Phác thảo hành trình của lí thuyết chấn thương trong lịch sử tư tưởng phương Tây

TẠP CHÍ KHOA HỌC  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH  
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION  
JOURNAL OF SCIENCE  
Tập 18, Số 4 (2021): 657-668  
Vol. 18, No. 4 (2021): 657-668  
ISSN:  
2734-9918  
Bài báo nghiên cứu*  
PHÁC THẢO HÀNH TRÌNH CỦA LÍ THUYẾT CHẤN THƯƠNG  
TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG PHƯƠNG TÂY  
Đặng Hoàng Oanh  
Viện Sư phạm Xã hội, Trường Đại học Vinh, Việt Nam  
Tác giả liên hệ: Đặng Hoàng Oanh – Email: danghoangoanh86@gmail.com  
Ngày nhận bài: 27-3-2021; ngày nhận bài sửa: 05-4-2021; ngày duyệt đăng: 15-4-2021  
TÓM TẮT  
Bài viết phác thảo lịch sử nghiên cứu, phê bình lí thuyết chấn thương – một trường phái lí  
thuyết xuất hiện ở Hoa Kì vào những năm 90 của thế kỉ XX, có đời sống vô cùng năng động ở phương  
Tây cho đến thời điểm này. Với nỗ lực khái quát những xu hướng nghiên cứu lí thuyết chấn thương  
qua từng thời kì, bài viết mô tả sự vận hành từ quan niệm về chấn thương cho đến việc xây dựng mô  
hình chấn thương trong văn học của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Những khảo cứu này sẽ góp  
phần làm đầy đặn thêm mảng tư liệu về một lí thuyết vốn chưa được tổng thuật, cập nhật một cách  
hệ thống ở Việt Nam.  
Từ khóa: khái niệm chấn thương; lí thuyết chấn thương; mô hình chấn thương; lịch sử tư  
tưởng phương Tây  
1.  
Mở đầu  
Đầu những năm 90 của thế kỉ XX, lí thuyết chấn thương trỗi dậy như một điểm nhấn  
đáng chú ý trong bối cảnh học thuật Hoa Kì. Nó trở thành khuynh hướng lí luận phê bình  
nổi bật, nơi “ngưng tụ nhiều vấn đề khác nhau” (Geoffrey Hartman). Ngoài “cảm giác mang  
tính đương đại” như Geoffrey Hartman đã nói, sự phát triển của phê bình chấn thương còn  
chạm đến nỗi bất an sâu xa nhất của nhân loại: nó cảnh báo về những trạng thái bạo lực luôn  
âm ỉ, có nguy cơ bùng phát và đe dọa sự tồn sinh của con người. Người ta nhận ra rằng, sự  
bất ổn có thể tồn tại trong bất kì chiều kích không – thời gian nào, từ đời sống cá nhân cho  
đến đời sống của cộng đồng, dân tộc. Bởi có một thực tế, lịch sử nhân loại đã từng đi qua  
biết bao những cơn chấn động khủng khiếp: những cuộc chiến tranh xóa sổ cả một dân tộc,  
xung đột sắc tộc, tôn giáo, diệt chủng, thảm họa môi trường, dịch bệnh… Lịch sử đau thương  
đó đã góp phần đóng dấu kí ức tập thể vào tiềm thức của mỗi cá nhân, khiến không ít người  
cho rằng: chính nỗi đau mới thực sự là trạng thái hiện hữu đích thực của cá nhân con người  
trong cuộc đời này. Từ góc nhìn đó, rõ ràng lí thuyết chấn thương mang giá trị nhân bản sâu  
Cite this article as: Dang Hoang Oanh (2021). An outline history of trauma theory in Western thoughts. Ho Chi  
Minh City University of Education Journal of Science, 18(4), 657-668.  
657  
 
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 657-668  
sắc. Thẩm thấu những nỗi đau từ quá khứ giúp con người nhạy cảm hơn trước tình trạng  
chông chênh, bất ổn của cuộc sống hiện tại.  
Sự hình thành và phát triển năng động của lí thuyết chấn thương, một mặt, xuất phát  
từ nhu cầu con người muốn nhận thức lại những kinh nghiệm lịch sử khủng khiếp, tàn bạo  
mà những tác động của chúng luôn có thể di căn sang hiện tại; mặt khác, do thực tế xã hội  
nhiều bạo động, áp lực, tạo điều kiện cho các chấn thương trong hình thức cũ và mới tiếp  
tục làm tổn hại con người cả về tinh thần lẫn thể chất. Nói lí thuyết chấn thương nằm trong  
cái gọi là khúc ngoặt đạo đức của lí thuyết đương đại là vì thế. Nó khắc phục được nhược  
điểm của những lí thuyết “không có khuôn mặt con người” của giai đoạn trước, như cách  
nói của một số học giả.  
Với những chuyên luận được xuất bản, giới thiệu trong môi trường học thuật Hoa Kì  
và một số nước châu Âu hơn ba thập kỉ đến nay (chưa kể những công trình ứng dụng lí thuyết  
chấn thương trong nghiên cứu văn học trên khắp thế giới), chúng tôi hoàn toàn ý thức được  
rằng còn xa mới có thể khái quát đầy đủ tình hình nghiên cứu một lí thuyết vốn có đời sống  
vô cùng năng động này. Nỗ lực tạo lập một cái nhìn hệ thống và liền mạch đối với lí thuyết  
chấn thương, bài viết, sẽ phác thảo hành trình và các khuynh hướng nghiên cứu lí thuyết  
chấn thương trên thế giới, đồng thời đưa ra những dự đoán về tính khả dụng của một lối đọc  
dựa trên các thuật ngữ và thao tác phân tích được gợi ý từ các lí thuyết gia của khuynh  
hướng này.  
2.  
Nội dung  
Từ khi ra đời đến nay, lí thuyết chấn thương đã có một diễn trình phát triển rất năng  
động trong bối cảnh học thuật của Hoa Kì và châu Âu. Bắt nguồn từ một thuật ngữ được sử  
dụng trong lĩnh vực y học, được nhận diện thông qua hàng loạt triệu chứng về thể chất và  
thần kinh, “chấn thương” trở thành một khái niệm nổi bật trong ngành nghiên cứu nhân văn.  
Ba giai đoạn dưới đây của lí thuyết chấn thương sẽ phần nào đưa lại những hình dung tổng  
quan về sức sống, khả năng ứng dụng của một lí thuyết vốn đã trở thành một hệ hình trong  
đời sống văn hóa phương Tây.  
2.1. Chặng thứ nhất: Thời kì manh nha của lí thuyết chấn thương  
Những ý niệm ban đầu của con người về chấn thương được nhận diện trong ý nghĩa y  
học của thuật ngữ này. Chấn thương được định nghĩa như là một vết thương hay một tổn  
thương ngoài cơ thể nói chung. Tuy nhiên, đến nửa sau thế kỉ XIX, đặc biệt tại Anh, dưới  
thời Victoria, thuật ngữ “chấn thương” chuyển nội hàm từ vết thương thân thể, vết thương  
vật lí sang chấn thương tâm lí. Bước ngoặt ý nghĩa đó bắt nguồn từ những sự kiện tai nạn  
tàu hỏa khủng khiếp mà nạn nhân của những tai nạn đó phải chịu cả vết thương về thể xác  
lẫn những ám ảnh về tinh thần. Người ta nhận ra rằng, dẫu vết thương thân thể được chữa  
lành hoàn toàn, nhưng những ấn tượng kinh hoàng trở thành nỗi đau dai dẳng kéo dài mãi  
về sau. Năm 1860, John Ericsson – một bác sĩ người Anh đã ghi nhận một mô hình phản  
ứng tâm lí của bệnh nhân có liên quan đến tai nạn đường sắt (dẫn theo Sutton, 2002, p.24).  
658  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Đặng Hoàng Oanh  
Ericsson đưa ra giả thuyết rằng nguyên nhân vật lí trực tiếp cho hiện tượng này bắt nguồn từ  
cú sốc cột sống (spine shock). Thuật ngữ đó xuất hiện nhiều trong các diễn ngôn y khoa và  
pháp lí thời kì này, theo đó những rối loạn về thể chất như sợ hãi, lo lắng, sốc… được xem  
là nguồn gốc của hệ thống y học về chấn thương tâm lí ở phương Tây hiện đại. Dẫu thời đại  
Victoria đã hình thành một thứ phả hệ về nghiên cứu chấn thương tinh thần, phải đến phân  
tâm học của Freud, những luận điểm quan trọng về chấn thương mới được xây dựng thành  
một hệ thống – tiền đề cho phê bình chấn thương sau này.  
Quan niệm về chấn thương giai đoạn này chủ yếu gắn với tên tuổi của Freud, và lí  
thuyết chấn thương, do đó, nằm trong dòng mạch của phân tâm học. Các nghiên cứu phân  
tâm học về nguồn gốc của chấn thương cũng như tác động của nó tới thần kinh con người  
bắt nguồn từ trong nghiên cứu về sốc và chứng cuồng loạn của các nhà nghiên cứu, bên cạnh  
Freud, gồm Jean Martin Charcot, Joseph Breuer, Pierre Janet… Quan điểm của họ về mối  
quan hệ giữa chấn thương và tâm lí đã gợi ý cho Freud về ý tưởng chấn thương thần kinh,  
đặc biệt là các chấn thương bị che giấu như là căn nguyên của của chứng cuồng loạn thời  
bấy giờ. Cùng với cộng sự của mình, Josef Breuer1, trong công trình Nghiên cứu về chứng  
cuồng loạn (Studies on hysteria, 1895), Freud đã khám phá ra rằng cái lõi của chấn thương  
luôn khởi nguồn từ một sự kiện trong thời thơ ấu, dẫu rằng khi mới xảy ra, sự kiện đó không  
phải là chấn thương tự nó. Bằng sự hồi tưởng, những triệu chứng ban đầu ấy mới trở thành  
cơ chế gây đau. Freud và Breuer ví sự kiện chấn thương ấy như là “thời kì ủ bệnh” của những  
hành động trì hoãn, có nghĩa là những sự kiện chấn thương chỉ có thể được hiểu, được nhận  
biết sau thời gian của hành động trì hoãn (ông dùng thuật ngữ “Nachträglichkeit”), làm trì  
hoãn hiệu lực và ý nghĩa của quá khứ. Đó là lí do vì sao, chấn thương – sự kiện neo đậu  
trong phần vô thức con người – chỉ có thể được nhận diện trong quá trình hồi tưởng.  
Năm 1920, Freud cho ra đời cuốn tiểu luận Vượt lên trên nguyên tắc khoái cảm  
(Beyond the Pleasure Principle) trong đó, ông mở rộng lí thuyết chấn thương, điều chỉnh  
một số quan điểm về cơ chế phòng thủ của cái bản ngã (ego). Sự điều chỉnh quan niệm về  
chấn thương của Freud bắt nguồn từ tình trạng phổ biến của những cựu binh chiến tranh:  
shellshock – những người sống sót trở về từ Thế chiến thứ 1. Tình trạng của những người  
lính này cho thấy, ở họ không chỉ tồn tại trạng thái rỗng của trí nhớ, mà còn có sự xuất hiện  
liên tục, ám ảnh của những trạng thái cực đoan như ảo giác, ác mộng. Freud nhấn mạnh đặc  
điểm đó như là tính tái diễn, sự quay trở lại của kí ức (mà Freud gọi là repetition –  
compulsion). Freud cho rằng có một cơ chế khiến sự kiện chấn thương quay trở lại, tái diễn,  
1 Breuer là đồng nghiệp, và cũng là người đã giới thiệu với Freud về trường hợp của Anna O – một bệnh nhân  
hysteria điển hình. Dù chưa bao giờ gặp Anna O, nhưng qua những biểu hiện bệnh lí được mô tả bởi Breuer (4  
trạng thái: thời kì ủ bệnh, hiển nhiên, gián đoạn và bình phục thể hiện thông qua những khía cạnh của thể chất  
như thay đổi tâm trạng dữ dội, mất trí nhớ, một phần cơ thể bị tê liệt…), Freud đã biến trường hợp của Anna  
O trở thành một “case study”, thậm chí đặt nền tảng cho lí thuyết phân tâm học của ông sau này.  
659  
 
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 657-668  
biến cải thông qua những giấc mơ. Freud gọi đó là cách để “làm chủ sự phục hồi kích thích  
bằng cách phát triển sự lo lắng mà cái bị bỏ sót là nguyên nhân của chấn thương thần kinh”  
(dẫn theo Pater, 2018, p.362)2. Khi được nhớ lại, sự kiện chấn thương đó sẽ neo vào trong  
vô thức của con người; từ đó tạo ra cảm giác đứt gẫy, tan rã của bản ngã. Đây là quan điểm  
rất tiến bộ của Freud - là tư tưởng được những nhánh nghiên cứu chấn thương ở giai đoạn  
sau tiếp thu và phát triển: một sự kiện chấn thương chỉ được nhìn nhận trong quá trình tái  
trình hiện của kí ức (quá trình nhớ lại), và nó không chỉ là quá trình của một cá nhân, mà còn  
là cơ chế kiến tạo nên kí ức của cộng đồng – một dạng biểu hiện của văn hóa (cái gì được  
nhớ và cái gì không được nhớ).  
Phải hơn một thế kỉ sau, triệu chứng rối loạn kí ức hay còn gọi là hậu chấn tâm lí  
(Posttraumatic Stress Disoder) mới được chính thức xác nhận bởi Hiệp hội tâm thần Hoa Kì.  
PTSD xuất phát từ việc điều trị sang chấn tâm lí cho những cựu binh trở về từ chiến tranh  
Việt Nam, trong đó những trải nghiệm trong chiến tranh được xem như “là một tác nhân gây  
chấn thương cực độ” (Roger Luckhust). Trên thực tế, PTSD đã từng được biết đến ở thế  
chiến thứ nhất với hiện tượng “shellshock” – trạng thái trống rỗng của trí nhớ, kèm theo đó  
là sự xâm lấn của những trạng thái cực đoan vào trong trí óc, khiến cho kinh nghiệm chấn  
thương bị tái diễn đầy đau đớn trong thực tại. Thừa nhận PTSD và những cơ chế vận hành  
đặc biệt của tâm lí hậu chấn thương, các bác sĩ và nhà tâm thần học thời kì này đã bắt đầu  
lưu ý đến một yếu tố quan trọng, tác nhân đầu tiên gây nên chấn thương, là kí ức.  
2.2. Chặng thứ hai: sự trỗi dậy của lí thuyết chấn thương  
Có thể thấy, lí thuyết chấn thương của Freud cùng những khám phá của ông về sự lặp  
lại mang tính bắt buộc của kinh nghiệm chấn thương, sự đổ vỡ và phân mảnh của bản ngã  
chấn thương đã góp phần thúc đẩy sự ra đời, phát triển của nhánh nghiên cứu này, đặc biệt  
là giai đoạn những năm 90 của thế kỉ XX. Kế thừa tinh thần của Freud, Cathy Caruth,  
Shoshana Felman, Geoffrey Hartman – các nhà nghiên cứu trường phái Yale, Hoa Kì đã tạo  
ra làn sóng đầu tiên trong việc xây dựng lí thuyết chấn thương trong ngành khoa học nhân  
văn. Các nhà nghiên cứu chấn thương thời kỳ đầu đều đồng ý với quan điểm của Freud: chấn  
thương thách thức khả năng tái trình hiện. Họ định nghĩa chấn thương như là một sự kiện  
không thể biểu đạt, tiết lộ những mâu thuẫn vốn có trong kinh nghiệm chấn thương và ngôn  
ngữ. Ngoài ra, lí thuyết về ảnh hưởng, tác động của chấn thương tới tâm lí của cá nhân (sự  
phân li, gián đoạn, phân mảnh) được sử dụng để khám phá trải nghiệm của cá nhân trước  
một sự kiện chấn thương cộng đồng trong văn bản, từ đó, kết nối kinh nghiệm cá nhân và  
các nhóm văn hóa, hoặc cá nhân và đời sống chính trị.  
Một trong những sự kiện đánh dấu sự bắt đầu của một hệ thống lí thuyết liên quan đến  
chấn thương được thiết lập thời kì này chính là sự ra đời của kho lưu trữ video làm chứng  
cho sự kiện thảm sát người Do Thái tại Yale năm 1980. Dự án kho lưu trữ Yale thu thập  
2 Phần lớn trích dẫn từ tiếng Anh trong bài do người viết dịch.  
660  
 
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Đặng Hoàng Oanh  
chứng ngôn của những người Do Thái sống sót sau thảm họa diệt chủng của Đức quốc xã,  
trong đó, những người còn sống mong muốn được kể lại những trải nghiệm chết chóc của  
họ, những tranh đấu hàng ngày, hành động hàng ngày, những tiến thoái lưỡng nan của họ và  
họ đã thỏa hiệp ra sao với kí ức.  
Cũng nằm trong làn sóng đầu tiên của những nhà nghiên cứu chấn thương, Geoffrey  
Hartman là một trong những người sáng lập ra kho lưu trữ Yale – nơi lưu trữ những chứng  
tích của những chứng nhân của Holocaust. Với ông, điều đó giúp phục chế những trải nghiệm  
đau thương, đảm bảo “không lãng quên trường hợp cá thể”. Những công trình nổi tiếng của  
Hartman như Hồi tưởng Holocaust: Bóng hình của kí ức (Holocaust remembrance: The  
Shape of Memory, 1993), Về tri thức chấn thương và nghiên cứu văn học (On Traumatic  
Knowledge and Literary Studies, 1995), Bóng đêm bất tận: hệ quả của Holocaust (The  
Longest Shadow: In the Aftermath of the Holocaust, 1996) đã đưa lại những dự đoán về tác  
động, ảnh hưởng to lớn của nghiên cứu chấn thương đối với phê bình văn học; thể hiện mối  
quan tâm đặc biệt của ông đối với sự kiện Holocaust và sự vận hành của trí nhớ. Đặc biệt,  
việc thành lập kho lưu trữ video Fortunoff Holocaust tại Yale, nơi thu thập lời khai của  
những người sống sót sau thảm họa Holocaust, không chỉ góp phần thúc đẩy sự khám phá  
của ông về phương diện lí thuyết, mà còn với một mục đích nhân văn hơn, để những tiếng  
nói của những cá thể chấn thương không bị rơi vào quên lãng. Ông cho rằng: “quan trọng là  
có những bằng chứng, dù chúng có đem lại hay không đem lại gì thêm cho những cái mà  
chúng ta đã biết về lịch sử. Mỗi bằng chứng là tiếng kêu của một cá nhân” (bản thân Hartman  
thoát khỏi thảm sát Do Thái ở châu Âu bằng cách đi từ Đức đến Anh, sau đó đến Mĩ định cư  
khi còn nhỏ) (Owen, 2016, p.578). Hơn nữa, lịch sử được kể lại bởi những chứng nhân sẽ là  
một thứ lịch sử truy vấn gắt gao những vấn đề nhức nhối trong kí ức của họ – vốn dĩ đã từng  
được tái hiện lại một cách đơn sơ và bị giản lược quá nhiều. Dự án của Hartman và các đồng  
nghiệp của ông đã gợi ý một mô hình rất quan trọng trong nghiên cứu văn học chấn thương,  
đó là nghiên cứu văn chương chứng nhân. Ngoài ra, ý tưởng của ông cho thấy văn học chấn  
thương có thể thâu nạp thêm thể loại tự truyện, từ đó “đưa nghiên cứu văn học lại gần hơn  
những hình thức căn bản phi văn chương, thông tục của tự biểu hiện bằng tự sự” (Owen,  
2016, p.578).  
Rõ ràng, kho lưu trữ video về chứng nhân Holocaust đã thu hút sự quan tâm của những  
nhà nghiên cứu chấn thương của Yale khi họ bắt đầu xây dựng hệ thống lí thuyết của riêng  
mình. Shoshana Felman đã từng cho rằng có một thứ ngôn ngữ khủng hoảng và cấp bách về  
việc chịu trách nhiệm đối với sự thật lịch sử, được cho rằng “chúng ta là thời đại của chứng  
ngôn, một thời đại chứng kiến bản thân nó trải qua một sự kiện lớn” (dẫn theo Waugh, 2006,  
p.503). Trong công trình viết chung với Dori Laub, Chứng ngôn, sự khủng hoảng của chứng  
nhân trong văn học, phân tâm học và lịch sử (Testimony, Crises of Witnessing in Literature,  
Psychoanalysis and History) xuất bản năm 1992, nhà phê bình văn học của Yale và nhà phân  
tâm học Dori Laub đã lần đầu tiên nêu lên một lí thuyết tổng quan về bằng chứng ngôn,  
661  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 657-668  
chứng nhân và vai trò của trí nhớ, cũng như cho thấy nhu cầu quan sát lại những biến động  
lịch sử, chẳng hạn từ trường hợp Holocaust. Thông qua việc phân tích các văn bản, các bộ  
phim, tài liệu, bao gồm tiểu thuyết của Camus, tiểu luận của de Man, dự án thơ ca của Paul  
Celan và Pagis, những lời chứng lưu trữ trong video, bộ phim “Shoah” của Claude  
Lanzmann… các tác giả đã khám phá ảnh hưởng, tác động của Holocaust tới văn hóa, nghệ  
thuật đương đại. Đặc biệt, trong phần 3, “Sự kiện thiếu vắng chứng nhân: Sự thật, lời khai  
và người sống sót” (“An Event Without a Witness: Truth, Testimony, and Survivor”), Laub  
cho rằng “những người còn sống không chỉ cần sinh tồn để họ có thể kể câu chuyện của  
mình, mà họ còn có nhu cầu nói ra để có thể sống sót” (Felman, 1992, p.78).  
Năm 1995, cuốn sách Chấn thương, những khám phá về kí ức (Trauma, Explorations  
In Memory) với những góc nhìn đa chiều về chấn thương được xuất bản. Trong bài mở đầu,  
Cathy Caruth đã nhắc tới trải nghiệm muộn màng của kinh nghiệm chấn thương – quan điểm  
bà kế thừa từ Freud và được phát triển sâu hơn trong những công trình về sau. Tuy nhiên,  
trong giới hạn của một bài giới thiệu, thay vì xác lập khái niệm chấn thương, Cathy Caruth  
quan tâm tới tác động của kinh nghiệm chấn thương đối với phân tâm học trên cả thực hành  
lẫn lí thuyết, cùng những khía cạnh khác của văn hóa như văn chương và sư phạm, cấu trúc  
của lịch sử qua văn bản và phim ảnh, chủ nghĩa tích cực chính trị và xã hội. Những chủ đề  
đó được triển khai trong một loạt các bài viết của Shoshana Felman, Dori Laub, Henry  
Kristal, Harold Bloom, Van Der Kolk… Chấn thương được nhận diện dưới nhiều góc nhìn,  
trong cuộc đối thoại rộng rãi với nhiều văn bản, nhiều ngữ cảnh.  
Chuyên luận Kinh nghiệm không được khẳng định, chấn thương, trần thuật và lịch sử  
(Unclaimed Experience: Trauma, Narrative, History) của Cathy Caruth được ấn hành sau  
đó một năm đã gây tiếng vang lớn. Cuốn sách được xem là văn bản kinh điển của phê bình  
chấn thương. Từ đây, lí thuyết chấn thương bắt đầu xác lập nội hàm của nó trong lĩnh vực  
nghiên cứu. Công trình của Caruth một mặt tiếp thu những quan điểm về chấn thương của  
Freud, mặt khác phát triển lí thuyết của mình, với hệ thống ý tưởng được xem là “rất thời  
thượng” và có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu nhân văn, đặc biệt ở ở Hoa  
Kì. Cuốn sách bao gồm 5 phần chính, trong đó có thể thấy được khả năng bao quát, kết nối  
những vấn đề thuộc những chủ đề khác nhau như phân tâm học của Freud, lí thuyết chấn  
thương và rối loạn tâm lí hậu chấn, nghiên cứu lịch sử và văn hóa, lí thuyết về đạo đức… và  
tất cả đều được soi chiếu từ góc nhìn của lí thuyết chấn thương. Đặc biệt, Cathy Caruth chú  
ý đến tính không đồng hóa được của chấn thương dẫn đến việc quay trở lại đầy ám ảnh của  
nó. Bà định nghĩa chấn thương theo ý nghĩa phổ quát nhất là “mô tả một kinh nghiệm choáng  
ngợp về những sự kiện đột ngột hay thảm họa mà phản ứng đối với sự kiện đó thường xuất  
hiện dưới dạng ảo giác và các hiện tượng mang tính chất xâm nhập thường bị trì hoãn và tái  
diễn một cách không kiểm soát được” (Caruth, 1996, p.11)3. Từ đó, Cathy Caruth cho rằng  
3 Trần Ngọc Hiếu dịch  
662  
 
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Đặng Hoàng Oanh  
chấn thương luôn tạo ra được những nghịch lí kép trong ý thức và ngôn ngữ. Một mặt, ta rất  
muốn biết ý nghĩa của quá khứ, nhưng mặt khác ta lại không thể hiểu nổi nó. Kinh nghiệm  
chấn thương, theo bà, nó vượt quá chiều kích tâm lí của sự chịu đựng. Mâu thuẫn từ đó nảy  
sinh: một mặt thấy đe dọa của cái chết, một mặt ta phải sinh tồn… Cách trực tiếp nhất để  
nhìn một sự kiện bạo lực là nó lại có thể xuất hiện như khả năng hoàn toàn không biết đến  
nó. Cái trực tiếp, nghịch lí thay, lại là cái đến muộn” (Pater ed, 2018, p.382).  
Công trình của Cathy Caruth đóng vai trò rất quan trọng trong bối cảnh vận động của  
phê bình chấn thương, đặc biệt nó có vai trò khơi nguồn của lí thuyết chấn thương hiện đại.  
Việc “đọc” chấn thương thông qua những văn bản triết học, văn chương, điện ảnh (chẳng  
hạn Caruth đọc lại Mose và Nhất thần luận của Freud, phân tích các dạng chấn thương trong  
Hiroshima mon amour của Duras và Resnais…) đã mang lại những gợi ý sâu xa về các kinh  
nghiệm chấn thương, như nhận ra chấn thương cộng đồng tái diễn trong số phận cá nhân,  
nguy cơ tái diễn chấn thương từ những gì bị quên lãng dẫn đến những trải nghiệm muộn  
màng của chấn thương… Đặc biệt, mô hình về tính bất khả trình hiện của ngôn ngữ gây ra  
bởi chấn thương của Caruth vẫn là một tư tưởng cốt lõi trong ngành nghiên cứu chấn thương  
hai thập kỉ sau đó. Thậm chí, theo Michelle Balaev, “tầm quan trọng trong mô hình của  
Caruth về mối quan hệ nội tại giữa cá nhân và nhóm văn hóa cũng như các ảnh hưởng và im  
lặng của chấn thương tiếp tục trong phê bình duy trì cơ sở khái niệm của mô hình truyền  
thống nhưng mở rộng khung lí thuyết tới nữ quyền luận, lí thuyết chủng tộc, hậu thuộc địa”  
(Pater ed, 2018, p.383).  
2.3. Chặng thứ ba: đa dạng hóa, đa phương hóa lí thuyết chấn thương  
Lí thuyết chấn thương giai đoạn sau, một mặt tiếp nối mạch tư tưởng của giai đoạn  
trước nó, mặt khác, kiếm tìm nhiều hướng biểu đạt mới. Ở xu hướng nghiên cứu chấn thương  
tiếp theo, không ít người quay lại hồ nghi quan điểm của Cathy Caruth. Có người cho rằng  
lí thuyết của Caruth trong khi quá xoáy sâu vào tính bất khả trình diện của chấn thương đã  
quên đi nhiệm vụ lớn lao của văn chương nói riêng, của nghiên cứu nhân văn nói chung là  
thể hiện rõ sự bạo tàn. Nổi bật giữa những tiếng nói phản biện, nghi vấn của nghiên cứu chấn  
thương giai đoạn này là quan điểm tiếp cận phả hệ của Ruth Leys trong công trình Chấn  
thương: Một phả hệ (Trauma: A Genealogy, 2000) hay quan điểm lịch sử, đặt chấn thương  
trong những cuộc đối thoại với nhiều ngữ cảnh phức tạp của Dominick Lacapra trong Viết  
về lịch sử, viết về chấn thương (Writing History, Writing Trauma) và Lịch sử và những giới  
hạn của nó, con người, động vật, bạo lực (History and Its limits, Human, Animal, Violence).  
Thực ra, quan điểm của Ruth Leys và Dominick Lacapra đã phần nào cho thấy nỗ lực  
của các nhà nghiên cứu hậu Caruthian trong việc kiếm tìm một mô hình mới cho lí thuyết  
chấn thương. Thực tế cho thấy rằng, hơn hai thập kỉ kể từ khi chuyên luận của Cathy Caruth  
được ấn hành, nghiên cứu chấn thương đã dần chuyển mình sang một bước ngoặt mới. Phê  
bình chấn thương càng ngày càng mở rộng phạm vi nghiên cứu, kết hợp, cộng hưởng với  
nhiều nhánh của lí thuyết đương đại.  
663  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 657-668  
Sự thay đổi của mô hình nghiên cứu chấn thương thể hiện ở bước chuyển dịch từ mô  
hình cổ điển của Cathy Caruth (chấn thương được mô tả như một hiện tượng mang tính cấu  
trúc, trong đó cái lõi của nó vẫn là một sự kiện) sang mô hình lí thuyết đa nguyên (pluralism  
theory - Michelle Balaev). Trong bài viết “Xu hướng trong lí thuyết chấn thương trong văn  
học” (Trend in Literary Trauma Theory, 2008”) đăng trên tạp chí Mosaic: An  
Interdisciplinary Critical Journal, Michelle Balaev đã gợi ý về mô hình đa nguyên khi  
nghiên cứu chấn thương. Quan điểm về lí thuyết đa nguyên được bà triển khai một cách đầy  
đủ và sâu sắc trong công trình Bản chất của chấn thương trong tiểu thuyết Hoa Kì (The  
nature of Trauma in American Novels, 2012) xuất bản bốn năm sau đó. Công trình là kết  
quả nghiên cứu công phu dòng mạch văn học chấn thương từ nhiều điểm nhìn lí thuyết. Với  
mục đích mở rộng khả năng diễn giải của lí thuyết chấn thương trong văn chương, Michelle  
Balaev đã khẳng định tầm quan trọng của mô hình đa nguyên, trong đó, văn học chấn thương  
nên được tiếp cận diễn giải từ nhiều mô hình và phương pháp tiếp cận. Trong những công  
trình sau này, chẳng hạn bài giới thiệu “Nhìn lại lí thuyết chấn thương trong văn học”  
(“Literary Trauma theory reconsidered”) in trong cuốn Các cách tiếp cận đương đại về lí  
thuyết chấn thương trong văn học (Contemporary Approaches in Literary Trauma Theory)  
do chính bà biên tập và chương viết về chấn thương (Chapter 29: Trauma) trong Sổ tay lí  
thuyết chấn thương (A companion to Literary Theory, 2018), Michelle Balaev tiếp tục khẳng  
định vai trò của lí thuyết đa trong nghiên cứu văn học chấn thương. Sự chuyển dịch ra khỏi  
trung tâm của mô hình cổ điển cũng đồng nghĩa với việc mở rộng tiềm năng diễn giải của lí  
thuyết chấn thương thông qua sự soi chiếu dưới ánh sáng của tâm lí học xã hội, nghiên cứu  
văn hóa, phân tâm học, hậu thuộc địa, nữ quyền, chủng tộc, hay thậm chí những động hướng  
mới hơn như các lí thuyết về cảm xúc. Sự đa dạng hóa về phương pháp luận càng có ý nghĩa  
hơn khi tiếp cận soi sáng các hiện tượng văn chương độc đáo trong dòng chảy văn học đương  
đại. Bởi, như quan niệm về bản chất của văn chương được Balaev xác lập trong bài viết:  
“Một khái niệm duy nhất có vẻ như không bao giờ phù hợp với số đông, thường là mâu  
thuẫn trong miêu tả về chấn thương trong văn học bởi văn bản nuôi dưỡng nhiều giá trị có  
khả năng tiết lộ những hiểu biết về cá nhân và văn hóa, kí ức và xã hội” (Balaev, 2014, p.8).  
Một trong những điểm đáng lưu ý của phê bình chấn thương giai đoạn này, theo chúng  
tôi, đó là nhìn ra được nhiều kiểu chấn thương và các cơ chế gây chấn thương. Chấn thương  
quan tâm sâu sắc đến các quan điểm triết học về bạo lực. Bạo lực không chỉ tồn tại dưới hình  
thức của các thảm họa, biến cố, ngược lại, nó lại tồn tại theo cơ chế rất tinh vi, len lỏi trong  
mọi diễn biến của đời sống thường nhật. Chấn thương trong đời thường đẩy con người vào  
những khủng hoảng hiện sinh. Đó cũng chính là lí do mà nhiều nhà nghiên cứu chấn thương  
giai đoạn này truy tìm nguồn gốc của chấn thương trong mọi cơ chế, phương diện của đời  
sống, từ đó hình thành cái nhìn đa dạng hóa trong việc nhận diện nguồn gốc chấn thương.  
Từ chỗ kiến tạo về mặt văn hóa (như quan điểm của Michelle Balaev), phê bình chấn thương  
giai đoạn này nghiên cứu chấn thương như một diễn ngôn, và chính bước ngoặt diễn ngôn  
664  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Đặng Hoàng Oanh  
đó khiến người ta buộc phải chất vấn: “Trong điều kiện nào thì trải nghiệm của con người  
được coi là chấn thương? Nếu các kí ức được truyền thông chính thống tạo dựng nên ngày  
càng trở thành một câu chuyện đơn nhất, những đại tự sự, rõ ràng quyền lực và tri thức –  
nền tảng của những đại tự sự đó có tính trấn áp, che mờ tiếng nói của cá nhân. Một loạt  
những bài viết của phê bình chấn thương giai đoạn này đã kháng cự lại tính tự sự đơn nhất  
của các câu chuyện về cộng đồng. Nó đi sâu vào các diễn ngôn chấn thương, lí giải, phân  
tích những chất vấn tự sự đầy nhức nhối về các vấn đề sắc tộc, về giới, về chấn thương tình  
dục như: Đọc Câu chuyện cưỡng dâm: chất liệu tu từ và chấn thương của sự biểu đạt  
(Reading Rape stories: Material Rhetoric and The Trauma of Representation, Wendy S.  
Hesford, 1999), Chấn thương và giới (Trauma and Gender, Puleng Segalo, 2015).  
Nhu cầu đổi thay mô hình nghiên cứu chấn thương thực ra đã từng được nhen nhóm  
trong trong bài tiểu luận Sự pha trộn kí ức và ham muốn: Phân tâm học, tâm lí học và lí  
thuyết chấn thương (Mixing memory and desire: Psychoanalysis, psychology, and trauma  
theory) của Roger Luckhurst. Ông đã từng thực hiện một hành trình mô tả về lí thuyết chấn  
thương một cách khá toàn diện, từ điểm khởi đầu của nó trong y khoa thế kỉ XIX, qua những  
bước ngoặt của phân tâm học, đến sự chuyển dịch từ giải cấu trúc sang phê bình chấn thương  
của một loạt những nhà phê bình của Yale – đại diện trường phái nghiên cứu chấn thương  
kinh điển, và cuối cùng, tiến đến một kết luận tương tự: “…Chấn thương thực chất là đa  
ngành: nếu ngành phê bình này có tương lai, nó cần phải thay thế các mô hình cũ hơn và  
tham gia vào các cấu hình mới của kiến thức văn hóa” (Waugh ed., 2006, p.506). Quan điểm  
của Balaev và Luckhusrt đã phần nào khái quát được thực tế nghiên cứu của lí thuyết chấn  
thương trong văn học, đặc biệt trong quãng thời gian hai thập niên trở lại đây. Thậm chí,  
vượt xa nhận định của Roger Luckhurst4, phê bình chấn thương dần rời khỏi địa hạt trung  
tâm của nó là cảm thức và bản sắc phương Tây, tiến gần tới nhiều vùng văn hóa ngoại vi,  
mở rộng kho dữ liệu các case study. Theo quan sát của chúng tôi, trong hai thập kỉ gần đây,  
văn học châu Á và châu Phi đang cung cấp những ngữ liệu sinh động cho nghiên cứu chấn  
thương. Có thể kể đến những công trình như: Chấn thương và lịch sử trong tiểu thuyết Ailen:  
Sự quy hồi của cái chết (Trauma and History in Irish Novel: The return of the Dead, Robert  
F. Garratt); Tiếp cận chứng nhân: Tự sự về chấn thương trong văn học và điện ảnh châu Phi  
thuộc Pháp ngữ hạ vùng Sahara (Approaching the Witness: Narratives of Trauma in Sub-  
Saharan Francophone African Literature and Film – luận án tiến sĩ của George Stevens  
Macleod), Viết về chấn thương: tiếng nói của nhân chứng trong văn học chứng nhân của  
phụ nữ Rwandan (Writing trauma: the voice of the witness in Rwandan women's testimonial  
4 “Chấn thương đã trở thành một hệ hình bởi vì nó đã chuyển thành một danh mục của những câu chuyện hấp  
dẫn về sự bí ẩn của bản sắc, kí ức và bản ngã vốn dĩ đã bão hòa đời sống văn hóa phương Tây” (Trauma has  
become a paradigm because it has been turned into a repertoire of compelling stories about the enigmas of  
identity, memory and selfhood that have saturated Western cultural life - Roger Luckurst – The Trauma  
Question)  
665  
 
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 657-668  
literature, Catherine GilBert), hoặc bài tiểu luận Từ Hiroshima đến Fukushima: Truyện  
tranh và hoạt hình như tác nhân lật đổ của kí ức ở Nhật Bản (From Hiroshima to Fukushima:  
Comics and Animation as Subversive Agents of Memory in Japan, Ory Bartal, 2016)…  
Thực tế bộn bề và phức tạp của lí thuyết chấn thương cùng sự đa dạng của các case  
study đặt ra không ít thử thách đối với các nhà nghiên cứu, thách thức nỗ lực khái quát và  
phân loại. Năm 2018, Cambridge University Press xuất bản cuốn sách Chấn thương và văn  
học (Trauma and Literature) được biên tập bởi J. Roger Kurtz. Đây có thể xem là một trong  
những công trình dày dặn và công phu nhất về lí thuyết chấn thương. Với gần 400 trang,  
gồm 21 bài tiểu luận, công trình đã đưa lại một cái nhìn tổng quan về nguồn gốc, sự phát  
triển và ứng dụng của chấn thương trong nghiên cứu văn học. Trauma and Literature có cấu  
trúc ba phần tương ứng với ba giai đoạn phát triển của lí thuyết chấn thương. Phần 1 (Nguồn  
gốc/Origins) tập hợp những bài viết đi vào phân tích cội nguồn phân tâm học của khái niệm  
chấn thương, mối quan hệ giữa chấn thương và giải cấu trúc, sự kiện Holocaust và cách nó  
định hình cách hiểu của chúng ta về chấn thương cá nhân và tập thể. Phần 2 (Phát  
triển/Development), đi sâu và mối quan hệ giữa chấn thương và khả năng biểu đạt của nó  
trong tự sự. Theo Roger Kurtz, “một trong những tuyên bố cơ bản của lí thuyết chấn thương,  
đó là ngôn ngữ văn chương, trong bản chất của nó, cung cấp một phương tiện hiệu quả mang  
tính độc nhất biểu đạt cho kinh nghiệm chấn thương theo cách ngôn ngữ thông thường không  
thể” (Kurtz, 2018, p.8). Vì thế, các bài viết tập hợp trong phần 2 đã cung cấp những cách  
hiểu đa chiều xung quanh các khía cạnh như vết thương và ngôn ngữ, kí ức, cảm xúc... Phần  
3, như tiêu đề của nó, Ứng dụng, chấn thương được khảo sát, phân tích trong nhiều ngữ cảnh,  
không gian, nối kết với nhiều khái niệm, nhiều vấn đề mang tính thời sự. Chẳng hạn “Chấn  
thương và văn học chiến tranh” (Gerd Bayer), “Chấn thương và bạo lực tình dục” (Emma  
V. Miller), “Chấn thương hậu thuộc địa” (Jennifer Yusin), “Chấn thương và nghệ thuật thị  
giác” (Marie Kruger), “Chủ nghĩa khủng bố” (Michael Richardson)…  
Như vậy, qua ba giai đoạn phát triển của lí thuyết chấn thương, chúng tôi tóm tắt thành  
những điểm lớn sau đây:  
Thứ nhất, chấn thương là hệ quả của một sự kiện gây hại đến con người về thể chất và  
đặc biệt là tinh thần. Sự kiện chấn thương này làm toàn bộ trạng thái tinh thần của con người  
đổ vỡ, phân mảnh, rối loạn, trầm uất… Thứ hai, cơ chế hoạt động của chấn thương rất đặc  
biệt, nó nằm sâu trong tiềm thức, không được nhận thức tại thời điểm xảy ra chấn thương  
mà thường quay trở lại ám ảnh ở giai đoạn sau qua những kí ức, khiến con người rơi vào  
những trạng thái không thể nói nên lời, bị kìm nén. Thứ ba, phê bình chấn thương thực ra  
cũng là một cái nhìn mang tính phê phán đối với lịch sử, đối với các cơ chế văn hóa cho  
phép sự kiện chấn thương xảy ra, thậm chí được duy trì (đây cũng là điểm rõ nhất cho thấy  
phê bình chấn thương đi xa hơn cách tiếp cận tâm lí trị liệu; tâm lí là việc xử lí theo từng  
trường hợp bệnh lí, nó thiếu tính phê phán). Thứ tư, nó chỉ rõ được tiêu điểm của phê bình  
666  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Đặng Hoàng Oanh  
chấn thương không phải ở vào sự kiện gây ra chấn thương hay ngữ cảnh khiến cho sự kiện  
đó xảy ra, mà chính là vào sự chịu đựng hay sự phản kháng của con người trước chấn thương.  
3.  
Kết luận  
Phần tổng thuật ở trên đã cho phép chúng tôi khái quát rằng: chấn thương là một khái  
niệm mang tính liên ngành. Chấn thương vốn là một khái niệm xuất hiện lần đầu tiên trong  
lĩnh vực y học, tâm lí học, sau đó trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học nhân văn, và  
là một khía cạnh quan trọng của văn chương. Một khi có nội hàm rộng như vậy, nó tiệm cận  
và giao thoa với nhiều lí thuyết đương đại. Là một trạng thái phổ quát của con người, chấn  
thương được nhìn từ nhiều góc. Ý nghĩa ban đầu của khái niệm chấn thương được minh định  
bởi Freud, nhưng khi tồn tại với tư cách một lí thuyết, nó phát triển trên nền tảng của hậu  
cấu trúc. Tuy nhiên, trên thực tế, lí thuyết chấn thương, không đơn thuần là một lí thuyết tâm  
lí, và phê bình chấn thương, hay nói như Trần Ngọc Hiếu, “không đơn thuần là cách đọc văn  
bản từ cái nhìn bệnh học” (Caruth, 1996). Nó trả lời cho nhiều vấn đề liên quan đến sự vận  
hành của các cơ quan mang tính quyền lực trong xã hội chứ không chỉ lí giải nỗi đau của cá  
thể. Lí thuyết chấn thương, ở một phương diện sâu xa hơn, còn kết nối chấn thương của cá  
nhân và cộng đồng, thấy được nguy cơ tiềm tại của các cơ chế bạo lực trong đời sống hiện  
đại, có thể gọi dậy những vết thương tưởng chừng đã ngủ quên trong quá khứ. Đặc biệt, nó  
gợi nhắc con người bạo lực luôn có nguy cơ tái diễn bất cứ lúc nào. Rõ ràng, việc khảo sát  
thực tiễn nghiên cứu lí thuyết chấn thương trên thế giới không chỉ cho thấy được hành trình  
và xu hướng của một trong những lí thuyết mang tính đương đại, mà còn thấy được cách  
thức các nhà nghiên cứu ứng dụng lí thuyết chấn thương để đọc văn bản văn học. Đặc biệt,  
lí thuyết chấn thương đã được đặt trong đời sống văn chương vô cùng sinh động và phong  
phú. Cụ thể, chấn thương được soi chiếu qua những ngữ cảnh độc đáo, như bi kịch Hi Lạp  
cổ đại, tiểu thuyết hậu thuộc địa, tiểu thuyết của Malaysia, thơ ca nô lệ Anh, văn học Pháp  
đương đại… Nhìn rộng hơn, dường như trong giới nghiên cứu văn học đang hình thành một  
lối “đọc” chấn thương dựa trên mô hình của Cathy Caruth, và những thể nghiệm táo bạo của  
các nhà phê bình chấn thương giai đoạn sau này.  
Tuyên bố về quyền lợi: Tá c giả xá c nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Balaev, M. (2014). Literary Trauma theory reconsidered, Contemporary Approaches in Literary  
Trauma Theory. Retrieved from https://books.google.com.vn  
Caruth, C. (1996). Unclaimed Experience: Trauma and The possibility of Hisory [Kinh nghiem  
khong duoc khang dinh, chan thuong va nhung kha nang cua lich su] (Translated by Tran Ngoc  
667  
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM  
Tập 18, Số 4 (2021): 657-668  
on March 29, 2013.  
Caruth,  
C.  
(1995),  
Trauma,  
Explorations  
In  
Memory.  
Retrieved  
from  
Felman, S; Laub, D. (1992), Testimony, Crises of Witnessing in Literature, Psychoanalysis and  
History, Published in Great Britain by Routledge.  
Kurtz, J. R (2018). Trauma and Literature. Cambridge University Press. Retrieved from  
Matus, J. L. “The art of medicine, Psychological trauma Victorian style: from perpetrators to  
Owen, S; Dambrosch, D. & Thornber, K. (2016). Literary Theories and their application – Lectures  
and reading (Lectures and References) [Li thuyet va ung dung li thuyet trong nghien cuu van  
hoc (Tap bai giang va tai lieu tham khao)]. Edited by Tran Hai Yen. Hanoi: Social Science  
Publishing House.  
Pater, D. H (ed.) (2018). A companion to literary theory. Wiley Blackwell  
Sutton, J. P. (ed.) Music, Music Therapy and Trauma, United Kingdom: Jessica Kingsley Publishers.  
Waugh, P. [ed.] (2006). Literary Theory and Criticsm. An Oxford Guide. Oxford University Press.  
AN OUTLINE HISTORY OF TRAUMA THEORY IN WESTERN THOUGHTS  
Dang Hoang Oanh  
School of Social Science of Education, Vinh University, Vietnam  
Corresponding author: Dang Hoang Oanh – Email: danghoangoanh86@gmail.com  
Received: March 27, 2021; Revised: April 05, 2021; Accepted: April 15, 2021  
ABSTRACT  
The article sheds light on the history of trauma theory – a school of thought emerged in the  
US during the 1990s and has been exuding a lot of dynamism in Western countries up to now. In an  
effort to generalize the trauma theory through different periods, the article focus on discussing the  
concept of trauma theory and modelling the archetype of trauma theory in world literature. The  
research findings will help to enrich the domain of theory which has not been extensively reviewed  
and updated in Vietnam.  
Keywords: the concept of trauma; trauma theory; trauma model; Western thoughts  
668  
pdf 12 trang baolam 21000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phác thảo hành trình của lí thuyết chấn thương trong lịch sử tư tưởng phương Tây", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphac_thao_hanh_trinh_cua_li_thuyet_chan_thuong_trong_lich_su.pdf