  
op%3D3879974764890664%26centerWidth%  
3D80%2525%26leftWidth%3D20%2525%26  
rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3D  
false%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-  
state%3Dj98uczzlt_46, 25/72020.  
Các nhà cung ứng dịch vụ ví điện tử  
cần tập trung hoàn thiện vào các yếu tố  
này để thúc đẩy hơn nữa hình thức thanh  
toán này tại Hải Phòng.  
5. KẾT LUẬN  
Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây  
dựng mô hình nghiên cứu, các thang đo  
đồng thời kiểm định sự tin cậy của thang  
đo, phân tích mối quan hệ giữa các nhân  
tố với sự hài lòng của người dùng đối với  
ví điện tử. Kết quả đưa ra được 5 nhân  
tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với ví  
điện tử: Độ tin cậy, Khả năng đáp ứng và  
đồng cảm, Năng lực phục vụ, Hình ảnh  
trực quan, Tính thuận tiện. Để có thể thúc  
đẩy hơn nữa sự phát triển của hình thức  
này cần có các biện pháp nâng cao chất  
lượng dịch vụ từ các nhà cung ứng ví điện  
tử, sự sẵn sàng tiếp nhận của người dùng  
trên cơ sở cảm nhận được lợi ích của hình  
thức thanh toán điện tử này.  
5. Hồ Diễm Thuần (2012), ‘Đánh giá chất  
lượng dịch vụ ngân hàng điện tử đối với khách  
hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công thương  
Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng’, Hội nghị sinh  
viên nghiên cứu Khoa học, Đại học Đà Nẵng.  
6. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc  
(2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS,  
NXB Thống kê.  
7. J. Joseph Cronin, Jr. and Steven A.  
Taylor (1993), ‘Measuring Service Quality:  
A Reexamination and Extension; Measuring  
Service Quality: A Reexamination and  
Extension’, Journal of Marketing, pp.55-68.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Hà Khiêm (2018), ‘Đánh  
giá chất lượng dịch vụ ví điện tử: So sánh  
chất lượng dịch vụ của ví điện tử Momo,  
Zalopay và Air pay’, http://thuvien.due.udn.  
vn:8080/dspace/bitstream/TVDHKT/47617/3/  
8. Tabachnick, B. G., & Fidell, L. S.  
(2007), Using multivariate statistics; New  
York: Allyn and Bacon.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 44, tháng 01 năm 2021  
63  
pdf 10 trang baolam 19380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dùng tại Hải Phòng trong việc sử dụng ví điện tử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_su_hai_long_cua_nguoi_dung_tai_hai.pdf