Thơ Nguyễn Vỹ trong tiếp nhận của phê bình văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
THƠ NGUYỄN VỸ TRONG TIẾP NHẬN CỦA PHÊ BÌNH VĂN HỌC  
Ở MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954 – 1975  
Trần Hoài Anh  
Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh  
Ngày nhận bài: 6/4/2018; Ngày duyệt đăng: 17/12/2018  
Tóm tắt  
Nguyễn Vỹ, một trong không nhiều gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới 1932 - 1945  
vẫn còn tiếp tục sáng tác và hoạt động văn học ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Vì vậy, Nguyễn  
Vỹ và thơ của ông luôn được các nhà phê bình văn học quan tâm nghiên cứu. Bài viết Thơ Nguyễn  
Vỹ trong tiếp nhận của phê bình văn học ở miền Nam 1954 - 1975, đề cập đến hai vấn đề mà các  
nhà phê bình văn học ở miền Nam tập trung luận giải đó là: Nguyễn Vỹ - nhà thơ với những khát  
khao đổi mới và cách tân và Nguyễn Vỹ - nhà thơ với ý thức phản kháng và một cá tính sáng tạo.  
Đây cũng là những phẩm tính làm nên vũ trụ thơ Nguyễn Vỹ.  
Từ khóa: Nguyễn Vỹ, phê bình văn học miền Nam, giai đoạn 1954-1975, đổi mới và cách tân,  
Cá tính sáng tạo  
Nguyen Vy’s poem in the reception of literary criticism  
in South Vietnam the period 1954-1975  
Abstract  
Nguyen Vy, one of many typical faces of the new poetry movement from 1932 to 1945, continued  
writing and literary activities in South Vietnam the period 1954-1975. Therefore, Nguyen Vy and  
his poetry are always interested in literary critics. The Poems of Nguyen Vy in the reception of  
literary criticism in South Vietnam of 1954-1975, refers to two issues that southern literary critics  
have argued: Nguyen Vy - the poet with desire for innovation and innovation and Nguyen Vy - a  
poet with a sense of protest and a creative personality. These are the qualities that make up the poet  
Nguyen Vy.  
Keywords: Nguyen Vy, literary criticism of the South, the period 1954-1975, innovation and  
innovation, Creative personalily  
nghiên cứu về sự tiếp nhận thơ Nguyễn Vỹ trong  
phê bình văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-  
1975 từ điểm nhìn của lý thuyết tiếp nhận văn  
học thì đây là bài viết đầu tiên.  
1. Mở đầu  
Nguyễn Vỹ không chỉ là một trong những  
gương mặt thi ca tiêu biểu của phong trào Thơ  
mới những năm 1932-1945 mà còn là một trong  
những nhà thơ, nhà văn, nhà báo để lại những  
dấu ấn khá sâu sắc trong văn học miền Nam giai  
đoạn 1954-1975. Nghiên cứu về Nguyễn Vỹ, đã  
có nhiều công trình đề cập đến như: Thi nhân  
Việt Nam của Hoài Thanh – Hoài Chân (2003);  
Những khuynh hướng trong thi ca Việt Nam của  
Minh Huy (1962); Văn thi sĩ hiện đại của Bàng  
Bá Lân (1962); Việt Nam thi nhân tiền chiến,  
Nguyễn Tấn Long (1972); Lược sử văn nghệ  
Việt Nam của Thế Phong (1957)… Nhưng  
Là một hiện tượng văn học khá phức tạp, khi  
nghiên cứu về sự tiếp nhận thơ Nguyễn Vỹ,  
chúng ta cũng gặp rất nhiều những sự tiếp nhận  
xuất phát từ những tầm đón đợi khác nhau, thậm  
chí mâu thuẩn nhau ngay trong một chủ thể tiếp  
nhận. Vì thế, đọc thơ Nguyễn Vỹ, nghĩ về thơ  
Nguyễn Vỹ, tiếp nhận thơ Nguyễn Vỹ, có lẽ,  
chúng ta nên xuất phát từ điểm nhìn này, mới có  
thể cảm thông, chia sẻ với thi nhân về những gì  
mà ông đã lựa chọn như một tâm thức hiện sinh  
49  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
trong những tháng năm hiện hữu của mình trên  
“cõi nhân gian hư ảo” này. Nếu chúng ta không  
có tấm lòng độ lượng biết “trông đến sáu cõi,  
nghĩ đến nghìn đời” e rằng, chúng ta sẽ khó thấu  
hiểu được con người thi sĩ. Bởi thế, Hoài Thanh  
trong Thi nhân Việt Nam tuy rất khắt khe với  
Nguyễn Vỹ, đã phê phán ông với những lời khá  
mai mỉa, chua chát khi cho rằng: “Nguyễn Vỹ  
đã đến giữa làng thơ với chiêng trống xập xoèng  
inh cả tai. Chúng ta đổ nhau ra xem. Nhưng  
chúng ta lại chưng hửng trở vào vì ngoài cái lối  
ăn mặc và những điệu bộ lố lăng lúc đầu ta thấy  
con người ấy không có gì” (Hoài Thanh, Hoài  
Chân, 2003). Nhưng rồi, cũng chính Hoài  
Thanh, lại ngợi ca thi tài của Nguyễn Vỹ khi xác  
quyết: “Một bài như bài Sương rơi rất được  
nhiều người thích. Người ta thấy Nguyễn Vỹ đã  
sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để tả một cái gì  
đang rơi. Cái gì đó có thể là những giọt sương  
cũng có thể là những giọt lệ hay những giọt gì  
vẫn rơi đều đều, chậm chậm trong lòng ta mỗi  
lúc vẩn vơ buồn ta đứng một mình trong lặng  
lẽ.” (Trần Hoài Anh, 2017) Còn với bài “Gửi  
Trương Tửu” thì Hoài Thanh cho rằng đó “mới  
thực là kiệt tác” và ông luận giải: “Nguyễn Vỹ  
đã làm bài thơ này trong một lúc vô cùng buồn  
giận vì cái nghiệp văn chương. Những ai cùng  
một cảnh huống xem thơ tưởng có thể khóc lên  
được” (Hoài Thanh và Hoài Chân, 2003).  
hướng đến sự đổi mới và cách tân trong thơ ca,  
cho dẫu sự cách tân ấy có thể thành công hay  
thất bại, có được người đọc chấp nhận hay  
không!? Và cái “chí lớn” của Nguyễn Vỹ với tư  
cách là một thi sĩ có lẽ là cái khát khao đổi mới  
và cách tân này. Đây cũng là một phẩm tính của  
thơ Nguyễn Vỹ được các nhà phê bình văn học  
ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 chia sẻ, khi  
tiếp nhận thơ ông.  
Trong tác phẩm Hồn thơ nước Việt thế kỷ XX,  
Lam Giang và Vũ Tiến Phúc (1970), khi nhận xét  
về hình thức thể hiện trong thơ Nguyễn Vỹ cho  
rằng Nguyễn Vỹ thuộc trường phái “náo nức cầu  
tân” tức là luôn có khát khao đổi mới hình thức  
thơ ca dân tộc, để thoát khỏi thi pháp cổ điển vốn  
không còn dung chứa được tâm thức văn hóa của  
con người, khi làn sóng văn hóa phương Tây  
cùng với lối sống đô thị tràn vào đời sống xã hội.  
Cảm hứng cách tân này thể hiện rất rõ trong tiểu  
thuyết, truyện ngắn, thơ ca của các trào lưu văn  
học giai đoạn 1932 - 1945 mà dấu ấn đậm nét  
nhất là trào lưu văn học lãng mạn với Tự lực Văn  
đoàn và phong trào Thơ mới. Vì vậy, khi nhận  
xét về sự cách tân trong thơ Nguyễn Vỹ, các tác  
giả cho rằng: “Đối lập với thái cực bảo thủ của  
Quách Tấn là Nguyễn Vỹ, náo nức đi tìm cái mới  
đã du nhập lối thơ 12 chữ đúng như thơ  
Alexandrin của Pháp, nhưng sáng kiến này  
không thành công và chính Nguyễn Vỹ cũng đã  
kịp thời bỏ nó rơi vào vực tối quên lãng. (…)  
Dài đã thất bại thì ngắn ắt thành công.  
Nguyễn Vỹ theo dấu Verlaine, thủy tổ của câu  
thơ nhạc, tạo ra lối thơ hai chữ. Bài “Sương rơi”  
cũng có công chứng minh thêm khả năng tạo  
nhạc của tiếng Việt. Điệu thơ là một thứ nhạc  
tượng thanh, êm êm, buồn buồn như những giọt  
mưa rơi trên mái nhà trong những đêm trường  
vắng vẻ: Sương rơi/ Nặng trĩu/ Trên cành/  
Dương liễu… Nhưng hơi/ Gió bấc/ Lạnh lùng  
Hiu hắt/ Thấm vào/ Em ơi!/ Trong lòng/ Hạt  
sương/ Thành một/ Vết thương… Về lối thơ  
nhạc tượng thanh này, Nguyễn Vỹ còn có nhiều  
bài khác. Bài “Mưa trong tù” theo ý tác giả là  
những giọt lệ ngắn dài của một chiến sĩ cách  
mạng, âm hưởng của tiếng đoạn trường đau suốt  
mấy mùa thu: Mưa róc rách/ Ngoài vách/ Mưa  
Dẫn các ý kiến của nhà phê bình Hoài Thanh  
về Nguyễn Vỹ trong phần mở đầu bài viết,  
chúng tôi chỉ muốn khẳng định rằng, việc khen  
chê khi đánh giá một hiện tượng văn học là điều  
bình thường của quá trình tiếp nhận. Bài viết về  
tiếp nhận Thơ Nguyễn Vỹ trong tiếp nhận của  
phê bình văn học ở miền Nam 1954 - 1975 cũng  
không nằm ngoài quy luật của trường tiếp nhận  
này, thể hiện qua các bình diện sau.  
2. Nguyễn Vỹ - nhà thơ với những khát  
khao đổi mới và cách tân  
Một trong những căn tính của người nghệ sĩ  
là sự khát khao sáng tạo. Bởi, là nghệ sĩ mà thiếu  
sáng tạo thì không thể tồn tại được và cái giá  
phải trả, đó là sự lãng quên trong tâm thức người  
tiếp nhận. Phải chăng, vì ý thức được điều hệ  
trọng và thiêng liêng này, nên Nguyễn Vỹ luôn  
50  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
tuôn/ Suốt đêm trường/ Mưa vương/ Lòng  
thương/ Quê hương/ Xa cách... Lòng khách/ Réo  
rắt/ Tơ buồn… ” (Lam Giang và Vũ Tiến Phúc,  
1970).  
là thường, không đáng chỉ trích. Điều đáng nói  
và cần nói là Nguyễn Quân có thành công hay  
không? Thế thôi!”  
Có thể nói, trong sự nao nức của buổi đầu tiếp  
nhận nền văn hóa và văn học phương Tây ở  
những năm đầu thế kỷ XX, việc các nhà văn, nhà  
thơ Việt Nam tiếp thu những thành tựu của thơ  
Pháp để sáng tạo nên một hình thức mới trong thơ  
ca dân tộc cũng là việc bình thường trong sự giao  
lưu, tiếp biến văn hóa, theo chúng tôi là nên  
khuyến khích chứ không nên bài xích. Vấn đề ở  
đây là tiếp biến như thế nào để vừa đảm bảo được  
yêu cầu hiện đại hóa nền văn học lại vừa giữ được  
những yếu tố tốt đẹp của truyền thống. Có lẽ cũng  
xuất phát từ tâm thức này, nên khi nhận định về  
tập thơ Hoang Vu của Nguyễn Vỹ, Bàng Bá Lân  
(1972) cho rằng: “thơ anh gồm đủ các thể - cũ có  
- mới có - nhưng tuyệt nhiên không có bài nào  
làm theo lối “mười hai chân” nữa. Có lẽ Nguyễn  
Quân cũng đã nhận thấy rằng thơ hay không cần  
chú trong đến hình thức trình bày… Tuy nhiên  
anh không phải là người dễ bằng lòng với những  
cái có sẵn và luôn luôn muốn sáng tạo tìm tòi (…)  
Nguyễn Vỹ, một nhà thơ không thích nằm yên  
trong sáo cũ khuôn mòn.”  
Sự sáng tạo trong nhạc điệu của thơ ca lúc  
bấy giờ được xem như một cách tân táo bạo của  
Nguyễn Vỹ để góp phần hiện đại hóa thơ ca dân  
tộc, đưa thơ ca nước nhà sớm thoát khỏi “khí  
quyển” của thơ ca trung đại. Đó cũng là ý kiến  
của Minh Huy (1962) khi tiếp nhận thơ Nguyễn  
Vỹ được trình bày trong tác phẩm Những  
Khuynh hướng trong thi ca Việt Nam, khi nhà  
nghiên cứu đã xếp Nguyễn Vỹ vào trường phái  
thơ tượng trưng và cho rằng: “Xuân Diệu chỉ có  
thoáng không khí tượng trưng của Verlaine và  
Rimbaud mà thôi. Huy Cận cũng vậy. Nguyễn  
Vỹ tuy viết: “Nhà văn An Nam khổ như chó” và  
tuy đã nói lên với khá nhiều chán nản và mỉa  
mai về cuộc đời của nhà văn, nhà báo thời tiền  
chiến: (...) Nhưng Nguyễn Vỹ lại gần với tác giả  
của “Jadis et Naguere” trong bài thơ hai tiếng  
“Sương rơi”: Sương rơi/ Nặng trĩu/ Trên cành/  
Dương liễu… Nhưng hơi/ Gió bấc/ Lạnh lùng/  
Hiu hắt/ Thấm vào/ Em ơi!/ Trong lòng/ Hạt  
sương/ Thành một/ Vết thương… Thơ là nhạc.  
Không dừng lại ở việc chiêu tuyết cho sự  
sáng tạo về hình thức thơ đã tạo nên một thứ  
nhịp điệu lạ thường so với thơ ca đương thời vốn  
vẫn chưa thoát ra khỏi khí quyển âm điệu của  
thơ ca truyền thống, các tác giả trong công trình  
nghiên cứu Hồn thơ nước Việt còn phản biện lại  
ý kiến của Hoài Thanh phê bình Nguyễn Vỹ là  
“chí lớn mà tài nhỏ nên hay lập dị, chứ thực sự  
ít có thành tích văn chương”. Theo họ, đây là  
một ý kiến võ đoán. Và để biện minh cho nhận  
định của mình trong việc phản biện lại quan  
điểm của Hoài Thanh, các tác giả Hồn thơ nước  
Việt đã xác quyết Nguyễn Vỹ là “người có công  
du nhập đầu tiên lối thơ nhạc vào thi đàn Việt  
Nam giữa lúc nhiều người chỉ chăm lo đả kích  
luật Đường, chứ chưa sáng tạo được một điệu  
thơ gì mới, cũng đáng cho chúng ta nhìn tác giả  
với một nhãn quan nhiều thiện cảm hơn” (Lam  
Giang và Vũ Tiến Phúc, 1970).  
Và cũng trong trường tiếp nhận này, nhận xét  
về hành trình sáng tạo thơ của Nguyễn Vỹ, trong  
bối cảnh của phong trào Thơ mới (1932 - 1945)  
cũng như thơ ở miền Nam trước 1975, với tư  
cách, không chỉ là nhà phê bình văn học mà còn  
là một nhà thơ, Bàng Bá Lân cũng đã có những  
nhận định khách quan công bằng về thơ Nguyễn  
Vỹ. Chẳng hạn, khi nhìn lại những đánh giá có  
phần khắt khe của Hoài Thanh về thơ Nguyễn  
Vỹ trong Thi nhân Việt Nam, Bàng Bá Lân  
(1972) cho rằng những nhận xét của Hoài Thanh  
“là có phần quá đáng. Tôi không tin là Nguyễn  
Vỹ định lòe ai!. Giữa lúc phong trào Thơ mới  
đang bành trướng mạnh, các nhà Thơ mới đua  
nhau đi tìm những “chân trời mới”, những ý  
tưởng lạ, những hình thức phô diễn tân kỳ.  
Nhưng phần đông đều chịu ảnh hưởng nặng nề  
của văn chương Pháp nên người ta dù muốn dù  
không đã mượn nhiều ở cách cảm nghĩ và diễn  
tả của các nhà thơ Tây. Có người còn dịch phăng  
cả ý và lời của thơ Pháp như Xuân Diệu. Như  
vậy thì trong lúc xô bồ chạy theo cái mới ấy,  
Nguyễn Vỹ có bắt chước thơ Alexandrin cũng  
51  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
Lời thơ là lời nhạc cố tranh với nhạc, chập chờn  
mờ ảo”.  
còn thể hiện một ý thức phản kháng và “nổi  
loạn” của một tâm thức hiện sinh. Ý thức phản  
kháng và nổi loạn này chính là hệ quả của khát  
khao đổi mới cách tân trong thơ Nguyễn Vỹ. Vì  
thế, giá trị của thơ Nguyễn Vỹ trong cái nhìn của  
Nguyễn Tấn Long, không chỉ thể hiện ở khát  
vọng đổi mới và cách tân thơ Việt để vượt thoát  
những gì khuôn sáo, khắc nghiệt, gò bó của thơ  
ca trung đại mà còn chứa chất trong đó tinh thần  
phản kháng trước những bất công của cường  
quyền và bạo lực đối với chế độ xã hội đương  
thời trước những bi trạng của đất nước, quê  
hương. Và theo Nguyễn Tấn Long (1972):  
“Trong những ngày lao lung, Nguyễn Vỹ tạo  
nên những vần thơ tha thiết, chân thành của một  
con người khao khát ánh sáng vằng vặc của đêm  
trăng, thèm thuồng vùng vẫy trong khoảng  
không gian rộng lớn nhưng than ôi! Thực tế quá  
đắng cay: Có Tự do là có Thần tiên/ Không có  
nó trần duyên là ngục thẳm!/ Tù Trà Khê say mê  
trong giấc đắm,/ Trên giường tù ai lệ đẩm trong  
đêm!” Chính vì vậy, khi nói về ý kiến của Hoài  
Thanh cũng như Thế Lữ phê phán thơ Nguyễn  
Vỹ tác giả Việt Nam thi nhân tiền chiến cho  
rằng: “Từ Hoài Thanh - Hoài Chân cho đến Thế  
Lữ (bút hiệu Lê Ta) đều phê bình theo lối riêng  
của mình mà không cần biết những cái hay của  
người, hay nói cách khác đó là lối phê bình một  
chiều.” (Nguyễn Tấn Long, 1972)  
Nếu báo chí được Nguyễn Vỹ sử dụng như  
một vũ khí để chống lại bạo lực, cường quyền,  
thể hiện ước mơ về một xã hội tốt đẹp và nhân  
văn để chấp nhận những thăng trầm trong cuộc  
sống thì trong thơ, ông cũng là người mạnh dạn  
dấn thân vào những chân trời mới lạ với một ý  
thức cách tân mà đương thời không phải ai cũng  
có thể chấp nhận. Tuy nhiên, với một cái nhìn  
khách quan, khoa học, sau bao biến động của  
đời sống văn học, khi nhìn lại hành trình sáng  
tạo thơ của Nguyễn Vỹ, Nguyễn Tấn Long  
(1972) cũng khẳng định cái chí hướng đổi mới  
và khao khát cách tân mang nét riêng của  
Nguyễn Vỹ như một hệ giá trị của thơ ông khi  
cho rằng: “Nguyễn Vỹ góp mặt vào làng thơ tiền  
chiến từ năm 1934, thời kỳ thơ mới đang hồi  
phát triển mạnh mẽ. Trong giai đoạn này, phần  
đông thi sĩ thường đem khung cảnh lãng mạn  
vào thi ca lấy chuyện tình ái làm đề tài, hay nói  
cách khác, đa số thi nhân đều lấy tình yêu làm  
bối cảnh và động lực chính cho đường hướng  
sáng tác của mình (.. .) thì một Nguyễn Vỹ làm  
thơ với một tâm hồn phức tạp, kết tinh bằng  
những gì uất ức, căm hờn chua chát... Có thế nói  
Nguyễn Vỹ là nhà thơ không lấy tình yêu làm  
đối tượng, vì thế Nguyễn Vỹ có đường nét độc  
đáo riêng biệt.  
Đọc Nguyễn Vỹ người ta cảm nhận điều gì  
mỉa mai chua chát hơn là ca tụng cảnh trời cao,  
biển rộng sông dài. Tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là  
sự tức tối như muốn phá vỡ cái gì trong hiện tại  
đang bị dồn ép, uất ức để nói lên nỗi thống khổ  
của kiếp người.” Chính vì nhận thức được sự  
“dồn ép, uất ức” và “để nói lên nỗi thống khổ  
của kiếp người” nên trong thơ Nguyễn Vỹ ta còn  
thấy thể hiện ý thức phản kháng và nổi loạn” của  
một thi nhân mang đậm cá tính sáng tạo. Đây  
cũng là vấn đề được các nhà phê bình văn học ở  
miền Nam trước 1975 nói đến trong quá trình  
tiếp nhận thơ Nguyễn Vỹ.  
Và cũng trong trường tiếp nhận này, với cái  
nhìn tỉnh táo và khách quan, công bằng, tôn  
trọng tính khoa học và thực tiễn, Nguyễn Tấn  
Long đã phản biện ý kiến của nhà nghiên cứu  
Thế Phong (1957) trong tác phẩm Lược sử văn  
nghệ Việt Nam, khi Thế Phong cho rằng: “Sự  
nghiệp của ông Nguyễn Vỹ chỉ được một câu  
thơ trong bài Gửi Trương Tửu khiến cho người  
đời còn nhắc đến tên ông “Thi sĩ Việt Nam khổ  
như chó”. Nguyễn Tấn Long (1972) phản đối ý  
kiến này của Thế Phong bằng cách đặt vấn đề  
hết sức thuyết phục, trên cơ sở những chứng từ  
sáng tác của Nguyễn Vỹ khi xác quyết: “Các  
bạn sẽ hiểu ý nghĩa gì về câu nói của ông Thế  
Phong khi Nguyễn Vỹ đã viết: “Nhà văn An  
Nam khổ như chó” để trình bày một thực trạng  
lúc bấy giờ. (…)  
3. Nguyễn Vỹ - nhà thơ với ý thức phản  
kháng và một cá tính sáng tạo  
Có thể nói, thơ Nguyễn Vỹ không chỉ chất  
chứa trong đó khát khao đổi mới và cách tân mà  
52  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
Nếu quả thật Nguyễn Vỹ là con số không hay  
con số một khi bàn đến lược sử Văn nghệ Việt  
Nam thì hãy gạt hẳn Nguyễn Vỹ ra ngoài rìa văn  
giới nhưng đấy chỉ là ý kiến cá nhân, còn đối với  
công luận quần chúng, người ta vẫn không thể  
phủ nhận sự hiện diện của Nguyễn Vỹ trong văn  
học… Sẽ có người cho rằng chúng tôi vì  
Nguyễn Vỹ mà bênh vực. Thật ra, trong khi  
tham khảo những tài liệu thời tiền chiến, chúng  
tôi đã thấy và hiểu, rồi cố lấy tinh thần khách  
quan để làm sáng tỏ một vấn đề với mục đích  
đem trả lại một sự thật cho một sự thật.”  
Có lẽ vì cái tinh thần khách quan để “làm  
sáng tỏ một sự thật” mà Nguyễn Tấn Long đã  
đặt vấn đề tranh luận với Thế Phong về những  
điều đã đánh giá thiếu khách quan, thiếu thực tế  
về Nguyễn Vỹ trong công trình Lược khảo văn  
nghệ Việt Nam (Thế Phong, 1957). Đây cũng là  
tâm nguyện của nhiều nhà văn, nhà phê bình văn  
học ở miền Nam trước 1975 và cũng là điều mà  
công chúng tiếp nhận thơ Nguyễn Vỹ hướng  
đến. Vì vậy, trong tác phẩm Việt Nam thi nhân  
tiền chiến, để làm rõ chân tài về sự sáng tạo  
trong thơ của Nguyễn Vỹ, Nguyễn Tấn Long  
cũng luận bàn về tập thơ Hoang Vu1, qua việc  
trích dẫn ý kiến bình luận của nhà văn Thiết Mai  
trong tác phẩm Sáng dội miền Nam mà theo  
Nguyễn Tấn Long (1972) là “tương hợp phần  
lớn với khuynh hướng thi ca của Nguyễn Vỹ  
(…) Tài làm thơ của Nguyễn Vỹ đã biểu lộ cho  
ta thấy trong sự cấu tạo dễ dàng, không gò ép và  
tính cách lưu loát của câu thơ, sự tiếp diễn liên  
tục của ý thơ, tài gieo vần và nhất là ý tứ thâm  
trầm, mỉa mai sâu sắc, hay ý nhị, đa tình của  
những câu thơ.”  
Nguyễn Vỹ đã làm được cả các lối thơ Đường,  
thơ cổ điển và thơ mới. Trong loại sau này, điều  
đáng chú ý là Vỹ như muốn đưa những thể mới,  
có tác dụng xúc cảm, có âm điệu du dương, hợp  
tình để gợi tình và tả chân mạnh hơn. Thể mới ấy  
được thấy trong các bài thơ: Sương rơi, Mưa rào,  
Tiếng chuông chùa v.v… (...)  
Về ý thơ, Nguyễn Vỹ quả thật đã có nhiều ý  
tưởng, nhiều câu văn rất táo bạo (Hai người  
điên, Hai con chó, Trăng, Chó, Tù, Đêm trinh  
v,v...). Nhưng theo ý riêng tôi những ý tưởng,  
những câu văn táo bạo ấy vẫn là những lời độc  
đáo đưa Nguyễn Vỹ ra khỏi lối thường tình và  
cổ điển của các nhà thơ và cũng tỏ cho ta thấy  
rằng Vỹ là con người có nội tâm cứng rắn, thành  
thật, dám biểu lộ tâm tư mình bằng những hình  
ảnh thiết thực do lòng mình suy tưởng…”  
(Nguyễn Tấn Long, 1972).  
Với một tầm đón đợi riêng có của nhà nghiên  
cứu phê bình văn học, sự đồng cảm giữa Nguyễn  
Tấn Long và Thiết Mai khi nhìn nhận giá trị thơ  
Nguyễn Vỹ, không chỉ thể hiện ở sự viện dẫn  
những ý kiến của Thiết Mai trong phần tiểu luận  
viết về Nguyễn Vỹ trong công trình nghiên cứu  
khá công phu Việt Nam thi nhân tiền chiến mà  
còn thể hiện ở những nhận định của Nguyễn Tấn  
Long về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thơ  
Nguyễn Vỹ qua diễn ngôn: “với ý thơ trở nên  
thâm trầm, tình thơ thiên nặng về quê hương, đất  
nước; đôi bài len lỏi vào địa hạt tôn giáo, tư  
tưởng bắt đầu ngấm mùi đạo.” mà theo Nguyễn  
Tấn Long trong sự nghiệp thơ ca của Nguyễn  
Vỹ “Ngoài những bài thơ trào phúng về thế sự  
còn mang tính chất mỉa đời (trong tập Thơ lên  
ruột), chúng tôi nhận thấy trong Hoang vu tiếng  
thơ của Nguyễn Vỹ những lúc sau này như trút  
bớt đi nỗi căm hờn, phẫn uất, giọng thơ không  
còn gay gắt, ý thơ trở nên thâm trầm, tình thơ  
thiên nặng về quê hương, đất nước; đôi bài len lỏi  
vào địa hạt tôn giáo tư tưởng bắt đầu ngấm mùi  
đạo. Phải chăng đây là cái tâm lý chung của  
người đời hay dọn sẵn một khoảng đất trống cho  
tâm linh khi cái thân xác vật chất của mình sắp bị  
hủy diệt. Nguyễn Vỹ nói: Nếu ta biết một khu trời  
Để chỉ rõ cơ sở văn hóa và tư tưởng triết mỹ  
tác động đến quá trình sáng tạo nhằm hình thành  
phong cách thơ Nguyễn Vỹ với tư cách là một thi  
nhân luôn khát khao đổi mới, cách tân, hướng  
đến một “cuộc cách mạng thi ca” như Hoài  
Thanh đã nói đến ở bài tiểu luận: “Một thời đại  
mới trong thi ca”, trong Thi nhân Việt Nam, Thiết  
Mai cho rằng: “Nguyễn Vỹ chịu ảnh hưởng hai  
văn hóa, hai làn tư tưởng Đông và Tây nên  
1
Nguyễn Vỹ (1962). Hoang Vu. Phổ thông Tùng thư ấn  
hành, Sài Gòn.  
53  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
Vạn hạnh/ Trăng không tàn mà hoa cũng không  
trôi (Đêm sầu về)” (Nguyễn Tấn Long, 1972)  
Và khi kết thúc phần phê bình về sự nghiệp  
văn chương của Nguyễn Vỹ trong tiểu luận này,  
Nguyễn Tấn Long hơn một lần đã khẳng định  
văn tài và nhân cách của Nguyễn Vỹ khi ông xác  
quyết: “Chúng ta thấy Nguyễn Vỹ là một nhà  
thơ có thực tài. Ông dám trình bày một cách  
trung thực tư tưởng của mình, nói lên nỗi uất ức,  
bất công của kiếp người. Nguyễn Vỹ có cái nhìn  
thường xuyên vào thực trạng xã hội, theo dõi  
những màu sắc biến đổi của nhịp sống dân tộc  
đã chịu nhiều thảm họa, hòa lẫn vào đấy tình yêu  
thương đồng loại, tiếng thơ của Nguyễn Vỹ là  
tiếng nói chân thành phát xuất tự con nguời còn  
nghĩ đến quê hương” (Nguyễn Tấn Long, 1972).  
Những điều Nguyễn Tấn Long đã khẳng  
định về Nguyễn Vỹ trong công trình Việt Nam  
thi nhân tiền chiến cũng được Tuần Lý Huỳnh  
Khắc Dụng xác quyết khi trình bày những suy  
cảm của mình trước sự ra đi đột ngột của  
Nguyễn Vỹ: “Một nhân tài đã ra đi! Trời Nam  
Việt một ngôi sao đã tắt! Nguyễn Vỹ ơi còn đâu  
những câu thơ nhí nhảnh của Diệu Huyền mà  
Tuần Lý này đã từng cợt gọi “nữ sĩ tóc đuôi gà”.  
Gọi anh Vỹ là một nhân tài, không có chi là quá  
đáng. Thật vậy tôi chưa hề đọc một bài thơ mới  
nào hay bằng những bài thơ trong quyển “Hoang  
Vu” mà Nguyễn Vỹ đã từng nhờ tôi và giáo sư  
Cổn bên Pháp dịch ra thơ Tây. Nguyễn Vỹ là  
một thi hào khả ái, viết gọn, có duyên, dí dỏm”  
(Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng, 1972). Và cũng đề  
cập đến nhũng thành công về tập thơ Hoang Vu  
của Nguyễn Vỹ từ sự tiếp nhận của một người  
đọc, Ngọa Long trên Nhật báo Đuốc Nhà Nam  
số 905 ra ngày chủ nhật 19-12-1971 cho rằng  
điều thú vị và bất ngờ của ông khi khám phá thi  
giới trong tập thơ Hoang Vu của Nguyễn Vỹ mà  
theo ông “Nếu Hàn Mặc Tử là nhà thơ của  
TRĂNG thì Nguyễn Vỹ là nhà thơ của ĐÊM,  
của những đêm dài buồn từ trong tâm khảm.  
Tập thơ có 50 bài mà hầu hết là những bài  
tức cảnh về “ĐÊM” như Tiếng Sáo Đêm Khuya,  
Đêm Mùa Xuân Về, Hương Giang Dạ Khúc, Sài  
Gòn Đêm Khuya, Tiếng Súng Đêm, Đêm Sầu về,  
Xuân Dạ, Đêm Trinh... Đó là không kể các bài  
thơ khác như Tiếng Chuông Chùa, Sương Rơi,  
Đôi Bóng, Duyên Trăng, Mưa Rào, Cô Đơn…  
tác giả đều lấy cảm hứng trong cảnh tối” (Ngọa  
Long, 1972). Phải chăng, đây chính là một hệ  
giá trị để cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn  
Vỹ sống lâu bền trong tâm thức của mọi thế hệ  
người đọc cho dù cuộc sống có trải qua bao biển  
cải của cảnh “thương hải biến vi tang điền”.  
Thơ Nguyễn Vỹ, vì vậy không phải là thơ chỉ  
để thể hiện những xúc cảm trước thiên nhiên của  
một thi nhân dấu mình trong chốn “điền viên” để  
vui thú mà thơ ông luôn mạng nặng một nỗi “sầu  
vạn cổ” với những ưu lo, khắc khoải của một  
người nghệ sĩ trước cõi nhân sinh. Chính vì vậy,  
cho dù trong quá trình tiếp nhận thơ Nguyễn Vỹ,  
vẫn còn có những ý kiến khác nhau nhưng thơ  
ông vẫn có một chỗ đứng xứng đáng trong lịch  
sử văn học nước nhà và luôn được người đọc trân  
quý, yêu mến. Đó chẳng phải là niềm hạnh phúc  
và vinh hạnh cho thi nhân đó sao?  
4. Kết luận  
Cuộc đời của con nguời là hữu hạn, không ai  
có thể vượt qua sự hữu hạn đó cho dẫu là thiên  
tài nhưng những gì thuộc về nhân cách văn hóa,  
tấm lòng đối với con người, với dân tộc, với đất  
nước quê hương được thể hiện qua những sáng  
tạo của người nghệ sĩ, sống dấn thân, dám đấu  
tranh chống lại bạo lực, cường quyền - nơi cội  
nguồn sinh ra cái ác, cái xấu, cái bất công, cái  
thấp hèn, cái đê tiện thì sẽ đi vào cõi bất tử, cho  
dù có thể trải qua những chìm nổi trong giông  
bão cuộc đời. Phải chăng, đây cũng là một khao  
khát mà mọi nghệ sĩ chân chính đều hướng tới  
trong đó có nhà thơ Nguyễn Vỹ.  
Nguyễn Vỹ xuất hiện trên văn đàn không  
phải chỉ với tư cách nhà thơ mà còn với tư cách  
nhà biên khảo, dịch thuật, nhà báo, nhà hoạt  
động xã hội mà ở lĩnh vực nào ông cũng có  
những đóng góp nhất định cho nước nhà. Nhưng  
có lẽ cái còn lại trong tâm thức và tâm cảm của  
người đọc khi đến với Nguyễn Vỹ chính là thơ  
ca vì ở đó thể hiện rõ khát vọng cách tân và đổi  
mới của ông trong việc góp phần hiện đại hóa  
nển văn học dân tộc. Không những thế, Nguyễn  
Vỹ còn là một nhà thơ có cá tính sáng tạo độc  
đáo luôn bứt phá và vượt lên chính mình, không  
54  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
bao giờ muốn đóng khung trong một cái khuôn  
có sẵn. Vì vậy, trong quá trình tiếp nhận thơ ông  
luôn tồn tại những ý kiến khác nhau, thậm chí  
đối lập nhau. Song, đây là điều bình thường  
trong tiếp nhận văn học. Bởi khi tầm đón đợi của  
người đọc khác nhau, tồn tại trong những trường  
tiếp nhận khác nhau thì việc có những ý kiến  
khác nhau đối với một hiện tượng văn học là  
điều tất yếu. Và điều này đã thể hiện rõ trong  
quan điểm của các nhà phê bình văn học ở miền  
Nam giai đoạn 1954-1975 khi tiếp nhận thơ  
Nguyễn Vỹ mà bài viết này là một minh chứng.  
Hiểu được điều này chúng ta sẽ bình tâm hơn  
trong việc tiếp nhận các hiện tượng văn học,  
nhất là các hiện tượng văn học có những ý kiến  
trái chiều và đây cũng là những hệ giá trị mà mỹ  
học tiếp nhận hiện đại mang đến cho đời sống lý  
luận phê bình văn học. Bởi, theo quan điểm của  
mỹ học tiếp nhận, lịch sử văn học chính là lịch  
sử của tiếp nhận văn học. Nghiên cứu về quá  
trình tiếp nhận thơ Nguyễn Vỹ trong phê bình  
văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 cũng  
là để giúp chúng ta thấy rõ hơn giá trị riêng có  
của thơ Nguyễn Vỹ cũng như vị trí của thi nhân  
trong lịch sử văn học nước nhà.  
Tài liệu tham khảo  
Tuần Lý Huỳnh Khắc Dụng (1972). Số đặc biệt  
tưởng niệm cố thi sĩ Nguyễn Vỹ. Tạp chí  
Thằng Bờm, 86, tr.2.  
Lam Giang và Vũ Tiến Phúc (1970). Hồn thơ nước  
Việt thế kỷ XX. Sài Gòn, Sơn Quang xuất bản,  
tr.152-157.  
Minh Huy (1962). Những Khuynh hướng trong thi ca  
Việt Nam. Sài Gòn, Khai Trí xuất bản, tr. 133-  
134.  
Bàng Bá Lân (1962). Văn thi sĩ hiện đại. Sài Gòn,  
Nxb. Xây Dựng, tr.143-151.  
Nguyễn Tấn Long (1972). Việt Nam thi nhân tiền  
chiến, Quyển thượng. Sài Gòn, Sống Mới  
Xuất bản.  
Ngọa Long (1972). Số đặc biệt tưởng niệm cố thi sĩ  
Nguyễn Vỹ. Tạp chí Thằng Bờm, 86, tr.16.  
ThếPhong(1957). Lược sửvăn nghệ Việt Nam. Sài Gòn.  
Hoài Thanh, Hoài Chân (2003). Thi nhân Việt Nam.  
Hà Nội, Nxb. Văn học, tr.106-108.  
55  
pdf 7 trang baolam 24840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thơ Nguyễn Vỹ trong tiếp nhận của phê bình văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftho_nguyen_vy_trong_tiep_nhan_cua_phe_binh_van_hoc_o_mien_na.pdf