Những lợi ích của thương mại điện tử và ứng dụng thương mại điện tử để hỗ trợ tiêu thụ nông sản Việt Nam

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
NHỮNG LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI  
ĐIỆN TỬ ĐỂ HỖ TRỢ TIÊU THỤ NÔNG SẢN VIỆT NAM  
BENEFITS OF E-COMMERCE AND E-COMMERCE APPLICATION TO SUPPORT  
VIETNAMESE AGRICULTURAL CONSUMER SUPPORT  
Nguyễn Thị Thùy Trang, Phan Thị Ngọc Mai  
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Tp.HCM  
Tóm tắt  
Cùng với sự phát triển như vũ bão của internet, phát triển Thương mại điện tử (TMĐT) là xu hướng tất  
yếu của nền kinh tế thế giới trong cách mạng 4.0. TMĐT đang dần chi phối thế giới nhờ chiếm lĩnh thị trường  
và người tiêu dùng bởi lợi thế của internet. Và Việt Nam, trong quá trình hội nhập, không nằm ngoài xu hướng  
phát triển đó. TMĐT đã và đang mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp (DN) trong việc quảng bá, mở rộng thị  
trường, đặc biệt là các mặt hàng nông sản mang đặc trưng địa phương. Sau đây, bài tham luận của chúng tôi sẽ  
trình bày các nội dung sau: “Lợi ích của TMĐT; Tình hình TMĐT Việt Nam và ứng dụng TMĐT hỗ trợ tiêu thụ  
nông sản trong nước.”  
Từ khóa: Lợi thế internet, nông sản Việt Nam, thương mại điện tử, tiêu thụ nông sản.  
Abstract  
Along with the rapid development of the internet, the application of e-commerce in business activities is  
an indispensable trend of the times. E-commerce is gradually dominating the world by dominating the market  
and consumers thanks to the advantages of the internet. And Vietnam which is a country in the integration  
process, is not outside that development trend. E-commerce has been opening up great opportunities enterprises  
in promoting and expanding markets, especially agricultural products with local characteristics. Our  
presentation will focus on the following topic: " Benefits of e-commerce , Vietnam e-commerce situation and e-  
commerce applications to support the consumption of agricultural products in Vietnam."  
Keywords: Internet advantages, Vietnamese agricultural, e-commerce, consumption of agricultural  
products .  
1. Đặt vấn đề  
“Việt Nam có dân số trẻ, năng động, lượng người sử dụng internet và thiết di động cao, thị  
trường TMĐT ở Việt Nam được dự đoán sẽ bùng nổ trong thời gian tới. "ông Vijay Talwar - Phó tổng  
giám đốc kênh bán lẻ của Tiki nhận định (Việt Hưng, 2020). Bên cạnh đó Việt Nam đang tham gia vào  
các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thương mại giữa Việt Nam với các nước CPTPP và EU sẽ được  
thúc đẩy mạnh mẽ, mở rộng thị trường xuất khẩu đặc biệt là đối với các sản phẩm Việt Nam có thế  
mạnh. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn chưa nắm bắt và khai thác hết lợi thế  
của TMĐT, chủ yếu vẫn tập trung vào các kênh bán hàng truyền thống như: phân phối qua đại lý, mở  
showroom, tham gia hội chợ, gửi hàng ở các siêu thị, trung tâm thương mại.... Bài toán "tìm đầu ra"  
cho sản phẩm ngay tại chính sân nhà nội địa còn khó chưa kể đến chuyện xuất khẩu sang nước ngoài.  
Trong khi đó, việc xuất hàng hóa thông qua kênh TMĐT vẫn "bỏ ngỏ". Nhiều DN chưa thấy hết hiệu  
quả mà kênh TMĐT đem lại nên thiếu sự quan tâm, đầu tư để khai thác tối đa thế mạnh của loại hình  
kinh doanh này. Với mong muốn đem lại cho các DN cái nhìn rõ về thế mạnh của TMĐT trong kinh  
doanh, bài tham luận dưới đây sẽ trình bày về vấn đề này.  
2. Tổng quan về Thương mại điện tử  
2.1. Khái niệm  
Thương mại điện tử (E-Commerce) là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công  
nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực  
tuyến (Đại học Công nghệ thông tin, 2020).  
765  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
2.2. Lợi ích TMĐT đối với doanh nghiệp  
Lợi ích lớn nhất mà TMĐT đem lại đó là tăng doanh thu cho doanh nghiệp nói chung và doanh  
nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Với TMĐT, lợi thế vượt trội của kinh doanh là không bị giới hạn về  
không gian và thời gian, giúp các bên mua bán có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau không chỉ  
trong một quốc gia thậm trí trên phạm vi toàn cầu. Việc tiết kiệm chi phí và thời gian trong giao dịch  
mua bán giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa gia tăng lợi nhuận và nâng cao năng lực cạnh tranh. TMĐT là  
một trong những chìa khóa để tăng trưởng xuất khẩu. Nhiều DN siêu nhỏ đã tận dụng được TMĐT để  
bán hàng đi nhiều quốc gia, giúp giảm bớt khâu trung gian và chi phí giao dịch, từ đó đem hàng hóa  
trực tiếp đến tay người tiêu dùng và đạt lợi nhuận cao nhất.  
Việc quảng cáo qua website nhằm trưng bày thông tin, hình ảnh sản phẩm giúp doanh nghiệp  
tiết kiệm được chi phí in ấn brochure, catalogue và cả chi phí gửi bưu điện... Đồng thời, TMĐT giúp  
doanh nghiệp vừa và nhỏ không phải tốn kém nhiều cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng, kho chứa, nhân  
viên phục vụ,...  
TMĐT giúp DN quảng bá sản phẩm trên phạm vi toàn cầu với chi phí rẻ bất ngờ. Khối lượng  
thông tin không giới hạn, dễ cập nhật. Chi phí marketing thấp, đặc biệt là dễ đo lường hiệu quả hơn so  
với những cách marketing truyền thống.  
Giảm lượng hàng lưu kho và độ trễ trong phân phối hàng. Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản  
phẩm được thay thế hoặc hỗ trợ bởi các showroom trên mạng.  
Việc xử lý thông tin, trao đổi thông tin, cung ứng dịch vụ cho khách hàng được DN thực hiện  
nhanh chóng và chính xác vì thông tin khách hàng đã được lưu trữ trong hệ thống máy tính. Điều đó  
giúp DN marketing hiệu quả, cũng như thiết lập được mối quan hệ thân thiết và củng cố sự tín nhiệm  
của khách hàng.  
TMĐT giúp DN sản xuất hàng theo nhu cầu đặt hàng của khách hàng, lôi kéo khách hàng đến  
với DN bằng khả năng đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Khách hàng có thể tìm hiểu các  
thông tin về DN thông qua website, bằng các công cụ tìm kiếm (Google, Yahoo, Bing,…) điều đó một  
phần giúp nâng cao sự quảng bá và thương hiệu cho DN.  
Đối với các DN kinh doanh sản phẩm số hóa (phim, nhạc, sách, phần mềm....) thì việc giao  
hàng được thực hiện dễ dàng thông qua internet.  
Mô hình B2B (Business to Business) hỗ trợ mua bán giữa các DN với nhau chiếm tới trên 80%  
doanh số TMĐT trên toàn cầu, những lợi ích của nó như: giảm chi phí về việc nghiên cứu thị trường,  
marketing hiệu quả, độ nhận diện cao, tăng cơ hội hợp tác giữa nhiều DN với nhau, tăng hiệu quả sản  
xuất và giảm thời gian tung sản phẩm ra thị trường, tạo ra một thị trường đa dạng mặt hàng và các bên  
tham gia. Các DN có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua hệ  
thống này. Mô hình này đã giúp hỗ trợ rất nhiều cho các DN trong việc kinh doanh nhất là kinh doanh  
quốc tế.  
Những lợi ích như trên chỉ có được với những DN thực sự nhận thức được giá trị của TMĐT.  
Vì vậy, TMĐT góp phần thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các DN để thu được nhiều lợi ích nhất. Điều này  
đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, khi các DN trong nước phải cạnh tranh  
một cách bình đẳng với các DN nước ngoài.  
2.3. Lợi ích TMĐT đối với người tiêu dùng  
TMĐT mở rộng khả năng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ nhà cung cấp. Với TMĐT khách hàng  
không còn giới hạn về địa lý hay thời gian làm việc, họ có thể mua hàng mọi lúc, mọi nơi. Lựa chọn  
giữa hàng trăm thậm chí hàng nghìn nhà cung cấp giữa các vùng miền khác nhau. Khách hàng dễ dàng  
so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp để tìm được mức giá phù hợp nhất.  
766  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có thể tham gia mua và bán trên các  
sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm những món hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên thế giới.  
Tóm lại TMĐT là xu hướng kinh doanh, tiêu dùng tất yếu gắn liền với sự phát triển của công  
nghệ, sự tiếp nhận dịch vụ từ DN đến khách hàng. Lợi ích lớn nhất mà TMĐT đem lại là tiết kiệm chi  
phí và tạo thuận lợi cho các bên giao dịch TMĐT có khả năng giúp ích rất nhiều cho những DN cả lớn  
lẫn nhỏ và người hưởng lợi nhất thường là khách hàng. Khách hàng sẽ mua được sản phẩm rẻ hơn,  
nhanh hơn, hiệu quả hơn và thuận lợi hơn, còn DN có thể đưa sản phẩm của mình đến với thị trường  
một cách nhanh nhất, bán hàng thuận lợi hơn.  
3. Thương mại điện tử tại Việt Nam  
Tính đến năm 2019, Việt Nam có 61 triệu người dùng Internet, chiếm hơn một nửa tổng dân số,  
trung bình người Việt dành 3 giờ 12 phút sử dụng Internet trên thiết bị di động như điện thoại thông  
minh (smartphone), TMĐT ở Việt nam với lợi thế là số lượng người dân sử dụng smart phone lớn, dân  
số trẻ dễ thích nghi với ứng dụng công nghệ thông tin (Vân Linh, 2019).  
Với sự phát triển toàn diện hạ tầng viễn thông 3G, 4G, sắp tới là 5G và các thiết bị di động, đặc  
biệt là smartphone với hơn 64 triệu người sử dụng tại Việt Nam, cùng với dịch vụ ngân hàng điện tử phát  
triển (fintech) ( Thủy Diệu, 2019). Các thiết bị di động cầm tay trở thành phương tiện mua hàng chính.  
Nhiều thống kê đã chỉ ra rằng phần lớn các khách hàng, người mua hàng hiện nay có xu hướng sử dụng  
các thiết bị di động cầm tay (điện thoại di động, máy tính bảng…) để thực hiện thao tác, hành vi mua bán  
sản phẩm trực tuyến, nhiều hơn cả tỉ lệ người mua hàng thông qua máy tính xách tay hoặc máy tính để  
bàn. Vì vậy, xu hướng TMĐT trên nền tảng số, nền tảng di động là điều tất yếu. Điển hình như Shopee  
đã nhận thức được lợi thế này nên đã tập trung vào ứng dụng di động ngay từ đầu và xây dựng giao diện  
người dùng xung quanh mục tiêu ấy. Định hướng của họ khiến cho trải nghiệm mua sắm trên di động với  
Shopee trở nên rất nhanh và trực quan. Chiến lược này cũng phù hợp với định hướng tập trung vào thị  
trường tỉnh lẻ từ trước đến nay của Sendo. Một lượng rất lớn khách hàng ở tỉnh lẻ hiện đang truy cập  
internet thông qua các thiết bị di động, việc có một sản phẩm ứng dụng di dộng mạnh sẽ giúp Sendo tiếp  
cận đối tượng khách hàng hiệu quả hơn các đối thủ, iPrice Group phân tích.  
Hàng loạt website TMĐT mới xuất hiện; các quỹ đầu tư, các tập đoàn TMĐT nước ngoài đẩy  
mạnh mua cổ phần, bỏ tiền đầu tư vào các sàn, các trang web TMĐT trong nước. Thị trường TMĐT  
đang ngày càng trở nên nhộn nhịp hơn khi có nhiều DN mới tham gia thị trường như Shopee, SIdeal…  
cạnh tranh với các sàn thương mại điện đã hoạt động nhiều năm như như Lazada, Tiki, Sendo,  
Zalora,…  
Các kênh phân phối TMĐT được triển khai đa dạng theo mô hình trang bán hàng, sàn giao dịch  
TMĐT, mạng xã hội trên cả nền tảng web và nền tảng di động. Không những thế, các ứng dụng thanh  
toán điện tử đã được triển khai rộng khắp, hỗ trợ hiệu quả cho giao dịch TMĐT gồm thanh toán thông  
qua thẻ (POS, ATM…), thanh toán trên Internet (thông qua tài khoản mở tại ngân hàng); thanh toán  
trực tiếp qua điện thoại di động…  
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có mức tăng trưởng TMĐT nhanh nhất  
thế giới, với tốc độ 35% mỗi năm, cao gấp 2,5 lần so với Nhật Bản. Số liệu thống kê tại Sách trắng  
TMĐT Việt Nam 2019 cũng cho thấy, với việc đạt doanh thu 8,06 tỉ USD, TMĐT bán lẻ - B2C của  
Việt Nam đã có mức tăng trưởng cao nhất trong 3 năm trở lại đây.  
TMĐT xuyên biên giới đã trở thành một kênh thương mại quan trọng cho việc xuất khẩu hàng  
hóa. Hiện nay, có tới 32% DN Việt Nam đã thiết lập quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài thông  
qua các kênh trực tuyến (Uyên Hương, 2019). Các doanh nghiệp TMĐT cũng từ đó mà phát triển  
nhanh và lớn mạnh hơn. Hà Nội hiện có số lượng DN ứng dụng TMĐT nhiều. Đến nay, đã có trên  
8.700 website/ứng dụng TMĐT của tổ chức, cá nhân đăng ký hoạt động trên địa bàn, trong đó có 300  
website sàn giao dịch TMĐT, chiếm khoảng 44% số lượng sàn giao dịch TMĐT trên cả nước; TP. Hồ  
Chí Minh, cũng có khoảng 130.000 website hoạt động, trong đó gần 9.000 website TMĐT đăng ký với  
767  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bộ Công Thương. Doanh số mua bán trực tuyến trên địa bàn chiếm 8,14% tổng mức bán lẻ hàng hóa,  
chiếm khoảng 40% tổng doanh số giao dịch TMĐT cả nước. Phần lớn hoạt động thương mại điện tử  
diễn ra ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh (chiếm 70% giao dịch) còn ở nông thôn,  
đây vẫn là sân chơi mới lạ -với những người đã quen thuộc với quy trình sản xuất thủ công, không quá  
chú trọng hình thức, cách quảng bá, việc đầu tư để phát triển trên sân chơi này vẫn còn rất hạn chế.  
Trong giai đoạn tới TMĐT tại khu vực nông thôn sẽ là điểm đến đầu tư của các DN lớn (Lan  
Anh/congthuong.vn, 2020).  
Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử (Bộ Công Thương)-2018, hiện các website của các  
doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dùng để giới thiệu sản phẩm và dịch vụ, khoảng trên 20% số website  
nhận đặt hàng qua mạng internet, song chỉ có 3,2% cho phép thanh toán trực tuyến. Đây là một rào cản  
lớn nhất đối với phát triển TMĐT (Kim Phượng, 2018).  
Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp TMĐT trong nước vẫn đứng ngoài cuộc, theo thống kê của  
Bộ Công Thương có tới 82% các DN của ngành đang ở vị trí mới nhập cuộc với thương mại điên tử,  
trong đó 61% còn đứng ngoài cuộc và 21% DN bắt đầu có các hoạt động chuẩn bị đầu tiên. Đáng lưu  
ý, 3 ngành chủ lực của ngành công thương là cơ khí, dệt, may và da giày là những ngành có điểm đánh  
giá thấp nhất (Hồng Hà, 2018).  
Kết quả khảo sát với người dân có mua sắm trực tuyến cho thấy: nhóm 5 mặt hàng được giao  
dịch nhiều nhất trên các website cung cấp dịch vụ TMĐT bao gồm: thời trang (44%); máy tính và  
mạng (43%); quần áo, giày dép, mỹ phẩm (43%); điện thoại (41%); hàng điện lạnh, thiết bị gia dụng  
(25%) (Kim Phượng, 2018). Trong khi đó Việt Nam là đất nước nông nghiệp, các ngành hàng nông  
sản như lúa, gạo, cà phê, trái cây… là nhu cầu thiết yếu hàng ngày không nằm trong nhóm hàng được  
mua sắm nhiều nhất. Việc phát triển TMĐT cho các mặt hàng nông nghiệp tại Việt Nam vẫn còn yếu  
và các DN trong lĩnh vực này chưa tỏ ra mặn mà.  
Số người sử dụng Internet ở Việt Nam là cao nhưng so với tổng thị trường bán lẻ hàng hóa và  
dịch vụ tiêu dùng thì tỷ trọng của TMĐT còn rất thấp thu nhập bình quân đầu người thấp, người tiêu  
dùng lại chưa tin tưởng vào hình thức mua sắm trực tuyến nên tỷ lệ người mua sắm trực tuyến chưa  
cao. Quy mô của từng giao dịch còn nhỏ, giá trị trung bình mỗi giao dịch không quá vài trăm ngàn  
đồng. Tuy nhiên chúng ta đang ở giai đoạn dân số vàng với độ tuổi từ 16 đến 35 là cao trong tổng dân  
số trên 94 triệu. Những người ở độ tuổi này ưa thích công nghệ, nhu cầu mua sắm cao, đã và sẽ là  
khách hàng tiềm năng của TMĐT. Đó là nhận định của chuyên gia có 7 năm kinh nghiệm làm việc tại  
Amazon. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường Việt Nam còn rất lớn và sẽ có những điểm đột  
phá trong vòng 24 tháng tới khi các dịch vụ vận chuyển, uy tín người bán và nhận biết của người dân  
về TMĐT ngày càng được nâng cao. Vì thế, dự báo quy mô TMĐT Việt Nam đến 2025 sẽ đạt 33 tỷ  
USD (Hà My, 2018).  
Giao hàng hỏa tốc hoặc giao hàng trong ngày đang góp phần không nhỏ trong việc tối ưu trải  
nghiệm mua sắm trực tuyến. Các sàn TMĐT hàng đầu tại Việt Nam cũng kịp nắm bắt để thỏa mãn nhu  
cầu này, nhất là ở khu vực thành thị. Tiki đi tiên phong với dịch vụ TikiNOW, giao hàng trong vòng 2  
giờ chỉ giá dịch vụ chỉ 29.000 đồng. Ngoài ra, mô hình On-demand Delivery (vận chuyển theo yêu  
cầu) đã khá phổ biến tại Việt Nam thông qua Grab Express, Ahamove, Be, Go-Viet,… giúp cho việc  
giao hàng tức thì hoặc giao hàng trong ngày dễ dàng hơn.  
Theo Google và Temasek, hiện nay 75% người Việt nam mua hàng online nhưng lại thanh toán  
bằng tiền mặt (COD), chỉ 25% chọn phương pháp thanh toán online. Hành vi thanh toán COD phổ  
biến nhất bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, phần lớn là do thiếu niềm tin vào mua sắm trực  
tuyến. Các cơ quan nhà nước cũng như DN tài chính – công nghệ đã có nhiều nổ lực để đưa thanh toán  
trực tuyến thay thế COD truyền thống (Đối thoại, 2019).  
Tuy nhiên, lĩnh vực TMĐT thời gian qua cũng đã bộc lộ không ít nhưng bất cập, nếu không  
muốn nói là rủi ro. Trước hết, giới kinh doanh trong nước cũng đã nhận thấy đã đến lúc phải đối mặt  
với một số trở ngại. Chẳng hạn, hầu hết DN nội vẫn yếu hơn so với các nhà cung cấp trực tuyến toàn  
768  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
cầu; trong khi người tiêu dùng- nhất là thế hệ trẻ- ưa thích hơn việc mua hàng từ các trang có xuất xứ  
nước ngoài như Amazon hay eBay. Trong khi đó, phần lớn các DN Việt Nam đã không đầu tư thích  
đáng cho việc nghiên cứu thị hiếu khách hàng. Chất lượng và thiết kế của các sản phẩm trong nước  
vẫn thua kém các sản phẩm tương tự của các công ty khác.  
Bên cạnh đó, cạnh tranh không lành mạnh giữa các DN cũng gây khó khăn cho 20% website.  
Các trở ngại khác như: khách hàng lo ngại về vấn đề thông tin cá nhân bị tiết lộ, mua bán; an ninh  
mạng chưa đảm bảo; khó khăn trong việc tích hợp thanh toán điện tử gây trở ngại ít hơn, ảnh hưởng tới  
khoảng 10 - 17% website TMĐT (Kim Phượng, 2018).  
Những cản trở lớn nhất bao gồm: lòng tin của người tiêu dùng vào giao dịch mua bán trực  
tuyến còn thấp, dịch vụ logistics – giao hàng chặng cuối – hoàn tất đơn hàng còn nhiều hạn chế, đặc  
biệt là chênh lệch khoảng cách số giữa các địa phương còn rất cao.  
Trên thực tế, gian lận TMĐT thời gian qua đã và đang là vấn đề nhức nhối đối với cơ quan  
chức năng, đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trước những chiêu thức ngày càng tinh  
vi của các trang mua bán điện tử. Điều đó thể hiện ở việc khách hàng đã thanh toán nhưng không nhận  
được sản phẩm, dịch vụ giống với quảng cáo, thông tin sai lệch về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, giá  
cả, chất lượng hàng hóa, các vấn đề liên quan đến bảo hành, đổi trả sản phẩm... từ đó làm mất niềm tin  
nơi người tiêu dùng. Việc quảng cáo nhiều làm phiền người dùng và những vụ lừa đảo trên mạng như  
đánh cắp thông tin, dữ liệu và tài khoản ngân hàng đã khiến người tiêu dùng thận trọng với việc mua  
sắm trực tuyến. Bên cạnh đó, một số nhà kinh doanh trong nước vẫn sử dụng TMĐT để bán hàng giả,  
vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và thậm chí là hàng dán nhãn thương mại, giá cả có thể bị đội lên nhiều  
lần so với giá thực tế trên thị trường, sau đó sử dụng chiêu thức giảm giá, khuyến mại để thu hút người  
tiêu dùng. Trong khi đó, việc thực hiện xử lý vi phạm đối với các DN gian lận cũng rất khó khăn do  
việc thực hiện kiểm tra, truy tìm được những DN “ảo” này không đơn giản. Chế tài xử phạt cũng mới  
chỉ dừng lại ở xử phạt vi phạm hành chính không đáng là bao so với khoản lợi nhuận từ hành vi bất  
chính gây ra.  
4. Thương mại điện tử - Cơ hội đột phá cho nông sản Việt  
4.1. Một bài toán thực tế - Nghịch lý khi giải cứu nông sản  
Chiều 11/2/2020, Bộ Công Thương tổ chức hội nghị kết nối tiêu thụ nông sản trong bối cảnh  
dịch virus corona. Tham dự có lãnh đạo sở công thương nhiều tỉnh thành có sản lượng nông sản cao và  
một số DN bán lẻ lớn trong nước. Tại hội nghị, nhiều DN bán lẻ cũng mong muốn hỗ trợ tiêu thụ nông  
sản không lợi nhuận. Tuy nhiên, nhiều DN cho biết khó khăn trong việc tìm nguồn hàng, không đủ  
lượng hàng từ các tỉnh để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Đại diện Central Group nhận định: “DN muốn giải  
cứu nông sản nhưng không biết tìm hàng ở đâu? Vấn đề là các tỉnh phải chia sẻ thông tin hàng hóa,  
vận chuyển theo đúng cam kết” (Hiếu Công, 2020).  
Điệp khúc “được mùa, mất giá” của nông sản Việt Nam luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của  
dư luận, với bài toán tìm đầu ra cho các mặt hàng nông sản, từ dưa hấu Quảng Nam, Quảng Ngãi, hành  
tím Sóc Trăng, thanh long Bình Thuận...Vấn đề đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp đang là một khó  
khăn rất lớn cho sản xuất nông nghiệp, với việc thường xuyên xảy ra hiện tượng được mùa thì rớt giá,  
được giá thì mất mùa. Thị trường xuất khẩu thì thiếu ổn định, xuất khẩu chủ yếu lệ thuộc vào Trung  
Quốc nhưng chủ yếu qua đường tiểu ngạch nên giá trị thấp. Những chiến dịch giải cứu nông sản, phần  
nào bước đầu khắc phục khó khăn trước mắt cho người nông dân. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những  
biện pháp “tạm thời”, giải pháp "tình thế" mang tính chất nhất thời. Điều này khiến cho cả người tiêu  
dùng lẫn những đơn vị kinh doanh không thể không đặt câu hỏi làm sao để nâng mức tiêu thụ nông sản  
ngay chính thị trường trong nước và người tiêu dùng sẽ không chờ đến những đợt giải cứu mới mua  
mà sẽ mua thường xuyên với giá cả ổn định và chất lượng an toàn? Đó là do thông tin các mặt hàng  
nông sản không đến được với người tiêu dùng một cách kịp thời nên dẫn đến nghịch lý cần phải giải  
cứu trong khi nhu cầu của khách hàng về các mặt hàng đó là rất lớn. Và đây là một trong những  
nguyên nhân chính của bài toán về đầu ra của nông sản Việt Nam.  
769  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
4.2. Đẩy mạnh ứng dụng TMĐT hỗ trợ tiêu thụ nông sản: lời giải cho bài toán giải cứu nông sản  
Trong lĩnh vực nông nghiệp, hiện nay các kênh thông tin từ nhà sản xuất đến kênh phân phối và  
người tiêu dùng còn thiếu và yếu, nhất là đối với các hộ sản xuất, các hợp tác xã (HTX) là những đối  
tượng không có được các kiến thức cần thiết để tìm cho mình các kênh phân phối hiệu quả. Chính vì  
vậy, cần đẩy mạnh ứng dụng TMĐT để hỗ trợ nông sản.  
Một ví dụ thực tế cho thấy lợi ích của TMĐT trong bán hàng: gần 2.000 sản phẩm được bán ra  
nhanh chóng chỉ trong 1 ngày duy nhất lên sàn TMĐT là những kết quả ấn tượng của chương trình  
"Ngày của Làng dừa Bến Tre online" vừa diễn ra. Đây được xem là "phát súng mở màn" đầy ấn tượng  
mà Hiệp hội TMĐT Việt Nam khởi xướng với mục đích đưa các đặc sản nông sản Việt Nam kinh  
doanh trực tuyến theo xu hướng 4.0.  
Đi đầu trong việc tiếp cận với TMĐT để bán hàng ra thế giới vào những năm 2000 (thời điểm  
TMĐT ở Việt Nam mới phát triển) có các công ty: Agifish, Navico, Tafishco, Cửu Long… Thông qua  
TMĐT, cá tra fillet của các DN đã có mặt ở 133 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (Ago,2019). Ở  
lĩnh vực lúa gạo, ngoài Angimex, Hunglamrice và Afiex, còn có rất nhiều DN khác xây dựng trang  
web để giới thiệu và bán hàng. TMĐT đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu.  
Chợ TMĐT ra đời là một bước đột phá với việc tiêu thụ nông sản Việt Nam. Việc quảng bá,  
tiếp cận với một lượng lớn khách hàng trong một thời gian ngắn và khách hàng cũng nắm bắt được  
những thông tin chi tiết của sản phẩm là một trong những ưu điểm nổi trội của phương thức kinh  
doanh này. Trong bối cảnh tỉ lệ người dùng kết nối internet cao như hiện nay và vẫn tiếp tục tăng trong  
thời gian tới, nếu DN địa phương không tham gia, làm quen với TMĐT từ bây giờ là tự đánh mất cơ  
hội của mình.  
Chợ nông sản online cũng được mở rộng trên các ứng dụng (apps) dành cho điện thoại, máy  
tính bảng hay trên các sàn TMĐT lớn như Lazada, Shoppee, Now… để đáp ứng nhu cầu lựa chọn của  
nhiều đối tượng khách hàng.  
Nếu không có cơ chế tạo lập thị trường, tạo lập mặt bằng giá thì nông dân sẽ chỉ làm thuê cho  
DN nước ngoài trên sân nhà. Lợi nhuận của người sản xuất là một con số rất nhỏ trong chuỗi giá trị  
nông sản toàn cầu. Cần phải có một sàn giao dịch nông sản hoạt động đúng nghĩa để nâng tầm nông  
sản Việt Nam, tránh tình trạng bị ép giá, mất mùa, được giá - ông Hải Chủ tịch HĐQT Trung tâm Giao  
dịch cà phê Buôn Ma Thuột phân tích.  
PGS-TS Nguyễn Văn Ngãi (chuyên gia kinh tế, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen) cho  
rằng giao dịch nông sản qua sàn giúp người sản xuất có nơi bán hàng, chống tình trạng độc quyền mua  
dẫn đến ép giá. Các nước phát triển là làm điều này từ rất lâu.  
4.3. Một vài đột phá của TMĐT cho mặt hàng nông sản Việt Nam  
Ứng dụng chợ TMĐT tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp an toàn là một công cụ thông tin toàn  
diện về thị trường hàng hóa, bao gồm mua và bán; cung cấp các thông tin về mặt hàng, nguồn hàng,  
nguồn cung nông sản thực phẩm; các quy trình sản xuất chuẩn áp dụng, tiêu chuẩn chất lượng của sản  
phẩm, thông tin về nhà sản xuất nguyên liệu, vận chuyển, chế biến và phân phối sản phẩm, hướng dẫn  
sử dụng, hướng dẫn bảo quản và chế biến; kiểm dịch, kiểm định chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ, truy  
xuất nguồn gốc của sản phẩm; tư vấn dinh dưỡng cho các nhóm đối tượng...  
Gần đây, Công ty Cổ phần Kết nối Thanh toán toàn cầu (GPC) đã ra mắt sàn TMĐT  
www.gcaeco.vn hay còn gọi dân dã theo với cái tên “Chợ online” nông sản, thực phẩm sạch lên hoạt  
động. Lấy trọng tâm đưa các công nghệ mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ứng dụng qua sàn  
TMĐT, hiện nay, www.gcaeco.vn đã phát triển và hoàn toàn làm chủ công nghệ Blockchain truy xuất  
hành trình sản phẩm kết hợp với thanh toán nhanh bảo mật đi kèm với hợp đồng thông minh, tích hợp  
công nghệ IoT giúp các bên tham gia đều cùng theo dõi, giám sát chuỗi theo cách minh bạch nhất về  
nguồn gốc, hành trình nông sản, thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn. Đây được coi là “chứng thư đảm  
770  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
bảo” giúp cho các HTX thúc đẩy việc giao thương, buôn bán xuyên biên giới trở nên dễ dàng hơn bao  
giờ hết, bởi không cần thông qua bên thứ ba. Các điều khoản hợp đồng thông minh sẽ được thực thi  
một cách tự động và không thể can thiệp hay thay đổi khi hai bên đã đồng ý ký kết. Điều này sẽ giúp  
nâng tầm giá trị và xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế (Uyên  
Hương, 2018).  
Trao đổi với phóng viên, ông Đoàn Xuân Huy CEO sàn giao dịch GCAECO, cho hay lợi ích  
lớn nhất là sàn giao dịch mang lại là nâng tầm giá trị nông sản Việt Nam. “Chúng tôi kì vọng  
GCAECO sẽ “phát súng” để nâng tầm giá trị nông sản Việt Nam. Nhiều năm nay, mặc dù chất lượng  
hàng nông sản Việt Nam rất tốt nhưng chưa có thương hiệu nên bị lép vế so với các sản phẩm quốc tế.  
Trong tương lai, GCAECO không chỉ dừng lại trong nước mà chúng tôi còn hướng đến nước ngoài:  
Campuchia, Singapore, Hong Kong,…”.  
Theo ông Huy, người tiêu dùng sẽ được hưởng mức giá rẻ khi mua nông sản trên sàn do không  
phải qua không gian và người sản xuất cũng tiết kiệm được chi phí bán hàng. “Người sản xuất sẽ tiết  
kiệm được khoảng 40% chi phí so với các kênh bán hàng truyền thống”.  
Sự minh bạch: xuất xứ, nguồn gốc sản phẩm, quy trình sản xuất qua camera theo dõi trực  
tiếp… cũng là một trong những cách mà hiện nay các DN áp dụng trên trang web bán hàng của mình,  
để tăng thêm sự tin tưởng của khách hàng.  
4.4. Những khó khăn khi triển khai TMĐT cho mặt hàng nông sản  
Trong một hội thảo về TMĐT diễn ra mới đây tại TP HCM, ông Tony Yin, đại diện Tập đoàn  
Alibaba (Trung Quốc), cho rằng nông sản, trái cây là sản phẩm lợi thế của Việt Nam nhưng để bán tốt  
qua sàn giao dịch thì cần có sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. "Đối với trái cây, tại Việt Nam riêng khâu  
vận chuyển khiến hàng hư hỏng phải loại bỏ đến 60%, trong khi tỉ lệ toàn cầu là 40%. Nếu Việt Nam  
cải thiện logistics sẽ thúc đẩy bán hàng qua mạng, tăng lợi nhuận từ việc giảm hao hụt" - ông Tony  
Yin lưu ý.  
Việc hỗ trợ kết nối hình thành chuỗi liên kết sản xuất - phân phối các sản phẩm nông nghiệp  
chủ lực trên TMĐT vẫn còn gặp nhiều khó khăn do người sản xuất chưa bảo đảm các tiêu chuẩn về  
mẫu mã, bao bì sản phẩm, giấy chứng nhận và chất lượng cho nên khó đáp ứng nhu cầu thu mua của  
các nhà phân phối. Mối liên kết trong việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, sản xuất thu mua, chế biến,  
tiêu thụ, phân phối hiệu quả chưa chặt, còn lỏng lẻo và bất cập. Việc kết nối các khâu của chuỗi, giữa  
cơ sở sản xuất với cơ sở kinh doanh còn lỏng lẽo, chưa ký kết được những hợp đồng ổn định lâu dài,  
hay có kế hoạch và chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp.  
Các website hầu hết chỉ có tương tác một chiều với người nông dân, chỉ là nơi nhà nông đăng  
tin bán sản phẩm chứ chưa tương tác trở lại giữa người mua với nhau hay giữa người mua và trang  
web rao bán.  
Một số sàn TMĐT chưa tích hợp được các phương thức thanh toán khác nhau (mới chủ yêu  
dựa vào hình thức giao hàng trả tiền); chưa có giao diện ngôn ngữ phổ biến (tiếng Anh, tiếng Trung)  
đã làm giảm tính năng giới thiệu, quảng bá sản phẩm với các thị trường tiềm năng.  
Tại Việt Nam, mô hình giao dịch qua sàn chưa thực hiện được do tắc từ khâu sản xuất bởi quy  
mô quá nhỏ, vẫn cần thương lái làm trung gian thu gom. Ở góc độ nông dân, do lượng hàng quá nhỏ,  
họ chưa có nhu cầu ra sàn cũng như kỹ năng để thực hiện giao dịch kiểu mới. Ngoài ra, để giao dịch  
qua sàn, nông sản phải có tiêu chuẩn rõ ràng và được áp dụng chung làm căn cứ định giá mua bán.  
Để tiến tới giao dịch nông sản cần lượng hàng hóa lớn, chất lượng đồng đều bằng việc sản xuất  
trên quy mô lớn thông qua các DN đầu tư trang trại hoặc nông dân tham gia các tổ hợp tác, HTX. Đây  
là những vấn đề nhà nước cần làm trước một bước để nông dân Việt Nam có thể bán hàng qua sàn như  
các nước trên thế giới (Nguyễn Văn Ngãi, 2018).  
771  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Để đồng hành cùng doanh nghiệp, địa phương cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong đào tạo tập  
huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng ứng dụng TMĐT vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh  
nghiệp với mục tiêu đưa TMĐT trở thành hoạt động phổ biến, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh  
của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn địa phương.  
Với xu thế phát triển nông sản theo hướng bền vững, có truy xuất nguồn gốc như hiện nay, nếu  
doanh nghiệp phát triển tốt kênh quảng bá, tiêu thụ sản phẩm TMĐT thì tương lai sẽ gặp nhiều thuận  
lợi, nâng cao lợi nhuận, khả năng cạnh tranh hơn. Điều đó thúc đẩy người sản xuất phải ý thức được  
mình phải tạo ra sản phẩm chất lượng theo tiêu chuẩn an toàn như: VietGAP, VietHAP, GlobalGAP  
thì mới có cơ hội cao trong việc tiêu thụ sản phẩm.  
Dù hiện tại có nhiều khó khăn nhưng lĩnh vực này rất tiềm năng và Việt Nam phải đi theo xu  
hướng phát triển của thế giới. Hiện tại, DN Việt đã tham gia các sàn quốc tế để bán hàng xuất khẩu và  
nhiều sàn lớn trên thế giới cũng đang phát triển cho thị trường nội địa Việt Nam. Điều này giúp nông  
sản Việt Nam có đầu ra vững chắc.  
5. Kết luận  
Các số liệu thống kê cho thấy, TMĐT Việt Nam mặc dù đã bắt nhịp xu hướng TMĐT của thế  
giới, phục vụ hiệu quả cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo thói quen mua sắm hiện đại của người  
tiêu dùng trên môi trường mạng. Tuy nhiên, các hạ tầng cho kinh tế số, như hạ tầng thanh toán điện tử,  
hạ tầng phân phối điện tử, hạ tầng nhân lực TMĐT và công nghệ thông tin, hạ tầng an toàn an ninh  
thông tin còn bộc lộ nhiều hạn chế. Một bộ phận lớn các DN Việt Nam, bao gồm cả doanh nghiệp  
TMĐT còn chưa ý thức được hoặc chưa quan tâm thích đáng đến sự thay đổi nhanh chóng của công  
nghệ hiện đại. Do đó, để tiếp cận với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số trong cuộc CMCN 4.0,  
cần sự đầu tư lớn về nguồn vốn, công nghệ và nhân lực. Bên cạnh đó, nhà nước cần hoàn thiện môi  
trường pháp lý thích ứng với pháp lý và tập quán quốc tế về giao dịch thương mại điện tử nhằm đẩy  
mạnh hơn nữa sự hợp tác khu vực và quốc tế. Nhà nước cũng cần có những chính sách và giải pháp  
mạnh mẽ để vừa thúc đẩy thương mại điện tử của hai trung tâm kinh tế lớn: Tp HCM và Hà Nội, vừa  
hỗ trợ sự phát triển của các địa phương khác, tạo sự phát triển TMĐT nhanh và bền vững.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lan Anh/ congthuong.vn (2020), Thương mại điện tử: Bứt tốc mạnh mẽ, 10/02/2020,  
2. Ago(2019), Tiếp cận thương mại điện tử để bán hàng nông sản, 10/2/2020,  
ep-can-thuong-mai-dien-tu-de-ban-hang-nong-san&catid=21:y-kien&Itemid=116  
3. Hiếu Công (2020), Siêu thị muốn giải cứu nông sản nhưng không biết tìm hàng ở đâu, 10/2/2020,  
post1045822.html  
4. PGS-TS Nguyễn Văn Ngãi (2018), Làm ăn lớn phải có sàn giao dịch nông sản, 10/2/2020,  
5. Đại học Công nghệ thông tin(2020). Tổng quan ngành Thương mại Điện tử, 20/2/2020,  
6. Đối thoại(2019), TMĐT của Việt Nam và niềm tin người tiêu dùng, 10/2/2020, http://vitv.vn/tin-  
video/16-06-2019/niem-tin-nguoi-tieu-dung-voi-thuong-mai-dien-tu/217352  
7. Thủy Diệu (2019), Phát triển thương mại điện tử: Phải vượt rào cản niềm tin và thói quen tiền  
va-thoi-quen-tien-mat-20191002165739584.htm  
772  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
8. Vân Linh (2019) , Thương mại điện tử chờ bùng nổ, 10/02/2020 , http://tapchitaichinh.vn/tai-  
chinh-kinh-doanh/thuong-mai-dien-tu-cho-bung-no-315483.html  
9. Hồng Hà (2018), Chỉ 82% doanh nghiệp Việt đang ở vị trí mới nhập cuộc CMCN 4.0, 11/02/2020,  
40-55974.htm  
10. Uyên Hương(2019), Sức bật cho thương mại điện tử tăng trưởng, 10/02/2020 ,  
11. Uyên Hương (2018), Chính thức ra mắt sàn thương mại điện tử về nông nghiệp sạch, 10/02/2020,  
12. Kim Phượng (2018), Phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam, 11/02/2020,  
viet-nam-147762.html?mobile=true  
13. Hà My(2019), Thương mại điện tử Việt có thể 'vượt mặt' Thái Lan vào 2025, 10/2/2020,  
14. VECOM (2019), Một số vấn đề của Thương mại điện tử Việt Nam những năm tới, 11/02/2020,  
viet-nam-nhung-nam-toi-192.html  
773  
pdf 9 trang baolam 22280 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những lợi ích của thương mại điện tử và ứng dụng thương mại điện tử để hỗ trợ tiêu thụ nông sản Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_loi_ich_cua_thuong_mai_dien_tu_va_ung_dung_thuong_mai.pdf