Nghiên cứu thực trạng viết sai chữ Hán của sinh viên Việt Nam - lấy sinh viên ngành ngôn ngữ Trung Quốc Đại học Lạc Hồng làm đối tượng nghiên cứu

Tạp chíKhoahọcLạcHồng 2020,11,001-007  
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VIẾT SAI CHỮ HÁN CỦA SINH VIÊN VIỆT  
NAM – LẤY SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ TRUNG QUỐC ĐẠI HỌC  
LẠC HỒNG LÀM ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
越南大学生汉字书写偏误情况研究——以雒鸿大学中国语言专业大学生为研究对象例  
Hoàng Tiến Dũng  
Khoa Đông Phương học, Đại học Lạc Hồng, Việt Nam,  
TÓM TẮT. Đối với người Việt Nam nói chung, chữ Hán luôn là một “cửa ải” khó vượt qua khi học tiếng Trung vì chữ  
Hán khó nhớ, khó đọc và khó viết. Đối với các sinh viên đại học chuyên ngành tiếng Trung, việc viết sai chữ Hán cũng là  
một hiện tượng thường gặp. Bài nghiên cứu này thông qua phương pháp phát phiểu điều tra, thu thập dữ liệu viết chữ của  
sinh viên trường Đại học Lạc Hồng, qua đó tiến hành phân tích và tìm hiểu nguyên nhân viết sai chữ Hán của sinh viên,  
từ đó hiểu được đặc điểm học tập của sinh viên, giúp đưa ra các phương pháp giảng dạy và học tập chữ Hán một cách hiệu  
quả.  
TỪ KHOÁ. chữ Hán, viết sai chữ Hán, sinh viên Ngôn ngữ Trung Quốc Đại học Lạc Hồng  
摘要. 对越南人来说,汉字因为“难记”,“难读”,“难写”所以一直是学汉语的一个“难关”。对学习汉语专业的大  
学生来说,汉字错写也是常见的现象。本研究以调查卷方式收集雒鸿大学学生汉字书写资料,分析并探讨学生  
汉字书写偏误的成因,从此了解学生学习特点,并提出有效的汉字教学与学习方法。  
关键词. 汉字,汉字书写偏误,雒鸿大学中国语言专业大学生  
1. THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG VIẾT  
SAI CHỮ HÁN CỦA SINH VIÊN  
留学生的字词教学》1996 年), bài nghiên cứu có đề cập  
đến các lỗi thường gặp của học sinh Âu Mỹ khi viết chữ Hán  
và phương pháp giảng dạy. Bài nghiên cứu “Nghiên cứu về  
các lỗi sai khi viết chữ Hán của sinh viên nước ngoài có tiếng  
mẹ đẻ là chữ viết là hệ thống chữ cái Latinh” của Giang Tân  
và Liễu Diễm Mai năm 2004 (江新,柳艳梅,《拼音文字  
1.1 Thực trạng nghiên cứu tình trạng viết sai chữ Hán  
của sinh viên của giới nghiên cứu Trung Quốc  
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, việc nghiên cứu phương  
pháp giảng dạy và học tập chữ Hán trong Hán ngữ đối ngoại  
đã được chú trọng. Năm 1997, tại Nghị Xương, tỉnh Hồ Bắc,  
Trung Quốc, văn phòng Hán ngữ Quốc gia Trung Quốc và  
Đại học Hồ Bắc đã tiến hành buổi tọa đàm học thuật “Chữ  
Hán và phương pháp giảng dạy chữ Hán toàn quốc”, qua đó  
xác lập vai trò quan trọng của việc nghiên cứu và giảng dạy  
chữ Hán trong chuyên ngành Hán ngữ đối ngoại. Kể từ đó,  
việc nghiên cứu về chữ Hán và giảng dạy chữ Hán phát triển  
theo 5 hướng1: 1. Nghiên cứu về lý luận, định nghĩa, định vị  
giảng dạy chữ Hán trong chuyên ngành Hán ngữ đối ngoại;  
背景的外国学生汉字书写错误研究》2004 年) có phân  
tích khả năng nhận biết âm đọc, cấu hình chữ của sinh viên;  
phát hiện sinh viên thường bị viết sai chữ nhiều hơn là viết  
nhầm chữ cận âm ở giai đoạn mới học, trong giai đoạn sau  
này thì ngược lại, viết nhầm chữ nhiều hơn là viết sai chữ.  
Hay bài nghiên cứu “Báo cáo khảo sát viết sai chữ Hán của  
lưu học sinh gốc Hoa Đông Nam Á” của Úy Vạn Truyền,  
Tốt Diễm Hà năm 2007 (尉万传、毕艳霞,《东南亚华裔  
留学生汉字偏误考察报告》2007 年) đã chỉ rõ sự khác  
2. Nghiên cứu về đặc điểm của chữ Hán, giúp ích cho việc nhau giữa nhóm sinh viên Đông Nam Á với sinh viên Âu  
nâng cao khả năng tiếp thu và ghi nhớ chữ của sinh viên; 3. Mỹ, theo đó ngoài việc có cùng các loại hình viết sai chữ của  
Nghiên cứu về quá trình học tập và tiếp thu chữ Hán của sinh sinh viên Âu Mỹ ra, sinh viên gốc Hoa Đông Nam Á còn bị  
viên; 4. Thực nghiệm phương pháp giảng dạy chữ Hán; 5. nhầm lẫn nhiều ở chữ Phồn Thế, dị thể…  
Xây dựng các phần mềm viết chữ, học chữ Hán, viết sách về  
1.2 Lịch sử nghiên cứu thực trạng viết sai chữ Hán của  
văn hóa và giảng dạy chữ Hán.  
sinh viên Việt Nam  
Tính đến năm 2013, số lượng nghiên cứu về thực trạng  
Tính đến năm 2019, các nghiên cứu về thực trạng viết sai  
chữ Hán và phương pháp học tập chữ Hán của sinh viên Việt  
Nam trong kho dữ liệu Zhiwang ( 中 国 知 网 (CNKI  
viết sai chữ Hán của giới học thuật Trung Quốc khá nhiều,  
tiêu biểu có “Bàn về phương pháp dạy chữ, từ cho lưu học  
sinh Âu Mỹ” của Trần Phất năm 1996 (陈绂,《谈对欧美  
Received: April, 20th 2020;  
Accepted: 23th July 2020  
*Corresponding Author  
1Hoàng Viêm Tổng thuật nghiên cứu phân tích lỗi sai chữ  
Hán đối ngoại, Tạp chí nghiên cứu ngôn ngữ văn học, kỳ 52,  
trang 30  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
1
Hoàng Tiến Dũng  
https://cnki.net/)” có một số các nghiên cứu tiêu biểu như: đến tình trạng học đến năm 3 năm 4 viết chữ Hán sai nhiều  
“Phân tích lỗi sai khi viết chữ Hán của lưu học sinh Việt hơn năm 1 năm 2.  
“Nghiên cứu về các vấn đề khi học chữ Hán của lưu học  
sinh Việt Nam trong giai đoạn sơ cấp – lấy lưu học sinh  
trường Đại học dân tộc Quảng Tây làm đối tượng khảo sát  
của Cam Xảo Đan năm 2016 (甘巧丹,《初级阶段越南  
Nam” của Vương Tiếu Nam năm 2009 (王笑楠,《越南留  
学生汉字书写偏误分析》,2009 年), bài nghiên cứu  
thông qua việc thu thập các dữ liệu viết chữ hán của sinh viên  
Việt Nam tiến hành phân tích, quy loại và tổng kết quy luật  
các lỗi sai, chỉ ra việc sinh viên Việt Nam chịu ảnh hưởng  
âm đọc của chữ Hán nhiều hơn là hình dạng của chữ, gây ra  
các lỗi sai liên quan đến âm đọc của chữ.  
“Phân tích thực trạng viết chữ Hán của lưu học sinh Việt  
Nam” của Ngô Thị Oanh tại trường Đại học Tây Bắc (Trung  
Quốc) (吴氏莺,《各阶段的越南留学生汉字书写分析》  
留学生汉字学习的问题与对策研究——以广西民族大学  
的留学生为考察对象》, 2016 年), bài luận văn phân tích  
thực trạng dạy chữ Hán tại trường Đại học dân tộc Quảng  
Tây, phân tích các lỗi sai của sinh viên Việt Nam trong giai  
đoạn này do các nguyên nhân đến từ hình thể-âm đọc chữ  
Hán hay phương pháp học tập của sinh viên. Bài nghiên cứu  
này có đề cập đến phương pháp học tập chưa đúng, chưa phù  
hợp cũng là một nguyên nhân gây ra viết sai chữ Hán của  
sinh viên, đây là góc nhìn mới hướng về phương pháp học  
tập, giúp người đọc có cách nhìn mới và toàn diện hơn về  
vấn đề viết sai chữ Hán của sinh viên.  
,2011 年), bài luận văn này của tác giả thực hiện thu thập  
dữ liệu viết chữ Hán của sinh viên Việt Nam học ở các trường  
đại học tại thành phố Tây An, thành phố Vũ Hán của Trung  
Quốc, sau đó tiến hành phân tích và tổng hợp các lỗi sai, rút  
ra các nguyên nhân viết sai của sinh viên trong từng giai đoạn  
học tập, theo đó giai đoạn sơ cấp sinh viên thường bị viết  
nhầm nét bút, đến các giai đoạn trung cao cấp thường bị viết  
nhầm các bộ thủ, viết nhầm chữ . Có thể thấy theo giai đoạn  
khác nhau mà lỗi sai thường gặp của sinh viên cũng khác  
nhau.  
“Nghiên cứu về giảng dạy chữ Hán tại các trường Đại học  
Việt Nam” của Châu Thanh Pha, năm 2019 (周清坡,《越南  
高校汉字教学研究》,2019 年), bài nghiên cứu tiến hành  
điều tra tình trạng viết sai chữ Hán với 150 bài thi tốt nghiệp  
của ngành Giáo dục Hán ngữ khoa Văn hóa Ngôn ngữ Trung  
Quốc đại học ngoại ngữ Hà Nội nhận thấy 4 loại lỗi sai chủ  
yếu gồm viết sai chữ, nhầm chữ, viết phiên âm thay chữ và  
lỗi không thể quy loại; các lỗi sai có gắn liền với đặc điểm  
giảng dạy tập trung nghe và nói, viết chữ được đặt vào thứ  
yếu. Bài nghiên cứu này thêm được góc nhìn mới về nguyên  
nhân gây ra tình trạng viết sai chữ Hán của sinh viên là do  
đặc điểm giảng dạy tập trung vào giao tiếp, thiếu đi thời  
lượng cho sinh viên viết chữ.  
Ngoài ra còn có một số các nghiên cứu khác như  
“Phương pháp học tập chữ Hán của học sinh Việt Nam, vấn  
đề viết viết sai chữ Hán của học sinh và kiến nghị về phương  
pháp giảng dạy – lấy khoa Ngữ văn Trung Quốc Đại học  
Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh làm ví dụ” của Trương Gia  
Quyền, Trần Thị Thu Hằng năm 2017(张家权、阮氏秋姮,  
Luận văn “ Phương pháp giảng dạy và các lỗi sai khi viết  
chữ Hán của sinh viên Việt Nam” của Trần Truyền Tuấn,  
năm 2011(陈传俊,《越南学生汉字偏误分析及教学对  
策》2011 年),bài luận văn nêu ra một số các quy luật viết sai  
chữ của sinh viên Việt Nam như: giai đoạn sơ trung dễ bị viết  
nhầm các bộ thủ do hình dạng chữ khá giống nhau (见-兄,  
月-那,日-口), ảnh hưởng của tiếng mẹ để dẫn đến viết sai  
chữ như 竹 viết thành KK... . . Có thể thấy đặc điểm của sinh  
viên khi viết chữ Hán thường có xu hướng quy loại các chữ,  
các bộ thủ có hình thể gần giống với chữ cái tiếng Việt để  
học thuộc và viết lại, vừa dễ nhớ vừa dễ viết; có thể thấy sinh  
viên thường tập trung vào hình thể đại khái của chữ hơn là  
chi từng chi tiết của chữ.  
Từ năm 2013 đến 2019, có một số các bài luận văn và bài  
viết đề cập đến việc viết sai chữ Hán của sinh viên Việt Nam  
đáng chú khác như: “Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm  
cải thiện kỹ năng viết chữ Hán của sinh viên trường Đại học  
《越南学生学习汉字的方法,学生书写汉字的偏误问题  
及汉字教学建议——以胡志明市国家大学中国语文系为  
例》 海外华文教育, 2017 年) . “Phương pháp nhận thức khi  
Thương mại” của Nguyễn Thị Thu Trang, Phạm Thùy học chữ Hán của học sinh Việt Nam – lấy trường phái giảng  
Dương, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội năm  
2016 khảo sát hơn 400 bài viết của sinh viên từ năm thứ 1  
đến năm thứ 4 của các sinh sinh học các học phần “kỹ năng  
tiếng Trung” của trường Đại học Thương mại Hà Nội; bài  
viết chỉ ra việc viết chữ Hán của sinh viên năm 1 năm 2 tập  
trung sai nhiều ở nét chữ (chủ yếu là viết thừa, thiếu, nhầm  
vị trí hay sai nét), năm 3 năm 4 hiện tượng viết sai chữ do  
viết ấu tăng lên đáng kể (25% lỗi sai) do kết quả học tập  
không được cải thiện và có chiều hướng đi xuống. Có thể  
thấy, đối với sinh viên học tiếng Trung như một ngôn ngữ  
thứ 2 (không phải chuyên ngành), việc viết chữ Hán gặp khó  
khăn hơn rất nhiều so với sinh viên chuyên ngành do thời  
gian học tập không nhiều, bị ảnh hưởng bởi các môn học  
chuyên ngành chính, gây ra tâm lý “học qua môn”, do đó dẫn  
dạy nhận biết và viết chữ Hán làm ví dụ” (trường phái giảng  
dạy tập trung vào nhận biết chữ Hán nhiều hơn tập viết)của  
Lục Quán Châu, Thi Trọng Hiền, Hoàng Vận Linh, Giản  
Uyển Như,tuyển tập tóm tắt luận văn hội thảo nghiên cứu  
quốc tế giáo dục chữ Hán và chữ Hán, năm 2017 lần thứ 7 (  
陆冠州、施忠贤、黄韵玲、简婉茹,《越南学生学习汉  
字的认知策略——以识写分流教学为例》,第七届汉字  
与汉字教育国际研讨会论文摘要集, 2017 年).  
Các nghiên cứu nêu trên của các tác giả xét trên đối tượng  
nghiên cứu có thể phân ra thành 2 đối tượng, một là du học  
sinh Việt Nam tại Trung Quốc, 2 là sinh viên học chuyên  
ngành tiếng Trung hoặc học ngôn ngữ 2 tiếng Trung tại các  
trường Đại học tại Việt Nam. Xét trên phương pháp nghiên  
cứu, đa phần sử dụng phương pháp thu thập nguồn ngữ liệu  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
2
Nghiên cứu thực trạng viết sai chữ Hán của sinh viên Việt Nam – Lấy sinh viên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc Đại học Lạc  
Hồng làm đối tượng nghiên cứu  
từ bài tập, bài thi của sinh viên để thống kê và phân tích. Các cùng một chủ đề, các chủ đề viết là các chủ đề giảng viên đã  
nghiên cứu trên tập trung khu biệt hóa theo phạm vi sinh viên từng cho thi qua tại đề thi môn viết cuối kỳ.  
tại các trường khác nhau, dựa trên kết quả phân tích ngữ liệu  
thực tế để đưa ra thực trạng và nguyên nhân của thực trạng  
viết sai chữ Hán của sinh viên. Có thể thấy lỗi sai khi viết  
chữ Hán của sinh viên Việt Nam khá phong phú và đa dạng,  
từ sai nét bút đến bộ thủ, từ viết nhầm (do gần âm hay gần  
giống về hình thể giữa các chữ Hán) đến không thể viết ra  
chữ hay viết phiên âm để thay thế.  
1.3 Một số tồn tại và phương hướng cần bổ sung của các  
nghiên cứu trước đây  
Phương hướng nghiên cứu về thực trạng viết sai chữ Hán  
của sinh viên Việt Nam có bước khởi đầu tương đối muộn so  
với các nghiên cứu của giới học giả Hán ngữ của Trung  
Quốc, nếu phân tích kỹ về đối tượng nghiên cứu như: sinh  
viên Việt Nam tại Trung Quốc, sinh viên học tiếng Trung tại  
Việt Nam, thì số lượng nghiên cứu càng ít và chưa phổ quát.  
Với đối tượng nghiên cứu là sinh viên của trường Đại học  
Lạc Hồng, sinh viên học tiếng Trung theo các cấp độ có  
những lỗi sai khi viết chữ Hán như thế nào? Nguyên nhân ra  
sao và phương pháp giảng dạy phù hợp là gì cũng chưa được  
nghiên cứu. Đây chính là điều bài viết sẽ tiến hành nghiên  
cứu và giải quyết.  
Hình 1. Nội dung điều tra thông tin của đối tượng điều tra  
2. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG VIẾT  
Để xác định được các loại chữ viết sai của sinh viên, tác  
SAI CHỮ HÁN CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC LẠC  
giả căn cứ theo Châu Kiện “Phương pháp và lý luận giảng  
HỒNG VIỆT NAM  
dạy chữ Hán”: Nghiên cứu lỗi sai chữ Hán của người nước  
Để điều tra tình trạng viết sai chữ Hán của sinh viên Đại  
học Lạc Hồng, tác giả đã sử dụng phương pháp phát phiếu  
điều tra để thu thập dữ liệu. Bài điều tra phát ra cho 79 sinh  
viên ngành Trung Quốc học Đại học Lạc Hồng, bao gồm sinh  
viên năm 2,3,4 tương ứng với 3 giai đoạn sơ-trung-cao cấp.  
Để thu thập được dữ liệu viết chữ trong tình trạng sinh  
viên cần nghe thấy và viết ra theo cảm nhận, tránh các ảnh  
hưởng khác chép lại bài khóa, hay làm bài tập trong sách  
(sinh viên có thể nhìn và chép lại), ảnh hưởng đến tính xác  
thực của kết quả điều tra, tác giả cho sinh viên các phần nghe  
và viết lại chữ; viết bài theo chủ đề.  
Bài điều tra chia thành 2 mục gồm: thông tin của đối tượng  
điều tra (độ tuổi, giới tính, có học qua tiếng Trung trước khi  
học đại học, trình độ HSK và thành tích học tập chuyên  
ngành); phần kiểm tra viết chữ Hán của sinh viên gồm 2 phần  
là nghe đọc chữ Hán viết lại và viết theo chủ đề. Để đảm bảo  
sự công bằng giữa các năm, với phần nghe và viết chữ Hán,  
tác giả căn cứ theo “Đại cương cấp độ ngữ pháp và trình độ  
Hán ngữ” phần cấp độ chữ Hán do Bộ phận kiểm tra trình độ  
Hán ngữ văn phòng nhóm lãnh đạo giảng dạy Hán ngữ đối  
ngoại quốc gia Trung Quốc phát hành và giáo trình sinh viên  
đang học (giáo trình Hán ngữ) để phân loại trình độ năm 2  
với 3-4, đảm bảo những từ vựng được kiểm tra sinh viên đã  
được học qua, bài nghe và viết lại là các bài khóa đã được  
học trong các giáo trình môn Viết và môn Đọc; với đề viết,  
tác giả chia đề tài kiểm tra theo năm 2 một chủ đề, năm 3, 4  
ngoài, NXB Đại học Bắc Kinh, Bắc Kinh, 2011: tr131-134  
周健“汉字教学理论与方法”:外国人汉字偏误研究 周健,  
北京,北京大学出版社 2011 年 131-134; theo đó chia các  
lỗi sai khi viết chữ Hán thành 5 loại gồm: sai nét bút, sai bộ  
thủ, sai kết cấu, sai toàn bộ chữ (nhầm chữ) và các lỗi khác.  
4 loại hình này còn có thể chia thành các loại nhỏ hơn như:  
thiếu nét bút, thừa nét bút, nét bút bị sai, thiếu bộ thủ, thêm  
bộ thủ hoặc viết sai bộ thủ, sai chữ cận âm, sai chữ cận hình,  
nét bút viết tách rời…  
Tiêu chuẩn xác định một lỗi viết sai là cùng một sinh viên  
một chữ viết sai hai lần trở lên được tính là một lỗi, tránh  
trường hợp sinh viên bị nhầm lẫn trong quá trình viết chứ  
không phải là thói quen mà viết sai.  
Sau khi thu thập lại phiếu điều tra, căn cứ theo trình độ học  
tập để tổng hợp, thống kê tỉ lệ phần trăm các loại chữ viết  
sai. Kết hợp với giai đoạn học của sinh viên để tìm ra đặc  
điểm và nguyên nhân viết sai của từng giai đoạn.  
3. Phân tích kết quả điều tra  
Đối tượng điều tra là 79 sinh viên ngành Trung Quốc học  
Đại học Lạc Hồng, bao gồm sinh viên năm 2,3,4 tương ứng  
với 3 giai đoạn sơ-trung-cao cấp. Việc chia các giai đoạn học  
tập của sinh viên căn cứ theo giáo trình và lượng chữ sinh  
viên có thể nắm được theo phân chia cấp độ tại “Đại cương  
cấp độ ngữ pháp và trình độ Hán ngữ” phần cấp độ chữ Hán  
do Bộ phận kiểm tra trình độ Hán ngữ văn phòng nhóm lãnh  
đạo giảng dạy Hán ngữ đối ngoại quốc gia Trung Quốc phát  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
3
Hoàng Tiến Dũng  
hành. Tổng hợp kết quả điều tra, thu thập được 1646 lỗi sai,  
lần lượt là: Sai toàn bộ chữ 36.21%, sai nét bút 31.11%, sai  
kết cấu 16.22%, sai bộ thủ 11.85% và các lỗi khác là 4.62%  
. Kết quả cụ thể cho từng giai đoạn như sau:  
Giai đoạn sơ cấp (tương ứng sinh viên năm 2). Thu về 22  
phiếu điều tra, nam 1 sinh viên, nữ 20 sinh viên, độ tuổi từ  
19 đến 22, trình độ học tập theo đánh giá năm học là 4 giỏi,  
6 khá và 11 trung bình. Giai đoạn này phát hiện 329 lỗi sai  
chiếm tổng lỗi sai là 19.98%, loại chữ viết sai nhiều nhất là:  
Sai nét bút 40.73%, sai kết cấu 25.84%, sai toàn bộ chữ  
20.06%, sai bộ thủ 10.03%, loại khác là 3.34%.  
Biểu đồ 3. Tỉ lệ phân bố các lỗi sai của giai đoạn cao cấp  
4. PHÂN TÍCH MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN SINH VIÊN  
VIẾT SAI CHỮ HÁN  
4.1 Viết sai nét bút  
Trong dữ liệu điều tra, tỉ lệ của loại lỗi viết sai này cao  
nhất ở sinh viên giai đoạn sơ cấp (40.73%) và giảm dần theo  
cấp độ học, 32.37% ở trung cấp và 27.02% ở cao cấp. Dưới  
đây là một số chữ mẫu sinh viên viết sai:  
Chữ đúng Chữ sai  
Chữ đúng  
Chữ sai  
Biểu đồ 1. Tỉ lệ phân bố các lỗi sai của giai đoạn sơ cấp  
那
国
Giai đoạn trung cấp (tương ứng sinh viên năm 3). Thu về  
26 phiếu điều tra, nam 6 sinh viên, nữ 20 sinh viên, độ tuổi  
từ 20 đến 24, trình độ học tập theo đánh giá năm học là 1  
khá, 24 trung bình, 1 kém. Giai đoạn này phát hiện 414 lỗi  
sai chiếm tổng lỗi sai là 25.15%, loại chữ viết sai nhiều nhất  
là: Sai toàn bộ chữ 34.54, Sai nét bút 32.37%, sai kết cấu  
16.67%, sai bộ thủ 12.08%, loại khác là 4.34%.  
Chữ đúng Chữ sai  
Chữ đúng  
Chữ sai  
遍
母
Bảng 1. Một số chữ mẫu sinh viên viết sai nét bút  
Nét bút xét theo nghĩa rộng thì “nó là đơn vị kết cấu nhỏ  
nhất cấu thành nên chữ Hán…”2. Sinh viên khi bắt đầu học  
viết chữ Hán phải bắt đầu từ việc nắm chắc nét bút, bút thuận  
sau đó mới đến học bộ thủ và viết được chữ. Tuy nhiên, sinh  
viên khi mới học chưa quen được loại hình chữ viết mới nên  
cơ bản nhìn chữ Hán như một bức tranh, khi viết chữ thì  
giống như là đang vẽ lại chữ, do đó dẫn đến việc viết sai nét  
bút. Một mặt khác, thời gian giảng viên dạy sinh viên học nét  
bút cơ bản còn ít, tốc độ bình thường là 1 tiết học là dạy xong  
nét bút, sau đó cho sinh viên về nhà tập viết theo chữ, không  
có thời gian và bài tập luyện viết nét chữ cụ thể, dẫn đến việc  
học nét chữ cơ bản của sinh viên bị coi nhẹ, làm nghiêm trọng  
thêm việc viết sai nét. Trong giai đoạn sơ cấp, sinh viên chưa  
quen với các nét cơ bản của chữ Hán, dễ bị nhầm lẫn giữa  
các nét nét chấm với nét phẩy, nét mác với nét phẩy, nét sổ  
với nét sổ móc; mặt khác khả năng nhạy cảm với chi tiết của  
chữ Hán còn kém, nên khi viết chữ thì chỉ viết được đúng đại  
thể hình dạng của chữ mà không để ý kỹ chữ đã bị viết thiếu  
Biểu đồ 2. Tỉ lệ phân bố các lỗi sai của giai đoạn trung cấp  
Giai đoạn cao cấp (tương ứng sinh viên năm 4). Thu về 29  
phiếu điều tra, nam 1 sinh viên, nữ 26 sinh viên, độ tuổi từ  
21 đến 22, trình độ học tập theo đánh giá năm học là 7 khá,  
19 trung bình, 3 kém. Giai đoạn này phát hiện 903 lỗi sai  
chiếm tổng lỗi sai là 54.86%, loại chữ viết sai nhiều nhất là:  
Sai toàn bộ chữ 42.86, Sai nét bút 27.02%, sai kết cấu  
12.51%, sai bộ thủ 12.07%, loại khác là 5.54%.  
hoặc viết thừa nét, ví dụ như chữ  
viết thiếu 2 dấu chấm,  
hay chữ  
bị viết thiếu nét ngang (có nét ngang đóng lại  
phía dưới nên sinh viên bị nhầm lẫn là đã viết đủ nét). Có thể  
2 Nguyễn Tống Đạt“Lục thư giản luận” (quyển trung), kỳ năm học  
báo Đại học Sư phạm Bắc Kinh. 1978  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
4
Nghiên cứu thực trạng viết sai chữ Hán của sinh viên Việt Nam – Lấy sinh viên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc Đại học Lạc  
Hồng làm đối tượng nghiên cứu  
thấy sự tập trung vào cấu hình đại thể của chữ Hán khi viết  
khiến cho sinh viên bỏ qua chi tiết đã bị thiếu sót khi viết  
chữ.  
Chữ đúng Chữ sai  
Chữ đúng  
Chữ sai  
邀
声
4.2 Viết sai bộ thủ  
Chữ đúng Chữ sai  
Chữ đúng  
Chữ sai  
“Bộ thủ hay còn gọi là chữ gốc, nó là đơn vị cấu thành nên  
chữ do các nét bút tạo nên, có khả năng kết hợp tào thành  
chữ mới”3. Viết sai bộ thủ là một lỗi thường gặp của sinh  
viên, theo điều tra, tỉ lệ lỗi sai này tăng dần theo giai đoạn  
học, tuy nhiên tỉ lệ tăng không cao. Sơ cấp là 10.03%, trung  
cấp là 12.8%, cao cấp giảm còn 12.07%. Trong giai đoạn mới  
học viết chữ Hán, sinh viên cũng được dạy cách học thuộc  
bộ thủ chữ Hán để dễ nhớ chữ, tuy nhiên việc giảng dạy tùy  
thuộc vào cá nhân các giảng viên, có giảng viên chỉ giảng 50  
bộ thủ thường dùng, cũng có giảng viên giảng hết 214 bộ thủ;  
ngoài ra sau khi giảng xong giảng viên cũng ít kiểm tra lại  
sinh viên có nhớ bộ thủ chưa, thay vào đó là giảng trực tiếp  
vào các bài trong giáo trình, điều này khiến cho sinh viên mất  
đi cơ hội được kiểm tra và lặp đi lặp lại các bộ thủ đã học.  
Theo tiến trình như vậy, giảng viên dạy đến chữ nào thì hỏi  
bộ thủ của chữ đó, sinh viên không học kỹ chữ Hán gây nên  
tình trạng viết sai bộ thủ.  
自
北
Bảng 3. Một số chữ mẫu sinh viên viết nhầm chữ  
Dẫn đến hiện tượng này có thể giải thích ở điểm sinh viên  
học lên cao, lượng từ vựng ngày càng nhiều. Sinh viên không  
còn viết chữ theo từng chữ, từng đoạn nữa mà viết nguyên  
một đoạn văn, bài văn. Khi viết khi cảm thấy không nhớ chữ  
cần viết thì thường tưởng tượng ra những chữ viết gần giống  
hoặc thậm chí vô ý viết thành những chữ có âm đọc giống  
hoặc gần giống, gây ra hiện tượng viết sai này.  
5. MỘT SỐ KHÁC BIỆT GIỮA SINH VIÊN VIỆT  
NAM VÀ SINH VIÊN CÁC NƯỚC KHÁC  
Hiện nay, có rất nhiều trường Đại học, Cao đẳng tại Việt  
Nam có mời các chuyên gia Trung Quốc, Đài Loan đến giảng  
dạy tiếng Trung…các chuyên gia này phần lớn được các cử  
đến từ Học viện Khổng Tử hay Bộ giáo dục Đài, các chuyên  
gia này đều kinh nghiệm giảng dạy tiếng Trung cho nhiều  
người nước ngoài bao gồm cả sinh viên Việt Nam. Do đó,  
việc so sánh đặc điểm viết sai chữ Hán của sinh viên Việt  
Nam với sinh viên một số nước khác có giá trị tham khảo tốt  
cho các chuyên gia nước ngoài khi giảng dạy tại Việt Nam,  
giúp nâng cao được hiệu quả giảng dạy và học tập  
Chữ đúng Chữ sai  
Chữ đúng  
Chữ sai  
珍
道
Chữ đúng Chữ sai  
Chữ đúng  
Chữ sai  
望
幕
5.1 So sánh với sinh viên Nhật Bản  
Bảng 2. Một số chữ mẫu sinh viên viết sai bộ thủ  
Như mọi người đã biết, trong tiếng Nhật có tồn tại một  
lượng lớn chữ Kanji (chữ Hán). Sinh viên Nhật Bản khi học  
tiếng Trung chịu ảnh hưởng lớn cách viết chữ Kanji khi viết  
chữ Hán. Trong bài nghiên cứu “Điều tra các lỗi sai thường  
gặp của sinh viên Nhật Bản khi viết chữ Hán và đối sách”  
của Quách Thịnh và “Phân tích nguyên nhân và khảo sát tổng  
hợp các lỗi sai khi viết chữ Hán của Lưu học sinh” của An  
Đằng Lượng Đại đã chỉ ra được một số các lỗi sai khi viết  
chữ Hán của sinh viên Nhật Bản tập trung ở việc viết chữ  
Một nguyên nhân khác dẫn đến loại chữ viết sai này là  
có một số bộ thủ viết giống chữ tiếng Việt như  
viết  
thành chữ “i” ,chữ viết thành chữ số “3” khiến sinh  
viên cũng dễ viết nhầm hơn. Tuy nhiên theo các giai đoạn  
học tăng dần, sinh viên tự rút ra quy luật các bộ phận được  
lặp lại ở nhiều chữ đã học, do đó tỉ lệ viết sai bộ thủ mới  
được giảm dần theo giai đoạn học.  
Hán theo cách viết của chữ Kanji, ví dụ như: 画(  
),  
4.3 Viết sai toàn bộ chữ (nhầm chữ)  
收( ), 轻( )Có thể quy loại là viết sai nét bút,  
Nhầm chữ tức do ảnh hưởng của âm đọc giống hoặc gần  
giống, cấu hình các chữ gần giống nhau khiến cho sinh viên đây là đặc điểm giống với sinh viên Việt Nam mớI học tiếng  
bị nhầm lẫn. Hiện tượng viết nhầm chữ có xu hướng tăng lên Trung.  
theo giai đoạn học do sinh viên học càng lên cao, lượng chữ  
Hay sinh viên Nhật Bản thường có xu hướng tự phán  
cận âm, đồng âm, giống nhau về cấu hình càng nhiều gây  
đoán cách viết chữ Hán dựa trên những chữ Hán đã được học,  
nên. Cụ thể: sơ cấp là 20.56%, trung cấp là 34.54%, cao cấp  
ví dụ như 少 viết thành  
do ảnh hưởng từ chữ 步,hay  
lên đến 42.86%.  
3 Tô Bội Thành “Cương yếu Hán tự học hiện đại”, NXB Đại học  
Bắc Kinh, 1994, trang 63.  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
5
Hoàng Tiến Dũng  
单 viết thành  
nghe và viết lại chấm điểm, các bài tập trong sách giảng viên  
yêu cầu sinh viên lên bảng nhớ và viết lại. Trong đó phương  
pháp viết và dịch lại bài khóa có kèm theo phiên âm giúp  
sinh viên viết liên tục, giúp sinh viên tăng cường khả năng  
nhận biết, đọc và viết chữ Hán, phía dưới là hình ảnh bài viết  
của một sinh viên năm 2 K17  
do ảnh hưởng từ chữ 默. Đây là đặc điểm  
mà sinh viên Việt Nam không xuất hiện.  
5.2 So sánh với sinh viên Thái Lan  
Trong bài nghiên cứu “Phân tích lỗi sai khi viết chữ Hán  
của sinh viên Thái Lan” của Trần Cầm, Lưu Tịnh, Chu Lệ  
năm 2009(陈琴、刘婧、朱丽,泰国学生汉字书写偏误  
分析,《云南师范大学对外汉语教学与研究学报》, 2009  
年), lỗi sai về bộ thủ xuất hiện rất điển hình (47.2% tổng lỗi  
sai). Sai về bộ thủ chữ là đặc điểm xuất hiện nhiều ở sinh  
viên giai đoạn trung cao cấp. So sánh với sinh viên Việt Nam,  
lỗi sai về bộ thủ của sinh viên Thái Lan vừa là sai chữ vừa là  
nhầm chữ, còn sinh viên Việt Nam chủ yếu là nhầm chữ. Lỗi  
sai bộ thủ của sinh viên Thái Lan là điển hình, còn sinh viên  
Việt Nam là không điển hình.  
Hình 2. Bài viết của sinh viên năm 2 k17 ngành NNTQ  
Với sinh viên năm 3 và năm 4, lỗi sai khi viết chữ Hán tập  
trung nhiều ở loại toàn bộ chữ (nhầm chữ), chữ cận hình hay  
cận âm khiến loại hình chữ sai này xuất hiện nhiều ở giai  
đoạn học cao hơn. Mặt khác, lượng từ vựng tăng theo qua  
các môn chuyên ngành như Nghe, nói, đọc, viết khiến sinh  
viên bị viết nhầm hoặc thậm chí lựa chọn viết chữ gần giống  
hoặc đọc giống để hoàn thành việc viết chữ. Trong quá trình  
giảng dạy của tác giả, tác giả nhận thấy một số các cặp chữ  
sinh viên thường xuyên viết lẫn lộn do hình chữ gần gũi như:  
目-日,木-禾,土-士……, hay âm đọc và cách viết gần  
6. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO  
TẠO VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY CHỮ HÁN  
TẠI ĐẠI HỌC LẠC HỒNG  
Với những quy luật trên, tác giả kiến nghị ở giai đoạn  
sơ cấp nên tăng cường thời lượng dạy và kiểm tra nét bút;  
tăng thời lượng sinh viên viết chữ ở trên lớp cũng như ở nhà.  
Trên thực tế, chương trình đào tạo của ngành Ngôn ngữ  
Trung Quốc, Đại học Lạc Hồng cũng đã tăng cường thời  
lượng môn viết lên nhiều hơn, ví dụ như chương trình đào  
tạo năm 2010 một số học kỳ (1,7,8) môn Viết chỉ có 45 tiết,  
giáo trình cũng không thống nhất giữa các môn Nghe, Nói,  
Đọc, Viết, dẫn đến các môn học không tương đồng được hệ  
thống kiến thức, các bài học rời rạc và không bổ trợ nhiều  
cho kỹ năng viết của sinh viên; đến năm 2019 là môn viết từ  
kỳ 1 đến kỳ 8 đều là 60 tiết. Giáo trình chuyên ngành được  
đổi thành hệ thống giáo trình “Phát triển Hán ngữ” mới hơn,  
trong đó các giáo trình Viết và Đọc tương hỗ lẫn nhau trong  
việc dạy và rèn luyện khả năng viết của sinh viên, giáo trình  
nói cũng tăng cường khả năng nhận biết chữ Hán của sinh  
viên qua các phần bài tập liên quan.  
Căn cứ theo kết quả điều tra như trên, sinh viên năm 1  
năm 2 có xu hướng viết sai nhiều ở nét bút và bộ thủ, do đó  
giảng viên khi giảng dạy cần bắt buộc sinh viên viết nhiều và  
viết theo chủ đề; cụ thể đối với sinh viên năm 1, giảng viên  
sau khi dạy xong nét bút và bút thuận bắt buộc dạy thêm 214  
bộ thủ, có yêu cầu nghiêm ngặt về việc học thuộc và nhận  
biết bộ thủ với sinh viên bằng cách kiểm tra bộ thủ trong 1  
tháng đầu học tập. Các phần từ mới sau mỗi một bài cần viết  
lại theo các bước như sau:1. Viết lại chữ mẫu, viết 5-10 lần  
bút thuận; 2. Đếm số nét, 3. Viết lại toàn bộ chữ 10-20 lần,  
4. Đặt câu. Qua 4 bước như trên, giúp cho sinh viên nắm chắc  
được quy tắc bút thuận, nhớ được số nét và thử viết lại chữ  
bằng trí nhớ để xác nhận đã nhận biết được chữ, cuối cùng là  
đặt câu để vận dụng các chữ mới và chữ cũ đã học qua, kết  
hợp miệng đọc tay viết tăng cường khả năng viết.  
giống nhau như: 按-安,慨-概,蓝-兰,真-珍, 及-急...,  
khi sinh viên viết bài hay làm bài tập, sự nhầm lẫn là dễ xảy  
ra. Để hạn chế tình trạng viết nhầm chữ của sinh viên, giảng  
viên khi dạy từ mới cần viết lên bảng các chữ có cách viết  
hay âm đọc gần giống nhau, sử dụng các câu chuyện có liên  
quan đến các chữ để kể cho sinh viên nghe, một mặt tạo cảm  
hứng cho lớp học, một mặt để tăng cường khả năng phân tích  
sự khác biệt giữa các chữ, ví dụ như cách làm dưới đây.  
Chữ “春” trong chữ “春节” sinh viên dễ viết nhầm chữ  
“日” –nhật trong chữ “春”thành chữ “目” mộc hoặc viết  
nhầm thành chữ “着” – được (zháo), khi dạy đến chữ này,  
giáo viên giải thích là “chữ “春” được cấu thành từ 3 chữ  
khác là “人”- người, “三”- ba, “日” – ngày, vào một ngày  
khi con ở phương xa về gặp cha mẹ thì ngày đó là ngày  
xuân”, giải thích thêm “nếu viết chữ “日” –nhật trong chữ “  
春”thành chữ “目” thì không thể biết là ngày xuân nữa; giảng  
viên tiếp tục so sánh với chữ “着” – được (zháo), trên chữ “  
着” là bộ “dương” “羊”-con dê, dưới là bộ “mục”-“目” tức  
là mắt, khi mắt có thấy con dê tức là “thấy được”.  
Tuy nhiên không phải tất cả các chữ sai giảng viên đều có  
thể sửa hết được, nên để sinh viên trao đổi bài viết cho nhau  
để tự chấm chéo, khuyến khích sinh viên tìm ra được những  
chữ viết sai, động viện sinh viên là khi nhìn ra được hay bị  
người khác phát hiện ra lỗi viết sai thì sẽ nhớ kỹ hơn, qua đó  
về sau sẽ không viết sai nữa.  
Về mặt chương trình đào tạo, tác giả cũng kiến nghị có  
thêm môn Hán tự ngay từ học kỳ đầu tiên, môn học cung cấp  
cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lịch sử hình thành,  
thể chữ, phương pháp và luyện viết chữ Hán; với ý nghĩa là  
Với sinh viên năm năm 2, kèm theo các phương pháp kiểm  
tra từ vựng như trên thi giảng viên hàng tuần liên tục giao  
các bài tập tập viết như: Viết và dịch lại bài khóa, viết tóm  
tắt bài khóa, viết bài theo chủ đề cuộc sống, học thuộc từ mới  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
6
Nghiên cứu thực trạng viết sai chữ Hán của sinh viên Việt Nam – Lấy sinh viên ngành Ngôn ngữ Trung Quốc Đại học Lạc  
Hồng làm đối tượng nghiên cứu  
một bộ môn chuyên biệt về chữ Hán sẽ giúp cho sinh viên Trung Quốc, Ngành Trung Quốc học khoa Đông phương học  
củng cố kiến thức và hạn chế được tình trạng viết sai chữ Đại học Lạc Hồng đã hướng dẫn và hỗ trợ trong suốt quá  
Hán trong quá trình học tập sau này. Trên thực tế kiến nghị trình viết bài.  
này cũng đã được áp dụng vào thực tế, trong chương trình  
Đặc biệt cảm ơn Phó Viện trưởng Học viện Hán ngữ  
đào tạo khóa 2020 của ngành Ngôn ngữ Trung Quốc đã có Đối ngoại trường Đại học Sư phạm Thượng Hải GS.TS Diêu  
môn Hán tự với thời lượng là 45 tiết, cùng với các môn Đọc Chiếm Long đã hướng dẫn tác giả hoàn thành bài nghiên cứu  
và Viết sẽ giúp sinh viên nắm bắt một cách hiệu quả nhất chữ này.  
Hán.  
Đồng thời trân trọng cảm ơn các bạn sinh viên các khóa  
Đúc kết từ quá trình giảng dạy các môn Viết và Đọc tiếng k10-k11-k12 ngành Trung Quốc học Đại học Lạc Hồng đã  
Trung, tác giả rút được kết luận là giảng viên cần liên tục giúp đỡ hoàn thành phiếu điều tra, giúp tác giả có nguồn dữ  
giao bài viết; các phương pháp viết chữ Hán như: chép lại, liệu để hoàn thành bài viết.  
tóm tắt bài khóa, đặt câu hay viết theo chủ đề đều với mục  
đích là sinh viên phải viết chữ Hán nhiều, tăng cường việc  
9. TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Nguyễn Tống Đạt. Lục thư giản luận, Học báo Đại học Sư  
phạm Bắc Kinh (quyển trung), 1978 , kỳ 5, Tr. 2.  
[2] An Đằng Lượng Đại. Phân tích nguyên nhân và khảo sát  
nhận biết âm, hình và nghĩa của chữ Hán, qua việc viết nhiều  
sẽ giúp sinh viên có thói quen viết, viết đẹp hơn, viết ít sai  
hơn.  
tổng hợp các lỗi sai khi viết chữ Hán của Lưu học sinh.  
Luận văn Thạc sĩ Đại học Văn Hóa Ngôn ngữ Bắc Kinh,  
2000, Tr.10.  
[3] Trần Truyền Tuấn. Phương pháp giảng dạy và các lỗi sai  
7. KẾT LUẬN  
Các loại lỗi sai khi viết chữ Hán của sinh viên ngành Ngôn  
ngữ Trung Quốc, Đại học Lạc hồng tương đối phức tạp, xuất  
hiện trải đều ở các giai đoạn học tập. Các lỗi sai xuất hiện có  
quy luật tùy theo tình trạng học tập của sinh viên. Trong 1646  
lỗi sai, có 783 lỗi sai là viết sai (47.56%), 863 lỗi sai là viết  
nhầm chữ (52.44%) .Các loại lỗi sai chiếm tỉ lệ lần lượt là:  
Sai toàn bộ chữ 36.21%, sai nét bút 31.11%, sai kết cấu  
16.22%, sai bộ thủ 11.85% và các lỗi khác là 4.62%. Các lỗi  
sai có đều xuất hiện theo quy luật do khác nhau ở các giai  
đoạn học tập, ví dụ như sinh viên giai đoạn sơ cấp thường sai  
về nét bút (40.73% lỗi sai nét bút), và lỗi sai nét bút giảm dần  
theo các giai đoạn. Điều này cũng đồng nhất với loại lỗi sai  
về kết cấu chữ, sinh viên giai đoạn sơ cấp hay bị nhầm lẫn  
về kết cấu chữ hơn sinh viên giai đoạn cao hơn. Ở chiều  
ngược lại, lỗi sai toàn bộ chữ (nhầm chữ) ít xuất hiện ở giai  
đoạn sơ cấp, nhưng xuất hiện nhiều hơn ở giai đoạn sau, theo  
đó sơ cấp chỉ 20.06%, trung cấp lên 34.54%, cao cấp cao  
nhất là 42.86%.  
Với thực trạng như trên, tác giả cũng đề xuất một số các  
phương pháp giảng dạy phù hợp cho từng giai đoạn như sinh  
viên năm nhất, năm hai tập trung vào việc viết chữ theo bút  
thuận, viết từ vựng, viết và dịch lại bài khóa…với sinh viên  
năm ba năm tư tập trung vào việc viết bài theo chủ đề, phân  
tích các chữ gần âm, gần hình thể để tránh viết nhầm, viết  
sai…  
khi viết chữ Hán của sinh viên Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ  
Đại học Dân tộc Trung Ương (Trung Quốc), 2011, Tr.15.  
[4] Trần Cầm, Lưu Tịnh, Chu Lệ. Phân tích lỗi sai khi viết chữ  
Hán của sinh viên Thái Lan. Học báo nghiên cứu và giảng  
dạy Hán ngữ Đối ngoại Đại học Sư phạm Vân Nam, 2009,  
quyển 7, kỳ 2, Tr.76-82.  
[5] Úy Vạn Truyền, Tốt Diễm Hà. Báo cáo khảo sát viết sai chữ  
Hán của lưu học sinh gốc Hoa Đông Nam Á. Học báo Học  
viện Sư phạm Vân Nam – Bản nghiên cứu và giảng dạy Hán  
ngữ đối ngoại, kỳ 6, 2007, Tr. 70-74.  
[6] Vương Tiếu Nam. Phân tích lỗi sai khi viết chữ Hán của lưu  
học sinh Việt Nam - Luận văn thạc sỹ Học viện Sư phạm  
Yên Nam, 2009, Tr. 1-2.  
[7] Nguyễn Thị Thu Trang, Phạm Thùy Dương. Đổi mới  
phương pháp giảng dạy nhằm cải thiện kỹ năng viết chữ  
Hán của sinh viên Trường Đại học Thương mại. Tạp chí  
khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội: Nghiên cứu nước  
ngoài , 2015, tập 31, số 3, Tr. 64-70.  
[8] Cam Xảo Đan. Nghiên cứu về các vấn đề khi học chữ Hán  
của lưu học sinh Việt Nam trong giai đoạn sơ cấp – Lấy lưu  
học sinh trường Đại học dân tộc Quảng Tây làm đối tượng  
khảo sát. Luận văn thạc sỹ Đại học Dân tộc Quảng Tây,  
2016, Tr. 1-2.  
[9] Nguyễn Đình Hiền. Kết quả khảo sát bước đầu về tình hình  
viết sai, viết nhầm chữ Hán của sinh viên Việt Nam. Tạp  
chí Nghiên cứu nước ngoài, 2017, tập 33, số 1, Tr. 19-30.  
[10] Châu Thanh Pha. Nghiên cứu về giảng dạy chữ Hán tại các  
trường đại học Việt Nam,. Luận văn thạc sỹ Học viện sư  
phạm Tín Dương, 2019, Tr. 1-2.  
Với chương trình đào tạo, tác giả cũng đề xuất đưa môn  
Hán tự vào học kỳ đầu tiên, giúp sinh viên được học tập các  
kiến thức cơ bản về chữ Hán như lịch sử hình thành, thể chữ,  
phương pháp và luyện viết chữ Hán  
[11] Tô Bội Thành. Cương yếu Hán tự học hiện đại. Nhà xuất  
bản Đại học Bắc Kinh, 1994, Tr. 63.  
8. LỜI CẢM ƠN  
[12] Tôn Đức Kim. Nghiên cứu giảng dạy Hán ngữ đối ngoại,  
Nhà xuất bản Thương Vụ, 2006, Tr. 23.  
[13] Châu Kiện. Phương pháp và lý luận giảng dạy chữ Hán:  
Nghiên cứu lỗi sai chữ Hán của người nước ngoài, Nhà  
xuất bản Đại học Bắc Kinh, 2011, Tr. 131-134.  
Để hoàn thành bài nghiên cứu này, tác giả xin chân  
thành cảm ơn các thầy cô đã và đang giảng dạy tại Học viện  
Hán ngữ Đối ngoại trường Đại học Sư phạm Thượng Hải,  
Tạp chí Khoa học Lạc Hồng  
7
pdf 7 trang baolam 29680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu thực trạng viết sai chữ Hán của sinh viên Việt Nam - lấy sinh viên ngành ngôn ngữ Trung Quốc Đại học Lạc Hồng làm đối tượng nghiên cứu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_thuc_trang_viet_sai_chu_han_cua_sinh_vien_viet_na.pdf