Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay: Cơ hội và thách thức

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY: CƠ HỘI VÀ  
THÁCH THỨC  
VIETNAM’S EXPORTS OF GOODS IN THE CURRENT CONTEXT: OPPORTUNITIES AND  
CHALLENGES  
TS. Lê Trung Hiếu  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
Tóm tắt  
Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam liên tục gia tăng, thị trường xuất  
khẩu ngày càng mở rộng. Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do, bên cạnh  
những cơ hội mới mở ra, xuất khẩu nước ta cũng gặp phải không ít khó khăn và thách thức. Bài viết đi sâu phân  
tích thực trạng hoạt động xuất khẩu, những thuận lợi và khó khăn, đồng thời đề xuất một số hàm ý chính sách  
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của nước ta trong thời gian tới.  
Từ khóa: xuất khẩu, hiệp định thương mại tự do, cơ hội, thách thức.  
Abstract  
In recent years, export turnover of Vietnam’s goods has continuously increased, the export market has  
been expanding. Vietnam has signed many free trade agreements which bring many opportunities and  
challenges to export activities. The paper analyzes the current situation of export activities, opportunities and  
challenges, and proposes some solutions to improve export activities in the coming time.  
Keywords: export, Free trade agreement, opportunities, challenges  
1. Đặt vấn đề  
Sau đại hội Đảng năm 1986, với quyết tâm đổi mới kinh tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành  
tựu nổi bật về kinh tế - xã hội. Từ một quốc gia phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, Việt Nam đã từng  
bước đổi mới sản xuất, đáp ứng nhu cầu về hàng hóa trong nước và xuất khẩu hàng hóa ra thị trường  
thế giới. Hàng hóa nước ta từng bước chinh phục thị trường thế giới, từ các quốc gia châu Á, châu Phi,  
Châu đại dương, đến những thị trường khó tính như Mỹ và châu Âu. Hiện nay hàng hóa Việt Nam đã  
có mặt ở hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Mặt hàng xuất khẩu nước ta ngày càng phong phú và đa  
dạng, từ các sản phẩm truyền thống như hàng dệt may, dày da, nông sản, thủy sản, các sản phẩm từ  
gỗ,… cho đến các sản phẩm đòi hỏi công nghệ sản xuất tiên tiến như hàng điện tử, điện thoại, máy vi  
tính và linh kiện. Hoạt động xuất khẩu ngày càng mở rộng đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển  
kinh tế nước nhà. Năm 2018 kim ngạch xuất khẩu đạt mức kỷ lục 243,5 tỷ USD, tăng 2,51 lần so với  
năm 2011, đánh dấu sự thành công vượt bậc của hoạt động xuất khẩu Việt Nam.  
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng mở ra nhiều cơ hội mới, tạo động  
lực cho sự tăng tốc của hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Những thành tựu đạt được trong những năm  
gần đây là nhờ sự hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế, đặc biệt là việc tham gia ký kết nhiều hiệp định  
thương mại song phương và đa phương. Tuy nhiên trong quá trình hội nhập kinh tế, hoạt động xuất  
khẩu hàng hóa cũng gặp phải không ít những khó khăn và thách thức như sức ép cạnh tranh ngày càng  
lớn, yêu cầu về chất lượng hàng hóa, xuất xứ, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi  
trường,… ngày càng nghiêm ngặt.  
Trước những yêu cầu phát triển mới, việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu, để từ đó có cái nhìn  
đúng đắn và đầy đủ về những tiềm năng, cơ hội cũng như thách thức và hạn chế là hết sức cần thiết,  
đồng thời là cơ sở đề xuất một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nước ta trong bối  
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.  
495  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
2. Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam  
Theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đề ra mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu  
hàng hóa trung bình 11-12%/năm trong giai đoạn 2011 – 2020 và duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng  
10% ở giai đoạn 2021 – 2030. Kết quả đạt được trong hoạt động xuất khẩu trong giai đoạn 2011 –  
2018 vượt mục tiêu đề ra, qua đó góp phần quan trọng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Giai đoạn  
2011 – 2018 có thể coi là giai đoạn hưng thịnh trong hoạt động xuất khẩu của nước ta. Năm 2018, kim  
ngạch xuất khẩu đạt 243,5 tỷ USD, tăng gấp 2,51 lần so với năm 2011 (96,9 tỷ USD năm 2011). Số  
liệu về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam được thể hiện trong bảng 1.  
Bảng 1. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2019  
Năm  
Kim ngạch xuất khẩu, tỷ USD Tốc độ tăng trưởng so với năm trước, %  
2011  
96,9  
-
2012  
114,5  
132,0  
150,2  
162,0  
176,6  
215,1  
243,5  
261,0  
18,2  
15,3  
13,8  
7,9  
2013  
2014  
2015  
2016  
9,0  
2017  
21,8  
13,2  
7,2  
2018  
2019 (ước tính)  
Nguồn: Tổng cục hải quan 2019  
Qua số liệu ở bảng 1 có thể thấy rằng giá trị xuất khẩu hàng hóa Việt Nam liên tục tăng trong  
giai đoạn 2011 – 2019, với tỷ lệ tăng hàng năm từ 7-21,8%. Đặc biệt năm 2017 kim ngạch xuất khẩu  
tăng 21,8% so với năm trước đó. Năm 2018 giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng 13,2% so với năm 2017  
(tăng 28,4 tỷ USD), vượt mức chỉ tiêu mà Quốc hội đề ra (7-8%). Trong 3 năm liên tiếp từ 2016 đến  
2018, cán cân thương mại thặng dư, năm 2018 đạt 6,8 tỷ USD, cao hơn nhiều so với năm 2016 (1,78 tỷ  
USD) và năm 2017 (2,11 tỷ USD). 11 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu đạt 241,4 tỷ USD, tăng 7,8% so  
với cùng kỳ năm trước. Dự báo năm 2019 kim ngạch xuất khẩu đạt 261 tỷ USD, cán cân thương mại  
thặng dư hơn 9,1 tỷ USD. Đây là một kết quả rất khả quan trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến  
động và chịu tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Những thành quả đạt được trong giai  
đoạn này đã giúp Việt Nam cải thiện vị trí trên bản đồ xuất khẩu thế giới, từ thứ hạng 50 năm 2007 lên  
vị trí 27 vào năm 2017. Một thành tích rất ấn tượng đối với nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.  
Về cơ cấu, trong năm 2018 giá trị hàng hóa xuất khẩu của khối doanh nghiệp FDI chiếm 70,4%  
(tương đương 171,5 tỷ USD) trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Điều này tạo ra nhiều  
nguy cơ đối với xuất khẩu nước ta do hoạt động của khối FDI phụ thuộc rất lớn vào chuỗi cung ứng  
khu vực và toàn cầu. Khi có sự biến động xảy ra với chuỗi cung ứng, như chiến tranh thương mại, hoạt  
động xuất khẩu sẽ chịu tác động mạnh. Do vậy cần phải tạo ra những đòn bẩy kinh tế mới, cải thiện  
môi trường kinh doanh, tái cơ cấu nền kinh tế để có thể hình thành nên những doanh nghiệp, tập đoàn  
lớn dẫn dắt nền kinh tế.  
Về thị trường xuất khẩu, hàng hóa Việt Nam hiện nay có mặt ở 5 châu lục, tại hơn 200 quốc gia  
và vùng lãnh thổ. Năm 2018, thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là các quốc gia châu Á,  
chiếm 53,95%, tiếp đến là châu Mỹ - 23,84%, châu Âu – 19,01%, châu Đại dương – 2,01%, châu Phi -  
1,18%. Số liệu về thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam được thể hiện ở bảng 2.  
Xét về từng thị trường cụ thể, đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ với kim ngạch năm  
2018 đạt 47,53 tỷ USD (chiếm 14,27%), tiếp đến là EU – 41,88 tỷ USD (chiếm 17,20%), Trung Quốc  
– 41,27 tỷ USD (chiếm 16,95%). Đây là những thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam và giữ  
mức tăng trưởng ổn định trong nhiều năm qua.  
496  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bảng 2. Thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam 2017-2018  
Kim ngạch, tỷ USD  
Tỷ lệ tăng trưởng so với  
năm 2017,%  
Thị trường  
Châu Á  
Tỷ trọng, %  
2017  
112,95  
21,51  
35,46  
14,82  
16,84  
43,0  
2018  
131,36  
24,52  
41,27  
18,20  
18,85  
46,30  
41,88  
4,91  
16,30  
13,99  
16,38  
22,80  
11,93  
7,67  
53,95  
10,67  
16,95  
7,48  
Asean  
Trung Quốc  
Hàn Quốc  
Nhật Bản  
Châu Âu  
EU  
7,74  
19,01  
17,20  
2,01  
38,28  
4,06  
9,40  
Châu Đại Dương  
Châu Mỹ  
Hoa Kỳ  
20,93  
10,91  
14,25  
8,23  
52,33  
41,60  
2,67  
58,04  
47,53  
2,89  
23,84  
19,52  
1,18  
Châu Phi  
Tổng  
215,01  
243,5  
13,20  
100  
Nguồn: Tổng cục hải quan 2019  
Thị trường xuất khẩu Việt Nam không những liên tục gia tăng về số lượng mà quy mô thị trường  
ngày càng mở rộng. Nếu như năm 2011 thị trường xuất khẩu với kim ngạch trên 1 tỷ USD chỉ với 24  
thị trường (trong đó có 3 thị trường trên 10 tỷ) thì đến năm 2018, có 31 thị trường có quy mô trên 1 tỷ  
USD (trong đó 4 thị trường đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD, 7 thị trường trên 5 tỷ USD). Về cơ bản các  
mặt hàng xuất khẩu trong những năm qua các mặt hàng như điện thoại và linh kiện, dệt may, máy vi  
tính, máy móc, giày dép, là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, được thể hiện ở hình 1.  
Hình 1. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực năm 2017-2018  
Nguồn: Tổng cục hải quan 2019  
Qua số liệu ở hình 1 có thể nhận thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào  
nhóm ngành điện thoại và linh kiện cùng máy vi tính, sản phẩm điện tử với giá trị xuất khẩu gần 99 tỷ  
USD. Trong đó hầu hết các mặt hàng này thuộc các doanh nghiệp FDI. Đây là một vấn đề cần được  
quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế trong tương lai nhằm giảm sự phụ thuộc vào doanh nghiệp  
FDI, tăng tỷ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước.  
Dù có đóng góp lớn cho nền kinh tế nhưng nhóm ngành nông, lâm thủy sản có dấu hiệu đáng lo  
về lâu dài. Phần lớn các nhóm ngành này xuất khẩu sản phẩm thô, chưa chú trọng chế biến sâu, nên  
497  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
mặc dù tăng về sản lượng xuất khẩu nhưng giá trị mang lại chưa cao. Đây cũng là một hạn chế cần  
được khắc phục nhằm tận dụng được những lợi thế của các nhóm ngành này.  
So với năm 2017, thì năm 2018 tất cả các nhóm hàng lớn đều có sự gia tăng về giá trị xuất  
khẩu. Đây là một kết quả hết sức tích cực, thể hiện sự chuyển biển và phát triển đồng đều ở tất các các  
lĩnh vực kinh tế của Việt Nam.  
Có thể nhận thấy, trong giai đoạn 2011 – 2018, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam có chuyển  
biến tích cực và đạt được thành công to lớn. Cơ cấu các mặt hàng ngày càng được cải thiện tích cực,  
quy mô các mặt hàng được mở rộng, thị trường xuất khẩu được mở rộng, hàng hóa xuất khẩu của Việt  
Nam có mặt ở hầu hết các thị trường thế giới.  
3. Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam  
Trong những năm gần đây kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới.  
Từ giai đoạn mở cửa đến nay, Việt Nam đã ký kết 13 hiệp định thương mai tự do (FTA). Đặc biệt việc  
tham gia ký kết 2 FTA thế hệ mới: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương  
(CPTPP) và hiệp đinh thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA) đã mang lại nhiều  
cơi hội cũng như thách thức đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói riêng.  
3.1. Cơ hội  
Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng tạo ra nhiều cơ hội mới cho hoạt động xuất khẩu  
Việt Nam:  
- Thị trường được mở rộng: Việt Nam tham gia ký kết các FTA sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp  
cận được nhiều thị trường mới, hạn chế sự phụ thuộc vào những thị trường truyền thông trước đây, từ  
đó gia tăng cơ hội và giảm thiểu rủi ro trong thương mại khi đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Đặc  
biệt Việt Nam tham gia CPTPP sẽ góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường rộng lớn  
như Nhật Bản, Australia, Mexico, Canada, Chile, Peru. Bên cạnh đó tham gia ký kết hiệp định EVFTA  
cũng tạo ra những tác động tích cực cho các mặt hàng xuất khẩu truyền thống như: thực phẩm, gạo, rau  
quả, dệt may dày da hay các sản phẩm công nghệ cao như thiết bị điện tử, máy móc,…  
- Nhờ các hiệp định thương mại song phương và đa phương, các rào cản về kinh tế dần được  
xóa bỏ sẽ thu hút đầu tư từ nhiều công ty, tập đoàn lớn trên thế giới. Điều này sẽ tạo ra động lực quan  
trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng thô sơ và  
thủ công có giá trị thấp sang sản xuất, chế biến sâu với giá trị gia tăng cao, cũng như sản xuất các sản  
phẩm công nghệ cao. Từ đó sẽ thay đổi cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu, gia tăng kim nghạch xuất khẩu,  
góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của nước ta.  
- Việt Nam tham gia ký kết nhiều FTA, đặc biệt là FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA giúp  
xóa bỏ hàng rào thuế quan giữa các quốc gia, giảm chi phí cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa  
cũng như nhập khẩu nguyên liệu máy móc, thiết bị, mang lại cơ hội cạnh tranh cho các doanh nghiệp.  
Với EVFTA, Việt Nam và EU cam kết xóa bỏ 99% dòng thuế, sẽ tạo ra tiền đề, cơ hội cho các doanh  
nghiệp xuất khẩu vào thị trường đầy tiềm năng này và mang về lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. Theo  
số liệu của tổng cục hải quan: 6 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu sang Canada tăng 32,9%, Mexico tăng  
23,4%, thể hiện hiệu quả của việc tham gia các hiệp định thương mại mới. Theo một nghiên cứu của  
ngân hàng thế giới, khi CPTPP thực thi, dự tính kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 3,5%, xuất khẩu tăng  
6,9%, nhập khẩu tăng 7,6% so với mức tăng bình thường.  
- Doanh nghiệp đổi mới sản xuất: trong bối cảnh hợp tác kinh tế ngày càng sâu rộng, các doanh  
nghiệp trong nước sẽ nhận thức được tính cạnh tranh ngày càng cao trên thị trường trong nước và thế  
giới. Từ đó sẽ có những sự thay đổi trong tầm nhìn, chiến lược, hoạt động đầu tư công nghệ mới, đổi  
mới sản xuất, tạo ra những sản phẩm có giá trị cao, mang về nguồn thu lớn hơn từ xuất khẩu.  
498  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
3.2. Thách thức  
Bên cạnh những tiềm năng, cơ hội mới, hội nhập kinh tế cũng mang lại nhiều khó khăn và  
thách thức đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam:  
- Tính cạnh tranh của hàng hóa chưa cao: hội nhập kinh tế tạo ra cơ hội, nhưng cũng có nhiều  
khó khăn và thách thức trong việc nâng cao tính cạnh tranh hàng hóa Việt Nam. Đặc biệt là các mặt  
hàng nhóm ngành nông, lâm, thủy sản bị cạnh tranh về giá rất mạnh. Hiện nay không chỉ Việt Nam mà  
các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam như Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc,… cũng đang đẩy mạnh  
hợp tác quốc tế, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do mới. Do đó Việt Nam cần có những thay  
đổi chiến lược để nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong giai đoạn mới.  
- Khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp nước ta còn hạn chế: để có thể xuất khẩu hàng  
hóa vào các thị trường quốc tế cần có những chiến lược marketing, quảng bá sản phẩm hiệu quả. Tuy  
nhiên, các doanh nghiệp của chúng ta chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ nên gặp nhiều khó khăn trong  
việc tham gia các hội chợ, triển lãm ở thị trường châu Âu, châu Mỹ do thiếu thốn về kinh phí. Mặc dù  
chính phủ đã có những nỗ lực trong xúc tiến hoạt động thương mại, nhưng chưa đạt được hiệu quả như  
mong muốn.  
- Gặp khó khăn với các biện pháp phòng vệ thương mại của các quốc gia nhập khẩu. Mặc dù  
các FTA có thể giảm bớt hàng rào thuế quan nhưng các quốc gia nhập khẩu áp dụng nhiều biện pháp  
phòng vệ thương mại, bảo hộ sản xuất trong nước. Theo số liệu của Bộ Công thương, đến hết năm  
2018, có 144 vụ việc về phòng vệ thương mại do các quốc gia nhập khẩu khởi xướng đối với hàng hóa  
Việt Nam. Năm 2018 có tất cả 19 vụ về phòng vệ thương mại, tăng 6 vụ so với năm 2017. Có thể thấy  
rằng các quốc gia nhập khẩu đang tăng cường các biện pháp phòng vệ thương mại, gây ra nhiều khó  
khăn cho doanh nghiệp nước ta.  
- Quy định mới về hàng hóa ngày càng cao: các thị trường xuất khẩu của Việt Nam đòi hỏi  
ngày càng cao về các sản phẩm hàng hóa. Hiện nay các quy định về kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực  
phẩm, nguồn gốc xuất xứ, các yêu cầu về phát triển bền vững, bảo vệ môi trường,… gây ra nhiều rào  
cản trong việc tiếp cận thị trường thế giới. Việc châu Âu áp đặt thẻ vàng với ngành thủy sản nước ta do  
liên quan đến đánh bắt trái phép, không báo cáo và không được quản lý, không chỉ ảnh hưởng đến  
ngành thủy sản mà còn gây ra tâm lý e ngại và đề phòng của các nước, ảnh hưởng xấu đến hoạt động  
xuất khẩu hàng hóa.  
- Thị trường thế giới biến động không ngừng: Hoạt động xuất khẩu phụ thuộc rất lớn vào tình  
hình tăng trưởng kinh tế thế giới. Hiện nay chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã gây ra những tác động  
tiêu cực đến thương mại thế giới, làm giảm quy mô thị trường và nhu cầu hàng hóa. Khi chiến tranh  
thương mại kéo dài, quy mô càng lớn, mặc dù có thể mang lại lợi thế ngắn hạn cho một số ngành được  
hưởng lợi nhưng trong dài hạn sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu hàng hóa của nước ta.  
4. Giải pháp  
Để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới cần có những giải pháp cụ  
thể theo từng nội dung sau:  
- Để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản phẩm  
xuất khẩu. Đối với nhóm hàng ngành nông, lâm, thủy sản cần chuyển dịch từ xuất khẩu sản phẩm thô  
với giá trị thấp sang sản phẩm chế biến sâu để nâng cao giá trị sản phẩm, tăng giá trị gia tăng và khả  
năng cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó đối với mặt hàng công nghiệp cần chuyển dịch theo hướng  
các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.  
- Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ xuất khẩu đồng bộ và hiệu quả hơn. Cần dành nguồn tài  
chính lớn hơn cho hoạt động quảng bá sản phẩm, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia triển lãm, giới thiệu  
sản phẩm ở các thị trường tiềm năng. Đồng thời chính phủ cần xây dựng thương hiệu quốc gia tại các  
thị trường xuất khẩu. Đối với các doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu thị trường, liên kết và hợp  
499  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
tác trong việc tìm kiếm thị trường mới. Bên cạnh đó doanh nghiệp cần đẩy mạnh xây dựng thương  
hiệu cho sản phẩm của mình, đăng ký sở hữu trí tuệ doanh nghiệp ở thị trường trong nước và thị  
trường xuất khẩu.  
- Để đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới, chính phủ cần xây dựng hệ  
thống tiêu chuẩn quốc gia gần với tiêu chuẩn thế giới. Các cơ quan chức năng hoàn thiện hơn nữa  
phương thức hoạt động và tăng cường tổ chức kiểm tra, cấp chứng nhận chất lượng sản phẩm theo các  
tiêu chuẩn mới, đáp ứng được tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu.  
- Để đối phó với những biến động kinh tế thế giới đối với nền kinh tế nước ta nói chung và hoạt  
động xuất khẩu nói riêng, các cơ quan chức năng liên quan cần có những nghiên cứu và đánh giá tác  
động kịp thời về tình hình kinh tế thế giới và những thay đổi trong chính sách của các quốc gia đối tác,  
từ đó đưa ra những cảnh báo sớm, giúp các doanh nghiệp điều chỉnh hoạt động sản xuất, xuất khẩu,  
hạn chế được những thiệt hại của những chính sách phòng vệ thương mại và bảo hộ sản phẩm trong  
nước của thị trường xuất khẩu nước ta.  
- Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và ngoài nước,  
tạo nguồn lực đổi mới trong sản xuất, áp dụng công nghệ mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản  
phẩm cũng như của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.  
- Chính phủ cần tiếp tục đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa  
phương, triển khai các hiệp định đã ký, giúp doanh nghiệp giảm thiểu khó khăn và rào cản, nâng cao  
lợi thế cạnh tranh cho hoạt động xuất khẩu.  
- Tăng cường phổ biến các nội dung của FTA, quy định, luật pháp của các thị trường xuất khẩu,  
giúp doanh nghiệp nắm vững được những yêu cầu về pháp lý cũng như những thuận lợi và khó khăn  
mà FTA mang lại.  
5. Kết luận  
Hoạt động xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam. Quá  
trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội cũng như khó khăn và thách thức đối với nền kinh tế  
nói chung và đối với hoạt động xuất khẩu nói riêng. Để có thể đẩy mạnh xuất khẩu trong bối cảnh mới,  
cần có sự kết hợp chặt chẽ và hiệu quả của giữa các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương và  
các doanh nghiệp.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyên Hải (2016), “Thách thức thực hiện các FTA”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số 16.  
2. Trần Thị Bích Nhân (2019), “Cơ hội và thách thức khi thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”:  
do-the-he-moi-306035.html  
3. Lê Thị Thúy (2017), “Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Khoa  
học xã hội Việt Nam, số 5 (114) .  
500  
pdf 6 trang baolam 27440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hiện nay: Cơ hội và thách thức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxuat_khau_hang_hoa_viet_nam_trong_boi_canh_hien_nay_co_hoi_v.pdf