Tác động kép của quảng cáo hoài niệm trong marketing xã hội doanh nghiệp: Phát triển mô hình lý thuyết

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TÁC ĐỘNG KÉP CỦA QUẢNG CÁO HOÀI NIỆM  
TRONG MARKETING XÃ HỘI DOANH NGHIỆP:  
PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH LÝ THUYẾT  
THE DUAL EFFECT OF NOSTALGIC ADVERTISING  
IN CORPORATE SOCIAL MARKETING: A CONCEPTUAL MODEL  
Ngày nhận bài: 30/06/2021  
Ngày chấp nhận đăng: 06/08/2021  
Trần Thị Kiều Trinh, Lê Minh Toàn, Trần Triệu Khải  
TÓM TẮT  
Thực tế cho thấy marketing dựa trên yếu tố hoài niệm mang lại giá trị thương mại cho các thương  
hiệu và doanh nghiệp hoạt động vì mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên, hiện có rất ít hiểu biết về ảnh  
hưởng của hoài niệm trong lĩnh vực marketing xã hội doanh nghiệp - một lĩnh vực có sự giao thoa  
giữa mục tiêu về lợi nhuận doanh nghiệp và lợi ích cộng đꢀng. Nghiên cứu này được thực hiện  
nhằm xây dựng một mô hình lý thuyết về tác động kép của các quảng cáo hoài niệm trong  
marketing xã hội doanh nghiệp lên giá trị thương hiệu của doanh nghiệp và hành vi xã hội tốt đẹp  
của người tiêu dùng. Dựa trên lý thuyết mức độ tri nhận (construal level theory) và cảm giác có ý  
nghĩa (sense of meaning), chúng tôi đề xuất một mô hình nghiên cứu bao hàm bốn cơ chế trung  
gian để giải thích tác động kép này, đó là: tính gắn kết cảm xúc thương hiệu (brand emotional  
attachment), tính biểu tượng địa phương thương hiệu (brand local iconness), tính xác thực thương  
hiệu (brand authenticity), và cảm giác có ý nghĩa. Các thảo luận và hàm ý của mô hình đề xuất  
cũng được trình bày để định hướng cho các nghiên cứu trong tương lai.  
Từ khóa: Hoài niệm, Marketing xã hội doanh nghiệp, Giá trị thương hiệu, Hành vi xã hội, Lý thuyết  
mức độ tri nhận.  
ABSTRACT  
In pactice, nostalgia-based marketing has generated commercial values to for-profit brands and  
businesses. However, little is known about the effect of nostalgia in corporate social marketing - an  
area in which both economic and social goals intersect. This study aims to build a conceptual  
model of the dual effect of nostalgia advertisements in corporate social marketing on both brand  
equity of a business and pro-social behavior of consumers. Drawing on the construal level theory  
and the concept of sense of meaning, we propose a research model that indicates four  
mechanisms to explain this dual impact, including: brand emotional attachment, brand local  
iconness, brand authenticity, and sense of meaning. Discussions and implications of the proposed  
model are presented to guide future research in the field.  
Keywords: Nostalgia, Corporate social marketing, Brand equity, Pro-social behavior, Construal  
level theory.  
khỏe, sự an toàn, môi trường, hoặc phúc lợi  
1. Giới thiệu  
của cộng đồng” (Kotler & Lee, 2005, tr. 1).  
Về nguyên tắc, việc thực hiện CSM hướng  
tới mục đích tối cao là mang lại lợi ích cho  
xã hội thông qua việc khuyến khích các hành  
vi xã hội tốt đẹp. Hành vi xã hội được xem là  
Ngày càng nhiều thương hiệu và doanh  
nghiệp nỗ lực thể hiện trách nhiệm xã hội của  
mình thông qua việc thực hiện các chiến dịch  
marketing xã hội doanh nghiệp (corporate  
social marketing - CSM). Marketing xã hội  
doanh nghiệp (CSM) là “cách một công ty hỗ  
trợ phát triển và/hoặc thực hiện một chiến  
dịch thay đổi hành vi nhằm cải thiện sức  
Trần Thị Kiều Trinh, Lê Minh Toàn, Trần Triệu  
Khải, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.  
72  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
những hành vi tự nguyện và tích cực của  
giúp hình thành hành vi tích cực của một  
người và lan tỏa chúng đến những người  
xung quanh.  
người tiêu dùng nhằm thay đổi xã hội trong  
các lĩnh vực như sức khỏe, phát triển cộng  
đồng, phòng ngừa thương tích và bảo vệ  
môi trường (Andreasen, 2004; McKenzie-  
Mohr, 2011; Stead & cộng sự, 2007). Bên  
cạnh đó, CSM còn mang lại lợi ích cho  
doanh nghiệp. Chẳng hạn, các chiến dịch  
CSM hiệu quả sẽ bồi đắp thái độ tích cực  
của người tiêu dùng (Du & cộng sự, 2010),  
hỗ trợ định vị thương hiệu, hay làm tăng  
doanh số (Kotler & Lee, 2005).  
Với những tác động tích cực và đầy hứa  
hẹn của yếu tố hoài niệm trong từng lĩnh vực  
marketing thương mại và marketing xã hội,  
chúng tôi đề xuất rằng nỗi nhớ nhung về quá  
khứ có thể được sử dụng để đạt được cả lợi  
ích kinh tế và lợi ích xã hội một cách đồng  
thời, như trong trường hợp của CSM. Nếu  
hiểu rõ khả năng và cơ chế tác động kép của  
yếu tố hoài niệm trong lĩnh vực CSM thì các  
doanh nghiệp có thêm cơ sở và ý tưởng để xây  
dựng các chương trình marketing bền vững.  
Trong thực tiễn hoạt động marketing,  
truyền thông dựa trên cảm xúc hoài niệm  
đang là một xu hướng phổ biến bởi vì việc  
khơi gợi nỗi nhớ nhung về quá khứ có thể  
thúc đẩy quá trình mua sắm. Do đó, các nhà  
quảng cáo đã tận dụng sức mạnh của yếu tố  
này để thu hút nhiều đối tượng khán giả và  
khách hàng. Lấy ví dụ trong các hoạt động  
khuyến mãi và quảng cáo (Rana & cộng sự,  
2021), sự gợi nhớ về truyền thống gia đình  
Việt được áp dụng tinh tế trong quảng cáo  
của Neptune hay Cocacola vào những dịp Tết  
Nguyên đán, và chúng thường được đón  
nhận tích cực bởi khán giả. Nghiên cứu đã  
cho thấy hiệu quả kinh tế của việc sử dụng  
cảm xúc hoài niệm trong marketing là sự cải  
thiện giá trị thương hiệu (brand equity)  
(Gineikienė, 2013). Chou và Lien (2014)  
khẳng định việc tiếp xúc với quảng cáo hoài  
niệm tạo ra phản ứng tình cảm mạnh mẽ, cải  
thiện nhận thức, làm tăng sự yêu thích và khả  
năng mua hàng đối với thương hiệu được  
quảng cáo.  
Tóm lại, nghiên cứu này được thực hiện  
nhằm xây dựng một mô hình lý thuyết để thể  
hiện và giải thích tác động kép của quảng cáo  
hoài niệm trong marketing xã hội doanh  
nghiệp lên giá trị thương hiệu của doanh  
nghiệp (mục tiêu thương mại) và hành vi xã  
hội tốt đẹp của người tiêu dùng (mục tiêu xã  
hội). Qua đó, nghiên cứu này đóng góp thêm  
kiến thức vào lý thuyết về quảng cáo hoài  
niệm và lý thuyết truyền thông trong lĩnh vực  
CSM. Ngoài ra, nghiên cứu cũng có ý nghĩa  
thiết thực đối với các tổ chức phi chính phủ,  
cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp trong  
nỗ lực phát triển bền vững.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Sự hoài niệm (nostalgia)  
Holbrook và Schindler (1991) đã định  
nghĩa sự hoài niệm (nostalgia) là “sự yêu  
thích (thái độ tích cực hoặc một kiểu cảm  
tình) của một người đối với đối tượng (con  
người, địa điểm hoặc sự vật) đã từng quen  
thuộc (có tính phổ biến hoặc lưu hành rộng  
rãi) khi người đó còn trẻ (trong độ tuổi  
thanh/thiếu niên, thời thơ ấu hoặc thậm chí từ  
trước khi ra đời)” (tr. 330). Trong nghiên cứu  
này, chúng tôi tiếp cận sự hoài niệm từ góc  
nhìn của truyền thông marketing. Theo đó,  
chúng tôi định nghĩa sự hoài niệm được khơi  
Không chỉ giới hạn trong lĩnh vực  
marketing thương mại, yếu tố hoài niệm  
được lồng ghép khéo léo trong các công cụ  
truyền thông cũng được chứng minh hiệu quả  
trong lĩnh vực marketing xã hội, chẳng hạn  
như việc kêu gọi từ bỏ thói quen hút thuốc lá  
(Hussain & cộng sự, 2017). Zhang và cộng  
sự (2021) giải thích rằng sự hồi tưởng quá  
khứ thường gắn liền với những kỷ niệm đẹp,  
73  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
gợi từ quảng cáo (ad-evoked nostalgia) là  
thức thực hiện hành vi xã hội tốt đẹp của  
người tiêu dùng trên nhiều lĩnh vực khác  
nhau, chẳng hạn như các hành vi bảo vệ môi  
trường (Thaler & Helmig, 2013).  
một loại cảm xúc được khơi gợi từ một kích  
thích quảng cáo về thời quá khứ tươi đẹp, và  
có tính bối cảnh.  
2.2. Giá trị thương hiệu (brand equity)  
2.4. Lý thuyết mức độ tri nhận (Construal  
Level Theory)  
Nghiên cứu này xem xét giá trị thương  
hiệu như là một kết quả đại diện cho mục  
tiêu thương mại của CSM. Giá trị thương  
hiệu là “giá trị tăng thêm cho một sản phẩm  
nhờ tên thương hiệu của sản phẩm đó” (Yoo,  
Donthu & Lee 2000, tr. 195). Phức tạp hơn,  
Aaker (1996) tiếp cận khái niệm này theo  
một cấu trúc đa chiều, bao gồm các khía cạnh  
về nhận biết thương hiệu (brand awareness),  
liên tưởng thương hiệu, (brand associations),  
chất lượng cảm nhận (perceived quality), và  
lòng trung thành thương hiệu (brand loyalty).  
Theo đó, một thương hiệu có giá trị cao khi  
nó được nhiều người biết đến, tạo được các  
liên tưởng tích cực trong tâm trí người tiêu  
dùng, được cảm nhận có chất lượng tốt, và  
người tiêu dùng có khuynh hướng tin chọn  
sản phẩm của thương hiệu đó.  
Lý thuyết mức độ tri nhận (construal level  
theory - CLT) nhấn mạnh tầm quan trọng của  
yếu tố khoảng cách tâm lý (psychological  
distance) - là mức độ trừu tượng, bao quát  
(hoặc ngược lại, mức độ cụ thể, chi tiết) mà  
một người cảm nhận về một sự vật, sự việc,  
hay hiện tượng (Trope & Liberman, 2010).  
Cụ thể, một sự vật, sự việc có khoảng cách  
tâm lý đối với một người khi nó diễn ra vào  
một thời điểm trong tương lai (khoảng cách  
về thời gian), ở một nơi xa xôi (khoảng cách  
về không gian) và trong cuộc đời của người  
khác (khoảng cách xã hội). Theo đó, CLT  
được sử dụng để giải thích làm thế nào yếu tố  
khoảng cách tâm lý này có thể ảnh hưởng  
đến hành vi của một người. Khi khoảng cách  
tâm lý về mặt thời gian, không gian và xã hội  
càng xa, họ sẽ có hiểu biết ít hơn về đối  
tượng, và do đó khiến cho việc ra quyết định  
của họ trở nên thận trọng hơn. Dựa theo lý  
thuyết CLT, ba khía cạnh của khoảng cách  
tâm lý có liên hệ mật thiết đến sự hoài niệm  
bao gồm: khoảng cách xã hội (social  
distance), khoảng cách không gian (spatial  
distance), và khoảng cách thời gian (temporal  
distance) (Gilal & cộng sự, 2021; Heinberg  
& cộng sự, 2020).  
2.3. Hành vi xã hội (pro-social behavior)  
Nghiên cứu này xem xét các hành vi xã  
hội tốt đẹp như là một kết quả đại diện cho  
mục tiêu xã hội của CSM. Một cách tổng  
quan, hành vi xã hội (pro-social behavior)  
được định nghĩa là bất kỳ hành vi nào được  
thực hiện bởi một bộ phận xã hội hoặc nhóm  
xã hội theo mục đích tích cực và có lợi cho  
xã hội (Penner & cộng sự, 2005). Trong lĩnh  
vực marketing xã hội, hành vi xã hội tốt đẹp  
được xem là mục tiêu mà các doanh nghiệp  
hướng tới, khuyến khích người tiêu dùng  
"chấp nhận, từ chối, thay đổi hoặc từ bỏ hành  
vi một cách tự nguyện vì lợi ích của một  
nhóm hay toàn xã hội thay vì lợi ích của một  
cá nhân" (Li, 2015). Inoue và Kent (2014)  
cho rằng các hành động thể hiện trách nhiệm  
của doanh nghiệp với xã hội sẽ thúc đẩy ý  
Về khía cạnh khoảng cách thời gian, nếu  
một sự việc diễn ra trong tương lai càng xa  
so với thời điểm hiện tại, thông tin mà chúng  
ta có về sự kiện đó càng trở nên mơ hồ trừu  
tượng. Ngược lại, nếu đó là một sự kiện diễn  
ra vào vài ngày tới thì thông tin về nó sẽ rõ  
ràng hơn. Tuy nhiên, bất cứ sự việc nào diễn  
ra càng xa thời điểm hiện tại, dù tương lai  
hay quá khứ, đều tạo nên khoảng cách thời  
gian. Sự thật là những kỷ niệm có thể phai  
74  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
mờ theo năm tháng, do đó chúng cũng có  
2.5. Cảm giác có ý nghĩa (sense of meaning)  
tính trừu tượng cao hơn khi so sánh với  
những sự kiện hiện tại (Liberman & cộng sự,  
2002). Điều này giải thích tại sao hoài niệm  
được đặc trưng bởi khoảng cách thời gian  
(Stephan & cộng sự, 2012). Do đó, tính xác  
thực (authenticity) của một vấn đề được xem  
là một trong những cơ chế quan trọng của  
cảm giác hoài niệm vì đây là một phẩm chất  
cần được kiểm chứng theo thời gian (Gilal &  
cộng sự, 2021; Heinberg & cộng sự, 2020).  
Khái niệm cảm giác có ý nghĩa trong  
cuộc sống đã được thảo luận từ thời Hy Lạp  
cổ đại, và dần trở nên hấp dẫn đối với giới  
học thuật. Trong lĩnh vực xã hội học, các  
nhà nghiên cứu lập luận rằng hành vi con  
người không được xác định bởi một cảm  
giác có ý nghĩa khách quan. Thay vào đó,  
nó phát sinh từ cảm giác có ý nghĩa chủ  
quan, được khơi dậy trong bản thân một  
người (Krause, 2009). Frankl (1985) cho  
rằng cảm giác có ý nghĩa đóng một vai trò  
cơ bản trong sự tồn tại của con người. Do  
đó, khái niệm này được nghiên cứu rộng rãi  
ở các lĩnh vực tâm lý học xã hội và khoa  
học xã hội và hành vi để giải thích sự phát  
triển của con người (Krause, 2009; Maslow,  
2013; Park, 2010; Reker & Wong, 1988;  
Routledge & cộng sự, 2011). Nghiên cứu đi  
trước đã cho thấy cảm giác có ý nghĩa cũng  
có liên quan đến sự hoài niệm (Zhang &  
cộng sự, 2021).  
Ngoài ra, con người bị giới hạn trong việc  
xử lý thông tin cụ thể của các đối tượng hoặc  
sự việc khi có sự cách biệt lớn về mặt địa lý,  
vì nó khiến họ không thể bao quát được  
thông tin. Nó thể hiện khía cạnh khoảng cách  
không gian trong khoảng cách tâm lý. Cụ thể,  
Liberman và Förster (2009) diễn giải rằng  
một người hiểu biết về một sự việc sâu sắc  
hơn nếu chúng diễn ra tại nơi người đó sinh  
sống thay vì ở một địa phương khác. Vậy nên  
khi yếu tố hoài niệm được đinh nghĩa là “nỗi  
nhớ nhà” (Heinberg & cộng sự, 2020) vì một  
người phải xa cách với quê hương của họ,  
khoảng cách không gian của một sự vật, hiện  
tượng được đại diện bởi tính biểu tượng địa  
phương (local iconness) của nó.  
3. Xây dựng mô hình lý thuyết về tác động  
kép của quảng cáo hoài niệm trong CSM  
Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xây  
dựng một mô hình lý thuyết để thể hiện và  
giải thích tác động kép của quảng cáo hoài  
niệm lên giá trị thương hiệu của doanh  
nghiệp và hành vi xã hội tốt đẹp của người  
tiêu dùng trong lĩnh vực CSM. Mô hình này  
được xây dựng bằng cách tích hợp: (1) mô  
hình nghiên cứu đi trước về tác động đơn lẻ  
của sự hoài niệm đối với giá trị thương hiệu  
trong lĩnh vực marketing thương mại, và (2)  
mô hình nghiên cứu đi trước về tác động đơn  
lẻ của sự hoài niệm đối với hành vi xã hội  
trong lĩnh vực marketing xã hội.  
Cuối cùng, khoảng cách xã hội phản ánh  
sự tương đồng giữa các cá nhân theo kiểu so  
sánh “bản thân mình với người khác, người  
trong nhóm với người ngoài nhóm, người  
cùng vai với người khác vai” (Trope & cộng  
sự, 2003, tr. 417). Nhiều nghiên cứu đã cho  
thấy con người thường có xu hướng cảm  
thông đối với những người tương đồng với  
mình (Berscheid, 1985). Điều này dẫn đến sự  
kết nối cảm xúc mạnh mẽ trong các mối quan  
hệ (Andersen & cộng sự, 1998). Do đó, tính  
gắn kết tình cảm này (emotional attachment)  
có thể đại diện cho khoảng cách xã hội trong  
CLT. Nó phù hợp để xem xét tác động của  
cảm giác hoài niệm vì về bản chất sự hoài  
niệm thể hiện cảm xúc mạnh mẽ về những sự  
kiện và con người nào đó trong quá khứ.  
Cụ thể, trong lĩnh vực marketing thương  
mại, mô hình lý thuyết dựa trên CLT được sử  
dụng để giải thích cách thức định vị thương  
hiệu hoài niệm ảnh hưởng đến giá trị thương  
hiệu thông qua cơ chế tác động trung gian  
của ba biến: Tính gắn kết cảm xúc thương  
75  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
hiệu (brand emotional attachment), Tính biểu  
Không những vậy, tính gắn kết cảm xúc  
còn đòi hỏi những trải nghiệm cá nhân của  
khách hàng trong suốt quá trình tương tác với  
thương hiệu trong quá khứ (Belk, 1988), và  
mối quan hệ hai chiều này sẽ củng cố sự yêu  
thích thương hiệu của khách hàng (Thomson  
& cộng sự, 2005). Từ đó, sự gắn kết cảm xúc  
với một thương hiệu sẽ sâu sắc, khiến thương  
hiệu trở nên khác biệt (Keller, 1993), và dẫn  
đến nâng cao giá trị tài sản thương hiệu  
(Dwivedi & cộng sự, 2019) thông qua sự yêu  
thích và lòng trung thành với thương hiệu đó.  
Vậy nên:  
tượng địa phương của thương hiệu (brand  
local iconness), và Tính xác thực thương hiệu  
(brand authenticity). Các nghiên cứu đi trước  
đã kiểm định và xác nhận những mối quan hệ  
này là có ý nghĩa trong bối cảnh ngành hàng  
tiêu dùng nhanh (Gilal & cộng sự, 2021;  
Heinberg & cộng sự, 2020).  
Trong lĩnh vực marketing xã hội, một số  
nghiên cứu đã phát triển và kiểm định  
thành công mô hình nghiên cứu về ảnh  
hưởng của sự hoài niệm đến hành vi thân  
thiện môi trường thông qua cơ chế tác động  
trung gian của biến cảm giác có ý nghĩa  
(Zhang & cộng sự, 2021).  
P1b: Tính gắn kết cảm xúc thương hiệu có  
tác động tích cực đến giá trị thương hiệu.  
Bằng cách tích hợp các mô hình đi trước  
nêu trên, các phần tiếp theo trình bày các lập  
luận để phát triển các đề xuất (proposition)  
cho mô hình nghiên cứu về tác động kép của  
sự hoài niệm trong lĩnh vực CSM.  
Thêm vào đó, tính gắn kết cảm xúc  
thương hiệu có thể làm nổi bật ý thức về sự  
tương đồng của người tiêu dùng với thương  
hiệu (Choi & cộng sự, 2013). Nghiên cứu  
cho thấy một trong những tiền đề cho sự kết  
nối và gắn bó của người tiêu dùng với một  
thương hiệu là sự theo đuổi những giá trị  
hoặc trách nhiệm của thương hiệu đối với xã  
hội (Vlachos & cộng sự, 2012). Chẳng hạn,  
Kyle (2004) đã chứng minh thông điệp môi  
trường là nhân tố chính tạo nên thiện cảm và  
kết nối cảm xúc giữa người tiêu dùng với  
một thương hiệu. Hơn nữa, sự gắn bó tình  
cảm với một thương hiệu có các chính sách  
ủng hộ môi trường cũng ảnh hưởng đáng kể  
đến ý định về việc tiêu dùng xanh của khách  
hàng trong tương lai (Kim & cộng sự, 2013).  
Do đó, chúng tôi đề xuất:  
3.1. Cơ chế tác động theo Tính gắn kết cảm  
xúc thương hiệu (brand emotional  
attachment)  
Tính gắn kết cảm xúc thương thiệu được  
Thomson và cộng sự (2005) định nghĩa là  
những cảm xúc tích cực đã hình thành mạnh  
mẽ trong quá trình khách hàng kết nối với  
thương hiệu. Đây cũng là một đặc điểm của  
thương hiệu đại diện cho khoảng cách xã hội  
theo CLT. Có nghiên cứu chỉ ra rằng sự kết  
nối giữa thương hiệu và bản thân một khách  
hàng càng trở nên sâu sắc khi thương hiệu có  
thể làm sống dậy được những ký ức quý giá  
của khách hàng đó (Ball & Tasaki, 1992).  
Một số nghiên cứu lập luận rằng mục đích  
cuối cùng của những doanh nghiệp định vị  
thương hiệu theo sự hoài cổ là cảm xúc gắn  
kết với thương hiệu trong tâm trí của khách  
hàng (Heinberg & cộng sự, 2020). Vậy nên:  
P1c: Tính gắn kết cảm xúc thương hiệu có  
tác động tích cực đến hành vi xã hội tốt đẹp  
trong CSM.  
3.2. Cơ chế tác động theo Tính biểu tượng  
địa phương của thương hiệu (brand local  
iconness)  
P1a: Sự hoài niệm được khơi gợi từ quảng  
cáo có tác động tích cực đến tính gắn kết  
cảm xúc thương hiệu.  
Dựa trên CLT, tính biểu tượng địa  
phương của thương hiệu đại diện cho khoảng  
cách tâm lý về mặt không gian. Từ khía cạnh  
này, cảm giác hoài niệm được định nghĩa là  
76  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
trạng thái tâm lý của một người khi xa quê  
hội (social identity), một nghiên cứu tâm lý ở  
Indonesia đã chỉ ra rằng bản sắc xã hội  
(social identity) và cảm xúc tập thể  
(collective emotion) của một người có thể  
thúc đẩy hành vi xã hội tích cực như hành vi  
giúp đỡ nhóm dân tộc thiểu số (Mashuri &  
cộng sự, 2014). Trong một nghiên cứu khác  
ở Thụy Điển, Esaiasson và Sohlberg (2020)  
khẳng định rằng bản sắc địa phương (local  
identity), một khía cạnh trong bản sắc xã hội,  
cũng thể hiện chức năng tương tự. Vậy nên,  
chúng tôi đề xuất:  
hương. Do đó, khi cảm nhận được tính biểu  
tượng về nơi họ đang sinh sống ở một thương  
hiệu, người tiêu dùng có thể nhanh chóng  
chìm vào những hồi tưởng; và họ cũng dễ  
dàng liên tưởng về những giá trị biểu tượng  
địa phương cho xuất xứ của nhãn hàng đó  
(Heinberg & cộng sự, 2020). Vậy nên:  
P2a: Sự hoài niệm được khơi gợi từ quảng  
cáo có tác động tích cực đến tính biểu tượng  
địa phương của thương hiệu.  
Tính biểu tượng địa phương của thương  
hiệu là dấu hiệu của một kết nối sâu sắc giữa  
thương hiệu với bản sắc địa phương hay bản  
sắc quốc gia (local/national identity), có thể  
giúp bảo vệ thương hiệu khỏi sự tẩy chay của  
khách hàng, và khiến khách hàng nội địa yêu  
thích thương hiệu (Ger, 1999). Khi khách  
hàng cảm nhận được dấu ấn văn hoá xứ sở ở  
một thương hiệu, cộng hưởng với nhận thức  
sẵn có của họ về bản sắc địa phương, họ dễ  
dàng có phản ứng hành vi tích cực đối với  
thương hiệu đó (Ger, 1999). Tương tự, theo  
nhận định của Samli (1995), văn hóa địa  
phương là một trong những yếu tố ảnh hưởng  
trực tiếp đến hành vi người tiêu dùng. Khi  
tính biểu tượng địa phương trong thương  
hiệu càng rõ nét, khách hàng càng phản ứng  
tích cực đối với thương hiệu. Điều này có  
nghĩa là tính biểu tượng địa phương của  
thương hiệu có thể tạo nên thái độ tốt ở  
người tiêu dùng và khiến họ yêu thích  
thương hiệu nhiều hơn (He & Wang, 2017),  
từ đó kích thích việc mua hàng và tiêu thụ  
sản phẩm. Do đó, chúng tôi đưa ra đề xuất:  
P2c: Tính biểu tượng địa phương của  
thương hiệu có tác động tích cực đến hành vi  
xã hội tốt đẹp trong CSM  
3.3. Cơ chế tác động theo Tính xác thực  
thương hiệu (brand authenticity)  
Khoảng cách tâm lý về mặt thời gian  
được phản ánh thông qua tính xác thực của  
thương hiệu (Heinberg & cộng sự, 2020).  
Dưới góc độ đánh giá con người, tính xác  
thực/chân thực hiện hữu khi một người hành  
xử chân thành, sống đúng với bản ngã của họ  
dù phải đối mặt với nghịch cảnh (Fritz &  
cộng sự, 2017). Dưới góc độ kinh doanh, tính  
xác thực của thương hiệu là sự kiến tạo nên  
một bản sắc độc đáo, chân chính của một  
nhãn hàng - thứ thường bắt nguồn từ hình  
ảnh thương hiệu trong quá khứ (Brown &  
cộng sự, 2003). Mặt khác, Leigh (2006) cho  
rằng một thương hiệu mang hình ảnh hoài  
niệm có thể được khách hàng cảm nhận là  
một thương hiệu uy tín và chân thực. Do đó:  
P3a: Sự hoài niệm được khơi gợi từ quảng  
cáo có tác động tích cực đến tính xác thực  
thương hiệu.  
P2b: Tính biểu tượng địa phương của  
thương hiệu có tác động tích cực đến giá  
trị thương hiệu.  
Tính xác thực được coi là phẩm chất quý  
giá của một thương hiệu (Beverland, 2005)  
bởi lẽ đặc điểm này đóng vai trò như bằng  
chứng về chất lượng của thương hiệu. Nhiều  
học giả trong lĩnh vực thương hiệu đã khẳng  
định các thương hiệu “đích thực” luôn mang  
đến cho khách hàng những trải nghiệm “chân  
Bàn về mối quan hệ giữa tính biểu tượng  
địa phương của thương hiệu và hành vi xã  
hội, đã có một số bằng chứng nghiên cứu ngụ  
ý hay gián tiếp ủng hộ mối quan hệ này.  
Chẳng hạn, dựa trên lý thuyết về bản sắc xã  
77  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thực” bằng sản phẩm “hàng hiệu” (Fritz &  
tính xã hội) trong cuộc đời mỗi người và dần  
khiến họ cảm thấy mình cần trở nên có ý  
nghĩa hơn. Vì vậy:  
cộng sự, 2017). Do đó, nó được xem như một  
yếu tố góp phần tạo nên hình ảnh thương hiệu  
và chất lượng cảm nhận của sản phẩm, điều  
tạo nên giá trị thương hiệu (Beverland, 2005).  
Trong thực tiễn, với vấn nạn sao chép, làm  
nhái hàng hoá hay thương hiệu tràn lan, khách  
hàng có xu hướng tìm kiếm tính xác thực của  
thương hiệu. Quá trình này ảnh hưởng đến  
cách khách hàng sẽ phản ứng với thương hiệu  
sau đó, có thể là yêu thích, tin tưởng và tiến  
hành mua sắm hoặc cũng có thể hoàn toàn  
ngược lại (Alhouti, 2016). Vì vậy:  
P4a: Sự hoài niệm được khơi gợi từ quảng  
cáo có tác động tích cực lên cảm giác có ý  
nghĩa.  
Xét về khía cạnh thương mại, với chủ  
trương tạo ra những thay đổi hành vi tích cực  
cho cộng đồng, những chiến dịch CSM tạo  
cảm giác có ý nghĩa sẽ trở nên đồng điệu với  
xu hướng hành xử có ích cho cuộc đời của  
con người. Sự đồng điệu/tương hợp này giữa  
người dùng và thương hiệu (self-brand  
congruity) có thể khiến hình ảnh hay sự liên  
tưởng thương hiệu trở nên tích cực hơn, tạo  
lập thái độ thuận lợi và tăng sự ưu ái của  
khách hàng đối với thương hiệu (Hooper,  
2011; Lee & Lee, 2015), nhờ đó tăng lợi ích  
kinh tế cho doanh nghiệp. Vì vậy:  
P3b: Tính xác thực thương hiệu có tác động  
tích cực đến giá trị thương hiệu.  
Để được coi là một nhãn hiệu chân chính  
và có uy tín, các thương hiệu/doanh nghiệp  
thường định hướng thực hiện trách nhiệm xã  
hội (CSR) và cố gắng thể hiện điều đó thông  
qua việc cam kết giải quyết các vấn đề xã hội  
và môi trường. Tương tự như các bằng chứng  
trong CSR (Romani, 2014; Mantovani,  
2017), chúng tôi cho rằng một thương hiệu  
có thể khuyến khích và thúc đẩy các hành vi  
tốt đẹp của người tiêu dùng thông qua những  
cảm nhận chân thực mà một thương hiệu tạo  
ra cho khách hàng trong các chiến dịch CSM.  
Do đó, chúng tôi cho rằng:  
P4b: Cảm giác có ý nghĩa có tác động tích  
cực đến giá trị thương hiệu trong CSM.  
Dưới góc độ tâm lý học tích cực, cảm giác  
có ý nghĩa có khả năng ngăn cản những hành  
động vô nghĩa và khuyến khích những hành  
động có ý nghĩa. Các nghiên cứu trước đây  
cho rằng cảm giác có ý nghĩa hạn chế việc  
hút thuốc (Thege & cộng sự, 2009), hay thúc  
đẩy hành vi tái chế (Zhang & cộng sự, 2021).  
Bởi vì con người luôn muốn chứng minh  
mình đã sống một đời có ích (Greenberg,  
2004), vậy nên ai cũng muốn hành xử một  
cách có ý nghĩa. Đó có thể là sự hưởng ứng  
của khách hàng đối với lời kêu gọi hành  
động vì môi trường, xã hội trong các chiến  
dịch CSM. Vậy nên:  
P3c: Tính xác thực thương hiệu có tác  
động tích cực đến hành vi xã hội tốt đẹp  
trong CSM.  
3.4. Cơ chế tác động theo Cảm giác có ý  
nghĩa (sense of meaning)  
Cảm giác có ý nghĩa tồn tại khi một người  
sống có mục đích và có ý nghĩa (Reker &  
Wong, 1988). Theo nhiều nghiên cứu, cảm  
giác này và sự hoài niệm có liên quan với  
nhau. Theo đó, sự hoài niệm được xem là  
“cảm giác có ý nghĩa được gợi ra khi một  
người hồi tưởng về những trải nghiệm quá  
khứ quý giá và ý nghĩa” (Zhang & cộng sự,  
2021, tr. 3). Cảm giác hoài niệm thường gắn  
liền với sự kết nối giữa người với người (hay  
P4c: Cảm giác có ý nghĩa có tác động tích  
cực đến hành vi xã hội tốt đẹp trong CSM.  
3.5. Mô hình nghiên cứu  
Từ việc lập luận và phát triển các đề xuất  
nêu trên, chúng tôi xây dựng một mô hình  
nghiên cứu để giải thích làm thế nào mà  
những quảng cáo mang tính hoài niệm trong  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
CSM có thể thành công trong việc vừa nâng  
là những biến kết quả trong mô hình. Các  
biến trung gian thể hiện cơ chế giải thích mối  
quan hệ trên lần lượt bao gồm: tính gắn kết  
cảm xúc với thương hiệu (brand emotional  
attachment), tính biểu tượng địa phương của  
thương hiệu (brand local iconness), tính xác  
thực thương hiệu (brand authenticity), và  
cảm giác có ý nghĩa (sense of meaning).  
cao giá trị thương hiệu và vừa thúc đẩy,  
khuyến khích các hành vi xã hội tốt đẹp (xem  
Hình 1). Cụ thể, chúng tôi xác định cảm giác  
hoài niệm được khơi gợi từ quảng cáo (ad-  
evoked nostalgia) là biến nguyên nhân; trong  
khi đó, giá trị thương hiệu (brand equity) và  
hành vi xã hội tốt đẹp (pro-social behavior)  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
4. Thảo luận và hàm ý  
cơ chế ảnh hưởng hành vi đã được nghiên  
cứu trong lĩnh vực marketing xã hội (Zhang  
& cộng sự, 2021). Mô hình lý thuyết của  
chúng tôi cho rằng nó cũng có thể thúc đẩy  
các hành vi mang tính thương mại, như khi  
khách hàng muốn tiêu dùng một cách có ý  
nghĩa hơn. Chúng tôi tin rằng đây là một cơ  
chế đầy tiềm năng và hứa hẹn để gia tăng lợi  
ích kinh tế cho các doanh nghiệp đang cố  
gắng theo đuổi trách nhiệm xã hội. Ngoài ra,  
việc ứng dụng lý thuyết mức độ tri nhận với  
ba khía cạnh khoảng cách tâm lý để giải  
thích hành vi xã hội tích cực cũng bổ sung  
thêm các cơ chế tác động mới cho những nhà  
nghiên cứu marketing xã hội nhằm tìm hiểu  
những hành vi có ích cho cộng đồng một  
cách đầy đủ và sâu sắc hơn.  
4.1. Thảo luận mô hình nghiên cứu  
Mô hình mà chúng tôi đề xuất sẽ tạo nền  
tảng ban đầu cho các nghiên cứu trong lĩnh  
vực CSM có liên quan đến yếu tố hoài niệm.  
Dựa trên khung lý thuyết mức độ tri nhận  
(CLT), khái niệm cảm giác có ý nghĩa (sense  
of meaning) và các nghiên cứu đi trước,  
chúng tôi đã đề xuất bốn cơ chế để giải thích  
sự hình thành tác động kép của yếu tố hoài  
niệm trong quảng cáo lên giá trị thương hiệu  
và hành vi xã hội tốt đẹp trong CSM. Đây là  
một trong những nghiên cứu tiên phong tìm  
hiểu về tác động kép của yếu tố hoài niệm.  
Bên cạnh đó, mô hình lý thuyết trong nghiên  
cứu này đã mở rộng các mô hình trước đây  
khi đề xuất thêm mối quan hệ giữa cảm giác  
có ý nghĩa và giá trị thương hiệu, và mối  
quan hệ giữa các khái niệm liên quan đến  
khoảng cách tâm lý (như tính gắn kết cảm  
xúc với thương hiệu, tính biểu tượng địa  
phương của thương hiệu và tính xác thực  
thương hiệu) với hành vi xã hội tốt đẹp trong  
bối cảnh CSM. Cảm giác có ý nghĩa là một  
Về mặt thực tiễn, mô hình nghiên cứu này  
đưa ra những đề xuất hữu ích cho các doanh  
nghiệp kinh doanh vì lợi nhuận. Với xu hướng  
thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh  
nghiệp ngày càng phổ biến, các nhà quản lý  
có thể sử dụng các chiến dịch CSM để vừa tìm  
kiếm lợi ích kinh tế, vừa đóng góp cho xã hội  
79  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
một cách bền vững. Ngoài ra, mô hình này  
động kinh doanh. Các nghiên cứu tiếp theo  
có thể bắt đầu với các doanh nghiệp kinh  
doanh ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG)  
như Unilever hay P&G vì đây là những đối  
tượng thường thực hiện CSR, đồng thời họ  
cũng hay sử dụng marketing hoài niệm trong  
thực thi chiến lược marketing (Heinberg &  
cộng sự, 2020).  
cũng có thể áp dụng cho các tổ chức phi chính  
phủ hay các cơ quan nhà nước đang hoạt động  
trong các lĩnh vực môi trường và phúc lợi xã  
hội. Cụ thể, các tổ chức này có thể xem xét  
việc thiết kế các chương trình, chiến dịch và  
thông điệp truyền thông vừa có ý nghĩa vừa có  
tính hoài niệm để thu hút, gắn kết và khuyến  
khích các hành vi mong muốn từ đối tượng  
công chúng mục tiêu  
Thứ ba, sự hoài niệm là một đặc điểm tâm  
lý cá nhân nên mức độ hoài niệm của mỗi  
người sẽ khác nhau. Đã có nhiều nghiên cứu  
đề cập đến khái niệm bản tính dễ hoài niệm  
(nostalgia proneness) của cá nhân - là “mức  
độ dễ cảm thấy hoài niệm vốn có trong mỗi  
người” (Reisenwitz & cộng sự, 2004, tr. 58).  
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng có  
mối liên kết mạnh mẽ giữa tuổi tác và cảm  
giác hoài niệm (Holbrook, 1993). Chou và  
Lien (2014) khẳng định sự cần thiết của việc  
sử dụng mẫu nghiên cứu có đặc điểm nhân  
khẩu học đa dạng khi nghiên cứu về hoài  
niệm nhằm gia tăng khả năng khái quát của  
kết quả nghiên cứu. Do đó, các nghiên cứu  
tương lai trong lĩnh vực này cần lấy mẫu đa  
dạng từ nhiều thế hệ và tầng lớp khác nhau.  
Các biến nhân khẩu học có thể đóng vai trò  
điều tiết cho quá trình tác động giữa các biến  
nghiên cứu trong mô hình.  
4.2. Hàm ý cho nghiên cứu tương lai  
Mô hình đề xuất trong nghiên cứu này  
cung cấp một khung lý thuyết về tác động  
kép của yếu tố hoài niệm trong marketing xã  
hội doanh nghiệp (CSM) - một lĩnh vực  
tương đối mới mẻ trong lý thuyết marketing.  
Từ mô hình lý thuyết này, một số gợi ý định  
hướng cho các nghiên cứu trong tương lai  
được đưa ra.  
Đầu tiên, nghiên cứu này chỉ mới dừng lại  
ở việc phát triển mô hình lý thuyết. Các đề  
xuất trong mô hình được đưa ra dựa trên cơ  
sở suy luận logic. Do đó, các nghiên cứu  
trong tương lai nên kiểm chứng mô hình này  
thông qua các nghiên cứu và dữ liệu thực  
chứng. Một phương pháp hiệu quả và phổ  
biến là thực hiện nghiên cứu định lượng dạng  
khảo sát. Các nhà nghiên cứu có thể dễ dàng  
tìm thấy thang đo lường cho các khái niệm  
trong mô hình đề xuất từ các nghiên cứu đi  
trước (ví dụ như (Heinberg & cộng sự, 2020;  
Zhang & cộng sự, 2021), và tùy chỉnh chúng  
để thiết kế bản câu hỏi cho khảo sát. Vì mô  
hình đề xuất có tính phức tạp (liên quan đến  
nhiều biến kết quả và nhiều mối quan hệ  
trung gian), việc kiểm định mô hình có thể  
thực hiện bằng cách sử dụng các phương  
pháp phân tích dữ liệu đa biến nâng cao như  
mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).  
Thứ tư, ngoài các biến nhân khẩu học,  
các đặc điểm về tâm lý như tính vị chủng  
(ethnocentrism) hay tính bản sắc địa  
phương/vùng miền (local identity) của một  
người cũng có thể can thiệp vào sự tác động  
của cảm giác hoài niệm mà quảng cáo gây  
ra lên giá trị thương hiệu và hành vi xã hội  
(He & Wang, 2017; Heinberg & cộng sự,  
2020), đặc biệt trong bối cảnh nghiên cứu  
tại các quốc gia châu Á như Việt Nam nơi  
đặc trưng bởi chủ nghĩa tập thể. Vậy nên,  
các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng mô  
hình nghiên cứu với các biến điều tiết hay  
biến kiểm soát như trên.  
Thứ hai, về bối cảnh/lĩnh vực nghiên cứu,  
nghiên cứu tác động kép của yếu tố hoài  
niệm trong CSM rất phù hợp cho các doanh  
nghiệp thường thực hành CSR trong hoạt  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
Cuối cùng, các nghiên cứu tương lai có  
có thể phân loại thành các hành vi liên quan  
đến sức khỏe, an toàn, bảo vệ môi trường và  
cộng đồng (Kotler & Lee, 2005). Thậm chí,  
các nhóm hành vi này lại có thể phân hóa  
thành các hành vi/hành động cụ thể hơn (ví  
dụ hành vi tự mang túi mua sắm cá nhân khi  
đi siêu thị, hành vi tiết kiệm điện hay hành vi  
tái chế trong nhóm hành vi bảo vệ môi  
trường). Sự khác biệt về ảnh hưởng của các  
loại hoài niệm lên các hành vi cụ thể khác  
nhau cũng là một hướng nghiên cứu đáng  
mong đợi.  
thể xem xét việc phân tách các loại cảm giác  
hoài niệm được khơi gợi từ quảng cáo và  
nghiên cứu các loại hành vi xã hội khác nhau  
khi thiết kế nghiên cứu. Cả hai khái niệm  
nghiên cứu này đều có tính khái quát và có  
thể phân nhỏ thành nhiều khái niệm nghiên  
cứu cụ thể hơn. Ví dụ như cảm giác hoài  
niệm có thể được phân thành sự hoài niệm cá  
nhân (personal nostalgia) và sự hoài niệm  
cộng đồng (collective nostalgia) (Holak &  
Havlena, 1998), trong khi các hành vi xã hội  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Aaker, D. A. (1996). Measuring Brand Equity across Products and Markets. California  
Management Review, 38(3), 102-120.  
Alhouti, S., Johnson, C. M., & Holloway, B. B. (2016). Corporate Social Responsibility  
Authenticity: Investigating its Antecedents and Outcomes. Journal of Business Research,  
69(3), 1242–1249.  
Andersen, S. M., Glassman, N. S., & Gold, D. A. (1998). Mental Representations of the Self,  
Significant Others, and Nonsignificant Others: Structure and Processing of Private and  
Public Aspects. Journal of Personality and Social Psychology, 75(4), 845-861.  
Andreasen, A. R. (2004). A Social Marketing Approach to Changing Mental Health Practices  
Directed at Youth and Adolescents. Health Marketing Quarterly, 21(4), 51–75.  
Ball, A. D., & Tasaki, L. H. (1992). The Role and Measurement of Attachment in Consumer  
Behavior. Journal of Consumer Psychology, 1(2), 155-172.  
Belk, R. W. (1988). Possessions and the Extended Self. Journal of Consumer Research, 15(2),  
139-168.  
Berscheid, E. (1985). Interpersonal Attraction. Handbook of social psychology, 2, 413–484.  
Beverland, M. B. (2005). Managing the Design Innovation-Brand Marketing Interface:  
Resolving the Tension between Artistic Creation and Commercial Imperatives*. Journal  
of Product Innovation Management, 22(2), 193–207.  
Brown, S., Kozinets, R. V., & Sherry Jr, J. F. (2003). Teaching Old Brands New Tricks: Retro  
Branding and the Revival of Brand Meaning. Journal of marketing, 67(3), 19–33.  
Choi, W. J., & Winterich, K. P. (2013). Can Brands Move in from the Outside? How Moral  
Identity Enhances Out-Group Brand Attitudes. Journal of Marketing, 77(2), 96–111.  
Chou, H.-Y., & Lien, N.-H. (2014). Old Songs Never Die: Advertising Effects of Evoking  
Nostalgia with Popular Songs. Journal of Current Issues & Research in Advertising,  
35(1), 29-49.  
81  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Du, S., Bhattacharya, C. B., & Sen, S. (2010). Maximizing Business Returns to Corporate  
Social Responsibility (CSR): The Role of CSR Communication. International Journal of  
Management Reviews, 12(1), 8–19.  
Dwivedi, A., Johnson, L. W., Wilkie, D. C., & Araujo-Gil, L. D. (2019). Consumer Emotional  
Brand Attachment with Social Media Brands and Social Media Brand Equity. European  
Journal of Marketing, 53(6), 1176-1204.  
Esaiasson, P., & Sohlberg, J. (2020). Caulking the Social Fabric: How National and Local  
Identities Promotes Pro-Social Attitudes in European Diverse and Disadvantaged  
Neighbourhoods. Program on Governance and Local Development Working Paper, (29).  
Escalas, J. E., & Bettman, J. R. (2005). Self‐Construal, Reference Groups, and Brand Meaning.  
Journal of Consumer Research, 32(3), 378–389.  
Frankl, V. E. (1985). Man’s Search for Meaning. New York: Simon and Schuster.  
Fritz, K., Schoenmueller, V., & Bruhn, M. (2017). Authenticity in Branding – Exploring  
Antecedents and Consequences of Brand Authenticity. European Journal of Marketing,  
51(2), 324–348.  
Ger, G. (1999). Localizing in the Global Village: Local Firms Competing in Global Markets.  
California Management Review, 41(4), 64–83.  
Gilal, R. G., Gilal, N. G., Gilal, F. G., & Gong, Z. (2021). The Role of Nostalgic Brand  
Positioning in Capturing Brand Equity: Theoretical Extension and Analysis. International  
Journal  
of  
Consumer  
Studies,  
00:1-21.  
Advance  
online  
publication.  
Gineikienė, J. (2013). Consumer Nostalgia Literature Review and an Alternative Measurement  
Perspective. Organizations and Markets in Emerging Economies, 4(2), 112–149.  
Greenberg, J., Koole, S. L., & Pyszczynski, T. A. (2004). Handbook of experimental existential  
psychology. Guilford Press.  
He, J., & Wang, C. L. (2017). How Global Brands Incorporating Local Cultural Elements  
Increase Consumer Purchase Likelihood: An Empirical Study in China. International  
Marketing Review, 34(4), 463–479.  
Heinberg, M., Katsikeas, C. S., Ozkaya, H. E., & Taube, M. (2020). How Nostalgic Brand  
Positioning Shapes Brand Equity: Differences between Emerging and Developed Markets.  
Journal of the Academy of Marketing Science, 48(5), 869–890.  
Holak, S. L., & Havlena, W. J. (1998). Feelings, Fantasies, and Memories: An Examination of  
the Emotional Components of Nostalgia. Journal of Business Research, 42(3), 217–226.  
Holbrook, M. B. (1993). Nostalgia and Consumption Preferences: Some Emerging Patterns of  
Consumer Tastes. Journal of Consumer research, 20(2), 245–256.  
Holbrook, M. B., & Schindler, R. M. (1991). Echoes of the Dear Departed Past: Some Work in  
Progress  
on  
Nostalgia.  
ACR  
North  
American  
Advances,  
NA-18.  
Hooper, S., Gazley, A., Tan, L. P., & Krisjanous, J. (2011). The Effect of Brand Personality  
and Congruity on Customer-Based Brand Equity and Loyalty of Personal Computer  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
Brands. Proceedings of the Academy of Marketing Conference 2011: Marketing Field  
Forever.  
Academy  
of  
Marketing  
Conference  
(44thꢀ:  
2011).  
congruity-on-customer-based-b  
Hussain, S. A., & Lapinski, M. K. (2017). Nostalgic Emotional Appeals for Smoking  
Prevention. Communication Research Reports, 34(1), 48–57.  
Inoue, Y., & Kent, A. (2014). A Conceptual Framework for Understanding the Effects of  
Corporate Social Marketing on Consumer Behavior. Journal of Business Ethics, 121(4),  
621–633.  
Keller, K. L. (1993). Conceptualizing, Measuring, and Managing Customer-Based Brand  
Equity. Journal of Marketing, 57(1), 1-22.  
Kim, Y. J., Njite, D., & Hancer, M. (2013). Anticipated Emotion in Consumers’ Intentions to  
Select Eco-Friendly Restaurants: Augmenting the Theory of Planned Behavior.  
International Journal of Hospitality Management, 34, 255–262.  
Kotler, P., & Lee, N. (2005). Best of Breed: When it Comes to Gaining a Market Edge While  
Supporting a Social Cause, “Corporate Social Marketing” Leads the Pack. Social  
Marketing Quarterly, 11(3–4), 91–103.  
Krause, N. (2009). Meaning in Life and Mortality. The Journals of Gerontology Series B:  
Psychological Sciences and Social Sciences, 64B(4), 517–527.  
Kyle, G. T., Mowen, A. J., & Tarrant, M. (2004). Linking Place Preferences with Place  
Meaning: An Examination of the Relationship between Place Motivation and Place  
Attachment. Journal of Environmental Psychology, 24(4), 439–454.  
Lee, J., & Lee, Y. (2015). The Interactions of CSR, Self-Congruity and Purchase Intention  
among Chinese Consumers. Australasian Marketing Journal (AMJ), 23(1), 19–26.  
Leigh, T. W. (2006). The Consumer Quest for Authenticity: The Multiplicity of Meanings  
within the MG Subculture of Consumption. Journal of the Academy of Marketing Science,  
34(4), 481–493.  
Li, Y. (2015). Nostalgia Promoting Pro-Social Behavior and Its Psychological Mechanism.  
Open Journal of Social Sciences, 03(10), 177–186.  
Liberman, N., & Förster, J. (2009). The Effect of Psychological Distance on Perceptual Level  
of Construal. Cognitive science, 33(7), 1330–1341.  
Liberman, N., Sagristano, M. D., & Trope, Y. (2002). The Effect of Temporal Distance on  
Level of Mental Construal. Journal of experimental social psychology, 38(6), 523–534.  
Mantovani, D., de Andrade, L. M., & Negrão, A. (2017). How Motivations for CSR and  
Consumer-Brand Social Distance Influence Consumers to Adopt Pro-Social Behavior.  
Journal of Retailing and Consumer Services, 36, 156–163.  
Mashuri, A., & Zaduqisti, E. (2014). National Identification and Collective Emotions as  
Predictors of Pro-Social Attitudes Toward Islamic Minority Groups in Indonesia.  
Europe’s Journal of Psychology, 10(2), 255-276.  
Maslow, A. H. (2013). Toward a Psychology of Being. New York: Simon and Schuster.  
83  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
McKenzie-Mohr, D. (2011). Fostering Sustainable Behavior: An Introduction to Community-  
Based Social Marketing (Third Edition). New Society Publishers.  
Park, C. L. (2010). Making Sense of the Meaning Literature: An Integrative Review of  
Meaning Making and Its Effects on Adjustment to Stressful Life Events. Psychological  
Bulletin, 136(2), 257–301.  
Penner., L. A., Dovidio., J. F., Piliavin., J. A., & Schroeder., D. A. (2005). Prosocial Behavior:  
Multilevel Perspectives. Annual Review of Psychology, 56(1), 365–392.  
Rana, S., Raut, S. K., Prashar, S., & Hamid, A. B. A. (2021). Promoting through Consumer  
Nostalgia: A Conceptual Framework and Future Research Agenda. Journal of Promotion  
Management, 27(2), 211–249.  
Reisenwitz, T. H., Iyer, R., & Cutler, B. (2004). Nostalgia Advertising and the Influence of  
Nostalgia Proneness. Marketing Management Journal, 14(2), 55-66.  
Reker, G. T., & Wong, P. T. (1988). Aging as an Individual Process: Toward a Theory of  
Personal Meaning. In JE Birren & VL Bengtson (Eds.), Emergent theories of aging, 214–  
246. New York: Springer Publishing Company.  
Romani, S., & Grappi, S. (2014). How Companies’ Good Deeds Encourage Consumers to  
Adopt Pro-Social Behavior. European Journal of Marketing, 48(5/6), 943–963.  
Routledge, C., Arndt, J., Wildschut, T., Sedikides, C., Hart, C. M., Juhl, J., Vingerhoets, A. J. J.  
M., & Schlotz, W. (2011). The Past Makes the Present Meaningful: Nostalgia as an  
Existential Resource. Journal of Personality and Social Psychology, 101(3), 638–652.  
Samli, A. C. (1995). International Consumer Behavior: Its Impact on Marketing Strategy  
Development. Greenwood Publishing Group.  
Stead, M., Gordon, R., Angus, K., & McDermott, L. (2007). A Systematic Review of Social  
Marketing Effectiveness. Health Education, 107(2), 126–191.  
Steenkamp, J.-B. E., & De Jong, M. G. (2010). A Global Investigation into the Constellation of  
Consumer Attitudes toward Global and Local Products. Journal of Marketing, 74(6), 18–  
40.  
Stephan, E., Sedikides, C., & Wildschut, T. (2012). Mental Travel into the Past: Differentiating  
Recollections of Nostalgic, Ordinary, and Positive Events: Nostalgic Mental Travel.  
European Journal of Social Psychology, 42(3), 290–298.  
Thaler, J., & Helmig, B. (2013). Theoretical Framework of Social Marketing Effectiveness:  
Drawing the Big Picture on its Functioning. Journal of Nonprofit & Public Sector  
Marketing, 25(3), 211–236.  
Thege, B. K., Bachner, Y. G., Martos, T., & Kushnir, T. (2009). Meaning in Life: Does it Play  
a Role in Smoking? Substance Use & Misuse, 44(11), 1566–1577.  
Thomson, M., MacInnis, D. J., & Whan Park, C. (2005). The Ties That Bind: Measuring the  
Strength of Consumers’ Emotional Attachments to Brands. Journal of Consumer  
Psychology, 15(1), 77–91.  
Trope, Y., & Liberman, N. (2010). Construal-Level Theory of Psychological Distance.  
Psychological review, 117(2), 440-463.  
84  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 9(03) - 2021  
Trope, Y., Liberman, N., Gilbert, D., Higgins, T., Kahneman, D., & Kruglanski, A. (2003).  
Temporal Construal. Psychological Review, 110(3), 403–421.  
Vlachos, P. A., & Vrechopoulos, A. P. (2012). Consumer–Retailer Love and Attachment:  
Antecedents and Personality Moderators. Journal of Retailing and Consumer Services,  
19(2), 218–228.  
Yoo, B., Donthu, N., & Lee, S. (2000). An Examination of Selected Marketing Mix Elements  
and Brand Equity. Journal of the Academy of Marketing Science, 28(2), 195–211.  
Zhang, X., Gong, X., & Jiang, J. (2021). Dump or Recycle? Nostalgia and Consumer Recycling  
Behavior. Journal of Business Research, 132, 594-603.  
85  
pdf 14 trang baolam 17380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động kép của quảng cáo hoài niệm trong marketing xã hội doanh nghiệp: Phát triển mô hình lý thuyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_kep_cua_quang_cao_hoai_niem_trong_marketing_xa_hoi.pdf