Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại viết về tình yêu, hôn nhân, gia đình

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0024  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 2, pp. 44-53  
VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG TRUYỆN NGẮN CÁC NHÀ VĂN NỮ  
VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VIẾT VỀ TÌNH YÊU, HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH  
Trần Thị Hồng Nhung  
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sài Gòn  
Tóm tắt. Với sự chủ động trong ý thức sáng tạo và quan niệm nghệ thuật thống nhất, viết  
về tình yêu, hôn nhân, gia đình, các cây bút truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại đã khẳng  
định mạnh mẽ quan điểm nam nữ bình quyền. Thông qua thế giới nghệ thuật được sáng tạo,  
những phương diện phong phú của vấn đề này đã được lật giở, xem xét bằng tiếng nói  
mang nhân vị giới đặc sắc. Bài viết tập trung làm rõ những biểu hiện của vấn đề bình đẳng  
giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại như là một trong những vấn đề  
xã hội – thẩm mĩ độc đáo.  
Từ khóa: giới nữ, bình đẳng giới, văn học Việt Nam đương đại, truyện ngắn nữ, tình yêu,  
hôn nhân, gia đình.  
1. Mở đầu  
Giới (gender) là khái niệm được sử dụng trong tương quan khu biệt với khái niệm giới tính,  
hướng tới xác định các điểm khác biệt giữa nam và nữ về mặt xã hội. Trong lịch sử phát triển  
của nhân loại đến thời hiện đại, câu chuyện bình đẳng giới, mà thực chất là giành lại quyền bình  
đẳng cho nữ giới luôn được đặt ra ở các cấp độ khác nhau, phát triển mạnh mẽ thành phong trào  
từ đầu thế kỉ XIX đến nay. Trong hầu hết các lĩnh vực của xã hội, nữ quyền luận hay chủ nghĩa  
nữ quyền đều được bàn đến cả ở phương diện lí luận và thực tiễn, mà văn học là một trong  
những địa hạt có những tiếng nói sâu sắc và quyết liệt.  
Trong công trình Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại, tác giả Trần  
Huyền Sâm đã phác họa lịch sử nghiên cứu nữ quyền ở Pháp, bao gồm làn sóng nữ quyền thứ  
nhất (khoảng từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XX), tập trung đòi quyền bình đẳng cho nữ giới  
về chính trị, xã hội và hôn nhân gia đình, trong đó về gia đình, “họ đòi quyền được tự do quyết  
định trong hôn nhân và quyền được li dị theo mong muốn” [1; 20]. Làn sóng nữ quyền thứ hai  
khoảng từ giữa thế kỉ XX và đặc biệt sôi nổi vào thập niên 60, 70 với các tên tuổi tiêu biểu như  
Sagan, Halimi, Fouque và đặc biệt là Simone de Beauvoir, trong đó vấn đề được quan tâm hàng  
đầu là các vấn đề cá nhân người phụ nữ: quyền thân thể, vấn đề tình dục, sinh sản, nạo thai.  
Theo đánh giá của Trần Huyền Sâm thì: “Làn sóng giải phóng nữ quyền thứ hai đã đánh dấu  
một sự kiện lớn trong lịch sử giải phóng nữ giới […]. Kể từ đây, địa vị phụ nữ, nhân vị đàn bà  
đã được chính thức thừa nhận bằng văn bản pháp lí trên một số lĩnh vực quan trọng của đời  
sống xã hội” [1; 34]. Đến làn sóng nữ quyền thứ ba (khoảng từ thập niên 1980 đến nay), phát  
triển các thành tựu của làn sóng thứ hai và mở rộng tranh đấu trong các vấn đề chống phân biệt  
chủng tộc, phân biệt đồng giới. Đặc biệt, theo Trần Huyền Sâm: “giai đoạn này hình thành khuynh  
Ngày nhận bài: 2/3/2021. Ngày sửa bài: 29/4/2021. Ngày nhận đăng: 10/5/2021.  
Tác giả liên hệ: Trần Thị Hồng Nhung. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
44  
Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại…  
hướng phê bình nữ quyền – một hiện tượng hấp thu rộng rãi lí thuyết hậu hiện đại. Mục đích của  
phê bình nữ quyền là giải cấu trúc những quan điểm cực đoan của các nhà triết học phân tâm,  
đặc biệt là chủ nghĩa tôn sùng dương vật” [1; 38].  
Như chúng tôi đã nói, trong các lí thuyết gia của nữ quyền luận, Simone de Beauvoir đóng  
vai trò quan trọng, là người đặt nền móng cho sự phát triển của phê bình nữ quyền trong địa hạt  
văn chương. Bà đã đối thoại với các triết gia Singmund Freud và Nietzsche để khẳng định,  
những bất bình đẳng về giới do toàn bộ nền văn minh tạo ra, hay nói cách khác: “những thuộc  
tính mà từ trước đến nay người ta thường quan niệm về phụ nữ không phải là cái vốn có thuộc  
bản chất của người phụ nữ, mà do người đàn ông áp đặt cho phụ nữ thông qua văn hóa, giáo  
dục, và ngay cả người phụ nữ cũng tin một cách sai lầm rằng mình vốn yếu kém so với đàn  
ông” [2; 17].  
Simone de Beauvoir khẳng định: “Si tình là thuộc tính của con người. Ham mê khoái lạc  
hay thất tình, cũng là thuộc tính chung của cả hai giới đàn ông và đàn bà. Sự phụ thuộc của đàn  
bà đối với đàn ông trong tình yêu/hôn nhân, thậm chí ham muốn thân xác là do hệ lụy về kinh tế  
và địa vị xã hội. Một người phụ nữ có thể “bứt ra” sự ràng buộc đó, nếu có một địa vị xã hội  
đồng đẳng với nam giới” [3; 59]. Về mặt văn học, Simone de Beauvoir đã chứng minh, người  
phụ nữ hoàn toàn có thể tự do cầm bút để thực hiện những đam mê sáng tạo của mình.  
Tiếp theo những đóng góp của Simone de Beauvoir, các nhà phê bình nữ quyền hậu cấu  
trúc mà hạt nhân ở Pháp đã thiết lập một hệ thống mĩ học tương đối hoàn chỉnh, góp phần nhận  
diện phẩm tính nữ trong sáng tạo nghệ thuật. Mặc dù các nhà phê bình nổi tiếng như Antoinette  
Fouque, Julia Kristeva, Hélène Cixous, Luce Irigaray,… có những cách tiếp cận khác nhau  
nhưng đều gặp nhau ở những nguyên tắc mĩ học tương đối thống nhất: 1) Về mặt đặc tính giới  
trong văn học, tất cả những gì gọi là tính nữ đều không phải là một sản phẩm sinh học cố định  
mà là sản phẩm tổng hòa, vừa mang tính tự nhiên vừa chịu sự tác động của môi trường văn hóa  
xã hội; 2) Về mặt diễn ngôn văn học, các nhà văn nữ luôn chủ trương dỡ bỏ hệ diễn ngôn/văn  
hóa nam quyền – một nhân tố trung tâm thống ngự trong văn bản ra khỏi lĩnh vực sáng tạo của  
nữ giới; 3) Về tiêu chí thẩm mĩ của văn học nữ, các nhà phê bình nữ quyền đã xác lập một  
khung mĩ học riêng nhằm vận dụng nghiên cứu, thẩm định các hiện tượng văn học nữ.  
Trên cơ sở những quan niệm về tính nữ và lối viết nữ trong văn học nữ của các nhà phê  
bình nữ quyền, chúng tôi đồng thuận với nhận định của tác giả Trần Huyền Sâm trong việc khái  
quát những đặc trưng cơ bản. Theo đó, về đề tài các nhà văn nữ thường khai thác những vấn đề  
gắn với cuộc sống đời thường: “Thế giới mà họ miêu tả chủ yếu xoay quanh nhưng vấn đề  
thường nhật như gia đình, hôn nhân và các mối quan hệ xung quanh. Trong lúc đó, nam giới  
thường hướng ra thế giới khách quan như chủ đề chiến tranh và lịch sử” [1; 139]. Về mặt nhân  
vật, các nhà văn nữ thường “lấy nhân vật nữ làm điểm tựa, toàn bộ thế giới nghệ thuật của văn  
bản đều xoay quanh trục chính này. Nhân vật nữ là trung tâm phân tích của văn bản. Đó là khởi  
nguyên của phát ngôn và là nơi diễn trình mọi vấn đề đặt ra của tác giả” [1; 140]. Về phương  
diện trần thuật của văn xuôi nữ, “phần lớn đó là dạng trần thuật chủ quan gắn với tiêu cự hóa  
nội tại. Người kể chuyện thường là sự phân thân của tác giả và trùng khít với nhân vật trung tâm  
của văn bản truyện kể” [1; 140]. Như vậy, rõ ràng, đặc trưng tính nữ được thể hiện không chỉ  
trong tư duy nghệ thuật mà cả trong hình thức biểu đạt. Đây là cơ sở để chúng tôi tiếp tục phân  
tích trong phần nội dung của bài viết.  
Bên cạnh nữ quyền luận, trên thế giới đã xuất hiện những lí thuyết trực tiếp hoặc gián tiếp  
bàn đến vấn đề tình yêu – hôn nhân – gia đình trong địa hạt văn chương. Tiêu biểu có thể kể đến  
Phân tâm học và Phê bình sinh thái. Phân tâm học là lí thuyết có nguồn gốc từ y học, do  
S.Freud, một bác sĩ người Áo gốc Do Thái sáng lập. Học thuyết này không chỉ được áp dụng  
trong lĩnh vực y học mà còn được vận dụng trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội trong  
đó có lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Với sự đóng góp của những trụ cột sau Freud như G.Jung,  
45  
Trần Thị Hồng Nhung  
R.Assagioli,... đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng về thế giới phức tạp của tâm  
hồn con người, lí giải những vấn đề căn cốt của đời sống hôn nhân, gia đình như tình yêu và  
tính dục. Theo đó, chỉ có tình yêu với quyền năng tuyệt đối của nó là cái hạnh phúc lớn lao nhất  
mà con người có thể đạt đến; chỉ nhờ tình yêu con người mới biết thật ra mình còn hơn là mình,  
mình còn là một với toàn thể, chính vì vậy là khát vọng vô tận mà con người luôn hướng tới  
trong cuộc truy tìm bản thể bất tận trong thế giới. Và tình yêu chính là nền tảng của hôn nhân,  
gia đình bền vững, là sự khẳng định giá trị tuyệt đối của con người. Tất nhiên, sự bao quát tư  
tưởng của phân tâm học là rất rộng lớn và phức tạp, nhưng những vấn đề cốt lõi với việc mở ra  
thế giới tinh thần đầy bí ẩn, những trạng huống thăng hoa của tính dục, thế giới biểu tượng  
mang tính cổ mẫu... là cơ sở quan trọng khi bàn đến vấn đề tình yêu, hôn nhân, gia đình. Bên  
cạnh phân tâm học, phê bình sinh thái cũng là một lí thuyết cũng đặt sự quan tâm đến vấn đề  
tình yêu – hôn nhân – gia đình. Theo quan điểm của các nhà phê bình sinh thái, con người  
không thể tách rời sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn (tinh thần) đồng thời khẳng định vai  
trò nền tảng của thiên tính nữ trong việc bảo đảm cân bằng sinh thái. Đó là lí do các nhà phê  
bình sinh thái luôn đặc biệt quan tâm đến các trạng huống của nữ giới trong câu chuyện tình yêu  
– hôn nhân – gia đình.  
Ở trong nước, có một số bài viết về nữ quyền luận như: Thiên tính nữ và góc nhìn giới tính  
trong văn chương Việt Nam đương đại của Nguyễn Thị Năm Hoàng, in trong Tạp chí Khoa học  
và Công nghệ Việt Nam [3; 50-55]; Văn xuôi các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 nhìn từ diễn ngôn  
giới của Thái Phan Vàng Anh, Tham luận Hội thảo khoa học quốc gia Thế hệ nhà văn sau 1975  
do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức (4/2016) [4]; Tinh thần nữ quyền trong truyện ngắn  
của Trần Thùy Mai của Lê Thị Thanh Xuân in trong Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế [5].  
Trong bối cảnh lịch sử, văn hóa mới, truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại có những đột phá  
trong khám phá và biểu hiện vấn đề bình đẳng giới. Câu chuyện bình đẳng giới được truyền tải  
thông qua thế giới sáng tạo nghệ thuật độc đáo, ở các phương diện và cấp độ phức tạp. Bài viết  
tập trung làm rõ những biểu hiện của vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ  
Việt Nam đương đại như là một trong những vấn đề xã hội – thẩm mĩ độc đáo.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Nhìn chung về vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt  
Nam đương đại viết về tình yêu, hôn nhân, gia đình  
Trong bối cảnh tư tưởng Nho giáo thống trị suốt thời kì phong kiến, ở Việt Nam, vai trò  
của người đàn ông được các thiết chế xã hội ủng hộ tuyệt đối, trở thành tâm lí phổ biến, phủ  
trùm lên các diễn ngôn văn học. Điều này được thể hiện rõ ràng nhất trong vấn đề tình yêu, hôn  
nhân, gia đình. Người phụ nữ hoàn toàn bị cương tỏa, vùi dập và tước đoạt tiếng nói trong vấn  
đề hạnh phúc lứa đôi. Những vượt thoát ở trong văn học viết và văn học dân gian thời kì phong  
kiến chỉ là những tiếng nói cảm thương lẻ tẻ, ít ỏi và đứt đoạn. Bước sang đầu thế kỉ XX, trong  
buổi suy tàn của tư tưởng phong kiến, cùng với khát vọng giải phóng con người khỏi ràng buộc  
lễ giáo thủ cựu, người phụ nữ đã được quan tâm, cổ súy cho những khát vọng bình quyền trong  
tình yêu, hôn nhân, gia đình. Tuy nhiên, những manh nha buổi đầu ấy đã nhanh chóng chuyển  
hướng cùng bước ngoặt diễn ngôn của văn học trong thời kì cả dân tộc tiến hành các cuộc đấu  
tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Câu chuyện tình yêu, hôn nhân, gia đình hòa  
chung vào câu chuyện cộng đồng, dân tộc của thể tài sử thi trong văn học. Sau năm 1975, đặc  
biệt là từ Đổi mới đến nay, trong dòng vận động chuyển đổi về thể tài thế sự, đời tư ở vào bối  
cảnh lịch sử văn học đặc biệt như chúng tôi đã phân tích, tiếng nói đấu tranh cho bình đẳng của  
giới nữ trong tình yêu, hôn nhân, gia đình đã trở thành vấn đề có ý nghĩa xã hội, thẩm mĩ to lớn.  
Các cây bút truyện ngắn nữ đã lĩnh sứ mệnh ấy một cách chủ động, quyết liệt và đầy say mê.  
46  
Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại…  
Đi sâu vào vấn đề tình yêu, hôn nhân, gia đình, vấn đề vốn dĩ chứa đựng những tiềm năng  
tư tưởng – thẩm mĩ to lớn, các cây bút truyện ngắn nữ đã dứt khoát thể hiện sự tự ý thức sâu sắc,  
nhất quán về vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ. Nhà văn Y Ban  
đã từng nói: “Xã hội nào thì hoàn cảnh đấy. Và thân phận của người phụ nữ thể hiện rõ nhất  
hoàn cảnh xã hội mà chị ta đang sống. Trong xã hội phong kiến, trong chiến tranh, thế giới quan  
của người phụ nữ chỉ bó gọn trong một gia đình, một cái làng nhỏ, phải đối diện với những lề  
thói, hủ tục, sự soi mói của người đời nên rất khó để người phụ nữ thay đổi cuộc sống của mình.  
Nhưng trong xã hội hiện đại đã khác đi nhiều. Người phụ nữ độc lập, tự chủ hơn. Họ có xu  
hướng sống cho bản thân mình, chiều chuộng cảm xúc của chính mình. Khát vọng hạnh phúc  
của người phụ nữ thể hiện ở khát vọng chinh phục người đàn ông. Và chinh phục người khác  
giới cũng chính là để chinh phục chính mình” [4]. Quan niệm về giới nữ và vấn đề bình đẳng  
giới trong sáng tạo của các cây bút truyện ngắn Việt Nam đương đại có thể có những khác biệt  
nhất định, nhưng điểm chung là họ đều chủ động thực hiện điều đó bằng chính thế giới nghệ  
thuật của mình. Trên cơ sở ý thức sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật, các tác giả truyện ngắn  
nữ đã soát xét hàng loạt vấn đề, mạnh mẽ đấu tranh cho quyền bình đẳng của nữ giới trong tình  
yêu, trong hôn nhân và gia đình. Trực diện hay gián tiếp, truyện ngắn nữ đương đại đã đi sâu  
khám phá, khắc họa mọi cung bậc cảm xúc của những người phụ nữ. Khi yêu, họ sẵn sàng hiến  
dâng tất cả cho người mình yêu, tôn thờ tình yêu của mình, đặt trên cả cuộc sống và tính mạng  
của mình. Nhưng chính những người phụ nữ ấy cũng mạnh mẽ, quyết liệt để bảo vệ quyền sống,  
quyền tự do, quyền được hạnh phúc của mình. Trong truyện ngắn Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Y Ban  
đã viết: “Đất nước anh hùng, ngoại xâm, thiên tai liên miên nên mẹ quan tâm đến những anh  
hùng thi sĩ. Mẹ đã không chú ý đến những cô gái vốn đã dịu dàng nhu mì không mấy đòi hỏi  
mẹ. Nhưng bây giờ thì con đòi hỏi. Mẹ ơi, mẹ hãy quan tâm đến chúng con, đến nỗi đau của cô  
gái, những bà mẹ” [6; 30]. Hàng loạt những vấn đề đã hằn sâu trong quan niệm văn hóa, xã hội  
mang tính áp chế, ràng buộc đối với người phụ nữ đã được lật giở, cật vấn trong truyện ngắn nữ  
đương đại khi viết về tình yêu, hôn nhân, gia đình. Trong thế giới nghệ thuật của Y Ban,  
Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Xuân Hà,...  
chúng ta thấy rất rõ tư tưởng nữ quyền, tư tưởng đấu tranh cho hạnh phúc của con người, đặc  
biệt là người phụ nữ trong xã hội hiện đại. Ở đó, thế giới phụ nữ và thế giới đàn ông đã được  
xem xét trên nhiều bình diện phong phú khác nhau.  
2.2. Giới nữ và vấn đề bình đẳng giới trong câu chuyện tình yêu, hôn nhân, gia  
đình trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại  
Truyện ngắn nữ đương đại đã khám phá và biểu hiện thế giới phụ nữ rất phong phú và toàn  
diện. Họ có thể là những người con gái mới lớn, vừa bước chân vào ngưỡng của cuộc đời hay  
những người đàn bà từng trải; có thể là những người phụ nữ nơi đô hội phồn hoa hay những  
người đàn bà chân đất nơi thôn dã; có thể là những tuyệt mĩ giai nhân hay những người đàn bà  
khiếm khuyết hình thể; có thể là những quý bà, quý cô thành đạt, đủ đầy vật chất hay những  
người đang phải vật lộn mưu sinh dưới đáy của xã hội; có thể là những người phụ nữ trong lịch  
sử xa xôi được phủ bụi thời gian hay những công dân toàn cầu của thời đương đại;... Nhưng tất  
thảy họ đều có chung những mong ước, khát khao hạnh phúc thường hằng của người phụ nữ, họ  
mơ những giấc mơ về gia đình hạnh phúc với người đàn ông của cuộc đời mình và những đứa  
con. Họ cũng có thể trải qua những trạng huống nhân sinh phổ quát như những phút giây “ngoài  
vợ ngoài chồng”, những ảo tưởng và nhan sắc và tài năng, sự ngộ nhận, si tình đầy ảo vọng,...  
Thực ra đó đều là những vấn đề gắn liền với những người phụ nữ xưa nay. Chỉ có điều, là sản  
phẩm của hành trình sáng tạo táo bạo đầy tự giác, thế giới nội tâm sâu kín của họ được khám  
phá và phô diễn với diện mạo mới đầy mê đắm và hấp dẫn. Ngay tại chính những thể nghiệm  
nghệ thuật đặc sắc ấy, khi đi sâu khắc họa những tâm tư bất tận của người phụ nữ trong tình  
yêu, hôn nhân, gia đình, truyện ngắn nữ đã tiến những bước mạnh mẽ và gặt hái được những  
47  
Trần Thị Hồng Nhung  
thành quả to lớn trong vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là quyết tâm khai phóng tư tưởng bình  
quyền dành cho giới nữ. Nói như thế đồng thời cũng phải khẳng định, các cây bút truyện ngắn  
nam đương đại như Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh,  
Phạm Duy Nghĩa,... cũng đã có những đóng góp quan trọng khi khẳng định “thiên tính nữ”  
trong những tác phẩm thấm đẫm tinh thần nhân văn. Tuy nhiên, cái nhìn ít nhiều mang tính  
ngoại quan đã để lại khoảng trống ở những khía cạnh thầm kín, thậm chí khuất lấp của thân  
phận đàn bà trong cuộc sống đương đại. Và các cây bút truyện ngắn nữ đã khỏa lấp khoảng  
trống mà những người đồng nghiệp nam để lại, tự tin cất lên tiếng nói từ sâu thẳm tâm hồn và  
trái tim của giới mình. Hai tiếng “đàn bà” vừa đẹp đẽ, dịu dàng, mê đắm, vừa đớn đau, tủi cực  
đã trở thành mối quan hoài thường trực trong truyện ngắn nữ đương đại, khởi đi từ tên truyện  
cho đến mọi phương diện của sáng tạo.  
Trong truyện ngắn của các cây bút nữ Việt Nam đương đại, người đọc thường xuyên nhận  
thấy các tác giả trực diện đối thoại về vấn đề trinh tiết của người phụ nữ như là sự phản kháng  
đối với những giáo điều, những lề thói cổ hủ, trói buộc thân phận tòng thuộc của người phụ nữ.  
Tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu vào tiềm thức văn hóa cộng đồng, sử dụng trinh tiết như là áp đặt,  
ràng buộc phẩm hạnh của người phụ nữ. Trong truyện ngắn Bạn gái của Võ Thị Xuân Hà,  
người chồng đã tuyên bố về cái trinh tiết mà người vợ đã mất để khẳng định sự áp chế tuyệt đối  
của tư tưởng nam quyền: “Tôi mất tiền cưới cái thân ô uế của cô về vì cô đẹp quá, tôi trưng cho  
thiên hạ ghen tị. Bù lại, tôi có quyền ăn nằm với bất cứ đứa con gái còn trinh trắng nào mà tôi  
thích. Mẹ kiếp – hẳn chửi – có phá nát hàng nghìn cái cũng không bù lại được một cái đã mất.  
Nhưng mà thôi. Có điều, cô phải đẻ cho tôi một đứa con. Đứa con của tôi với cô. Hiểu chưa?”  
[7; 68]. Đây cũng là sự phản ánh có tính chất tiêu biểu về những áp lực đầy cay đắng của những  
người phụ nữ trong xã hội đương đại, khi quan niệm cổ hủ vẫn tồn tại trong xã hội như những  
chiếc vòng kim cô chưa thể tháo gỡ. Các cây bút truyện ngắn nữ đương đại đặc biệt chú ý phản  
ánh vấn đề này, thể hiện quan niệm dứt khoát đối với sự áp chế của tư tưởng nam quyền lên  
thân phận của họ. Trong truyện ngắn Người đàn bà kể chuyện, Lí Lan đã nêu bật hành trình  
nhận thức, từ cam chịu đến phản kháng mãnh liệt của Tho để được sống với danh dự và phẩm  
giá đích thực của mình. Năm 11 tuổi, Tho bị ông Đạo hiếp dâm. Toàn bộ câu chuyện khủng  
khiếp ấy với người cha của Tho chỉ là vấn đề trinh tiết của cô con gái: “Nỗi đau đớn sợ hãi  
không nguôi đi, nhưng Tho đờ đẫn như không còn cảm xúc hay ký ức nữa. Tho không biết nói  
gì, không thể nói gì được. Cha Tho đem Tho vô bệnh viện khám. Tho cũng không rõ bằng cách  
nào, nhưng ông kiếm được một cái giấy chứng nhận Tho bị té, rách màng trinh. Ông bảo mẹ  
Tho cất cái giấy đó cho Tho. Nó sẽ là bùa bảo hộ hạnh phúc của Tho sau này” [8; 5]. Nhưng rồi  
lá bùa ấy không linh, không giúp cô thoát ra khỏi những bi kịch đeo bám suốt cuộc đời. Tình  
yêu đầu đời chưa bén đã qua chỉ bởi vì thầy giáo, người yêu của Tho không thể chấp nhận lời  
đồn về việc Tho đã mất trinh, để rồi cô cứ dần dần trở thành gỗ đá trước cuộc đời: “Tho lại càng  
không màng chuyện yêu đương. Một lần bị cưỡng hiếp, một lần bị ruồng rẫy, đủ để Tho ớn đần  
ông suốt đời. Hôm nọ, Tho thức giấc giữa khuya, tiếng thở hỗn hễn như dội ra từ ký ức làm Tho  
cứng đờ trên giường, rồi như một kể bị dìm dưới đáy nước ngoi lên theo bản năng sinh tồn, Tho  
vùng vẫy, nhào ra khỏi giường, chạy xuống cầu thang, mở đèn lên... Tho tắt đèn, chạy trở lên  
lầu, ói òng ọc vô bồn cầu. Khi điều hòa lại nhịp thở, Tho lên giường nằm, cổ họng vẫn nghèn  
nghẹn, nước mắt cứ trào ra. Chuyện hai mươi mấy năm xưa, Tho tưởng không còn nhớ gì nữa,  
nhưng hóa ra cái tiếng thở hỗn hễn dồn dập ấy vẫn còn ám Tho khiếp sợ và uất ức đến đờ đẩn  
như ngày còn thơ”. Khi chính thức giải thoát chính mình khỏi quan niệm ấu trĩ về cái trinh tiết  
đầy ảo tưởng cay đắng ấy, Tho đã đứng lên đòi công lí, đòi phẩm giá đích thực của mình: “Tho  
mở cửa bước ra đường, đi tới phòng tiếp bạn đọc của các báo, hội phụ nữ, ủy ban bảo vệ trẻ em,  
phòng cố vấn pháp luật, phòng tiếp dân, phòng luật sư, bất cứ nơi nào Tho mở được cánh cửa,  
để kể chuyện như một nhân chứng và nạn nhân rằng gã đàn ông tên Đạo đó đã cưỡng hiếp một  
bé gái mười một tuổi... Bây giờ Tho không trong mong chắt mót hạnh phúc với một người đàn  
48  
Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại…  
ông nữa. Tho chỉ đòi hỏi công lí cho người đàn bà” [8; 10]. Hành trình đi đến thái độ dứt khoát,  
vượt qua định kiến để đòi công lí cho mình, cho giới mình là hành trình dài đầy trắc trở, dằng  
dặc khổ đau nhưng là hành trình tất yếu Tho phải đi đã trở thành tuyên ngôn nghệ thuật, sự đòi  
hỏi quyết liệt cho sự bình đẳng của nữa giới. Cái nhìn sâu sắc về vấn đề trinh tiết của người phụ  
nữ như thế có thể thấy ở truyện ngắn của hầu hết các tác giả nữ đương đại như Y Ban, Võ Thị  
Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai,... Sự cảm thông sâu sắc với nỗi  
đau của người phụ nữ khi đánh mất trinh tiết, đồng thời cất tiếng nói đả phá các trật tự nam  
quyền thông qua vấn đề này là một nhận thức mới rất đáng chú ý của truyện ngắn nữ Việt Nam  
đương đại.  
Bên cạnh thể nghiệm sáng tạo về vấn đề trinh tiết, khi viết về vấn đề tình yêu, hôn nhân,  
gia đình, truyện ngắn nữ đương đại đặc biệt nhạy cảm và nhiệt thành cất lên tiếng nói đòi hỏi sự  
sẻ chia, cùng vun đắp hạnh phúc với người phụ nữ, đồng thời lên án sự áp đặt của tư tưởng nam  
quyền. Beauvoir đã khẳng định: “Số phận được xã hội dành cho phụ nữ theo truyền thống là  
hôn nhân. Cho đến cả ngày nay nữa, phần lớn phụ nữ đều có chồng, đã từng có chồng, chuẩn bị  
lấy chồng hay đau khổ vì không có chồng. Người ta xác định một cô gái là độc thân hay không  
là sự so sánh với hôn nhân, dù nàng thất vọng, có thái độ phản đối hay thậm chí thờ ơ với thể  
chế ấy” [9; 10]. Khảo sát truyện ngắn của các cây bút nữ đương đại, chúng tôi nhận thấy, ở các  
cấp độ khác nhau, người phụ nữ vẫn cơ bản hướng tới một cuộc sống vẹn toàn với sự trông cậy  
vào người đàn ông của cuộc đời mình. Đó có thể là sự mong ngóng lời yêu dịu ngọt, lời cầu hôn  
lãng mạn hay sự chờ đợi được dâng hiến trọn vẹn cho người mình yêu. Bên cạnh đó, nét tâm lí  
phổ quát vẫn là sự an lạc, hạnh phúc khi được làm thiên chức người vợ, người mẹ trong gia  
đình. Sẵn sàng chấp nhận và vui với niềm vui được làm người nội trợ thông thái, chăm lo cho  
người chồng và những đứa con vẫn là những suy nghĩ của những người phụ nữ trong nhiều  
truyện ngắn của Bích Ngân, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Trần Thùy Mai,  
Phan Thị Vàng Anh,... Nhận diện vai trò thụ động của người phụ nữ trong hôn nhân vẫn là phổ  
biến quát trong truyện ngắn nữ đương đại, tuy nhiên, chính trong tình yêu, trong cuộc sống hôn  
nhân, gia đình với những o ép từ truyền thống định đặt bao đời ấy, các tác giả nữ đã khắc họa  
đậm nét khao khát vượt thoát khỏi những ràng buộc đang từng giờ, từng phút tước đoạt quyền  
sống, quyền hạnh phúc của họ. Đó là sự đáp trả thẳng thừng của Diễm trước những hà khắc của  
mẹ chồng trong Đàn sẻ ri bay ngang rừng của Võ Thị Xuân Hà; sẵn sàng quay lưng đi tìm hạnh  
phúc, quyết không chung sống với những lựa chọn sai lầm như Quyên trong Rượu cúc của  
Nguyễn Thị Thu Huệ; sẵn sàng vượt qua mọi rào cản để đến với người mình yêu như Trúc trong  
Chị Hai ơi! của Trần Thùy Mai; sẵn sàng dấn thân truy tìm những phút giây hoan lạc dục tính  
để khỏa lấp nỗi cô đơn như trong Một nửa cuộc đời của Nguyễn Thị Thu Huệ,... Những cuộc  
vượt thoát đầy trăn trở và bi kịch để được giải phóng mình, để được tự do đã vút lên như bản  
hòa ca đầy hứng khởi sau tận cùng bi thương của thân kiếp đàn bà. Quyên trong Cánh cửa thứ  
chín của Trần Thùy Mai phải vật vã với căn bệnh thống kinh nhưng nỗi đau khắc khoải thực sự  
của cô lại là cuộc sống chẳng có tình yêu: “Tôi sẽ nói rằng tôi không thể tiếp tục sống trong bốn  
bức tường lạnh lẽo. Tôi sẽ nói muốn cùng anh đi vớt mặt trời trên biển tây. Tôi sẽ chịu bỏng,  
chịu cháy, để được đau đớn, được yêu thương. Tôi muốn chịu đựng mọi thứ trên đời, ngoại trừ  
sự tẻ lạnh” [10; 262]. Đó thực sự là một tuyên ngôn cho quyết tâm tháo dỡ những rào cản của  
hạnh phúc cá nhân, để được tự quyết định số phận của mình, để lại phía sau những trói buộc  
trong hình hài sắc phong công, dung, ngôn, hạnh. Những người đàn bà trong Kiêm ái của Phạm  
Thị Hoài, Vu quy của Đỗ Hoàng Diệu, Tân cảng của Nguyễn Thị Thu Huệ, Giấc mơ của Võ Thị  
Xuân Hà, Hồng ngủ của Phan Thị Vàng Anh, Lễ cưới bạc của Trần Thùy Mai,... đã chấp nhận  
đối mặt, mặc dù biết rằng hành trình phía trước để đến với tự do và hạnh phúc thực sự chẳng hề  
bằng phẳng. Dẫu vậy, những suy nghĩ và hành động quyết đoán như của Dung trong Lễ cưới  
bạc của Trần Thùy Mai là những tiếng lòng đầy dũng khí của các nhà văn nữ về vấn đề bình  
đẳng giới: “Kiều Dung đưa bàn tay đẹp lên, nàng tháo chiếc nhẫn cưới và lạnh lùng ném xuống  
49  
Trần Thị Hồng Nhung  
biển. Rồi nàng đưa hai tay luồn vào mái tóc sau gáy tháo luôn sợi dây chuyền mang hình khóa  
nhạc, ném luôn; những vật bé nhỏ ấy rơi vào khoảng không như những hạt bụi bay đi, không  
dấu tích. Đấy là những cái xiềng, một cái giam giữ thân xác nàng, một cái giam giữ linh hồn  
nàng. Ngày hôm nay những vật ấy đã mất hết phép thiêng; nàng trút bỏ nó, lấy lại tự do và cuộc  
sống” [10; 50]. Hành động dứt khoát rời bỏ hai người đàn ông và cuộc sống bế tắc để vươn  
mình khỏi vòng luẩn quẩn của những áp đặt quan niệm của Dung ẩn chứa cái nhìn đầy nhân văn  
của các cây bút truyện ngắn nữ đương đại. Ở một phương diện nào đó, có thể xem truyện ngắn  
Tân cảng của Nguyễn Thị Thu Huệ là biểu trưng cho hành trình vượt thoát thấm đẫm tinh thần  
cổ súy cho bình đẳng giới, cho khát vọng hạnh phúc của những người phụ nữ trong cuộc sống  
hiện đại. Không giống như cái Tý trong truyện ngắn Áo hoa của Y Ban khi những rung động  
đầu đời trỗi dậy ở một khoảnh khắc rồi chìm đi trong hiện tại, người đàn bà trong Tân cảng sẵn  
sàng từ bỏ mọi thứ đang có mà đáng ra nó là ước mơ của bao người, bỏ lại cả những năm tháng  
đã cùng nhau vượt qua gian khó để đến với bến cảng mới của cuộc đời mà chị tin nơi đó chị có  
hạnh phúc, chị được tự do. Có thể nói, cất tiếng nói phá giải sự áp chế nam quyền trong tình  
yêu, trong hôn nhân và cuộc sống gia đình trong truyện ngắn nữ đương đại thực sự đã mang đến  
tinh thần nữ quyền sâu sắc.  
2.3. Giới nam và vấn đề bình đẳng giới trong câu chuyện tình yêu, hôn nhân, gia  
đình trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại  
Khảo sát truyện ngắn nữ đương đại, chúng tôi nhận thấy nhân vật chính trong câu chuyện  
tình yêu, hôn nhân, gia đình phần lớn là phụ nữ. Nhân vật những người đàn ông chủ yếu được  
xây dựng song hành trong tương quan với nhân vật nữ chính, thậm chí chỉ là nền tảng để các tác  
giả khắc họa hình tượng những người phụ nữ. Vấn đề bình đẳng giới trong câu chuyện tình yêu,  
hôn nhân, gia đình của truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại, giới nam được khắc họa chủ yếu từ  
cái nhìn nữ tính, là sự xét đoán mang đậm ý thức phái tính. Trong hành trình đi tìm hạnh phúc  
hết sức đa dạng và đầy nhọc nhằn của những người phụ nữ, những người đàn ông đã hiện diện  
như một đối tượng không thể thiếu, giúp họ bộc lộ những khát vọng và cả những bi kịch trong  
tình yêu, trong cuộc sống hôn nhân, gia đình thời đương đại. Dù ẩn hiện với vị thế khác nhau,  
trong diện mạo đa dạng, phong phú, song điểm chung dễ nhận thấy là nỗ lực giải đại tự sự nam  
quyền của các cây bút truyện ngắn nữ. Những hình tượng nam giới như là những “đấng bậc”,  
những đại trượng phu đã từng thịnh hành trong văn học truyền thống đã vắng bóng. Đây là hệ  
quả song trùng của quá trình vận động của cả nền văn học theo xu hướng thế sự, đời tư, vừa là  
nỗ lực của các cây bút truyện ngắn nữ trong việc thể nghiệm ý thức nữ quyền. Gương mặt  
những người đàn ông trong truyện ngắn nữ đương đại ở cả hai phương diện hoặc đề cao, hoặc  
phê phán nhằm khẳng định, chỉ khi những người đàn ông thực sự yêu thương và thấu hiểu,  
những người phụ nữ mới có thể tìm thấy hạnh phúc đích thực của mình.  
Dù không chiếm ưu thế nhưng trong truyện ngắn nữ đương đại viết về tình yêu, hôn nhân,  
gia đình đã xây dựng hình tượng những người đàn ông có nhân cách, có tình yêu thương với  
một nửa của mình. Đó là Măng trong Biển đời người của Trần Thùy Mai, người vừa là ân nhân,  
vừa là suối nguồn yêu thương của Bim, hết lòng bảo vệ tình yêu và nhờ tình yêu mà thêm nghị  
lực, trở nên mạnh mẽ. Đó là Tính trong Bầy thú bông của Quỳnh hay Phan trong Không phải là  
tình yêu của Trần Thùy Mai khi luôn giữ cái nhìn tôn trọng đối với phụ nữ. Đó là người đàn ông  
trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ của Y Ban, dù không đủ sức mạnh đương đầu sóng gió để bảo vệ  
tình yêu của mình nhưng rõ ràng, anh ta là người có tình yêu chân thành. Đó là Sánh trong Bảy  
ngày trong đời rời xa Lụa vì nỗi đau thân thể do di chứng chiến tranh nhưng vẫn luôn nặng lòng  
với người mình yêu. Đó là Hải trong Một nửa cuộc đời của Nguyễn Thị Thu Huệ, dù gặp phải  
những cám dỗ xác thân nhưng bằng lí trí, bằng tình yêu và trách nhiệm với gia đình đã giúp anh  
vượt qua, để mang đến hạnh phúc thực sự cho những người thân yêu của mình. Đó là người  
chồng trong Cái Tý của Y Ban, dù chỉ là thoáng qua nhưng với nghĩa tình với người chồng tốt  
50  
Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại…  
đã giữ lại hạnh phúc cho cái Tý trước những xao động với người đàn ông thuở đầu đời. Viết về  
những người đàn ông có nhân cách, có trách nhiệm và tình yêu thương, các cây bút truyện ngắn  
nữ đã dành cho họ sự tôn trọng, thương cảm, mặc dù dưới cái nhìn mang tính cá nhân, những  
ranh giới phán xét đơn thuần vốn dĩ rất mong manh. Đó là những người đàn ông trong Suối bạc,  
Thương nhớ hoàng lan của Trần Thùy Mai, Tàu ngầm xuyên đại dương, Tân cảng của Nguyễn  
Thị Thu Huệ, Cái rùng mình của vũ trụ của Bích Ngân, Người đàn bà và những giấc mơ, Một  
phần ba cuộc đời, Sau chớp là bão giông của Y Ban, Cơn mưa cuối mùa của Lê Minh Khuê,  
Dòng nhớ của Nguyễn Ngọc Tư... Ở đây, những người đàn ông đáng trách hơn đáng giận, bởi  
họ đã nỗ lực vun vén cho hạnh phúc của gia đình, của người mình yêu nhưng cái họ thiếu là sự  
tinh tế, là những chia sẻ sâu sắc với một nửa của mình. Có thể xem lời của người chồng trong  
Tân cảng của Nguyễn Thị Thu Huệ là tiêu biểu cho kiểu mẫu đàn ông như thế trong truyện ngắn  
của các cây bút nữ: “Tôi mới là người có lỗi. Cái lỗi của tôi... là sống với cô mà không hiểu cô  
cần gì... Nên cô mới bỏ đi...” [11; 11]. Khắc họa những người đàn ông mang trong mình tình  
yêu thương và trách nhiệm, dù có thể còn khiếm khuyết nhưng rõ ràng, các nhà văn nữ đã xác  
tín thông điệp, sẽ chẳng có hạnh phúc thực sự cho những người phụ nữ nếu vắng bóng yêu  
thương. Đó cũng là biểu hiện sâu xa về vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn nữ khi viết về  
vấn đề tình yêu, hôn nhân, gia đình.  
Song hành cùng sự khẳng định khát vọng giải phóng phụ nữ khỏi những chế định nam  
quyền, truyện ngắn nữ đã tỏ ra quyết liệt trong việc xét lại thế giới đàn ông đương đại. Đó là lí  
do trong thế giới nghệ thuật phong phú của các cây bút truyện ngắn nữ, rất phổ biến hình tượng  
những người đàn ông bất toàn, thậm chí méo mó, dị mọ. Họ là những người không tôn trọng  
tình yêu, sẵn sàng phản bội lại tình yêu của mình. Đó là những người đàn ông trong Cát đợi,  
Cầu thang của Nguyễn Thị Thu Huệ, Thập tự hoa của Trần Thùy Mai, Tự, Hai bảy bước chân  
là lên thiên đường của Y Ban,... Dưới áp lực của cuộc sống khi đồng tiền, sự thực dụng, lối sống  
vật chất tầm thường lên ngôi, truyện ngắn nữ đã khắc họa hàng loạt những người đàn ông tham  
lam, ti tiện, đớn hèn. Họ sẵn sàng lợi dụng cả sự cả tin của những người đàn bà để thỏa mãn dục  
vọng thấp hèn. Đó là người đàn ông trong Trăng nơi đáy giếng của Trần Thùy Mai, Một nửa  
cuộc đời, Hậu thiên đường, Tình yêu ơi, ở đâu? của Nguyễn Thị Thu Huệ, Làn môi đồng trinh  
của Võ Thị Hảo, Cơn mưa cuối mùa, Đồng đôla vĩ đại của Lê Minh Khuê, Nhân tình, Tôi và  
anh của Y Ban,... Chính những người đàn ông như thế đã đẩy những người phụ nữ vào bi kịch  
của sự cô đơn đầy bất hạnh. Truyện ngắn Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ có thể xem  
là tiêu biểu có cái nhìn như thế về những người đàn ông “bất toàn” như thế. Người mẹ đã chịu  
những tổn thương ghê gớm khi cuộc đời chung đụng với những người đàn ông mà chị không hề  
tôn trọng: “Những người đàn ông đi qua cuộc đời tôi như thể bất chợt họ gặp cơn mưa rào, mà  
họ thì không mang vải nhựa để che. Tôi là một cái hiên rộng để họ chạy vào đó, yên tâm, tưng  
tửng chơ cho qua cơn mưa, rồi về nhà” [12; 48]. Nhưng dẫu sao, người mẹ đã ý thức và chấp  
nhận nỗi đau ngày ngày gặm nhấm như thế. Nhưng con chị, đứa con gái mới lớn đã phải gặp  
người đàn ông ti tiện, đểu giả đến cùng cực mà vẫn sẵn sàng cung phụng. Đây là những dòng  
chữ người mẹ đọc được từ cuốn nhật ký của đứa con gái đang si mê đến mù quáng của chị:  
“Sáng nay hai đứa ăn xôi. Bà bán xôi bảo: Hai bố con ngồi đây ăn xôi đi! Anh ấy cáu lắm mắng  
bà là mắt chó giấy. Mình cố gắng lắm chỉ ăn được năm trăm. Mình thích ăn bún riêu cua. Anh  
ấy thì dứt khoát không ăn. Anh ấy bảo cái giống ấy nó ỏng bụng và chóng đói, ăn xôi chắc dạ  
hơn. Mình đưa năm nghìn trả tiền xôi, hai đứa ăn hết 2.500đ. Anh ấy bảo bà bán xôi cứ giữ lấy,  
mai ăn tiếp. Mình thì thế nào cũng được. Miễn anh ấy vui vẻ thôi” [12; 58]. Người đàn ông ti  
tiện đến thế thì sẽ chẳng có thiên đường cho cô bé mười sáu tuổi, nhưng trước khi cô bé ấy nhận  
ra bi kịch thì nỗi đau không cùng đã hiện hữu nơi người mẹ từng trải qua bao đớn đau, tủi nhục  
ấy. Và không chỉ méo mó về nhân cách, những người đàn ông gia trưởng trong truyện ngắn nữ  
đã được khắc họa thật yếu đuối, bệ rạc, bi hài, thậm chí bệnh hoạn trong tình yêu, hôn nhân, gia  
đình. Đó là những người đàn ông đậm chất u mua trong Thày AK, Kẻ sĩ Hà thành của Phạm Thị  
51  
Trần Thị Hồng Nhung  
Hoài, Đôi mắt miền Tây của Võ Thị Hảo, Vu quy, Dòng sông Hủi của Đỗ Hoàng Diệu, Câu  
chuyện một gia đình, Chờ nhau ở cuối đường, Mưa đời sau của Trần Thùy Mai,... Một ví dụ  
điển hình cho kiểu loại đàn ông như thế là Công trong Dòng sông Hủi của Đỗ Hoàng Diệu. Sự  
ghen tuông, nghị kị đến bệnh hoạn của Công khi không chỉ kiểm tra những vết xe máy lạ trong  
sân nhà, rình nấp để rình bắt vợ ngoại tình mà đỉnh điểm là kiểm tra đồ lót của vợ để truy tìm  
bằng chứng: “Công vừa lột quần lót của vợ tỉ mỉ, nhướng mắt soi mói những sợi chỉ may trên  
vải satanh hồng. Mặt Công ngó chăm chăm giữa hai đùi tôi. Từng cọng cỏ cây hoa lá óng ánh  
cố xù lên chống đỡ. Nhưng cỏ cây mềm quá, mượt quá, không nhấc nổi thân mình, đành yên  
lặng chịu đựng người đàn ông coi nó là vật sở hữu. Khi Công tách chúng ra xem xét từng cọng  
tỉ mẫn, tiếng còi xe cấp cứu hụ rền những tán cây” [13; 109-110]. Phê phán, lên án những người  
đàn ông gia trưởng, áp đặt hà khắc lên những người phụ nữ như thế là tiếng nói nghệ thuật trực  
diện đòi hòi hạnh phúc và sự bình đẳng trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại.  
3. Kết luận  
Mặc dù các tác giả truyện ngắn nữ đương đại ít nhiều đã có những phát ngôn khẳng định  
mục đích sáng tạo của họ không phải là vấn đề “nữ quyền” hay “bình đẳng giới”. Tuy nhiên, từ  
thực tiễn sáng tạo, có thể thấy rõ, chính những nỗ lực vẽ chân dung của giới mình, truyện ngắn  
nữ đương đại đã cất tiếng nói đầy thuyết phục về tinh thần bình đẳng giới. Nếu như trong văn  
học thời kì trung đại, tiếng nói thân phận của nữ giới bị dồn đẩy chủ yếu về khu vực văn học  
dân gian thì đến đầu thế kỉ XX, trong bối cảnh hiện đại hóa văn học trong thời đại “mưa Âu, gió  
Á”, diễn ngôn đòi bình quyền cho nữ giới mới chính thức hiện diện đồng thời với tiếng nói đòi  
giải phóng con người khỏi những ràng buộc khuôn khổ của Khổng giáo. Nhưng dòng mạch mới  
được khơi thông ấy đã phải ngưng lại trong trường văn học phục vụ kháng chiến và chỉ được  
tiếp tục trong văn học từ khi đất nước hòa bình và thống nhất trở lại. Trong bối cảnh ấy, các cây  
bút truyện ngắn nữ đã mạnh bạo thể nghiệm tiếng nói đòi bình quyền cho nữ giới ở hàng loạt  
vấn đề như vai trò của họ trong câu chuyện tình yêu, trong hôn nhân và hạnh phúc gia đình, về  
những thiệt thòi thân phận mà họ phải gánh chịu,… Cái nhìn của người trong cuộc đầy sẻ chia,  
truyện ngắn nữ đương đại thực sự là sự nâng đỡ những khát khao hạnh phúc chính đáng của  
người phụ nữ hiện đại. Đồng thời, với tư tưởng giải tự sự nam quyền, truyện ngắn nữ đã khắc  
họa chân dung bất toàn về thế giới đàn ông. Đây là vấn đề có ý nghĩa xã hội, thẩm mĩ quan  
trọng trong truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Trần Huyền Sâm, 2016. Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại. Nxb  
Phụ nữ, Hà Nội.  
[2] Nguyễn Tấn Hùng, 2016. Tư tưởng của Simone de Beauvoir về vấn đề nữ quyền trong Giới  
tính thứ hai, in trong “Văn học và giới nữ (Một số vấn đề lí luận và lịch sử). Nxb Thế giới,  
Hà Nội.  
[3] Nguyễn Thị Năm Hoàng, 2019. “Thiên tính nữ và góc nhìn giới tính trong văn chương  
Việt Nam đương đại ”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 61(4).  
[4] Thái Phan Vàng Anh, 2016. “Văn xuôi các nhà văn nữ thế hệ sau 1975 nhìn từ diễn ngôn  
giới”, Tham luận Hội thảo khoa học quốc gia Thế hệ nhà văn sau 1975 do Trường Đại học  
Văn hóa Hà Nội tổ chức.  
[5] Lê Thị Thanh Xuân, 2018. “Tinh thần nữ quyền trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai”.  
Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
[6] Y Ban, 2020. Truyện ngắn Y Ban. Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.  
52  
Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại…  
[7] Võ Thị Xuân Hà, 2002. Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà. Nxb Phụ nữ, Hà Nội.  
[8] Lí Lan, 2009. Người đàn bà kể chuyện. Nxb Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.  
[9] Simone de Beauvoir, 1996. Giới nữ (tập 2), Nguyễn Trọng Định, Đoàn Ngọc Thanh dịch.  
Nxb Phụ nữ, Hà Nội.  
[10] Trần Thùy Mai, 2004. Đêm tái sinh. Nxb Thuận Hóa, Huế.  
[11] Nguyễn Thị Thu Huệ, 2006. 37 truyện ngắn. Nxb Văn học, Hà Nội.  
[12] Nguyễn Thị Thu Huệ, 2018. Của để dành. Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.  
[13] Đỗ Hoàng Diệu, 2005. Bóng đè. Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.  
ABSTRACT  
The issue of gender equality in Vietnam short stories with female authors  
in nowadays that writes about love, marriage, family  
Tran Thi Hong Nhung  
Faculty of Primary Educaton, Sai Gon University  
With the initiative in creative sense and concept of art consistently that writes about love,  
marriage, family, Vietnamese short stories for female in nowadays, they forcefully confirmed  
the point of view is equal between men and women. Through the world of art to be created, the  
powerfull aspects of this have been opened up. The article focuses on clarifying the  
manifestations of gender equality issues in vietnam short stories with authors are female in  
nowadays that is one of the social problems - unique aesthetics.  
Keywords: female, gender equality, contemporary Vietnamese literature, female short  
stories, love, marriage, family.  
53  
pdf 10 trang baolam 18380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vấn đề bình đẳng giới trong truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam đương đại viết về tình yêu, hôn nhân, gia đình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_de_binh_dang_gioi_trong_truyen_ngan_cac_nha_van_nu_viet.pdf