Xây dựng mô hình phòng học bộ môn Tin học ở trường trung học cơ sở đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Xây dựng mô hình phòng học bộ môn Tin học
ở trường trung học cơ sở đáp ứng Chương trình
Giáo dục phổ thông 2018
Bùi Thị Thao
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
TÓM TẮT: Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu xây dựng mô hình phòng học
52 Liễu Giai, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam
Email: buithaotk[email protected]
bộ môn Tin học ở trường trung học cơ sở bao gồm: Cấu trúc không gian và hạ
tầng cơ sở với diện tích, số lượng phòng, cách bố trí về không gian, yêu cầu
về cơ sở hạ tầng, sơ đồ phòng; Thiết bị Tin học với thiết bị phần cứng và phần
mềm; Tổ chức hoạt động trong phòng với cách quản lí và hoạt động dạy - học
trong phòng; Hướng dẫn thực hiện mô hình. Việc xây dựng mô hình được dựa
trên các căn cứ, quy định, yêu cầu, mục tiêu, tình hình thực tế nhà trường trung
học cơ sở nhằm đáp ứng tối đa Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
TỪ KHÓA: Mô hình phòng học bộ môn Tin học; môn Tin học; trường trung học cơ sở; Chương
trình Giáo dục phổ thông 2018.
Nhận bài 11/9/2019 Nhận kết quả phản biện và chỉnh sửa 15/10/2019 Duyệt đăng 25/11/2019.
1. Đặt vấn đề
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Cấu trúc không gian và hạ tầng cơ sở phòng học bộ môn
Tin học
Hiện nay, với sự phát triển của cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư thì công nghệ thông tin và truyền thông
được chú trọng trong mọi lĩnh vực.Trong giáo dục (GD),
đặc biệt là GD phổ thông (GDPT) thì môn Tin học ngày
càng đóng vị trí quan trọng. Nó giúp học sinh (HS) có khả
năng tìm kiếm, tiếp cận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong
thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và toàn cầu hóa.
Tin học có ảnh hưởng lớn đến cách sống, cách suy nghĩ và
hành động của con người, là công cụ hiệu quả hỗ trợ biến
việc học thành tự học suốt đời.
Cấu trúc không gian của PHBM Tin học gồm hai phần:
Phòng học và phòng kho chứa thiết bị Tin học được bố trí
liền kề, có cửa thông giữa 2 phòng. Trong đó: Diện tích
phòng học: 14m x 7,2m ≈ 100 m2 .
Diện tích phòng kho chứa thiết bị Tin học: 3,5m x 7,2m ≈
25 m2 . Diện tích PHBM Tin học được đề xuất như trên dựa
trên các căn cứ, quy định, yêu cầu, mục tiêu, tình hình thực
tế nhà trường THCS tại Việt Nam sau:
Trong chương trình (CT) GDPT 2018, vị trí, vai trò của
môn Tin học cũng thay đổi. Nó trở thành môn học bắt buộc
có phân hóa. Ngoài ra, môn Tin học còn có vai trò trung
tâm kết nối các môn học khác, thúc đẩy GD STEM, phát
huy sáng tạo của HS. Ở cấp Trung học cơ sở (THCS), môn
Tin học giúp HS học cách sử dụng, khai thác các phần mềm
thông dụng để làm ra sản phẩm số phục vụ học tập và đời
sống, thực hành phát hiện và giải quyết vấn đề một cách
sáng tạo với sự hỗ trợ của công cụ và các hệ thống tự động
hóa của công nghệ kĩ thuật số, học cách tổ chức lưu trữ,
quản lí, tra cứu và tìm kiếm dữ liệu số, đánh giá và lựa chọn
thông tin [1, tr.3] Từ đó, giúp HS hình thành và phát triển
năng lực ứng dụng tin học.
Môn Tin học là môn học thiên về thực hành trên máy tính
nhưng do chưa đủ điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo
viên (GV) nên nhiều nơi còn tình trạng học chay, nhất là các
tỉnh miền núi. Mấy năm trở lại đây, Tin học đã được chú ý
đến rất nhiều. Nhà nước quan tâm đầu tư máy móc, phương
tiện đến các trường học và đã đưa Tin học trở thành môn
chính. Vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất xây dựng mô hình
phòng học bộ môn (PHBM) Tin học ở trường THCS để đáp
ứng CT GDPT 2018 là rất cần thiết.
Theo tiêu chuẩn quốc gia, TCVN 8794 [2, tr.11] và quyết
định số 37 [3, tr.3] thì diện tích PHBM Tin học cấp THCS
với tiêu chuẩn là 1,85m2/HS, số lượng HS THCS không quá
45HS/lớp và diện tích làm việc tối thiểu của PHBM được
tính trên cơ sở diện tích làm việc tối thiểu cho một HS nhân
với số lượng HS của mỗi lớp cộng với diện tích tối thiểu
cần sắp đặt các phương tiện và thiết bị dạy học (TBDH).
Như vậy:
Diện tích PHBM = Diện tích tối thiểu/HS x số lượng HS
+ Diện tích tối thiểu sắp xếp TBDH
Diện tích PHBM = 1,85 x 45 + 15 ≈ 98 m2. Vậy diện tích
tối thiểu của PHBM là 98m2. Đối với PHBM Tin học thì
việc sắp xếp máy tính yêu cầu không gian rộng hơn nên
kiến nghị diện tích tối thiểu của PHBM Tin học là 100m2.
Theo TCVN 8794 [2, tr.12] và quyết định số 37 [3, tr.3,4]
thì kích thước chiều ngang PHBM từ 7,2 m trở lên; tỉ lệ giữa
chiều dài và chiều rộng PHBM không lớn hơn 2. PHBM
phải có phòng chuẩn bị có diện tích từ 12 m2 đến 27 m2
được bố trí liền kề. Vì vậy, tỉ lệ kiến nghị diện tích PHBM
Tin học có chiều dài phòng là 14m và chiều rộng 7,2m,
trong những điều kiện thực tế không thể áp dụng khuyến
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
68
Bùi Thị Thao
nghị nên theo tỉ lệ 1:1; 4:3; 3:2 và diện tích phòng kho chứa bằng hệ thống cửa sổ và cửa ra vào, có hệ thống đèn điện
thiết bị Tin học là 25m2 với chiều dài là 3,5m và chiều rộng phục vụ cho những khi ánh sáng tự nhiên không đủ, có hệ
là 7,2m.
thống rèm che tạo phòng tối khi dạy học bằng các thiết bị
trình chiếu.
- Hệ thống bàn ghế:
+ Bàn GV: được thiết kế dạng hộp, kích thước đủ cho GV
tiến hành hoạt động thực hành. Mặt trước có các ngăn chứa
TBDH dùng cho mỗi tiết học. Bàn được bố trí ổ cắm điện,
có cầu chì bảo vệ phù hợp.
- Số lượng PHBM Tin học: Số lượng phòng học Tin học
tùy thuộc vào hạng trường được quy định tại Khoản 4 Phần
I Thông tư liên tịch số 35 [4, tr.2]. Theo quyết định số 32 [5,
tr.3] thì số PHBM của từng môn học được tính bằng tổng số
tiết của môn học ở tất cả các khối, lớp trong tuần chia cho
30 (lấy tròn số).
n=T/30
Ghế GV: Có kích thước phù hợp với bàn.
(n: số lượng phòng bộ môn, T: Tổng số tiết học/tuần)
Kết hợp với yêu cầu của môn Tin học 35 tiết/lớp/năm học
đương tương với 1tiết/tuần ở cấp THCS trong CT GDPT
CT tổng thể [6,tr.11] và CT GDPT môn Tin học [1, tr.73],
tôi xin đề xuất số lượng PHBM Tin học tối thiểu ở mỗi
hạng, khu vực trường như sau (xem Bảng 1):
a. Phòng học: Là nơi tiến hành các hoạt động dạy và học
bộ môn Tin học.
Yêu cầu về không gian [7, tr.51,52]
Diện tích phòng phải đủ lớn đảm bảo không gian hoạt
động cho 45 HS.
Cửa ra vào: 2 cửa (không kể cửa thông sang phòng kho).
Cửa sổ: số lượng đủ, đảm bảo độ thông thoáng.
Có đường cho các phương tiện vận chuyển thiết bị tin
học ra vào phòng, đường đi lại giữa GV đến HS và giữa
các nhóm HS với nhau, đường đi lại từ bàn HS đến các tủ
đựng thiết bị.
Bàn HS dùng để máy tính: Ở THCS tối thiểu 1 máy tính/2
HS nên bàn 2 chỗ ngồi, mặt bàn phẳng, chịu lực và chịu
nhiệt; có ngăn bàn chứa cây máy tính, chân bàn có bánh xe
di động, dễ dàng cho việc di chuyển. Bàn được bố trí ổ điện,
cầu chì bảo vệ phù hợp.
Ghế HS: Ghế không liền bàn, có thể điều chỉnh được độ
cao thấp.
Màn hình máy chiếu, bảng tương tác: Có giá đỡ và bánh
xe di động có thể di chuyển được, kết cấu hợp lí để có thể
nâng lên hạ xuống một cách dễ dàng.
Tủ giá đựng thiết bị Tin học: Nên dùng tủ kính, giá gỗ
hoặc nhựa, có nhiều tầng và ngăn với kích thước phù hợp
với các loại hình TBDH.
Có thiết bị phòng chống cháy nổ phù hợp.
b. Phòng kho chứa thiết bị Tin học: Là nơi bảo quản, luân
chuyển một số thiết bị Tin học, đồng thời cũng là nơi cải
tiến, sửa chữa nhỏ các thiết bị.
Không gian bố trí bàn ghế đảm bảo các HS quan sát rõ
các hoạt động thực hành do GV tiến hành.HS ngồi học và
sử dụng máy tính một cách an toàn và tiện lợi nhất, thuận
tiện cho việc vệ sinh thường xuyên.
Có không gian bố trí hợp lí các thiết bị trình chiếu của
GV (máy chiếu, máy chiếu vật thể, bảng tương tác thông
minh, camera,…).
Yêu cầu về không gian: Có không gian khô thoáng, đảm
bảo không gian sắp xếp, bảo quản các thiết bị Tin học.
Yêu cầu về cơ sở hạ tầng: có hệ thống điện, hệ thống thiết
bị phòng chống cháy nổ, hệ thống tủ giá chứa thiết bị: bàn
phím, chuột, thiết bị lưu trữ (USB, CD, thẻ nhớ, ổ cứng),
thiết bị mạng (cáp nối, switch, Access Point,...), máy tính
dự phòng,...
Có không gian bố trí hợp lí các tủ đựng trang thiết bị thực
hành cho một tiết dạy.
Yêu cầu về cơ sở hạ tầng
- Hệ thống điện, quạt thông gió: PHBM Tin học cần hệ
thống điện ổn định để thắp sáng và cung cấp cho hệ thống
máy tính, máy chiếu, bảng tương tác,… Hệ thống quạt mát,
máy lạnh, quạt thông gió để đẩy thường xuyên hơi nóng của
máy tính ra khỏi PHBM Tin học.
Sơ đồ PHBM Tin học
Qua nghiên cứu, khảo sát, xin ý kiến tư vấn, tôi xin đề
xuất cấu trúc không gian và bố trí nội thất theo sơ đồ sau
(xem Sơ đồ 1 và Sơ đồ 2):
2.2. Thiết bị phòng học bộ môn Tin học
a. Thiết bị phần cứng [1, tr.77]
Thiết bị dành cho GV dạy học: máy tính cá nhân, máy
- Hệ thống chiếu sáng: Tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên chiếu, màn hình chiếu, bảng phụ.
Bảng 1: Số lượng PHBM tối thiểu
Trường THCS
Hạng I
Hạng II
Hạng III
Trung du, đồng bằng, thành phố
Từ 28 lớp trở lên
02 phòng
Từ 18 đến 27 lớp
01 phòng
Dưới 18 lớp
01 phòng
Dưới 10 lớp
hòng
Miền núi, vùng sâu, hải đảo
Từ 19 lớp trở lên
01 phòng
Từ 10 đến 18 lớp
01 phòng
Số 23 tháng 11/2019
69
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
Phòng học bộ môn Tin học
Phòng học bộ môn Tin học
(1) Bàn ghế GV; (2) Khu vực để màn hình chiếu, bảng
phụ, (3) Bàn ghế HS; (4) Giá để giày, dép; (5) Bàn ghế
phòng chuẩn bị; 6) Giá, tủ đựng thiết bị
(1) Bàn ghế GV; (2) Khu vực để màn hình chiếu, bảng
phụ, (3) Bàn ghế HS; (4) Giá để giày, dép; (5) Bàn ghế
phòng chuẩn bị; 6) Giá, tủ đựng thiết bị
Sơ đồ 2: Cấu trúc không gian và bố trí nội thất kiểu 2
Sơ đồ 1: Cấu trúc không gian và bố trí nội thất kiểu 1
Thiết bị dành cho HS thực hành:
- Máy tính
ra đời. Do vậy, cần định kì thu thập, cập nhật các phần mềm
mới, phiên bản mới.
+ Số lượng máy tính: Ở THCS, tối thiểu 1 máy tính/2 HS.
+ Cấu hình máy tính: phải đáp ứng cài đặt được các hệ
điều hành và phần mềm thông dụng. Các máy tính phải
được kết nối mạng LAN và Internet, có trang bị những thiết
bị phục vụ thực hành như loa, tai nghe, micro, camera.
+ Phần mềm: các máy tính cần được cài đặt hệ điều hành
và các phần mềm ứng dụng thuộc loại có bản quyền, mã
nguồn mở hoặc miễn phí.
2.3. Tổ chức hoạt động ở phòng học bộ môn Tin học
a. Quản lí PHBM Tin học
- Nội quy PHBM Tin học: Ban giám hiệu và tổ chuyên
môn dựa vào nội quy chung của nhà trường và đặc thù riêng
của PHBM Tin học để soạn thảo những nội quy, quy định
cụ thể về quyền lợi, nghĩa vụ của cán bộ quản lí phòng, GV,
HS trong quá trình khai thác, sử dụng, bảo quản PHBM Tin
học.
- Máy tính có cấu hình cao dùng làm server để lưu trữ các
học liệu điện tử, cài đặt các phần mềm quản lí học tập, phần
mềm quản lí nhà trường và phần mềm tường lửa.
- Các thiết bị khác:
+ Thiết bị mạng bao gồm Switch, Modem, Router, Ac-
cess Point, cáp mạng, kìm bấm cáp; dùng để kết nối mạng
LAN và Internet cho các máy tính, phục vụ HS thực hành
các bài học về thiết bị số và thiết kế mạng.
+ Máy chiếu và màn hình; bảng tương tác thông minh.
+ Một số thiết bị kĩ thuật số hiện đại: máy ảnh số, máy
in, máy tính bảng, máy chiếu vật thể, thiết bị thông minh.
b. Thiết bị phần mềm [1, tr.78,79]
Về hệ điều hành của máy tính, bộ công cụ văn phòng
(phần mềm soạn thảo, trình chiếu, bảng tính,…) và các
phần mềm khác chỉ cần đáp ứng được yêu cầu cần đạt được
của các nội dung trong CT mà không bắt buộc sử dụng phần
mềm nào cụ thể nào, không phân biệt mã nguồn mở hay
mã nguồn đóng, khuyến khích lựa chọn các phiên bản mới,
thông dụng và miễn phí.
- PHBM phải có đầy đủ các loại sổ sách: Sổ quản lí tài
sản; sổ theo dõi tình hình bảo hành, bảo trì; sổ đăng kí sử
dụng PHBM; Sổ mượn và trả thiết bị.
- Trong công tác quản lí PHBM Tin học thì việc cài đặt hệ
điều hành cùng các phần mềm cho máy tính là rất cần thiết.
Để đảm bảo cho các máy tính chạy ổn định, các phần mềm
ít bị lỗi thì nên lựa chọn bộ cài đặt ổn định, ít xung đột với
các phần mềm khác.
- Trong quá trình sử dụng PHBM Tin học thường phải cài
đặt lại các máy tính khi bị lỗi hệ điều hành, phần mềm. Vì
vậy, yêu cầu cán bộ quản lí PHBM Tin học cần có những
phương án cụ thể để khắc phục đối với từng trường hợp.
- Trong quá trình sử dụng máy tính để tránh việc HS chỉnh
sửa một số thông tin hệ thống, các phần mềm thì máy tính
nên được đóng băng để đảm bảo các máy tính luôn trong
tình trạng ổn định.
- Công tác phòng cháy chữa cháy: Cán bộ quản lí phòng,
GV giảng dạy phải được trang bị các kiến thức cơ bản về
phòng cháy chữa cháy.
- An toàn về điện:
+ Đối với GV giảng dạy, chỉ mở hệ thống điện khi đã ổn
định lớp và kiểm tra các thiết bị máy móc an toàn. Trong
quá trình giảng dạy khi có bất kì sự cố nào về điện thì phải
ngắt toàn bộ hệ thống điện để kiểm tra và báo với cán bộ
quản lí phòng để xử lí. Sau khi kết thúc buổi học phải ngắt
toàn bộ hệ thống điện trong phòng.
Các phần mềm học tập, vui chơi giải trí chỉ cần đáp ứng
được yêu cầu cần đạt được của các nội dung trong CT.
Khuyến khích GV chủ động khai thác, lựa chọn nguồn tài
nguyên ở các kho học liệu số rất phong phú, đa dạng và
phần lớn là miễn phí để biên soạn giáo án. Trên thị trường,
các loại phần mềm khác nhau và các phiên bản mới liên tục
+ Đối với HS, không cho HS mang vật dễ cháy nổ vào
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
70
Bùi Thị Thao
phòng, không mang nước uống vào phòng, khi ngồi học định, GV di chuyển sang hình thức GV, phòng học cố định,
phải đúng tư thế và gác chân lên ghế để cách điện, HS
không được tự ý mở các thiết bị có sử dụng điện.
- Vệ sinh phòng máy: Để đảm bảo phòng bộ môn luôn
được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, các máy tính phải được vệ
sinh thường xuyên thì cán bộ quản lí phòng, GV giảng dạy,
HS phải cùng nhau góp phần vào việc gìn giữ này.
b. Hoạt động dạy - học ở PHBM Tin học
HS di chuyển sẽ tạo nhiều bỡ ngỡ, khó khăn trong bước
đầu thực hiện. Chính vì vậy, cần sự chuẩn bị chu đáo từ nhà
trường, cán bộ phụ trách PHBM, GV và HS. Căn cứ vào mô
hình PHBM Tin học đã xây dựng ở trên, tùy vào điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể của từng trường THCS có thể áp dụng
một cách linh hoạt, đáp ứng tối đa yêu cầu đổi mới của CT
GDPT 2018.
Tùy vào điều kiện cơ sở vật chất, TBDH và phương pháp
dạy mà người GV có kế hoạch dạy học cụ thể.
Công việc chuẩn bị:
Đối với các trường THCS chưa có PHBM Tin học mà có
điều kiện xây mới, nên thiết kế và xây dựng PHBM Tin học
theo mô hình được đề xuất như trên.
- GV: Chuẩn bị giáo án, SGK, tài liệu tham khảo, tranh
ảnh minh họa; Đăng kí kế hoạch dạy học ở PHBM Tin học;
Kiểm tra lại số lượng máy tính và hoạt động của các máy
tính, máy chiếu trước khi lên lớp.
- HS: Chuẩn bị đồ dùng học tập; Nắm vững các kiến thức
cơ bản đã học; Ôn tập bài cũ, chuẩn bị bài mới và các yêu
cầu mà thầy cô giáo đã giao.
- Cán bộ phụ trách PHBM: Kiểm tra hệ thống điện trong
phòng Tin học; Kiểm tra hoạt động của tất cả máy tính, máy
chiếu trong phòng.
Tổ chức hoạt động dạy học: GV tổ chức dạy học ở PHBM
theo tiến trình đã soạn thảo. Căn cứ vào thực tế dạy - học
mà có những điều chỉnh cho phù hợp. Về nguyên tắc trong
một tiết học bất kì có thực hành hoặc không có thực hành
GV có thể tổ chức các hoạt động sau: Hoạt động GV với tất
cả HS, hoạt động của cá nhân mỗi HS, hoạt động cặp đôi
(hai HS), hoạt động nhóm nhỏ HS.
GV chia lớp HS thành các nhóm, tối thiểu là 6 nhóm. Nếu
có điều kiện thì số nhóm có thể nhiều hơn. Khi thực hiện
hoạt động nhóm, GV nên bố trí, sắp xếp bàn ghế, máy tính
phù hợp theo hình thức tổ chức dạy học để HS không phải
di chuyển nhiều. Trong một nhóm cần có cả HS nam, HS
nữ, có HS khá giỏi, trung bình, yếu. Trong quá trình học
tập, căn cứ vào thực tế mà GV có thể phân chia lại nhóm
cho phù hợp. Luôn nhắc nhở HS phải tuân thủ các quy định
khi thực hành [7, tr.58]. Ngoài ra, có thể tổ chức các hoạt
động khác ở PHBM Tin học như: hoạt động nghiên cứu
khoa học; hoạt động ngoại khóa (câu lạc bộ Tin học, tổ chức
các cuộc thi HS giỏi Tin học), hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm
chuyên môn.
Đối với các trường THCS chưa có PHBM Tin học mà
chưa có điều kiện xây mới thì nhà trường có thể cải tạo, cơi
nới phòng học thông thường thành PHBM Tin học dựa trên
mô hình đã đề xuất. Khi thực hiện phương án này, nên giảm
số lượng máy tính trong phòng kết hợp các phương pháp
giảng dạy và hình thức tổ chức dạy học theo định hướng
mới phù hợp với diện tích của phòng. Đối với các trường
THCS đã xây dựng PHBM Tin học mà không thể cải tạo
theo mô hình đề xuất, có thể giữ nguyên PHBM hiện tại
hoặc xây dựng không gian lớp học mở, liên kết với các
trung tâm, tổ chức ngoài nhà trường. Đối với các trường
THCS có từ hai PHBM Tin học trở lên thì nên bố trí sát
nhau để dùng chung kho chứa thiết bị. Đối với các trường
THCS không có điều kiện, thiết bị Tin học ít thì không cần
xây dựng phòng kho chứa thiết bị Tin học.
3. Kết luận
Từ các nghiên cứu và yêu cầu như đã nêu trên cho thấy
việc xây dựng mô hình PHBM Tin học ở trường THCS
nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của CT GDPT 2018 là nhu
cầu cần thiết. Nó là điều kiện đầu vào cho quá trình GD,
cũng là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng
GD của HS. Với PHBM Tin học sẽ tạo điều kiện cho HS
sử dụng có hiệu quả các ứng dụng Tin học, gắn kết học lí
thuyết với thực hành, nâng cao khả năng giải quyết vấn
đề, tích hợp kiến thức và kĩ năng liên môn, sáng tạo ra các
sản phẩm số của cá nhân, của nhóm, từ đó giúp HS hứng
thú học tập, nắm vững kiến thức, phát huy tính tích cực,
chủ động sáng tạo trong quá trình học, nhanh chóng hình
thành và phát triển năng lực Tin học thông qua các hình
thức học với sự hỗ trợ từ công nghệ; giúp GV tiết kiệm
2.4. Hướng dẫn thực hiện mô hình
PHBM Tin học là một hướng đi rất mới, chuyển đổi từ được thời gian, công sức và nâng cao năng lực chuyên
phòng học truyền thống sang PHBM, từ hình thức HS cố môn cho GV.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục
phổ thông môn Tin học, ban hành kèm theo Thông tư số
32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018.
[2] Bộ Khoa học và Công nghệ, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN
8794:2011, Trường Trung học - Yêu cầu thiết kế, Hà Nội,
ngày 23 tháng 8 năm 2011.
ngày 17 tháng 07 năm 2008.
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ nội vụ, Thông tư liên tịch
số 35/2006/TTLT- BGDĐT-BNV về Hướng dẫn định mức
biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục phổ thông công
lập, ngày 23 tháng 8 năm 2006.
[5] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 32/2004/QĐ-
BGDĐT ban hành Quy chế công nhận phòng học bộ môn
trường trung học đạt chuẩn quốc gia, ngày 24 tháng 9
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 37/2008/QĐ-
BGDĐT “Ban hành Quy định về phòng học bộ môn”,
Số 23 tháng 11/2019
71
NGHIÊN CỨU LÍ LUẬN
năm 2004.
[7] Phạm Văn Nam - Đặng Thị Thu Thủy - Trần Đức Vượng
(đồng chủ biên) - Phan Viết Ban - Cao Thị Phương Chi -
Hà Văn Quỳnh - Lê Ngọc Thu, (2012), Một số vấn đề về
Phòng học bộ môn, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
[6] Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2018), Chương trình Giáo dục
phổ thông - Chương trình tổng thể, ban hành kèm theo
Thông tư số 32/2018/TT- BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm
2018.
BUILDING A MODEL OF INFORMATION TECHNOLOGY CLASSROOM
IN SECONDARY SCHOOLS TO MEET THE REQUIREMENTS
OF GENERAL EDUCATION PROGRAM 2018
Bui Thi Thao
The Vietnam National Institute of Educational Sciences
52 Lieu Giai, Ba Dinh district, Hanoi, Vietnam
Email: buithaotk[email protected]
ABSTRACT: The article focuses on the study of building a model of
Information technology classroom in secondary schools, including: spatial
structure and infrastructure such as area, number of rooms, layout of
space, infrastructure requirements, and room map; computer equipments
with hardware and software equipment; organizing and managing teaching
- learning activities in classrooms; and guiding for model implementation.
The model building is based on the regulations, requirements, goals, as
well as current situation of these secondary schools to meet the demands
of the general education program 2018.
KEYWORDS: Model of Information technology classroom; Information technology
subject; secondary school; general education program 2018.
TẠP CHÍ KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
72
Bạn đang xem tài liệu "Xây dựng mô hình phòng học bộ môn Tin học ở trường trung học cơ sở đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
xay_dung_mo_hinh_phong_hoc_bo_mon_tin_hoc_o_truong_trung_hoc.pdf

