Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho sinh viên ngữ văn, khoa sư phạm, trường Đại học An Giang
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO
CHO SINH VIÊN NGỮ VĂN, KHOA SƯ PHẠM,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Nguyễn Thị Thu Giang
Trường Đại học An Giang, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 15/9/2020; Ngày nhận chỉnh sửa: 27/10/2020; Ngày duyệt đăng: 12/01/2020
Tóm tắt
Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục bắt buộc và giữ vai trò rất quan trọng trong
chương trình giáo dục phổ thông mới. Để đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết đó, Bộ môn Ngữ
văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang đã có những hình thức và phương pháp tổ chức các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo một cách đa dạng và linh hoạt cho sinh viên bao gồm: hình thức
thể nghiệm - tương tác, hình thức khám phá, hình thức nghiên cứu. Trên cơ sở đó, sau khi trở thành
giáo viên, trong quá trình dạy học, họ sẽ từng bước hình thành các năng lực tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông.
Từ khóa: Chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, phương
pháp dạy học, sinh viên Ngữ văn.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
ORGANIZING CREATIVE EXPERIENCIALACTIVITIES
FOR LANGUAGE-LITERATURE STUDENTS OF PEDAGOGY
IN AN GIANG UNIVERSITY
Nguyen Thi Thu Giang
An Giang University, Viet Nam National University, Ho Chi Minh City
Corresponding author: [email protected]u.vn
Article history
Received: 15/9/2020; Received in revised form: 27/10/2020; Accepted: 12/01/2021
Abstract
Experimental activities are compulsory and significant in the new general education program. On
meeting these urgent requirements, the Language-Literature Department, Faculty of Education, An
Giang University has created a wide variety of flexible approahes to these activities for its students,
namely experimental-interaction, self-discovery, and research. Thereby, when becoming a teacher
in their teaching process, they will step by step build their own the capacities to organize creative
experiencial activities for high school students.
Keywords: Creative experiencial activities, Literature-Language students, teaching methods,
the new general education program.
85
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
1. Đặt vấn đề
thực tiễn, qua trải nghiệm thực tiễn, người học có
được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất
định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết
các nhiệm vụ thực tiễn vận dụng kiến thức, kĩ
năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong
tình huống mới, đưa ra hướng giải quyết mới
cho một vấn đề” (Nguyễn Thị Dung, 2018, tr.
337). Như vậy, hoạt động trải nghiệm chính là
sự thay đổi tên, nhiệm vụ, chức năng và phương
thức mới của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp trong chương trình hiện hành, thể hiện sự đổi
mới căn bản trong mục đích giáo dục của trường
phổ thông là phát triển phẩm chất, năng lực cho
học sinh, tạo sự hài hòa, cân đối giữa dạy chữ và
dạy người. Hoạt động trải nghiệm là hoạt động
của học sinh, do học sinh, vì học sinh dưới vai
trò chủ đạo của nhà giáo dục.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ
thông theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất,
năng lực của người học là yêu cầu cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay. Chương trình giáo dục phổ
thông - chương trình tổng thể xác định mục tiêu:
“Giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết
vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào
đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa
chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát
triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính,
nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ
đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp
tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân
loại” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018).
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới,
hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) là
một trong những nội dung đổi mới căn bản và là
hoạt động giáo dục bắt buộc được thực hiện từ
lớp 1 đến lớp 12, bao gồm: hoạt động trải nghiệm
ở cấp tiểu học và hoạt động trải nghiệm hướng
nghiệp ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ
thông (gọi chung là hoạt động trải nghiệm). Đó là
những hoạt động giáo dục do nhà giáo dục định
hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ
hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể nghiệm các
cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm
đã có và huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng
của các môn học và các lĩnh vực giáo dục để
thực hiện những nhiệm vụ được giao hoặc giải
quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống nhà
trường, gia đình, xã hội phù hợp lứa tuổi. Thông
qua những hoạt động đó, học sinh sẽ chuyển hóa
những kinh nghiệm đã trải qua thành tri thức mới,
hiểu biết mới, kĩ năng mới góp phần phát huy
tiềm năng sáng tạo và khả năng thích ứng với
cuộc sống, môi trường và nghề nghiệp tương lai.
Trước những yêu cầu bức thiết đó, để sinh
viên (SV) sư phạm sau khi ra trường có thể bắt
nhịp theo kịp chương trình giảng dạy hiện hành ở
phổ thông và không lúng túng với việc hình thành
các năng lực tổ chức HĐTNST cho học sinh thì
các trường đại học sư phạm không chỉ cần phải
xây dựng được các chương trình đào tạo phù hợp
với yêu cầu đổi mới để có thể cùng đồng hành
với những thay đổi ở trường phổ thông mà còn
cần phải tăng cường việc cho SV học tập từ thực
tế bằng cách tạo ra các môi trường khác nhau để
SV trải nghiệm và thể hiện hết khả năng sáng tạo
của mình. HĐTNST có thể tổ chức theo các quy
mô khác nhau như: theo nhóm, lớp, theo khóa
học, theo trường hoặc liên trường,… Trong đó,
tổ chức theo quy mô nhóm, quy mô lớp và các
câu lạc bộ (CLB) có rất nhiều ưu thế vì thu hút
được đông đảo số lượng SV tham gia.
2. Các HĐTNST cho SV Ngữ văn, Khoa
Sư phạm, Trường Đại học An Giang
Vậy hoạt động trải nghiệm là gì? Theo Ngô
Thị Tuyên: “Hoạt động trải nghiệm trong nhà
trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ,
có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng
các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện
trong thực tế dưới sự định hướng, hướng dẫn của
nhà sư phạm. Đối tượng để trải nghiệm nằm trong
Các hình thức HĐTNST dành cho SV Ngữ
văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại họcAn Giang có
nội dung đa dạng, phong phú và mang tính tích
hợp tổng hợp kiến thức, kỹ năng của liên môn
với định hướng: phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học; tạo điều kiện cho người
học trải nghiệm, sáng tạo thông qua các hoạt động
86
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94
tìm tòi, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm đã có
- Hoạt động hướng nghiệp.
vào đời sống, hình thành, phát triển kỹ năng giải
quyết vấn đề; tạo cơ hội cho người học suy nghĩ,
phân tích, khái quát hóa những trải nghiệm để
kiến tạo kinh nghiệm, kiến thức và kĩ năng mới.
Quy trình của HĐTNST trong đào tạo SV
Ngữ văn được tiến hành như sau:
+ Xác định mục tiêu của HĐTNST: mục
tiêu của những hoạt động HĐTNST được xác
định rõ ràng, cụ thể và dựa trên mục tiêu đào
tạo của chương trình đào tạo SV trình độ đại
học dành cho SV chuyên ngành Ngữ văn (theo
CDIO) với những yêu cầu cần đạt về kiến thức,
Thông qua các hình thức HĐTNST đó, kiến
thức được tạo ra từ trải nghiệm thông qua một chu
kỳ học tập: hành động Æ phản ánh trải nghiệm
Æ trừu tượng hóa khái niệm Æ thử nghiệm, vận
dụng. Người học không chỉ tiếp thu kiến thức từ kỹ năng, phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp, kỹ
năng làm việc nhóm và giao tiếp, năng lực thực
hành và phát triển nghề nghiệp. Nếu xác định
đúng mục tiêu sẽ có tác dụng: định hướng cho
hoạt động, là cơ sở để lựa chọn nội dung và điều
chỉnh hoạt động, căn cứ để đánh giá hoạt động,
kích thích tính tích cực hoạt động của SV. Tùy
theo chủ đề của HĐTNST, đặc điểm đối tượng
SV mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và
mang màu sắc riêng.
giảng viên mà thông qua quá trình trải nghiệm
dựa trên các trải nghiệm hiện có của bản thân
để thu nhận thông tin mới trong môi trường học
tập thực tiễn và kiểm tra nó lại bằng trải nghiệm
của mình.
1. Trải
nghiệm
thực tế
2. Quan sát
chiêm
nghiệm
+ Xây dựng kế hoạch HĐTNST: (1) Xác
định không gian, thời gian thực hiện, nội dung
trải nghiệm sáng tạo, sự phối kết hợp giữa các
thành phần tham gia; (2) Xây dựng kế hoạch chi
tiết, cụ thể, khoa học để thực hiện tốt được các
mục tiêu đã đề ra, phát huy được ý tưởng sáng
tạo của các cá nhân vào hoạt động chung.
4. Hình
thành khái
niệm trừ
tượng
3. Thử
nghiệm
trong tình
huống mới
+ Triển khai HĐTNST: tiến hành triển khai
HĐTNST theo kế hoạch đã được đề ra với các
hình thức tổ chức đa dạng, phong phú, hấp dẫn,
khơi gợi hứng thú để thu hút đông đảo SV tham
gia nhưng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn để
điều chỉnh kịp thời khi có tình huống phát sinh.
Hình 1. Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm
của Kolb
+ Nghiệm thu kết quả HĐTNST và rút kinh
nghiệm: phương án nghiệm thu kết quả được xác
định ngay từ bước lập kế hoạch và công bố trước
để SV chủ động, có mục tiêu rõ ràng khi tham gia
các HĐTNST. SV nên được cùng tham gia vào
việc nghiệm thu, đánh giá và tự rút kinh nghiệm
để các HĐTNST thực sự có ý nghĩa thiết thực
đối với từng cá nhân SV.
(Trịnh Thị Hương, 2018, tr. 348).
Nội dung hoạt động trải nghiệm trong
chương trình HĐTNST cho SV Ngữ văn tại Khoa
Sư phạm Trường Đại học An Giang được triển
khai qua bốn loại hoạt động chính gồm:
- Hoạt động hướng vào bản thân (khám phá
và rèn luyện bản thân).
Các hình thức HĐTNST dành cho SV Ngữ
văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang
có thể chia thành 3 nhóm sau đây:
- Hoạt động hướng đến xã hội.
- Hoạt động hướng đến tự nhiên.
87
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
2.1. Hoạt động thể nghiệm, tương tác
hòa mình vào tác phẩm, SV mới có thể nhập vai
một cách tốt nhất. Sau khi thực hiện vai diễn,
các em sẽ điều chỉnh lại và rút kinh nghiệm mới,
nhận ra đâu là cái hay của nhân vật để hiểu sâu
hơn nội dung tác phẩm.
Hình thức thể nghiệm tương tác là cách tổ
chức hoạt động tạo cơ hội cho SV giao lưu, tác
nghiệp và thể nghiệm ý tưởng như: diễn đàn,
đóng kịch, hội thảo, hội thi, trò chơi, hoạt động
câu lạc bộ,…
Để sân khấu hóa các tác phẩm văn học, Bộ
môn Ngữ văn thường xuyên tổ chức chương trình
ngoại khóa Văn học dân gian dành cho SV Sư
phạm Ngữ văn năm thứ nhất. Đây là sân chơi
tạo điều kiện cho SV sáng tạo và thể hiện các tác
phẩm văn học dân gian bằng nhiều hình thức diễn
xướng phong phú: hát dân ca, múa dân gian, hò,
hát ru, diễn vè, thời trang nhân vật Văn học dân
gian, tiểu phẩm kịch chuyển thể từ truyện dân
gian, sân khấu dân gian,...
2.1.1. Hoạt động talkshow nhập vai tác giả,
nhà phê bình
Trong giờ học, giảng viên có thể cho SV thể
nghiệm vai trò là tác giả hoặc người phê bình,
đánh giá tác phẩm. Giảng viên có thể cho SV
đóng vai trò là tác giả để thử lí giải tại sao tác giả
lại viết như thế; cho SV viết tiếp hay viết lại đoạn
kết của tác phẩm và lí giải nguyên nhân tại sao lại
viết như vậy. Hoặc giảng viên cho SV hóa thân
vào một nhân vật nào đó để kể hoặc viết lại nội
dung tác phẩm. Qua đó SV sẽ bộc lộ hết những
sự hiểu biết và cảm nhận về tác phẩm. Trong vai
trò người phê bình, đánh giá tác phẩm: giảng viên
yêu cầu SV nhận xét, đánh giá tìm ra những nét
đặc sắc, cái hay (hoặc chưa hay) của tác phẩm
hoặc nêu cảm nhận, bình giảng về một chi tiết hay
trong tác phẩm,… Bên cạnh đó, giảng viên còn
cho SV thảo luận nhóm và thuyết trình trong giờ
học để tăng cường sự tự tin cho SV khi trình bày
ý kiến của mình và biết lắng nghe ý kiến của các
thành viên khác. Từ đó SV có thể tự điều chỉnh
cách hiểu của mình và có cái nhìn đúng hơn về
vấn đề được nêu lên trong tác phẩm.
Ngoài ra, Bộ môn còn tổ chức chương trình
Dạ hội văn học vào học kì 2 hằng năm, bao gồm
các tiết mục sân khấu hóa những tác phẩm văn
học lớn, nổi tiếng, quen thuộc trong chương trình
Ngữ văn. SV sẽ phụ trách tất cả các khâu: viết
kịch bản, đạo diễn và làm diễn viên. Chương
trình tạo điều kiện cho SV Ngữ văn sáng tạo và
thể hiện tài năng, hỗ trợ cho các em tiếp nhận
các tác phẩm văn chương bằng nhiều hình thức
phong phú.
2.1.3. Hội thảo khoa học chuyên ngành
Ngữ văn
Hoạt động này diễn ra dưới hình thức SV
trao đổi, thảo luận về một số vấn đề khác nhau
xoay quanh một chủ đề cụ thể được chọn trước
để thống nhất một sự hiểu biết chung và xác lập
những thái độ, hành động phù hợp với những
vấn đề đó. Nội dung hội thảo thường xuất hiện
những quan điểm, ý kiến trái chiều nhau hoặc sử
dụng nhiều kiến thức và kinh nghiệm để đánh
giá, kết luận hay sáng tạo ra ý tưởng mới. SV
sẽ được đặt trong những tình huống có vấn đề,
thông qua việc giải quyết vấn đề để lĩnh hội tri
thức, rèn luyện kĩ năng và phương pháp. Trong
hội thảo, giảng viên sẽ là người định hướng, dẫn
dắt, khích lệ sự mạnh dạn, tích cực của SV để tạo
không khí thảo luận sôi nổi. Trải nghiệm sáng
tạo dưới hình thức hội thảo sẽ giúp cho SV hình
thành và phát triển các kĩ năng cần thiết như: kĩ
Bộ môn Ngữ văn cũng thường xuyên trình
chiếu một số bộ phim chuyển thể từ tác phẩm
văn học để SV tham khảo và nghiên cứu: Hồng
lâu mộng (Trung Quốc), Sử thi Mahabharatha
(Ấn Độ), Romeo and Juliet (Anh), Othello (Anh),
Những người khốn khổ (Pháp), Eugenie Grandet
(Pháp), Anna Karenina (Nga), Chiến tranh và
hoà bình (Nga), Cuốn theo chiều gió (Mỹ), Love
Story (Mỹ), The old man and the sea (Mỹ), Nửa
chừng xuân (Việt Nam), Số đỏ (Việt Nam),…
2.1.2. Hoạt động sân khấu hóa các tác phẩm
văn học
Giảng viên tạo cơ hội cho SV hóa thân vào
các nhân vật văn học. Chỉ khi có sự thấu hiểu,
88
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94
năng trình bày, kĩ năng thuyết phục, lắng nghe,
chia sẻ và hợp tác,…
CLB Văn thơ đã tạo ra một sân chơi đầy ý
nghĩa cho các bạn SV yêu thích thơ văn: các bạn
SV được bồi dưỡng kiến thức văn học, được thể
hiện năng khiếu sáng tác. Các chủ đề tình yêu quê
hương đất nước, tình cảm gia đình, tình thầy cô
bạn bè và tình yêu đôi lứa được khai thác nhiều
nhất trong các sáng tác, góp phần bồi dưỡng và
giáo dục những tình cảm đẹp trong sáng nâng
cao việc rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt đẹp
trong SV. CLB cũng gới thiệu được nhiều cây
bút có triển vọng trên các báo, tạp chí trong và
ngoài tỉnh: Báo Áo Trắng, Tạp chí Thất Sơn,…
Tháng 10/2008, CLB Văn thơ đã nhận được bằng
khen của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh An Giang
về những đóng góp cho hoạt động văn học nghệ
thuật tỉnh nhà.
Nhận thức được tầm quan trọng của các hội
thảo khoa học chuyên ngành đối với việc giúp cho
người học có những cơ hội để vận dụng kiến thức
và kinh nghiệm đã có vào thực tiễn từ đó hình
thành và phát triển các kỹ năng, Bộ môn Ngữ văn
đã tổ chức các hội thảo như: Hội thảo Khoa học
cấp Khoa Những vấn đề văn học, ngôn ngữ và
dạy học Ngữ văn vào tháng 11/2018 và Hội thảo
cấp trường Những vấn đề văn học, ngôn ngữ và
dạy - học ngữ văn trong bối cảnh đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông vào tháng 4/2018. Hội
thảo chính là những diễn đàn học thuật để các nhà
khoa học, nhà nghiên cứu, các giảng viên, giáo
viên, SV gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau.
CLB Hán Nôm tạo sân chơi học thuật để các
SV có niềm đam mê chữ Hán và chữ Nôm của
Bộ môn Ngữ văn được học tập, rèn luyện, trao
đổi kinh nghiệm. Bên cạnh đó, CLB cũng thường
xuyên xây dựng lực lượng thu thập, nghiên cứu
tư liệu Hán Nôm tại địa bàn An Giang và thành
lập Tủ sách tư liệu Hán Nôm địa phương tại Bộ
môn Ngữ văn. Từ đó, CLB góp phần xây dựng
đội ngũ nghiên cứu văn hóa, lịch sử địa phương
cho tỉnh nhà; góp phần tìm hiểu và giới thiệu văn
hóa, văn học Hán Nôm An Giang.
2.1.4. Hội thi Nghiệp vụ sư phạm
Các nội dung thi gồm có: thi viết chữ đẹp;
thi kỹ năng sư phạm Ngữ văn: hát dân ca (văn
học dân gian); hát nhạc phổ thơ (văn học hiện
đại); ngâm thơ (văn học trung đại và văn học hiện
đại); kể chuyện (tóm tắt và kể một tác phẩm văn
học nước ngoài); đọc diễn cảm (1 đoạn thơ và 1
đoạn văn xuôi), xử lý tình huống sư phạm, bình
ca dao, bình thơ, ứng dụng công nghệ thông tin để
soạn một giáo án và trình bày ý tưởng thiết kế,…
Đây là hội thi do Khoa Sư phạm phối hợp
cùng Bộ môn Ngữ văn tổ chức căn cứ theo hướng
dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở bám
sát những mục tiêu cụ thể của Chương trình đào
tạo ngành Ngữ văn. Hội thi đã góp phần đẩy
mạnh phong trào rèn luyện nghiệp vụ và nâng
cao ý thức rèn luyện những kỹ năng mang đặc
thù nghề nghiệp cho SV.
Các thành viên CLB sinh hoạt định kì 1 buổi/
tuần. Nội dung sinh hoạt bao gồm: hướng dẫn
các thao tác viết thư pháp, nhận diện chữ, đánh
máy, tra sách công cụ, phiên âm, dịch nghĩa, chú
thích văn bản Hán Nôm; tiến tới nghiên cứu tư
liệu Hán Nôm gắn liền với từng trường hợp cụ
thể; tham gia các buổi chia sẻ kinh nghiệm, giao
lưu với các chuyên gia trong và ngoài trường.
Các thành viên cũng được tổ chức đi điền dã để
khảo sát, ghi chép, thu thập tư liệu Hán Nôm ít
nhất 1 lần/1 học kì, gắn liền với các bài tập Hán
Nôm trên lớp hoặc các đề tài mà CLB đăng kí
thực hiện.
2.1.5. Hoạt động CLB: CLB Văn thơ, CLB
Hán Nôm
Đây là hình thức hoạt động ngoại khóa
của một nhóm SV cùng sở thích, nhu cầu, năng
khiếu,… dưới định hướng của nhà giáo dục nhằm
tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa
các SV với nhau và giữa SV với các thầy cô giáo.
Các CLB đều có lịch sinh hoạt định kì với các
chủ đề thảo luận nghiên cứu khác nhau.
2.2. Hoạt động dã ngoại, tham quan thực tế
Việc cho SV đi tham quan các địa điểm liên
quan đến tác phẩm văn học hay giao lưu cùng
nhà văn, nhà thơ là điều kiện tốt nhất để SV Ngữ
89
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
văn có thể hiểu đúng và cảm nhận sâu sắc hơn về nhà thơ Inrasara, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa,
tác phẩm. Đây là một trong những hình thức tổ đạo diễn Việt Linh, nhà văn Nguyễn Đông Thức,
Đoàn Thạch Biền, Dạ Ngân, Nguyên Ngọc,...
chức học tập trải nghiệm vô cùng hiệu quả bởi
tính hấp dẫn đối với người học.
2.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học
Mỗi năm Bộ môn Ngữ văn đều tổ chức cho
SV năm thứ 3 đi thực tế, chủ yếu khu vực thành
phố Hồ chí Minh và miền Trung nhằm gúp SV
có điều kiện mở rộng sự hiểu biết của bản thân
về văn hoá, văn học các vùng miền, các triều đại
phong kiến Việt Nam. Đặc biệt là tìm hiểu về triều
đại nhà Nguyễn kéo dài gần 300 năm ở nước ta;
hiểu sâu sắc hơn về hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập
cho dân tộc, thống nhất đất nước. Với việc tham
quan các chứng tích lịch sử, văn hóa, văn học,
SV sẽ có điều kiện khắc sâu mối quan hệ giữa
văn học và lịch sử, cũng như mở rộng kiến thức
văn học Việt Nam và có điều kiện liên hệ thực
tế cho công tác giảng dạy sau này.
Hoạt động này tạo cơ hội cho SV tham gia
các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học nhờ những
cảm hứng từ những trải nghiệm thực tế như:
các hoạt động khảo sát, điều tra, dự án nghiên
cứu, sáng tạo nghệ thuật,…Về bản chất, nghiên
cứu khoa học cũng là HĐTNST, hoạt động trải
nghiệm trên lĩnh vực khoa học, phục vụ giải quyết
những vấn đề trong thực tiễn. Thực hiện nghiên
cứu khoa học là một trong những phương pháp
hiệu quả để SV mở rộng vốn kiến thức cũng như
vốn kĩ năng mềm của bản thân; là cơ hội để SV
áp dụng những kiến thức lí thuyết đã học vào
việc giải quyết những vấn đề thực tiễn.
Nghiên cứu khoa học của SV cũng đang
được Bộ môn cũng như Khoa Sư phạm và Trường
Đại học An Giang quan tâm và phát huy. Những
năm qua, các giảng viên trong Bộ môn cũng đã
tích cực hướng dẫn và hỗ trợ cho SV bước đầu
thực hiện và hoàn thành một số đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Khoa, cấp Trường. Hiện nay,
Bộ môn có 8 đề tài nghiên cứu khoa học của SV
đã được nghiệm thu và 01 khóa luận tốt nghiệp
chuyển đổi thành đề tài cấp trường. SV Ngữ văn
Tham quan thực tế Văn học (1 tín chỉ) được
thiết kế là 1 học phần bắt buộc trong chương
trình đào tạo của ngành Ngữ văn. Trong suốt thời
gian tham quan thực tế, SV được phân công tìm
hiểu, viết báo cáo, trình bày về những đặc điểm
văn hóa, lịch sử, văn học liên quan đến những
địa danh, thắng cảnh. Trước chuyến tham quan,
giảng viên phụ trách học phần ra đề tài và hướng
dẫn SV cách viết thu hoạch. Sau đợt thực tế, các cũng có nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp
SV phải viết bài thu hoạch và nộp về Bộ môn để chí chuyên ngành và nhiều bài tham luận đăng
được đánh giá kết quả.
trong các kỷ yếu hội thảo khoa học.
3. Kết quả khảo sát bằng bảng hỏi và
phỏng vấn SV về những hình thức và phương
pháp tổ chức các HĐTNST cho SV Ngữ văn,
Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang
Trong học phần Giới thiệu ngành, SV Ngữ
văn năm thứ nhất còn được gặp gỡ, giao lưu với
các cựu SV ngành Ngữ văn hiện đang là MC,
phóng viên báo đài, các nhà văn nhà thơ của Hội
văn học nghệ thuật tỉnh An Giang,... để được lắng
nghe và chia sẻ kinh nghiệm. Hoạt động này giúp
cho các tân SV nhanh chóng tiếp cận với phương
pháp học tập ở đại học, nắm vững các kiến thức
chuyên ngành và tìm hiểu một số cơ sở lý thuyết
đối với các hoạt động thực hành nghề nghiệp. Bên
cạnh đó, Bộ môn cũng thường xuyên mời một số
nhà văn, nhà thơ hoặc nhà nghiên cứu văn học
giao lưu với bộ môn, gặp gỡ SV Ngữ văn, ví dụ
như các chương trình ngoại khóa giao lưu với
Những hình thức và phương pháp tổ chức
các HĐTNST trên đã được áp dụng cho các lớp
SV chuyên ngành Ngữ văn, Khoa Sư phạm,
Trường Đại học An Giang từ nhiều năm nay,
kể từ khi Trường Đại học An Giang còn là
Trường Cao đẳng Sư phạm An Giang. Từ năm
2000 đến đến 2018, Bộ môn Ngữ văn chỉ đào
tạo SV chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn (Kí
hiệu tên lớp: DHNV). Đến năm 2018, Khoa Sư
phạm đã mở rộng tuyển sinh và đào tạo thêm
90
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94
* Về sự tham gia các HĐTNST của SV
chuyên ngành Ngữ văn, Khoa Sư phạm,
Trường Đại học An Giang
chuyên ngành Cử nhân văn học (Kí hiệu tên
lớp: DHVH).
Phạm vi khảo sát về hiệu quả của những
hình thức và phương pháp tổ chức các HĐTNST
cho SV Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại
học An Giang trong phạm vi bài viết này được
giới hạn kể từ Khóa 17 đến nay, tương ứng với
khoảng thời gian khảo sát là 04 năm (bắt đầu
từ năm 2016 đến 2020) với tổng số lượng SV
như sau:
Bảng 2. Thống kê tỉ lệ SV chuyên ngành
Ngữ văn tham gia vào các HĐTNST
Tỉ lệ
Những hình thức tổ chức
HĐTNST cho SV
% SV
tham
gia
STT
Hoạt động talkshow, nhập vai tác
giả, nhà phê bình
1
2
3
4
40
70
30
65
Bảng 1. Thống kê số lượng SV chuyên ngành
Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An
Giang từ năm 2016 đến 2020
Hoạt động sân khấu hóa các tác
phẩm văn học
Khóa đào
tạo
Số lượng
SV
STT
Lớp
Hội thảo khoa học chuyên ngành
Ngữ văn
1
2
3
4
5
6
DH17NV
DH18NV
DH19NV
DH19VH
DH20NV
DH20VH
Tổng
2016 - 2020
2017- 2021
2018 - 2022
2018 - 2022
2019 - 2023
2019 - 2023
27
37
Hội thi Nghiệp vụ sư phạm (Nét
đẹp Ngữ văn)
5
6
CLB Văn thơ
37
35
21
CLB Hán Nôm
27
Hoạt động dã ngoại, tham quan
thực tế
7
100
15
Hoạt động nghiên cứu khoa học
21
(Tham gia viết bài tham luận đăng
Kỷ yếu Hội thảo khoa học, viết bài
báo khoa học, tham gia đề tài ng-
hiên cứu khoa học cấp Khoa, tham
gia đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường).
148
8
15
Có 148 phiếu khảo sát được phát ra và có
148 phiếu được thu về. Thống kê các ý kiến
trong phiếu hỏi về hiệu quả của những hình thức
và phương pháp tổ chức các HĐTNST cho SV
Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An
Giang như sau:
* Khảo sát về quy trình của HĐTNST
cho SV Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại
học An Giang
Bảng 3. Kết quả khảo sát ý kiến đánh giá của SV về các HĐTNST
Mức độ phù hợp
Hoàn
toàn đồng
ý
STT
Nội dung
Đồng ý
một phần đồng ý
Không
Các HĐTNST này cung cấp cho SV những kiến thức bổ ích về
văn học Việt Nam, văn học nước ngoài, Hán Nôm, ngôn ngữ,
phương pháp sư phạm,… hỗ trợ cho việc học tập ở bậc đại học
chuyên ngành Ngữ văn và công tác sau này.
1
94,5%
5,5 %
0,0%
91
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
Thông qua các HĐTNST này, SV được hình thành và phát triển
các kỹ năng, phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp cần thiết.
2
91,9%
97,3%
5,4%
2,7%
2,7%
0,0%
Thông qua các HĐTNST này, SV có kỹ năng làm việc nhóm
và kỹ năng giao tiếp hiệu quả hơn.
3
Thông qua các HĐTNST này, SV được rèn luyện về năng
4
5
6
lực thực hành nghề nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn và 86,5%
nghiệp vụ.
13,5%
15,3%
0,0%
0,0%
4,5%
0,0%
Kế hoạch HĐTNST được xây dựng một cách chi tiết, cụ thể,
khoa học để thực hiện tốt được các mục tiêu đã đề ra, phát huy 80,2%
được ý tưởng sáng tạo của các cá nhân vào hoạt động chung.
Kế hoạch HĐTNST xác định được không gian, thời gian thực
hiện, nội dung TNST, sự phối kết hợp giữa các thành phần
tham gia.
100%
7
8
Các HĐTNST được triển khai theo đúng kế hoạch đã đề ra.
85,7%
90,6%
10,4%
9,0%
3,9%
0,4%
Hình thức tổ chức HĐTNST đa dạng, phong phú, hấp dẫn, gây
hứng thú cho SV.
Các HĐTNST được thông báo rộng rãi đến toàn thể SV và thu
hút đông đảo SV tham gia
9
100%
0,0%
0,0%
Có phương án nghiệm thu kết quả tham gia các HĐTNST trong
Kế hoạch và công bố cho SV biết để SV chủ động và có mục tiêu
rõ ràng khi tham gia các hoạt động HĐTNST (Phiếu khảo sát/
Bảng hỏi về những kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực mà
SV cần đạt được sau khi tham gia các HĐTNST, Bài thu hoạch,
Bài kiểm tra cá nhân,..)
10
40,5%
30,2%
29,3%
Tôi sẽ tham gia (hoặc tiếp tục tham gia) các HĐTNST cho SV
11 chuyên ngành Ngữ văn do Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm, 90,7%
Trường Đại học An Giang tổ chức.
9,3%
0,0%
Như vậy, kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ SV đối với bản thân các em, thể hiện ở việc trang bị
tham gia vào các HĐTNST không đồng đều: có và rèn luyện cho SV những kiến thức, kỹ năng,
những hoạt động tỉ lệ SV tham gia khá cao: Hoạt phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp, kỹ năng làm
động dã ngoại, tham quan thực tế (100%); Hoạt việc nhóm và giao tiếp, năng lực thực hành và
động sân khấu hóa các tác phẩm văn học (70%); phát triển nghề nghiệp (94,5%). Như vậy, về cơ
Hội thi Nghiệp vụ sư phạm (Nét đẹp Ngữ văn) bản thì đã được các mục tiêu của các HĐTNST.
(65%), nhưng cũng có nhiều hoạt động tỉ lệ SV
tham gia còn rất thấp: CLB Văn thơ, CLB Hán
Nôm, Hội thảo khoa học chuyên ngành Ngữ văn,
hoạt động talkshow, nhập vai tác giả, nhà phê
bình, hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên
đa số SV đều rất có hứng thú với việc tham gia
các HĐTNST (90,7%).
Về kế hoạch HĐTNST: đa số các ý kiến cho
rằng kế hoạch HĐTNST được xây dựng một cách
chi tiết, cụ thể, khoa học (80,2%).
Về triển khai kế hoạch HĐTNST: Các
HĐTNST được triển khai theo đúng kế hoạch đã
đề ra (85,7%), hình thức tổ chức HĐTNSTđa dạng,
phong phú, hấp dẫn, gây hứng thú cho SV(90,6%),
các HĐTNST được thông báo rộng rãi đến toàn
thể SV và thu hút đông đảo SV tham gia (100%).
Về các ý kiến đánh giá chung, đa số SV
cho rằng các HĐTNST là rất bổ ích, thiết thực
92
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 10, Số 2, 2021, 85-94
Tuy nhiên, về việc nghiệm thu kết quả có kế hoạch HĐTNST chi tiết, cụ thể, phong
tham gia các HĐTNST, chỉ có 40,5% SV đồng phú, hấp dẫn, bổ ích và thiết thực, đông đảo SV
ý hoàn toàn với ý kiến cho rằng Bộ môn đã có tỏ ra có hứng thú và nhiệt tình tham gia vào các
những phương án nghiệm thu kết quả tham gia HĐTNST.
các HĐTNST trong kế hoạch và công bố cho SV
biết để SV chủ động và có mục tiêu rõ ràng khi
tham gia các hoạt động HĐTNST.
- Khó khăn: tỉ lệ SV tham gia vào các
HĐTNST không đồng đều, khâu nghiệm thu kết
quả HĐTNST và rút kinh nghiệm còn chưa được
* Về những đề xuất, kiến nghị để nâng quan tâm đúng mực (phương án nghiệm thu kết
cao hiệu quả của những hình thức và phương quả còn chưa được xác định ngay từ bước lập kế
pháp tổ chức các HĐTNST cho SV Ngữ văn, hoạch và công bố trước để SV chủ động, có mục
Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang: tiêu rõ ràng khi tham gia một số HĐTNST, SV
tổng cộng có 7 ý kiến đề xuất, kiến nghị của SV chưa được cùng tham gia vào việc nghiệm thu,
xoay quanh các nhóm vấn đề chính sau đây: đánh giá và rút kinh nghiệm để các HĐTNST
thực sự có ý nghĩa thiết thực đối với từng cá
nhân SV).
+ Về sự tham gia các HĐTNST: đề nghị việc
tham gia các HĐTNST là bắt buộc đối với tất cả
SV và có tính điểm vào các học phần vì có nhiều
SV không tham gia.
- Kiến nghị, đề xuất:
+ Trước khi tiến hành HĐTNST, Bộ môn
+ Về việc tham gia Hội thảo khoa học lập kế hoạch chi tiết, trong đó có nêu rõ phương
chuyên ngành Ngữ văn: SV không có khả năng án nghiệm thu kết quả tham gia các HĐTNST
tham gia vì không có kinh nghiệm viết bài tham trong kế hoạch và công bố cho SV biết để SV
luận vì không có kinh nghiệm, e dè, không mạnh chủ động và có mục tiêu rõ ràng khi tham gia các
dạn viết.
hoạt động HĐTNST.
+ Về hoạt động của các CLB: thường xuyên
+ Việc tham gia các HĐTNST phải là một
bị gián đoạn do thiếu nhân sự làm chủ nhiệm CLB hoạt động bắt buộc hoặc được điểm cộng hay
và các thành viên cốt cán tốt nghiệp ra trường, được tính điểm vào các học phần để thu hút đông
chưa có thành viên thay thế (CLB Hán Nôm), SV đảo SV tham gia.
không có năng khiếu sáng tác văn thơ nên không
tham gia được.
+ Để triển khai các HĐTNST, cần thiết phải
xây dựng các kĩ năng mềm cho SV. SV phải huy
+ Về nghiệm thu kết quả tham gia các động các kiến thức, kĩ năng, các phẩm chất năng
HĐTNST: SV còn ít được góp ý kiến để điều lực tổng hợp để giải quyết các nhiệm vụ trong
chỉnh một số mặt trong việc tổ chức các HĐTNST quá trình tham gia các HĐTNST, vì vậy, trong
của Bộ môn.
quá trình giảng dạy các học phần của mình, mỗi
giảng viên phải chú ý tổ chức các HĐTNST ngay
tại lớp cho SV như một quá trình tập dượt trước
và cũng để trang trị kiến thức, kĩ năng, phẩm chất,
năng lực cần thiết để SV có đủ tự tin tham gia
vào các HĐTNST do Bộ môn tổ chức ở khuôn
khổ ngoài lớp học.
4. Những thuận lợi, khó khăn, đề xuất
và kiến nghị trong việc tổ chức các HĐTNST
cho SV Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại
học An Giang
- Thuận lợi: Ban Giám hiệu Trường Đại học
An Giang, lãnh đạo Khoa Sư phạm, lãnh đạo Bộ
môn Ngữ văn và các giảng viên trong Bộ môn
Ngữ văn luôn đồng tình ủng hộ và rất nhiệt huyết
với việc tổ chức các HĐTNST cho SV, có sự
phối hợp nhịp nhàng giữa các cá nhân, tổ chức
trong việc tổ chức và triển khai các HĐTNST,
+ Kết thúc mỗi HĐTNST: giảng viên yêu
cầu SV viết và nộp bài thu hoạch, nộp các tư liệu
văn học (được xây dựng theo nhóm). Kết quả
đánh giá nội dung bài thu hoạch và các tư liệu văn
học được tính thành một bài kiểm tra điều kiện
93
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn
trong một học phần. Bên cạnh đó, cũng cần cho của một số em còn rất lạc hậu khi chỉ coi trọng
SV được tham gia đóng góp ý kiến để điều chỉnh việc soạn giáo án và tập giảng mà xem nhẹ việc
một số mặt trong việc tổ chức các HĐTNST.
tổ chức các HĐTNST cho học sinh ngoài giờ
lên lớp. SV còn khá mơ hồ với thực tiễn giáo
dục ở phổ thông, không có khả năng hướng dẫn
học sinh và tạo được những hoạt động thu hút
sự tham gia của nhiều học sinh ở các hoạt động
ngoài giờ lên lớp bởi chính bản thân SV khi học
ở các trường đại học sư phạm không tham gia
nhiều vào các HĐTNST này. Vì vậy, HĐTNST
phải là hoạt động bắt buộc tất cả SV phải tham
gia. Bên cạnh đó, các giảng viên ở trường sư
phạm phải đánh giá chặt chẽ kết quả HĐTNST
của SV và đưa vào Hồ sơ quá trình trải nghiệm
sáng tạo. Hồ sơ này cần phải được xem là một
trong những minh chứng thuyết phục để đánh giá
chuẩn đầu ra của SV về phẩm chất, năng lực và
các kỹ năng thực hành nghề nghiệp./.
5. Kết luận
HĐTNST là hoạt động giữ vai trò rất quan
trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới.
Hoạt động này giúp cho người học có nhiều cơ
hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức
học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng
lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng
tạo của bản thân. Đây là những hoạt động giáo
dục được tổ chức gắn liền với kinh nghiệm cuộc
sống giúp phát triển tính sáng tạo và cá tính riêng
của mỗi cá nhân trong tập thể. Điều này đòi hỏi
các hình thức và phương pháp tổ chức HĐTNST
phải đa dạng, linh hoạt, người học tự hoạt động,
trải nghiệm là chính. Bài viết đã tổng kết và trình
bày một số hình thức tổ chức HĐTNST cơ bản
mà giảng viên Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm
Trường Đại học An Giang tổ chức cho SV trong
suốt khóa học để hình thành các năng lực tổ chức
HĐTNST cho học sinh phổ thông sau khi SV ra
trường và công tác.
Tài liệu tham khảo
Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Thông tư ban
hành Chương trình giáo dục phổ thông
- chương trình tổng thể. Số 32/2018/TT-
BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018.
Như vậy, ở các trường đại học và cao đẳng
sư phạm, tuy đã có nhiều sự thay đổi trong
phương pháp dạy học, có nhiều HĐTNST cho SV
nhưng việc tổ chức các hoạt động này cần phải
có sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường: cán bộ
quản lí, cố vấn học tập, giảng viên bộ môn, Đoàn
thanh niên và cả các tổ chức, cá nhân ngoài xã
hội. Bên cạnh đó, trường đại học cũng cần phải
phát triển nội dung chương trình và tài liệu về
hoạt động trải nghiệm.
Nguyễn Thị Dung. (2018). Hoạt động trải nghiệm
trong dạy học kể chuyện của học sinh lớp
4,5. Kỷ yếu Hội thảo Đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên Ngữ văn trước yêu cầu đổi mới
giáo dục phổ thông. Hà Nội: NXB Đại học
Quốc gia.
Trịnh Thị Hương. (2018). Phát triển năng lực
thẩm mỹ cho học sinh tiểu học trong môn
tập đọc thông qua trải nghiệm. Kỷ yếu Hội
thảo Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn
trước yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.
Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia.
Về phía SV, có một thực trạng là nhận thức
94
Bạn đang xem tài liệu "Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho sinh viên ngữ văn, khoa sư phạm, trường Đại học An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
to_chuc_hoat_dong_trai_nghiem_sang_tao_cho_sinh_vien_ngu_van.pdf

