Một số biện pháp dạy ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ khiếm thính

NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
Một số biện pháp dạy ngôn ngữ kí hiệu  
cho trẻ khiếm thính  
Nguyễn Thị Bích Trang  
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam  
TÓM TẮT: Trẻ khiếm thính là một trong những đối tượng khó khăn nhất trong giáo  
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam  
Email: trangchuyenb[email protected]  
dục đặc biệt. Do khiếm khuyết về thính giác, trẻ gặp nhiều trở ngại trong giao  
tiếp với mọi người xung quanh và phát triển nhận thức của bản thân. Ngôn ngữ  
kí hiệu là phương tiện duy nhất để trẻ giao tiếp, học tập và phát triển. Vì vậy,  
việc tăng cường tiếp cận, sử dụng ngôn ngữ kí hiệu cho học sinh khiếm thính sẽ  
góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục, hoà nhập cho nhóm đối tượng  
này. Việc dạy ngôn ngữ kí hiệu làm sao cho học sinh khiếm thính tiếp thu được  
kí hiệu, cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu và cách ứng dụng ngôn ngữ kí  
hiệu vào cuộc sống là vấn đề khó khăn của các giáo viên hiện nay.  
TỪ KHÓA: Ngôn ngữ kí hiệu; trẻ khiếm thính; biện pháp.  
Nhận bài 23/7/2020 Nhận bài đã chỉnh sửa 11/8/2020 Duyệt đăng 25/3/2021.  
1. Đặt vấn đề  
số biện pháp dạy NNKH cho HS khiếm thính” với mong  
muốn nâng cao chất lượng dạy học về bộ môn NNKH  
nhằm giúp GV và HS thực hiện kí hiệu ngôn ngữ tốt hơn.  
Trẻ khiếm thính là một trong những đối tượng khó  
khăn nhất trong giáo dục đặc biệt. Do khiếm khuyết về  
thính giác, trẻ rất khó khăn trong giao tiếp với mọi người  
xung quanh và phát triển nhận thức của bản thân. Nếu  
để trẻ có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ nói thì việc thiết  
yếu hàng đầu là phải cung cấp cho trẻ máy trợ thính phù  
hợp, trẻ được can thiệp sớm từ nhỏ, có môi trường học  
tập và luyện nghe nói tốt. Thế nhưng không phải gia đình  
nào có trẻ khiếm thính cũng mua được máy trợ thính  
tốt và tạo điều kiện cho con nghe nói tốt được. Hầu hết  
các em khiếm thính đều là những đứa trẻ được sinh ra  
bởi cha mẹ bình thường nên ngôn ngữ kí hiệu (NNKH)  
không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của các bậc phụ huynh.  
Do không có kinh nghiệm nên cha mẹ rất lúng túng khi  
nuôi dạy con cái khiếm thính và phần lớn là không hiểu  
con cái mình muốn gì? Có suy nghĩ như thế nào? Một số  
ít còn lại được sinh ra bởi cha mẹ điếc câm thì NNKH  
là tiếng mẹ đẻ của họ. Khi đến trường, phần lớn các em  
học sinh (HS) khiếm thính dùng NNKH để sử dụng trong  
giao tiếp hàng ngày thì NNKH được coi là tiếng mẹ đẻ  
của HS khiếm thính. NNKH với mục tiêu phát triển vốn  
kí hiệu ngôn ngữ, giúp HS khiếm thính có phương tiện  
để trao đổi thông tin trong quá trình học tập và giao tiếp.  
Việc hình thành, phát triển kĩ năng sử dụng NNKH cho  
HS khiếm thính góp phần xây dựng hệ thống kí hiệu của  
người điếc Việt Nam ngày càng phong phú và hoàn thiện  
hơn, đó cũng là một trong những mục tiêu trong kế hoạch  
phát triển ngành Giáo dục đặc biệt.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Đặc điểm của ngôn ngữ kí hiệu  
- NNKH có tính tượng hình: NNKH còn được gọi là  
ngôn ngữ thị giác. Do vậy, tính tượng hình là một đặc  
điểm nổi bật của NNKH.Tính tượng hình của NNKH  
có nghĩa là các kí hiệu thường có tính chất biểu thị, mô  
phỏng các sự vật, hiện tượng, hành động… của thế giới  
xung quanh dựa trên những đặc điểm đặc trưng, nổi bật  
của sự vật, hiện tượng, hành động đó.Tính tượng hình  
của NNKH có các mức độ khác nhau: Có những kí hiệu  
mô phỏng gần giống hoàn toàn đặc điểm của sự vật, hiện  
tượng, hoặc hành động… (Ví dụ: kí hiệu “ăn”, “uống”,  
“viết”…), có những kí hiệu mô phỏng một phần đặc  
điểm đặc trưng của sự vật, hiện tượng, hoặc hành động…  
(Ví dụ: kí hiệu “con mèo”, “con chó”…).  
- NNKH có cấu trúc và hình thái riêng biệt: NNKH  
có hình thái riêng biệt. NNKH có hình thái học về mặt  
không gian, không phải hình thái học về trật tự thời gian,  
thứ tự trước sau như ngôn ngữ nói. Hình thái về mặt  
không gian có nghĩa là các kí hiệu luôn được thể hiện  
trong một không gian nhất định. Những sự vật, hiện  
tượng xuất hiện trong không gian trước sẽ có xu hướng  
được làm kí hiệu trước. Ví dụ, để thể hiện câu: “Tôi sẽ  
đến thăm nhà bạn”.  
- Ngôn ngữ nói: phải nói theo thứ tự từng từ: tôi/sẽ/  
Việc dạy NNKH làm sao cho HS khiếm thính tiếp thu đến/thăm/nhà/bạn.  
được kí hiệu, cấu trúc ngữ pháp của NNKH và cách ứng  
dụng NNKH vào cuộc sống là một trong nhiều vấn đề  
- NNKH: tôi/bạn/nhà/thăm.  
NNKH có cấu trúc riêng biệt. Cấu trúc ở đây là cấu  
đang tồn tại hiện nay. Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn trúc ngữ pháp. Cấu trúc ngữ pháp của NNKH khác với  
NNKH trong các cơ sở giáo dục, chúng tôi đưa ra “Một cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nói.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
36  
Nguyễn Thị Bích Trang  
Một số đặc trưng ngữ pháp của NNKH sẽ được trình  
Cũng giống như vị trí làm kí hiệu, hình dạng bàn tay  
bày cụ thể ở phần sau. Tuy nhiên, nhìn chung, NNKH khi làm kí hiệu cũng rất phong phú, đa dạng. Mỗi kí hiệu  
có cấu trúc: chủ đề - lời dẫn, có nghĩa là đối tượng, sự có một hình dạng bàn tay nhất định. Có một số kí hiệu,  
vật có liên quan được làm kí hiệu trước, sau đó mới dẫn hình dạng bàn tay mô phỏng đặc điểm của sự vật, hiện  
giải thêm thông tin. Ví dụ: Câu: “Tôi mua 3 quyển sách” tượng hoặc hành động… Ví dụ: kí hiệu” nhà/ngôi nhà”,  
sẽ được thể hiện bằng NNKH như sau: Tôi/sách/3/mua. hình dạng bàn tay là các ngón tay của hai bàn tay duỗi  
(Đối tượng cần là: “sách” sẽ được làm kí hiệu trước, sau thẳng, khép lại, chạm các đầu ngón tay của hai bàn tay  
đó là các thông tin dẫn giải thêm: số lượng “3”, hành vào nhau, mô phỏng hình mái nhà). Có một số kí hiệu,  
động “mua”.  
hình dạng bàn tay có tính quy ước, không mô phỏng đặc  
- NNKH có tính đa dạng: Tính đa dạng của NNKH điểm của sự vật, hiện tượng, hoặc hành động… Ví dụ: kí  
thể hiện trước hết ở tính vùng, miền, giữa các quốc gia, hiệu “tốt”, hình dạng bàn tay là ngón cái của tay thuận  
thậm chí giữa các địa phương trong cùng một đất nước. mở ra, hướng thẳng lên trên, các ngón tay khác nắm lại,  
Tính đa dạng của NNKH còn thể hiện ở việc sử dụng lòng bàn tay hướng sang trái. Tuy nhiên, để đơn giản  
nhiều hình thức bổ trợ kèm theo: chữ cái ngón tay, cử hóa, có thể phân hình dạng bàn tay thành 2 nhóm chính:  
chỉ điệu bộ, hình miệng…Tính đa dạng của NNKH còn 1/ Hình dạng bàn tay theo chữ cái ngón tay; 2/ Hình dạng  
thể hiện ở:  
bàn tay có sự biến thể.  
- Cùng một kí hiệu có thể thể hiện một số nghĩa khác  
Hình dạng bàn tay theo chữ cái ngón tay có nghĩa là  
nhau. Ví dụ: Kí hiệu “quét” có thể mang nghĩa là động từ kí hiệu đó có hình dạng bàn tay là các chữ cái ngón tay.  
“quét” hoặc danh từ “cái chổi”. Trong NNKH có rất nhiều kí hiệu có hình dạng bàn tay  
- Ngược lại, một ý nghĩa/một khái niệm nào đó có thể là các chữ cái ngón tay. Ví dụ như kí hiệu “lớp”, “hoa”,  
được thể hiện bằng một số cách làm kí hiệu khác nhau. “bố”, “màu vàng”, “màu tím”…Với những kí hiệu này,  
Ví dụ: Ý nghĩa/khái niệm “con chó” có 2 cách làm kí khi mô tả và phân tích kí hiệu thì hình dạng bàn tay sẽ  
hiệu.  
được mô tả theo chữ cái ngón tay. Ví dụ, kí hiệu “lớp”  
Mỗi kí hiệu bao gồm 5 thành tố: Vị trí làm kí hiệu; hình dạng bàn tay sẽ được mô tả như sau: tay thuận để  
Hình dạng bàn tay; Chiều hướng của bàn tay; Chuyển chữ cái ngón tay “L”.  
động của tay; Sự diễn tả không bằng tay.  
- Vị trí làm kí hiệu:  
Hình dạng bàn tay có sự biến thể có nghĩa là hình dạng  
bàn tay theo chữ cái ngón tay nhưng có sự biến thể của  
Vị trí làm kí hiệu là vị trí của tay so với cơ thể khi làm ngón tay cái và/hoặc các ngón tay khác. Ví dụ, kí hiệu  
kí hiệu. Mỗi kí hiệu đều có một vị trí làm nhất định.Vị “tốt”: hình dạng bàn tay là chữ cái ngón tay “A” nhưng  
trí làm kí hiệu lấy cơ thể làm điểm đánh dấu và được có sự biến thể của ngón tay cái: ngón tay cái choãi ra,  
chia thành 2 nhóm chính: trên khuôn mặt và trên cơ thể. hướng thẳng lên trên. Khi mô tả và phân tích một kí hiệu  
Trên khuôn mặt, có thể ở các vị trí như: trán, mắt, đầu… nào đó theo nhóm hình dạng bàn tay này thì phải mô tả  
Trên cơ thể, có thể ở các vị trí phần cánh tay, bàn tay, rõ hình dạng của bàn tay. Ví dụ, kí hiệu “mẹ”, hình dạng  
phần mình… Ngoài các kí hiệu được làm ở các vị trí trên bàn tay được mô tả như sau: các ngón tay của bàn tay  
khuôn mặt và trên cơ thể, có rất nhiều kí hiệu được làm ở thuận duỗi thẳng, khép lại.  
vị trí khoảng không gian phía trước cơ thể.  
- Chiều hướng của bàn tay: Chiều hướng của bàn tay  
Với những kí hiệu được làm bằng hai tay thì ngoài vị khi làm kí hiệu là hướng của lòng bàn tay và các ngón  
trí của tay so với cơ thể, còn xét đến vị trí tương đối của tay. Thành tố này rất quan trọng, nó góp phần giúp cho  
hai tay, chẳng hạn như: hai tay đặt song song, ví dụ kí việc làm kí hiệu được chính xác. Khi phân tích và mô  
hiệu “giống nhau”, “khác nhau”, “bàn/cái bàn”…. Hoặc, tả kí hiệu, thành tố này luôn được nói đến, giúp cho  
tay thuận đặt phía trước, tay không thuận đặt sau phía người học kí hiệu có thể dễ dàng xác định được chiều  
sau, ví dụ kí hiệu “con ngựa”, “may/nghề may”…; Hoặc hướng của lòng bàn tay và các ngón tay. Ví dụ, kí hiệu  
tay thuận đặt trên, tay không thuận đặt dưới, ví dụ kí hiệu “con thỏ”: ngón trỏ và ngón giữa của hai tay duỗi thẳng,  
“tên”, “tuổi”, “năm”, “làm”…  
khép lại, các ngón tay khác nắm lại, đặt ở hai bên đỉnh  
Khi làm kí hiệu, vị trí làm kí hiệu thường được thể hiện đầu, lòng bàn tay hướng về phía sau, gập hai ngón tay  
ở vị trí “trung tâm”, còn có thể được gọi là “trung tâm của hai bàn tay lên xuống 2-3 lần. Nếu như bỏ qua,  
hóa vị trí làm kí hiệu” có nghĩa là không làm kí hiệu ở vị không mô tả đặc tính “lòng bàn tay hướng về phía sau”  
trí quá cao, hoặc quá xa so với cơ thể. Việc “trung tâm thì có thể rất nhiều người sẽ đặt lòng bàn tay hướng về  
hóa vị trí làm kí hiệu” này sẽ giúp cho người làm kí hiệu phía trước.  
cũng như người quan sát kí hiệu được dễ dàng và thuận  
tiện hơn.  
- Hình dạng bàn tay:  
- Chuyển động của tay: Chuyển động của tay là những  
cử động của tay khi làm kí hiệu. Xét về tính chất của  
chuyển động của tay khi làm kí hiệu sẽ có chuyển động  
Số 39 tháng 3/2021  
37  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
tại chỗ (tay giữ nguyên hoặc chỉ cử động các ngón tay)  
hoặc di chuyển (Tay chuyển động từ vị trí này đến vị  
2.2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp  
Phát triển vốn ngôn ngữ có vai trò quan trọng nhầm  
trí khác, chẳng hạn như từ trên xuống dưới, từ trái sang nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khiếm thính. Trong  
phải…). Xét về số lần chuyển động, có thể chia ra thành khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung đề cập  
chuyển động đơn và chuyển động kép. Chuyển động đơn đến biện pháp dạy NNKH cho trẻ khiếm thính đáp ứng  
là một lần chuyển động/ một kí hiệu (Hay nói cách khác: phần nào các yêu cầu về kiến thức và kĩ năng khi dạy  
chuyển động đơn là kí hiệu đó có một lần chuyển động). phân môn NNKH cho HS khiếm thính.  
Ví dụ, kí hiệu “ông”, “bà”…. Chuyển động kép là từ 2  
2.2.1. Nắm vững nội dung chương trình, mức độ yêu cầu và từng  
lần chuyển động/một kí hiệu (hay nói cách khác: chuyển  
động kép là kí hiệu đó có từ 2 lần chuyển động trở lên).  
Ví dụ, kí hiệu “mưa”, “khóc”…  
đối tượng học sinh  
Để giúp HS khiếm thính rèn luyện kĩ năng học và sử  
dụng NNKH, trước tiên GV phải xác định và nắm rõ mục  
tiêu chính của bài học theo chủ đề là gì? Mức độ tiếp thu  
của từng em như thế nào? Chính chủ đề là điểm tựa để  
trẻ nắm được các kí hiệu có liên quan với nhau, không  
đi quá xa chủ đề. Xác định từng đối tượng HS để lập kế  
hoạch bài giảng cho phù hợp.  
Với những kí hiệu làm bằng hai tay, cần xét đến sự  
chuyển động giữa hai tay, chẳng hạn như: hai tay chuyển  
động đồng thời, ví dụ, kí hiệu “giống/giống nhau”, “khác/  
khác nhau”, “trường/trường học”…; hai tay chuyển động  
không đồng thời (tay chuyển động trước, tay chuyển  
động sau), ví dụ, kí hiệu “xe đạp”, “con hổ”…; một tay  
chuyển động, một tay giữ nguyên, ví dụ, kí hiệu “tên”,  
“tuổi”, “làm”, …  
2.2.2. Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức  
dạy học  
- Sự diễn tả không bằng tay: Sự diễn tả không bằng  
tay khi làm kí hiệu chính là những cử chỉ, điệu bộ, nét  
mặt, cử động của cơ thể kèm theo chuyển động của tay.  
Cùng với việc làm kí hiệu bằng tay, sự diễn tả bằng nét  
mặt, cử chỉ, điệu bộ giúp cho thông tin được truyền tải  
một cách rõ ràng, chính xác. Sự diễn tả không bằng tay  
gắn bó chặt chẽ với việc làm kí hiệu trong quá trình giao  
tiếp. Đây là một thành tố rất đặc trưng trong NNKH. Đặc  
biệt, với những kí hiệu chỉ tình cảm, cảm xúc thì thành  
tố “sự diễn tả không bằng tay” càng được thể hiện rõ. Ví  
dụ, kí hiệu “vui”- nét mặt thể hiện sự vui vẻ, phấn khởi;  
kí hiệu “khó”- nét mặt nhăn lại, thể hiện sự khó khăn…  
* Một số điều cần lưu ý:  
Hình thành và phát triển vốn kí hiệu, rèn kĩ năng giao  
tiếp bằng kí hiệu ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính cần vận  
dụng các phương phát huy tính tích cực chủ động của  
HS, chú ý những phương pháp đặc trưng của môn học  
như thực hành giao tiếp, đóng vai, tận dụng ngữ cảnh,  
tình huống... Cần nắm được ưu điểm của từng phương  
pháp để sử dụng hợp lí, đúng lúc, đúng chỗ, đồng thời  
biết phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học khác  
như diễn giải, thảo luận, nêu vấn đề, sử dụng các phương  
tiện trực quan [1].  
Các hoạt động học tập của HS được tổ chức theo nhiều  
hình thức khác nhau: làm việc độc lập, làm việc theo  
nhóm, làm việc chung cả lớp. HS tổ chức làm việc độc  
lập trong từng nội dung, bài tập tương đối trừu tượng  
hoặc đòi hỏi một sự khái quát nhất định và trong trường  
hợp nếu làm việc chung theo đơn vị lớp sẽ có ít HS được  
hoạt động thì tổ chức làm việc theo nhóm. Hình thức làm  
việc chung cả lớp được áp dụng chủ yếu trong trường  
hợp GV thực hiện khâu giới thiệu kí hiệu mới, củng cố  
bài, nêu những câu hỏi yêu cầu phải suy nghĩ lâu hoặc  
cho HS trình bày kết quả làm việc. Tạo ra môi trường  
giao tiếp có chọn lọc để HS mở rộng vốn từ có định  
hướng, trang bị những tri thức cơ bản và phát triển các kĩ  
năng giao tiếp bằng kí hiệu ngôn ngữ.  
- Mỗi kí hiệu đều bao gồm 5 thành tố: vị trí làm kí hiệu,  
hình dạng bàn tay, chiều hướng của bàn tay, chuyển động  
của tay, sự diễn tả không bằng tay.  
- Trong mô tả và phân tích kí hiệu, 5 thành tố này rất  
quan trọng.  
- Để làm được một kí hiệu nào đó rõ ràng và chính xác,  
cần mô tả và phân tích được 5 thành tố này.  
- Ngoài ra, trong NNKH, các kí hiệu hoàn toàn khác  
nhau ở cả 5 thành tố này thì dễ phân biệt hơn với người  
học. Ví dụ, kí hiệu “năm” và kí hiệu “mẹ”. Nhưng cũng  
có những kí hiệu chỉ khác nhau ở một trong năm thành  
tố. Ví dụ, kí hiệu “mẹ” và kí hiệu “ngoan”, kí hiệu “mưa”  
và kí hiệu “đèn điện/bật đèn”- chỉ khác nhau ở thành  
tố “chuyển động của tay”; kí hiệu “nón” và kí hiệu  
“trường”- chỉ khác nhau ở thành tố “vị trí làm kí hiệu”;  
kí hiệu chữ cái ngón tay “N” và chữ cái ngón tay “U” chỉ  
khác nhau ở thành tố “chiều hướng của bàn tay”… với  
những kí hiệu này sẽ dễ bị nhầm lẫn hơn nếu không chú  
ý đến 5 thành tố khi làm kí hiệu.  
Ví dụ: Chủ đề thiên nhiên  
- GV cho HS xem một số tranh ảnh liên quan đến các  
hiện tượng thiên nhiên (mưa, nắng, gió, bão…).  
- HS nêu các hiện tượng trên bằng các kí hiệu tự phát.  
- GV cung cấp Kí hiệu ngôn ngữ thống nhất chung,  
giải nghĩa từ cho trẻ hiểu sau đó GV cho HS lặp lại cá  
nhân, nhóm, cả lớp về kí hiệu vừa học.  
- GV nêu gợi ý để HS cùng thảo luận về các hiện tượng  
trên.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
38  
Nguyễn Thị Bích Trang  
- Thông qua hoạt động trò chơi, HS được khắc sâu  
thêm kí hiệu.  
Trời nắng - Làm động tác “trời nắng” - “đội mũ”  
Trời mưa - Làm động tác “mưa”- “che dù”  
2.2.3. Một số biện pháp với các dạng bài cụ thể  
Dạy đọc hiểu cho trẻ khiếm thính:  
a. Lựa chọn và điều chỉnh văn bản (ngữ liệu) cho phù  
hợp với trẻ khiếm thính:  
- Một số nhà nghiên cứu đã khẳng định: Việc sử dụng  
những bài đọc có sự kiểm soát chặt chẽ về vốn từ và  
ngữ pháp có hiệu quả đối với trẻ khiếm thính. Do đó,  
khi dạy đọc hiểu cho HS khiếm thính, GV cần lựa chọn  
văn bản hoặc điều chỉnh văn bản trong sách giáo khoa  
cho phù hợp với khả năng nhận thức, vốn ngôn ngữ của  
trẻ khiếm thính cấp tiểu học. Thông thường, đối với trẻ  
khiếm thính, GV nên chọn những bài đọc có số lượng từ  
b. Giải nghĩa từ và cung cấp kí hiệu các từ mới trong  
bài đọc cho trẻ khiếm thính:  
Để giúp trẻ khiếm thính hiểu nội dung văn bản và đọc  
được văn bản bằng NNKH, GV cần giải nghĩa từ và dạy  
trẻ khiếm thính làm kí hiệu các từ đó. Để trẻ khiếm thính  
hiểu nghĩa của từ cần cho trẻ sử dụng kết hợp các giác  
quan khác nhau như thị giác, xúc giác, khứu giác. Tùy  
vừa phải, sử dụng nhiều từ cụ thể, từ tượng hình và các thuộc vào vốn ngôn ngữ của mỗi trẻ và nội dung văn bản,  
GV cần chọn ra các từ thích hợp để giải nghĩa và cung  
cấp kí hiệu cho trẻ, đồng thời cũng cần chuẩn bị sẵn sàng  
giải đáp cho trẻ khiếm thính về bất cứ từ nào trong bài  
mà trẻ yêu cầu. Để giúp trẻ khiếm thính hiểu nghĩa của  
từ, GV có thể sử dụng các biện pháp sau:  
câu có cấu trúc đơn giản, hạn chế các từ tượng thanh, từ  
trừu tượng và các câu có cấu trúc phức tạp [13].  
Ví dụ: Bài Tập đọc “Âm thanh thành phố” (Sách  
Tiếng Việt lớp 3, tập 1, trang 146) - Bài đọc này sử dụng  
hầu hết là các từ tượng thanh, không phù hợp với nhóm  
trẻ khiếm thính nặng không còn khả năng nghe nói mà  
chỉ sử dụng NNKH, GV nên thay thế bằng bài đọc khác  
phù hợp hơn với nhóm trẻ khiếm thính này, nên chọn  
những bài đọc miêu tả cảnh đẹp của thành phố, như:  
ĐÀ LẠT  
Đà Lạt là một trong những nơi nghỉ mát nổi tiếng  
vào bậc nhất ở nước ta. Đà Lạt phảng phất tiết trời của  
mùa thu với sắc trời xanh biếc và không gian khoáng  
đãng, mênh mông, quanh năm không biết đến mặt trời  
chói chang mùa hè. Đà Lạt giống như một vườn lớn với  
thông xanh và hoa trái xứ lạnh. Những vườn lê, táo ...  
trĩu quả, những vườn su hào, xà lách, cải bắp mơn mởn  
nối liền với thảm cỏ xanh trải nghiêng dưới chân núi đến  
những rừng thông hoa lá màu xanh mượt mà bất tận.  
Giữa thành phố có hồ Xuân Hương, mặt nước phẳng như  
gương phản chiếu sắc trời êm dịu. Hồ Than Thở nước  
trong xanh, êm ả, có hàng thông bao quanh reo nhạc  
sớm chiều.  
Loại từ  
Biện pháp  
Hoạt động cụ thể  
Từ chỉ khái  
niệm cụ thể  
Quan sát, sử  
dụng nhiều  
giác quan  
“Quả khế” trẻ phải được quan  
sát, sờ, nếm, ngửi (hoạt động  
với vật thật).  
Từ chỉ khái  
niệm tượng  
hình  
Phải được cụ  
thể hóa  
“Con đường khúc khuỷu”, trẻ  
phải được quan sát trên hình vẽ  
hoặc mô hình hóa con đường  
khúc khuỷu (hoạt động với mô  
hình).  
Từ chỉ khái  
niệm không  
cụ thể  
Được hình  
tượng hóa, cụ  
thể hóa  
“Đau bụng”, trẻ khiếm thính  
phải được quan sát người nhăn  
nhó và tay ôm bụng.  
Từ chỉ khái  
niệm tượng  
thanh  
Được cụ thể  
“Tiếng trống tùng tùng” trẻ phải  
hóa, mô phỏng được nhìn thấy hình ảnh trống/  
bằng những  
hành động, sự  
việc cụ thể  
trống thật, cảm giác rung của  
mặt trống hay nơi âm thanh  
phát ra của mặt trống đó.  
Từ chỉ khái  
Được cụ thể  
“Dũng cảm”, trẻ được quan sát  
các hình ảnh mô tả nghĩa của  
niệm trừu tượng hóa bằng hình  
ảnh và tìm hiểu khái niệm, hoặc sắm vai; đồng  
bản chất của  
khái niệm  
thời được khắc sâu bằng các  
hình ảnh ngược lại [3].  
(Theo Bài tập Tiếng Việt thực hành lớp 3,  
NXB Đại học Sư phạm Hà Nội)  
Sử dụng những phương tiện hỗ trợ cho việc hiểu văn  
bản của HS khiếm thính: Những bài đọc có kèm tranh  
ảnh minh họa sẽ giúp cho HS khiếm thính tiểu học đặc  
biệt ở các lớp đầu cấp Tiểu học hiểu bài đọc dễ dàng hơn.  
Ví dụ: Hình ảnh minh họa bài tập đọc “Bàn tay mẹ”.  
Ví dụ 1, để giúp trẻ hiểu cụm từ “Ánh lửa bập bùng”  
- là một khái niệm tượng hình, GV có thể thực hiện theo  
tiến trình sau:  
Số 39 tháng 3/2021  
39  
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN  
HS còn thắc mắc, chưa hiểu. Sau khi đọc văn bản, GV  
đặt câu hỏi để giúp HS nhớ lại, liên hệ, mở rộng và hiểu  
được ý nghĩa của nội dung văn bản.  
Tiến trình  
Cụm từ “Ánh lửa bập bùng”  
Đưa khái niệm tượng Khái niệm “Ánh lửa bập bùng” gắn với hình  
hình về hình ảnh cụ ảnh cụ thể: ánh lửa lúc sáng, lúc tối; Lúc  
thể  
Để đưa ra những câu hỏi gợi mở, giúp trẻ khiếm thính  
hiểu và khắc sâu nội dung văn bản, GV cần dự kiến nội  
dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi  
(đặt câu hỏi ở chỗ nào?), trình tự của các câu hỏi (câu  
hỏi từ đơn giản đến phức tạp, câu hỏi trước phải làm nền  
cho các câu hỏi tiếp sau hoặc định hướng suy nghĩ để  
trẻ khiếm thính giải quyết vấn đề), dự kiến hình thức thể  
hiện: bằng NNKH hay bằng lời nói, chữ viết, dự kiến nội  
dung các câu trả lời của trẻ khiếm thính, trong đó dự kiến  
những “lỗ hổng” về mặt kiến thức cũng như những khó  
khăn, sai lầm phổ biến mà trẻ khiếm thính thường mắc  
phải, dự kiến các câu nhận xét hoặc trả lời của GV đối  
với trẻ khiếm thính.  
to, lúc nhỏ.  
Mô phỏng khái niệm Cho trẻ được quan sát hình ảnh minh hoạ,  
bằng hình ảnh/mô bằng mô hình hoặc cảnh đống lửa đang cháy  
hình  
ánh lửa lúc sáng, lúc tối, lúc to, lúc nhỏ.  
Giới thiệu chữ viết  
Chữ viết “ánh lửa bập bùng”.  
Phát âm/đọc từ/cụm Đọc “ánh lửa bập bùng”.  
từ.  
Làm kí hiệu khái niệm Kí hiệu “ánh lửa bập bùng”.  
Ví dụ 2, để giúp trẻ khiếm thính hiểu từ “dũng cảm” -  
là một khái niệm trừu tượng, GV có thể thực hiện theo  
tiến trình sau [3]:  
Khi dạy đọc hiểu cho trẻ khiếm thính, GV không nên  
chỉ sử dụng lời nói mà nên sử dụng NNKH, chữ viết để  
đặt câu hỏi gợi mở, đàm thoại với HS. Các câu hỏi nên  
đơn giản tối đa, sử dụng từ ngữ dễ hiểu, không rườm rà,  
không sử dụng các câu quá dài. Đối với trẻ khiếm thính,  
GV nên sử dụng lặp lại thường xuyên những câu hỏi  
như: Ai? Cái gì? Vì sao? Như thế nào? Khi nào? Làm gì?  
d. Đánh giá kết quả học tập của trẻ khiếm thính cấp  
Tiểu học  
Đánh giá kết quả hình thành và phát triển kí hiệu ngôn  
ngữ của trẻ khiếm thính là cần thiết. Việc kiểm tra, đánh  
giá dưới 2 hình thức thường xuyên định kì. Đánh giá khả  
năng sử dụng kí hiệu ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập  
nhằm tìm ra những biện pháp phát triển khả năng giao  
tiếp cho trẻ khiếm thính phù hợp, hiệu quả hơn.  
- Nội dung đánh giá: Kĩ năng hiểu và biểu đạt kí hiệu  
ngôn ngữ trong giao tiếp thông thường; Kĩ năng dịch,  
diễn đạt một đoạn, một bài tập đọc ra kí hiệu ngôn ngữ  
- Hình thức đánh giá: Đánh giá định tính như: Kĩ năng  
giao tiếp, nghệ thuật thể hiện kí hiệu ngôn ngữ; Đánh giá  
định lượng ở yêu cầu: hiểu nội dung bài tập đọc, trả lời  
câu hỏi bằng kí hiệu ngôn ngữ, dịch, “đọc” đoạn, bài tập  
đọc bằng kí hiệu ngôn ngữ.  
Tiến trình  
Khái niệm “dũng cảm”  
Cụ thể hóa khái niệm trừu tượng Quan sát những biểu hiện không  
bằng tranh ảnh, động tác, sắm sợ khó khăn, sẵn sàng lao vào  
vai. Cần tập trung làm cho trẻ nguy hiểm…  
nhận biết được dấu hiệu bản chất Đối với trẻ em: Tiêm không sợ  
của khái niệm.  
đau, không sợ ma khi đi đêm  
tối…  
Đối với người lớn: Ccứu người  
khi gặp nạn, xông lên đánh giặc,  
Giới thiệu chữ viết của khái niệm đuổi bắt cướp…  
Phát âm/đọc từ chỉ khái niệm.  
Làm kí hiệu khái niệm  
Để tránh nhầm lẫn, hiểu sai khái  
niệm cần có những ví dụ trái  
ngược  
Trẻ sắm vai chơi trò tiêm không  
kêu, không nhăn mặt…  
Viết từ “dũng cảm”  
Đọc “dũng cảm”  
Kí hiệu “dũng cảm”  
Cho trẻ quan sát hành động phản  
ví dụ như cướp, đánh bạn,…  
c. Sử dụng các câu hỏi gợi mở đơn giản, phù hợp để  
giúp trẻ khiếm thính tìm hiểu nội dung văn bản  
Trong dạy đọc hiểu cho trẻ khiếm thính, GV không  
nên trực tiếp đưa ra những kiến thức hoặc ý nghĩa nội  
dung văn bản cho trẻ mà cần hướng dẫn trẻ khiếm thính  
tư duy từng bước để các em tự tìm ra ý nghĩa nội dung  
của văn bản. GV cần phải hướng dẫn trẻ khiếm thính biết  
vận dụng và liên hệ những kiến thức sẵn có của bản thân  
với văn bản đang đọc. Trên cơ sở đó, HS sẽ dần tự mình  
học được cách khởi động kiến thức sẵn có và liên hệ nội  
dung khi đọc.  
Trước khi đọc một văn bản, GV cần cùng trẻ khiếm  
thính trao đổi, nói chuyện, gợi mở bằng NNKH về các  
kiến thức mà trẻ đã biết hoặc có liên quan đến nội dung  
sắp đọc, nhằm chuẩn bị, dẫn dắt trẻ sẵn sàng tìm hiểu nội  
dung văn bản. Trong quá trình đọc văn bản, GV khuyến  
khích để trẻ khiếm thính kết nối những gì đang đọc với  
3. Kết luận  
Trên đây là một số biện pháp giúp HS khiếm thính có  
thể học tốt hơn môn NNKH. Muốn giúp HS học tốt môn  
NNKH, giáo viên phải không ngừng đổi mới phương  
pháp giảng dạy, tìm những hình thức riêng phù hợp với  
nội dung từng bài dạy và từng trình độ nhận thức của  
HS, tạo điều kiện cho các em tham gia học tập một cách  
hứng thú. Việc dạy học và sử dụng ngôn ngữ kí hiệu phải  
được lồng ghép trong tất cả các môn học, các loại hình  
ngôn ngữ. Hi vọng đây là những biện pháp thiết thực để  
giáo viên có định hướng khi giảng dạy phân môn kí hiệu  
kinh nghiệm bản thân, đặt các câu hỏi giúp HS khắc sâu ngôn ngữ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cho  
hơn nội dung đang đọc cũng như phát hiện ra những chỗ HS khiếm thính.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM  
40  
Nguyễn Thị Bích Trang  
Tài liệu tham khảo  
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2010), Chương trình chuyên  
biệt dành cho học sinh khiếm thính cấp Tiểu học.  
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Phát triển giáo viên tiểu  
học (2006), Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học  
(tài liệu bồi dưỡng giáo viên), NXB Giáo dục, Hà Nội.  
[3] Nguyễn Thị Thục An - Đinh Bích Hạnh - Nguyễn Thị  
Cẩm Hường, (2006), Giúp đỡ trẻ điếc, dịch từ nguyên  
bản tiếng Anh Helping Children Who Are Deaf, NXB Lao  
động - Xã hội.  
[4] Vương Hồng Tâm, (2009), Nghiên cứu cách biểu đạt  
ngôn ngữ kí hiệu của người Điếc Việt Nam, Đề tài nghiên  
cứu khoa học và công nghệ V2007-19.  
[5] Trần Thị Thiệp - Bùi Thị Anh Phương - Nguyễn Thị Cẩm  
Hường - Vương Hồng Tâm, (2016), Giáo trình ngôn ngữ  
kí hiệu thực hành, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
[6] Nguyễn Thị Hoàng Yến, (2006), Giáo trình Phương pháp  
giao tiếp với trẻ khiếm thính, NXB Đại học Sư phạm, Hà  
Nội.  
SOME METHODS OF TEACHING SIGN LANGUAGE FOR DEAF CHILDREN  
Nguyen Thi Bich Trang  
The Vietnam National Institute of Educational Sciences  
ABSTRACT: Deaf children are one of the most difficult subjects in special  
52 Lieu Giai, Ba Dinh, Hanoi, Vietnam  
education. Due to hearing impairment, children have many difficulties in  
Email: trangchuyenb[email protected]  
communicating with others and developing their own awareness. Sign  
language is the only means for these children to communicate, learn and  
develop. Therefore, increasing access and use of the sign language for  
deaf students will actively contribute to improving the quality of education  
and inclusion for this target group. Teaching sign language so that the deaf  
students can acquire signs, grammatical structure of sign language and  
how to apply the sign language to life is a difficult problem for teachers  
today.  
KEYWORDS: Sign language; deaf children; methods.  
Số 39 tháng 3/2021  
41  
pdf 6 trang baolam 23300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp dạy ngôn ngữ kí hiệu cho trẻ khiếm thính", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_day_ngon_ngu_ki_hieu_cho_tre_khiem_thinh.pdf