Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho sinh viên ngữ văn, khoa sư phạm, trường Đại học An Giang

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94  
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO  
CHO SINH VIÊN NGỮ VĂN, KHOA SƯ PHẠM,  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG  
Nguyễn Thị Thu Giang  
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Tác giả liên hệ: [email protected]  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 15/9/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 27/10/2020; Ngày duyệt đăng: 12/01/2020  
Tóm tắt  
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục bắt buộc và giữ vai trò rất quan trọng trong  
chương trình giáo dục phổ thông mới. Để đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết đó, Bộ môn Ngữ  
văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang đã có những hình thức và phương pháp tổ chức các  
hoạt động trải nghiệm sáng tạo một cách đa dạng và linh hoạt cho sinh viên bao gồm: hình thức  
thể nghiệm - tương tác, hình thức khám phá, hình thức nghiên cứu. Trên cơ sở đó, sau khi trở thành  
giáo viên, trong quá trình dạy học, họ sẽ từng bước hình thành các năng lực tổ chức hoạt động trải  
nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông.  
Từ khóa: Chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, phương  
pháp dạy học, sinh viên Ngữ văn.  
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
ORGANIZING CREATIVE EXPERIENCIALACTIVITIES  
FOR LANGUAGE-LITERATURE STUDENTS OF PEDAGOGY  
IN AN GIANG UNIVERSITY  
Nguyen Thi Thu Giang  
An Giang University, Viet Nam National University, Ho Chi Minh City  
Corresponding author: [email protected]u.vn  
Article history  
Received: 15/9/2020; Received in revised form: 27/10/2020; Accepted: 12/01/2021  
Abstract  
Experimental activities are compulsory and significant in the new general education program. On  
meeting these urgent requirements, the Language-Literature Department, Faculty of Education, An  
Giang University has created a wide variety of flexible approahes to these activities for its students,  
namely experimental-interaction, self-discovery, and research. Thereby, when becoming a teacher  
in their teaching process, they will step by step build their own the capacities to organize creative  
experiencial activities for high school students.  
Keywords: Creative experiencial activities, Literature-Language students, teaching methods,  
the new general education program.  
85  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
1. Đặt vấn đề  
thực tiễn, qua trải nghiệm thực tiễn, người học có  
được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất  
định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết  
các nhiệm vụ thực tiễn vận dụng kiến thức, kĩ  
năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong  
tình huống mới, đưa ra hướng giải quyết mới  
cho một vấn đề” (Nguyễn Thị Dung, 2018, tr.  
337). Như vậy, hoạt động trải nghiệm chính là  
sự thay đổi tên, nhiệm vụ, chức năng và phương  
thức mới của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên  
lớp trong chương trình hiện hành, thể hiện sự đổi  
mới căn bản trong mục đích giáo dục của trường  
phổ thông là phát triển phẩm chất, năng lực cho  
học sinh, tạo sự hài hòa, cân đối giữa dạy chữ và  
dạy người. Hoạt động trải nghiệm là hoạt động  
của học sinh, do học sinh, vì học sinh dưới vai  
trò chủ đạo của nhà giáo dục.  
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ  
thông theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất,  
năng lực của người học là yêu cầu cấp thiết trong  
giai đoạn hiện nay. Chương trình giáo dục phổ  
thông - chương trình tổng thể xác định mục tiêu:  
“Giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết  
vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào  
đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa  
chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát  
triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính,  
nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ  
đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp  
tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân  
loại” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018).  
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới,  
hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) là  
một trong những nội dung đổi mới căn bản và là  
hoạt động giáo dục bắt buộc được thực hiện từ  
lớp 1 đến lớp 12, bao gồm: hoạt động trải nghiệm  
ở cấp tiểu học và hoạt động trải nghiệm hướng  
nghiệp ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ  
thông (gọi chung là hoạt động trải nghiệm). Đó là  
những hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định  
hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ  
hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các  
cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm  
đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng  
của các môn học và các lĩnh vực giáo dục để  
thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải  
quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà  
trường, gia đình, xã hội phù hợp lứa tuổi. Thông  
qua những hoạt động đó, học sinh sẽ chuyển hóa  
những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới,  
hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy  
tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với  
cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai.  
Trước những yêu cầu bức thiết đó, để sinh  
viên (SV) sư phạm sau khi ra trường có thể bắt  
nhịp theo kịp chương trình giảng dạy hiện hành ở  
phổ thông và không lúng túng với việc hình thành  
các năng lực tổ chức HĐTNST cho học sinh thì  
các trường đại học sư phạm không chỉ cần phải  
xây dựng được các chương trình đào tạo phù hợp  
với yêu cầu đổi mới để có thể cùng đồng hành  
với những thay đổi ở trường phổ thông mà còn  
cần phải tăng cường việc cho SV học tập từ thực  
tế bằng cách tạo ra các môi trường khác nhau để  
SV trải nghiệm và thể hiện hết khả năng sáng tạo  
của mình. HĐTNST có thể tổ chức theo các quy  
mô khác nhau như: theo nhóm, lớp, theo khóa  
học, theo trường hoặc liên trường,… Trong đó,  
tổ chức theo quy mô nhóm, quy mô lớp và các  
câu lạc bộ (CLB) có rất nhiều ưu thế vì thu hút  
được đông đảo số lượng SV tham gia.  
2. Các HĐTNST cho SV Ngữ văn, Khoa  
Sư phạm, Trường Đại học An Giang  
Vậy hoạt động trải nghiệm là gì? Theo Ngô  
Thị Tuyên: “Hoạt động trải nghiệm trong nhà  
trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ,  
có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng  
các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện  
trong thực tế dưới sự định hướng, hướng dẫn của  
nhà sư phạm. Đối tượng để trải nghiệm nằm trong  
Các hình thức HĐTNST dành cho SV Ngữ  
văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại họcAn Giang có  
nội dung đa dạng, phong phú và mang tính tích  
hợp tổng hợp kiến thức, kỹ năng của liên môn  
với định hướng: phát huy tính tích cực, chủ động,  
sáng tạo của người học; tạo điều kiện cho người  
học trải nghiệm, sáng tạo thông qua các hoạt động  
86  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94  
tìm tòi, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm đã có  
- Hoạt động hướng nghiệp.  
vào đời sống, hình thành, phát triển kỹ năng giải  
quyết vấn đề; tạo cơ hội cho người học suy nghĩ,  
phân tích, khái quát hóa những trải nghiệm để  
kiến tạo kinh nghiệm, kiến thức và kĩ năng mới.  
Quy trình của HĐTNST trong đào tạo SV  
Ngữ văn được tiến hành như sau:  
+ Xác định mục tiêu của HĐTNST: mục  
tiêu của những hoạt động HĐTNST được xác  
định rõ ràng, cụ thể và dựa trên mục tiêu đào  
tạo của chương trình đào tạo SV trình độ đại  
học dành cho SV chuyên ngành Ngữ văn (theo  
CDIO) với những yêu cầu cần đạt về kiến thức,  
Thông qua các hình thức HĐTNST đó, kiến  
thức được tạo ra từ trải nghiệm thông qua một chu  
kỳ học tập: hành động Æ phản ánh trải nghiệm  
Æ trừu tượng hóa khái niệm Æ thử nghiệm, vận  
dụng. Người học không chỉ tiếp thu kiến thức từ kỹ năng, phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp, kỹ  
năng làm việc nhóm và giao tiếp, năng lực thực  
hành và phát triển nghề nghiệp. Nếu xác định  
đúng mục tiêu sẽ có tác dụng: định hướng cho  
hoạt động, là cơ sở để lựa chọn nội dung và điều  
chỉnh hoạt động, căn cứ để đánh giá hoạt động,  
kích thích tính tích cực hoạt động của SV. Tùy  
theo chủ đề của HĐTNST, đặc điểm đối tượng  
SV mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và  
mang màu sắc riêng.  
giảng viên mà thông qua quá trình trải nghiệm  
dựa trên các trải nghiệm hiện có của bản thân  
để thu nhận thông tin mới trong môi trường học  
tập thực tiễn và kiểm tra nó lại bằng trải nghiệm  
của mình.  
1. Trải  
nghiệm  
thực tế  
2. Quan sát  
chiêm  
nghiệm  
+ Xây dựng kế hoạch HĐTNST: (1) Xác  
định không gian, thời gian thực hiện, nội dung  
trải nghiệm sáng tạo, sự phối kết hợp giữa các  
thành phần tham gia; (2) Xây dựng kế hoạch chi  
tiết, cụ thể, khoa học để thực hiện tốt được các  
mục tiêu đã đề ra, phát huy được ý tưởng sáng  
tạo của các cá nhân vào hoạt động chung.  
4. Hình  
thành khái  
niệm trừ  
tượng  
3. Thử  
nghiệm  
trong tình  
huống mới  
+ Triển khai HĐTNST: tiến hành triển khai  
HĐTNST theo kế hoạch đã được đề ra với các  
hình thức tổ chức đa dạng, phong phú, hấp dẫn,  
khơi gợi hứng thú để thu hút đông đảo SV tham  
gia nhưng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn để  
điều chỉnh kịp thời khi có tình huống phát sinh.  
Hình 1. Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm  
của Kolb  
+ Nghiệm thu kết quả HĐTNST và rút kinh  
nghiệm: phương án nghiệm thu kết quả được xác  
định ngay từ bước lập kế hoạch và công bố trước  
để SV chủ động, có mục tiêu rõ ràng khi tham gia  
các HĐTNST. SV nên được cùng tham gia vào  
việc nghiệm thu, đánh giá và tự rút kinh nghiệm  
để các HĐTNST thực sự có ý nghĩa thiết thực  
đối với từng cá nhân SV.  
(Trịnh Thị Hương, 2018, tr. 348).  
Nội dung hoạt động trải nghiệm trong  
chương trình HĐTNST cho SV Ngữ văn tại Khoa  
Sư phạm Trường Đại học An Giang được triển  
khai qua bốn loại hoạt động chính gồm:  
- Hoạt động hướng vào bản thân (khám phá  
và rèn luyện bản thân).  
Các hình thức HĐTNST dành cho SV Ngữ  
văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang  
có thể chia thành 3 nhóm sau đây:  
- Hoạt động hướng đến xã hội.  
- Hoạt động hướng đến tự nhiên.  
87  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
2.1. Hoạt động thể nghiệm, tương tác  
hòa mình vào tác phẩm, SV mới có thể nhập vai  
một cách tốt nhất. Sau khi thực hiện vai diễn,  
các em sẽ điều chỉnh lại và rút kinh nghiệm mới,  
nhận ra đâu là cái hay của nhân vật để hiểu sâu  
hơn nội dung tác phẩm.  
Hình thức thể nghiệm tương tác là cách tổ  
chức hoạt động tạo cơ hội cho SV giao lưu, tác  
nghiệp và thể nghiệm ý tưởng như: diễn đàn,  
đóng kịch, hội thảo, hội thi, trò chơi, hoạt động  
câu lạc bộ,…  
Để sân khấu hóa các tác phẩm văn học, Bộ  
môn Ngữ văn thường xuyên tổ chức chương trình  
ngoại khóa Văn học dân gian dành cho SV Sư  
phạm Ngữ văn năm thứ nhất. Đây là sân chơi  
tạo điều kiện cho SV sáng tạo và thể hiện các tác  
phẩm văn học dân gian bằng nhiều hình thức diễn  
xướng phong phú: hát dân ca, múa dân gian, hò,  
hát ru, diễn vè, thời trang nhân vật Văn học dân  
gian, tiểu phẩm kịch chuyển thể từ truyện dân  
gian, sân khấu dân gian,...  
2.1.1. Hoạt động talkshow nhập vai tác giả,  
nhà phê bình  
Trong giờ học, giảng viên có thể cho SV thể  
nghiệm vai trò là tác giả hoặc người phê bình,  
đánh giá tác phẩm. Giảng viên có thể cho SV  
đóng vai trò là tác giả để thử lí giải tại sao tác giả  
lại viết như thế; cho SV viết tiếp hay viết lại đoạn  
kết của tác phẩm và lí giải nguyên nhân tại sao lại  
viết như vậy. Hoặc giảng viên cho SV hóa thân  
vào một nhân vật nào đó để kể hoặc viết lại nội  
dung tác phẩm. Qua đó SV sẽ bộc lộ hết những  
sự hiểu biết và cảm nhận về tác phẩm. Trong vai  
trò người phê bình, đánh giá tác phẩm: giảng viên  
yêu cầu SV nhận xét, đánh giá tìm ra những nét  
đặc sắc, cái hay (hoặc chưa hay) của tác phẩm  
hoặc nêu cảm nhận, bình giảng về một chi tiết hay  
trong tác phẩm,… Bên cạnh đó, giảng viên còn  
cho SV thảo luận nhóm và thuyết trình trong giờ  
học để tăng cường sự tự tin cho SV khi trình bày  
ý kiến của mình và biết lắng nghe ý kiến của các  
thành viên khác. Từ đó SV có thể tự điều chỉnh  
cách hiểu của mình và có cái nhìn đúng hơn về  
vấn đề được nêu lên trong tác phẩm.  
Ngoài ra, Bộ môn còn tổ chức chương trình  
Dạ hội văn học vào học kì 2 hằng năm, bao gồm  
các tiết mục sân khấu hóa những tác phẩm văn  
học lớn, nổi tiếng, quen thuộc trong chương trình  
Ngữ văn. SV sẽ phụ trách tất cả các khâu: viết  
kịch bản, đạo diễn và làm diễn viên. Chương  
trình tạo điều kiện cho SV Ngữ văn sáng tạo và  
thể hiện tài năng, hỗ trợ cho các em tiếp nhận  
các tác phẩm văn chương bằng nhiều hình thức  
phong phú.  
2.1.3. Hội thảo khoa học chuyên ngành  
Ngữ văn  
Hoạt động này diễn ra dưới hình thức SV  
trao đổi, thảo luận về một số vấn đề khác nhau  
xoay quanh một chủ đề cụ thể được chọn trước  
để thống nhất một sự hiểu biết chung và xác lập  
những thái độ, hành động phù hợp với những  
vấn đề đó. Nội dung hội thảo thường xuất hiện  
những quan điểm, ý kiến trái chiều nhau hoặc sử  
dụng nhiều kiến thức và kinh nghiệm để đánh  
giá, kết luận hay sáng tạo ra ý tưởng mới. SV  
sẽ được đặt trong những tình huống có vấn đề,  
thông qua việc giải quyết vấn đề để lĩnh hội tri  
thức, rèn luyện kĩ năng và phương pháp. Trong  
hội thảo, giảng viên sẽ là người định hướng, dẫn  
dắt, khích lệ sự mạnh dạn, tích cực của SV để tạo  
không khí thảo luận sôi nổi. Trải nghiệm sáng  
tạo dưới hình thức hội thảo sẽ giúp cho SV hình  
thành và phát triển các kĩ năng cần thiết như: kĩ  
Bộ môn Ngữ văn cũng thường xuyên trình  
chiếu một số bộ phim chuyển thể từ tác phẩm  
văn học để SV tham khảo và nghiên cứu: Hồng  
lâu mộng (Trung Quốc), Sử thi Mahabharatha  
(Ấn Độ), Romeo and Juliet (Anh), Othello (Anh),  
Những người khốn khổ (Pháp), Eugenie Grandet  
(Pháp), Anna Karenina (Nga), Chiến tranh và  
hoà bình (Nga), Cuốn theo chiều gió (Mỹ), Love  
Story (Mỹ), The old man and the sea (Mỹ), Nửa  
chừng xuân (Việt Nam), Số đỏ (Việt Nam),…  
2.1.2. Hoạt động sân khấu hóa các tác phẩm  
văn học  
Giảng viên tạo cơ hội cho SV hóa thân vào  
các nhân vật văn học. Chỉ khi có sự thấu hiểu,  
88  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94  
năng trình bày, kĩ năng thuyết phục, lắng nghe,  
chia sẻ và hợp tác,…  
CLB Văn thơ đã tạo ra một sân chơi đầy ý  
nghĩa cho các bạn SV yêu thích thơ văn: các bạn  
SV được bồi dưỡng kiến thức văn học, được thể  
hiện năng khiếu sáng tác. Các chủ đề tình yêu quê  
hương đất nước, tình cảm gia đình, tình thầy cô  
bạn bè và tình yêu đôi lứa được khai thác nhiều  
nhất trong các sáng tác, góp phần bồi dưỡng và  
giáo dục những tình cảm đẹp trong sáng nâng  
cao việc rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp  
trong SV. CLB cũng gới thiệu được nhiều cây  
bút có triển vọng trên các báo, tạp chí trong và  
ngoài tỉnh: Báo Áo Trắng, Tạp chí Thất Sơn,…  
Tháng 10/2008, CLB Văn thơ đã nhận được bằng  
khen của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh An Giang  
về những đóng góp cho hoạt động văn học nghệ  
thuật tỉnh nhà.  
Nhận thức được tầm quan trọng của các hội  
thảo khoa học chuyên ngành đối với việc giúp cho  
người học có những cơ hội để vận dụng kiến thức  
và kinh nghiệm đã có vào thực tiễn từ đó hình  
thành và phát triển các kỹ năng, Bộ môn Ngữ văn  
đã tổ chức các hội thảo như: Hội thảo Khoa học  
cấp Khoa Những vấn đề văn học, ngôn ngữ và  
dạy học Ngữ văn vào tháng 11/2018 và Hội thảo  
cấp trường Những vấn đề văn học, ngôn ngữ và  
dạy - học ngữ văn trong bối cảnh đổi mới chương  
trình giáo dục phổ thông vào tháng 4/2018. Hội  
thảo chính là những diễn đàn học thuật để các nhà  
khoa học, nhà nghiên cứu, các giảng viên, giáo  
viên, SV gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.  
CLB Hán Nôm tạo sân chơi học thuật để các  
SV có niềm đam mê chữ Hán và chữ Nôm của  
Bộ môn Ngữ văn được học tập, rèn luyện, trao  
đổi kinh nghiệm. Bên cạnh đó, CLB cũng thường  
xuyên xây dựng lực lượng thu thập, nghiên cứu  
tư liệu Hán Nôm tại địa bàn An Giang và thành  
lập Tủ sách tư liệu Hán Nôm địa phương tại Bộ  
môn Ngữ văn. Từ đó, CLB góp phần xây dựng  
đội ngũ nghiên cứu văn hóa, lịch sử địa phương  
cho tỉnh nhà; góp phần tìm hiểu và giới thiệu văn  
hóa, văn học Hán Nôm An Giang.  
2.1.4. Hội thi Nghiệp vụ sư phạm  
Các nội dung thi gồm có: thi viết chữ đẹp;  
thi kỹ năng sư phạm Ngữ văn: hát dân ca (văn  
học dân gian); hát nhạc phổ thơ (văn học hiện  
đại); ngâm thơ (văn học trung đại và văn học hiện  
đại); kể chuyện (tóm tắt và kể một tác phẩm văn  
học nước ngoài); đọc diễn cảm (1 đoạn thơ và 1  
đoạn văn xuôi), xử lý tình huống sư phạm, bình  
ca dao, bình thơ, ứng dụng công nghệ thông tin để  
soạn một giáo án và trình bày ý tưởng thiết kế,…  
Đây là hội thi do Khoa Sư phạm phối hợp  
cùng Bộ môn Ngữ văn tổ chức căn cứ theo hướng  
dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở bám  
sát những mục tiêu cụ thể của Chương trình đào  
tạo ngành Ngữ văn. Hội thi đã góp phần đẩy  
mạnh phong trào rèn luyện nghiệp vụ và nâng  
cao ý thức rèn luyện những kỹ năng mang đặc  
thù nghề nghiệp cho SV.  
Các thành viên CLB sinh hoạt định kì 1 buổi/  
tuần. Nội dung sinh hoạt bao gồm: hướng dẫn  
các thao tác viết thư pháp, nhận diện chữ, đánh  
máy, tra sách công cụ, phiên âm, dịch nghĩa, chú  
thích văn bản Hán Nôm; tiến tới nghiên cứu tư  
liệu Hán Nôm gắn liền với từng trường hợp cụ  
thể; tham gia các buổi chia sẻ kinh nghiệm, giao  
lưu với các chuyên gia trong và ngoài trường.  
Các thành viên cũng được tổ chức đi điền dã để  
khảo sát, ghi chép, thu thập tư liệu Hán Nôm ít  
nhất 1 lần/1 học kì, gắn liền với các bài tập Hán  
Nôm trên lớp hoặc các đề tài mà CLB đăng kí  
thực hiện.  
2.1.5. Hoạt động CLB: CLB Văn thơ, CLB  
Hán Nôm  
Đây là hình thức hoạt động ngoại khóa  
của một nhóm SV cùng sở thích, nhu cầu, năng  
khiếu,… dưới định hướng của nhà giáo dục nhằm  
tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa  
các SV với nhau và giữa SV với các thầy cô giáo.  
Các CLB đều có lịch sinh hoạt định kì với các  
chủ đề thảo luận nghiên cứu khác nhau.  
2.2. Hoạt động dã ngoại, tham quan thực tế  
Việc cho SV đi tham quan các địa điểm liên  
quan đến tác phẩm văn học hay giao lưu cùng  
nhà văn, nhà thơ là điều kiện tốt nhất để SV Ngữ  
89  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
văn có thể hiểu đúng và cảm nhận sâu sắc hơn về nhà thơ Inrasara, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa,  
tác phẩm. Đây là một trong những hình thức tổ đạo diễn Việt Linh, nhà văn Nguyễn Đông Thức,  
Đoàn Thạch Biền, Dạ Ngân, Nguyên Ngọc,...  
chức học tập trải nghiệm vô cùng hiệu quả bởi  
tính hấp dẫn đối với người học.  
2.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học  
Mỗi năm Bộ môn Ngữ văn đều tổ chức cho  
SV năm thứ 3 đi thực tế, chủ yếu khu vực thành  
phố Hồ chí Minh và miền Trung nhằm gúp SV  
có điều kiện mở rộng sự hiểu biết của bản thân  
về văn hoá, văn học các vùng miền, các triều đại  
phong kiến Việt Nam. Đặc biệt là tìm hiểu về triều  
đại nhà Nguyễn kéo dài gần 300 năm ở nước ta;  
hiểu sâu sắc hơn về hai cuộc kháng chiến chống  
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập  
cho dân tộc, thống nhất đất nước. Với việc tham  
quan các chứng tích lịch sử, văn hóa, văn học,  
SV sẽ có điều kiện khắc sâu mối quan hệ giữa  
văn học và lịch sử, cũng như mở rộng kiến thức  
văn học Việt Nam và có điều kiện liên hệ thực  
tế cho công tác giảng dạy sau này.  
Hoạt động này tạo cơ hội cho SV tham gia  
các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học nhờ những  
cảm hứng từ những trải nghiệm thực tế như:  
các hoạt động khảo sát, điều tra, dự án nghiên  
cứu, sáng tạo nghệ thuật,…Về bản chất, nghiên  
cứu khoa học cũng là HĐTNST, hoạt động trải  
nghiệm trên lĩnh vực khoa học, phục vụ giải quyết  
những vấn đề trong thực tiễn. Thực hiện nghiên  
cứu khoa học là một trong những phương pháp  
hiệu quả để SV mở rộng vốn kiến thức cũng như  
vốn kĩ năng mềm của bản thân; là cơ hội để SV  
áp dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào  
việc giải quyết những vấn đề thực tiễn.  
Nghiên cứu khoa học của SV cũng đang  
được Bộ môn cũng như Khoa Sư phạm và Trường  
Đại học An Giang quan tâm và phát huy. Những  
năm qua, các giảng viên trong Bộ môn cũng đã  
tích cực hướng dẫn và hỗ trợ cho SV bước đầu  
thực hiện và hoàn thành một số đề tài nghiên  
cứu khoa học cấp Khoa, cấp Trường. Hiện nay,  
Bộ môn có 8 đề tài nghiên cứu khoa học của SV  
đã được nghiệm thu và 01 khóa luận tốt nghiệp  
chuyển đổi thành đề tài cấp trường. SV Ngữ văn  
Tham quan thực tế Văn học (1 tín chỉ) được  
thiết kế là 1 học phần bắt buộc trong chương  
trình đào tạo của ngành Ngữ văn. Trong suốt thời  
gian tham quan thực tế, SV được phân công tìm  
hiểu, viết báo cáo, trình bày về những đặc điểm  
văn hóa, lịch sử, văn học liên quan đến những  
địa danh, thắng cảnh. Trước chuyến tham quan,  
giảng viên phụ trách học phần ra đề tài và hướng  
dẫn SV cách viết thu hoạch. Sau đợt thực tế, các cũng có nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp  
SV phải viết bài thu hoạch và nộp về Bộ môn để chí chuyên ngành và nhiều bài tham luận đăng  
được đánh giá kết quả.  
trong các kỷ yếu hội thảo khoa học.  
3. Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi và  
phỏng vấn SV về những hình thức và phương  
pháp tổ chức các HĐTNST cho SV Ngữ văn,  
Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang  
Trong học phần Giới thiệu ngành, SV Ngữ  
văn năm thứ nhất còn được gặp gỡ, giao lưu với  
các cựu SV ngành Ngữ văn hiện đang là MC,  
phóng viên báo đài, các nhà văn nhà thơ của Hội  
văn học nghệ thuật tỉnh An Giang,... để được lắng  
nghe và chia sẻ kinh nghiệm. Hoạt động này giúp  
cho các tân SV nhanh chóng tiếp cận với phương  
pháp học tập ở đại học, nắm vững các kiến thức  
chuyên ngành và tìm hiểu một số cơ sở lý thuyết  
đối với các hoạt động thực hành nghề nghiệp. Bên  
cạnh đó, Bộ môn cũng thường xuyên mời một số  
nhà văn, nhà thơ hoặc nhà nghiên cứu văn học  
giao lưu với bộ môn, gặp gỡ SV Ngữ văn, ví dụ  
như các chương trình ngoại khóa giao lưu với  
Những hình thức và phương pháp tổ chức  
các HĐTNST trên đã được áp dụng cho các lớp  
SV chuyên ngành Ngữ văn, Khoa Sư phạm,  
Trường Đại học An Giang từ nhiều năm nay,  
kể từ khi Trường Đại học An Giang còn là  
Trường Cao đẳng Sư phạm An Giang. Từ năm  
2000 đến đến 2018, Bộ môn Ngữ văn chỉ đào  
tạo SV chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn (Kí  
hiệu tên lớp: DHNV). Đến năm 2018, Khoa Sư  
phạm đã mở rộng tuyển sinh và đào tạo thêm  
90  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94  
* Về sự tham gia các HĐTNST của SV  
chuyên ngành Ngữ văn, Khoa Sư phạm,  
Trường Đại học An Giang  
chuyên ngành Cử nhân văn học (Kí hiệu tên  
lớp: DHVH).  
Phạm vi khảo sát về hiệu quả của những  
hình thức và phương pháp tổ chức các HĐTNST  
cho SV Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại  
học An Giang trong phạm vi bài viết này được  
giới hạn kể từ Khóa 17 đến nay, tương ứng với  
khoảng thời gian khảo sát là 04 năm (bắt đầu  
từ năm 2016 đến 2020) với tổng số lượng SV  
như sau:  
Bảng 2. Thống kê tỉ lệ SV chuyên ngành  
Ngữ văn tham gia vào các HĐTNST  
Tỉ lệ  
Những hình thức tổ chức  
HĐTNST cho SV  
% SV  
tham  
gia  
STT  
Hoạt động talkshow, nhập vai tác  
giả, nhà phê bình  
1
2
3
4
40  
70  
30  
65  
Bảng 1. Thống kê số lượng SV chuyên ngành  
Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An  
Giang từ năm 2016 đến 2020  
Hoạt động sân khấu hóa các tác  
phẩm văn học  
Khóa đào  
tạo  
Số lượng  
SV  
STT  
Lớp  
Hội thảo khoa học chuyên ngành  
Ngữ văn  
1
2
3
4
5
6
DH17NV  
DH18NV  
DH19NV  
DH19VH  
DH20NV  
DH20VH  
Tổng  
2016 - 2020  
2017- 2021  
2018 - 2022  
2018 - 2022  
2019 - 2023  
2019 - 2023  
27  
37  
Hội thi Nghiệp vụ sư phạm (Nét  
đẹp Ngữ văn)  
5
6
CLB Văn thơ  
37  
35  
21  
CLB Hán Nôm  
27  
Hoạt động dã ngoại, tham quan  
thực tế  
7
100  
15  
Hoạt động nghiên cứu khoa học  
21  
(Tham gia viết bài tham luận đăng  
Kỷ yếu Hội thảo khoa học, viết bài  
báo khoa học, tham gia đề tài ng-  
hiên cứu khoa học cấp Khoa, tham  
gia đề tài nghiên cứu khoa học cấp  
trường).  
148  
8
15  
Có 148 phiếu khảo sát được phát ra và có  
148 phiếu được thu về. Thống kê các ý kiến  
trong phiếu hỏi về hiệu quả của những hình thức  
và phương pháp tổ chức các HĐTNST cho SV  
Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An  
Giang như sau:  
* Khảo sát về quy trình của HĐTNST  
cho SV Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại  
học An Giang  
Bảng 3. Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá của SV về các HĐTNST  
Mức độ phù hợp  
Hoàn  
toàn đồng  
ý
STT  
Nội dung  
Đồng ý  
một phần đồng ý  
Không  
Các HĐTNST này cung cấp cho SV những kiến thức bổ ích về  
văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, Hán Nôm, ngôn ngữ,  
phương pháp sư phạm,… hỗ trợ cho việc học tập ở bậc đại học  
chuyên ngành Ngữ văn và công tác sau này.  
1
94,5%  
5,5 %  
0,0%  
91  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Thông qua các HĐTNST này, SV được hình thành và phát triển  
các kỹ năng, phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp cần thiết.  
2
91,9%  
97,3%  
5,4%  
2,7%  
2,7%  
0,0%  
Thông qua các HĐTNST này, SV có kỹ năng làm việc nhóm  
và kỹ năng giao tiếp hiệu quả hơn.  
3
Thông qua các HĐTNST này, SV được rèn luyện về năng  
4
5
6
lực thực hành nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn và 86,5%  
nghiệp vụ.  
13,5%  
15,3%  
0,0%  
0,0%  
4,5%  
0,0%  
Kế hoạch HĐTNST được xây dựng một cách chi tiết, cụ thể,  
khoa học để thực hiện tốt được các mục tiêu đã đề ra, phát huy 80,2%  
được ý tưởng sáng tạo của các cá nhân vào hoạt động chung.  
Kế hoạch HĐTNST xác định được không gian, thời gian thực  
hiện, nội dung TNST, sự phối kết hợp giữa các thành phần  
tham gia.  
100%  
7
8
Các HĐTNST được triển khai theo đúng kế hoạch đã đề ra.  
85,7%  
90,6%  
10,4%  
9,0%  
3,9%  
0,4%  
Hình thức tổ chức HĐTNST đa dạng, phong phú, hấp dẫn, gây  
hứng thú cho SV.  
Các HĐTNST được thông báo rộng rãi đến toàn thể SV và thu  
hút đông đảo SV tham gia  
9
100%  
0,0%  
0,0%  
Có phương án nghiệm thu kết quả tham gia các HĐTNST trong  
Kế hoạch và công bố cho SV biết để SV chủ động và có mục tiêu  
rõ ràng khi tham gia các hoạt động HĐTNST (Phiếu khảo sát/  
Bảng hỏi về những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực mà  
SV cần đạt được sau khi tham gia các HĐTNST, Bài thu hoạch,  
Bài kiểm tra cá nhân,..)  
10  
40,5%  
30,2%  
29,3%  
Tôi sẽ tham gia (hoặc tiếp tục tham gia) các HĐTNST cho SV  
11 chuyên ngành Ngữ văn do Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, 90,7%  
Trường Đại học An Giang tổ chức.  
9,3%  
0,0%  
Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ SV đối với bản thân các em, thể hiện ở việc trang bị  
tham gia vào các HĐTNST không đồng đều: có và rèn luyện cho SV những kiến thức, kỹ năng,  
những hoạt động tỉ lệ SV tham gia khá cao: Hoạt phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp, kỹ năng làm  
động dã ngoại, tham quan thực tế (100%); Hoạt việc nhóm và giao tiếp, năng lực thực hành và  
động sân khấu hóa các tác phẩm văn học (70%); phát triển nghề nghiệp (94,5%). Như vậy, về cơ  
Hội thi Nghiệp vụ sư phạm (Nét đẹp Ngữ văn) bản thì đã được các mục tiêu của các HĐTNST.  
(65%), nhưng cũng có nhiều hoạt động tỉ lệ SV  
tham gia còn rất thấp: CLB Văn thơ, CLB Hán  
Nôm, Hội thảo khoa học chuyên ngành Ngữ văn,  
hoạt động talkshow, nhập vai tác giả, nhà phê  
bình, hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên  
đa số SV đều rất có hứng thú với việc tham gia  
các HĐTNST (90,7%).  
Về kế hoạch HĐTNST: đa số các ý kiến cho  
rằng kế hoạch HĐTNST được xây dựng một cách  
chi tiết, cụ thể, khoa học (80,2%).  
Về triển khai kế hoạch HĐTNST: Các  
HĐTNST được triển khai theo đúng kế hoạch đã  
đề ra (85,7%), hình thức tổ chức HĐTNSTđa dạng,  
phong phú, hấp dẫn, gây hứng thú cho SV(90,6%),  
các HĐTNST được thông báo rộng rãi đến toàn  
thể SV và thu hút đông đảo SV tham gia (100%).  
Về các ý kiến đánh giá chung, đa số SV  
cho rằng các HĐTNST là rất bổ ích, thiết thực  
92  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94  
Tuy nhiên, về việc nghiệm thu kết quả có kế hoạch HĐTNST chi tiết, cụ thể, phong  
tham gia các HĐTNST, chỉ có 40,5% SV đồng phú, hấp dẫn, bổ ích và thiết thực, đông đảo SV  
ý hoàn toàn với ý kiến cho rằng Bộ môn đã có tỏ ra có hứng thú và nhiệt tình tham gia vào các  
những phương án nghiệm thu kết quả tham gia HĐTNST.  
các HĐTNST trong kế hoạch và công bố cho SV  
biết để SV chủ động và có mục tiêu rõ ràng khi  
tham gia các hoạt động HĐTNST.  
- Khó khăn: tỉ lệ SV tham gia vào các  
HĐTNST không đồng đều, khâu nghiệm thu kết  
quả HĐTNST và rút kinh nghiệm còn chưa được  
* Về những đề xuất, kiến nghị để nâng quan tâm đúng mực (phương án nghiệm thu kết  
cao hiệu quả của những hình thức và phương quả còn chưa được xác định ngay từ bước lập kế  
pháp tổ chức các HĐTNST cho SV Ngữ văn, hoạch và công bố trước để SV chủ động, có mục  
Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang: tiêu rõ ràng khi tham gia một số HĐTNST, SV  
tổng cộng có 7 ý kiến đề xuất, kiến nghị của SV chưa được cùng tham gia vào việc nghiệm thu,  
xoay quanh các nhóm vấn đề chính sau đây: đánh giá và rút kinh nghiệm để các HĐTNST  
thực sự có ý nghĩa thiết thực đối với từng cá  
nhân SV).  
+ Về sự tham gia các HĐTNST: đề nghị việc  
tham gia các HĐTNST là bắt buộc đối với tất cả  
SV và có tính điểm vào các học phần vì có nhiều  
SV không tham gia.  
- Kiến nghị, đề xuất:  
+ Trước khi tiến hành HĐTNST, Bộ môn  
+ Về việc tham gia Hội thảo khoa học lập kế hoạch chi tiết, trong đó có nêu rõ phương  
chuyên ngành Ngữ văn: SV không có khả năng án nghiệm thu kết quả tham gia các HĐTNST  
tham gia vì không có kinh nghiệm viết bài tham trong kế hoạch và công bố cho SV biết để SV  
luận vì không có kinh nghiệm, e dè, không mạnh chủ động và có mục tiêu rõ ràng khi tham gia các  
dạn viết.  
hoạt động HĐTNST.  
+ Về hoạt động của các CLB: thường xuyên  
+ Việc tham gia các HĐTNST phải là một  
bị gián đoạn do thiếu nhân sự làm chủ nhiệm CLB hoạt động bắt buộc hoặc được điểm cộng hay  
và các thành viên cốt cán tốt nghiệp ra trường, được tính điểm vào các học phần để thu hút đông  
chưa có thành viên thay thế (CLB Hán Nôm), SV đảo SV tham gia.  
không có năng khiếu sáng tác văn thơ nên không  
tham gia được.  
+ Để triển khai các HĐTNST, cần thiết phải  
xây dựng các kĩ năng mềm cho SV. SV phải huy  
+ Về nghiệm thu kết quả tham gia các động các kiến thức, kĩ năng, các phẩm chất năng  
HĐTNST: SV còn ít được góp ý kiến để điều lực tổng hợp để giải quyết các nhiệm vụ trong  
chỉnh một số mặt trong việc tổ chức các HĐTNST quá trình tham gia các HĐTNST, vì vậy, trong  
của Bộ môn.  
quá trình giảng dạy các học phần của mình, mỗi  
giảng viên phải chú ý tổ chức các HĐTNST ngay  
tại lớp cho SV như một quá trình tập dượt trước  
và cũng để trang trị kiến thức, kĩ năng, phẩm chất,  
năng lực cần thiết để SV có đủ tự tin tham gia  
vào các HĐTNST do Bộ môn tổ chức ở khuôn  
khổ ngoài lớp học.  
4. Những thuận lợi, khó khăn, đề xuất  
và kiến nghị trong việc tổ chức các HĐTNST  
cho SV Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại  
học An Giang  
- Thuận lợi: Ban Giám hiệu Trường Đại học  
An Giang, lãnh đạo Khoa Sư phạm, lãnh đạo Bộ  
môn Ngữ văn và các giảng viên trong Bộ môn  
Ngữ văn luôn đồng tình ủng hộ và rất nhiệt huyết  
với việc tổ chức các HĐTNST cho SV, có sự  
phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân, tổ chức  
trong việc tổ chức và triển khai các HĐTNST,  
+ Kết thúc mỗi HĐTNST: giảng viên yêu  
cầu SV viết và nộp bài thu hoạch, nộp các tư liệu  
văn học (được xây dựng theo nhóm). Kết quả  
đánh giá nội dung bài thu hoạch và các tư liệu văn  
học được tính thành một bài kiểm tra điều kiện  
93  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
trong một học phần. Bên cạnh đó, cũng cần cho của một số em còn rất lạc hậu khi chỉ coi trọng  
SV được tham gia đóng góp ý kiến để điều chỉnh việc soạn giáo án và tập giảng mà xem nhẹ việc  
một số mặt trong việc tổ chức các HĐTNST.  
tổ chức các HĐTNST cho học sinh ngoài giờ  
lên lớp. SV còn khá mơ hồ với thực tiễn giáo  
dục ở phổ thông, không có khả năng hướng dẫn  
học sinh và tạo được những hoạt động thu hút  
sự tham gia của nhiều học sinh ở các hoạt động  
ngoài giờ lên lớp bởi chính bản thân SV khi học  
ở các trường đại học sư phạm không tham gia  
nhiều vào các HĐTNST này. Vì vậy, HĐTNST  
phải là hoạt động bắt buộc tất cả SV phải tham  
gia. Bên cạnh đó, các giảng viên ở trường sư  
phạm phải đánh giá chặt chẽ kết quả HĐTNST  
của SV và đưa vào Hồ sơ quá trình trải nghiệm  
sáng tạo. Hồ sơ này cần phải được xem là một  
trong những minh chứng thuyết phục để đánh giá  
chuẩn đầu ra của SV về phẩm chất, năng lực và  
các kỹ năng thực hành nghề nghiệp./.  
5. Kết luận  
HĐTNST là hoạt động giữ vai trò rất quan  
trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới.  
Hoạt động này giúp cho người học có nhiều cơ  
hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức  
học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng  
lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng  
tạo của bản thân. Đây là những hoạt động giáo  
dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm cuộc  
sống giúp phát triển tính sáng tạo và cá tính riêng  
của mỗi cá nhân trong tập thể. Điều này đòi hỏi  
các hình thức và phương pháp tổ chức HĐTNST  
phải đa dạng, linh hoạt, người học tự hoạt động,  
trải nghiệm là chính. Bài viết đã tổng kết và trình  
bày một số hình thức tổ chức HĐTNST cơ bản  
mà giảng viên Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm  
Trường Đại học An Giang tổ chức cho SV trong  
suốt khóa học để hình thành các năng lực tổ chức  
HĐTNST cho học sinh phổ thông sau khi SV ra  
trường và công tác.  
Tài liệu tham khảo  
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Thông tư ban  
hành Chương trình giáo dục phổ thông  
- chương trình tổng thể. Số 32/2018/TT-  
BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018.  
Như vậy, ở các trường đại học và cao đẳng  
sư phạm, tuy đã có nhiều sự thay đổi trong  
phương pháp dạy học, có nhiều HĐTNST cho SV  
nhưng việc tổ chức các hoạt động này cần phải  
có sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực  
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường: cán bộ  
quản lí, cố vấn học tập, giảng viên bộ môn, Đoàn  
thanh niên và cả các tổ chức, cá nhân ngoài xã  
hội. Bên cạnh đó, trường đại học cũng cần phải  
phát triển nội dung chương trình và tài liệu về  
hoạt động trải nghiệm.  
Nguyễn Thị Dung. (2018). Hoạt động trải nghiệm  
trong dạy học kể chuyện của học sinh lớp  
4,5. Kỷ yếu Hội thảo Đào tạo, bồi dưỡng  
giáo viên Ngữ văn trước yêu cầu đổi mới  
giáo dục phổ thông. Hà Nội: NXB Đại học  
Quốc gia.  
Trịnh Thị Hương. (2018). Phát triển năng lực  
thẩm mỹ cho học sinh tiểu học trong môn  
tập đọc thông qua trải nghiệm. Kỷ yếu Hội  
thảo Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn  
trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.  
Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia.  
Về phía SV, có một thực trạng là nhận thức  
94  
pdf 10 trang baolam 24760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho sinh viên ngữ văn, khoa sư phạm, trường Đại học An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfto_chuc_hoat_dong_trai_nghiem_sang_tao_cho_sinh_vien_ngu_van.pdf