Bài giảng Sử dụng thiết bị văn phòng (Phần 1)

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ NÔNG LÂM NAM BỘ  
-------  -------  
BÀI GIẢNG  
SỬ DỤNG THIẾT BỊ VĂN PHÒNG  
Mã số: MĐ34.  
NGHỀ: CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
Địa chỉ: QL 1K, Phường Bình An, TX. Dĩ An, Tỉnh Bình Dương  
[Lưu hành nội bộ]  
-2018-  
GIỚI THIỆU  
Trang thiết bị văn phòng là yếu tố vật chất cần thiết cho hoạt động văn phòng,  
là một trong các yếu tố quan trọng bảo đảm năng suất, chất lượng của công tác văn  
phòng, đồng thời cũng là một trong các yếu tố giúp cho cán bộ, công chức hoàn thành  
tốt nhiệm vụ của mình.  
Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay, các tiến bộ của công  
nghệ đã được ứng dụng rộng rãi trong công tác văn phòng, đặc biệt là việc ứng dụng  
tiến bộ công nghệ thông tin vào quá trình hiện đại hóa công tác văn phòng, Trang thiết  
bị máy thường được sử dụng trong văn phòng như: máy in, máy photocopy, máy điện  
thoại dùng chung, máy fax, máy chiếu…  
. Để quản lý, sử dụng tiết kiệm được tài chính, thời gian làm việc nhưng đem lại  
hiệu quả cao. Tạo môi trường làm việc hoàn mỹ, chuyên nghiệp và hiện đại....  
Nội dung chương trình được kết cấu thành 7 chương, cụ thể như sau:  
- Bài 1. Bài mở đầu.  
- Bài 2. Cài đặt và sử dụng máy in  
- Bài 3. Cài đặt và sử dụng máy quét ảnh.  
- Bài 4. Sử dụng máy ảnh số và camera.  
- Bài 5. Cài đặt và sử dụng máy Fax.  
- Bài 6. Sử dụng và vận hành máy Photocopy.  
- Bài 7. Lắp đặt và sử dụng máy chiếu.  
Tài liệu được biên soạn có tham khảo từ các tài liệu, bài giảng và kinh nghiệm  
giảng dạy của tập thể giáo viên Khoa, nên không thể tránh khỏi các thiếu soát rất mong  
nhận được ý kiến góp ý để tài liệu hoàn thiện hơn. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về  
Khoa Công nghệ thông tin, Trường Cao đẳng nghề Công nghệ và Nông Lâm Nam Bộ.  
Điện thoại: 0650 3772 899; Email: [email protected]m.  
Chân thành cảm ơn !  
Bình Dương, ngày 01 tháng 3 năm 2018  
Nhóm biên soạn  
MỤC LỤC  
ii  
iii  
BÀI MỞ ĐẦU  
Thời gian: 1giờ.  
A. MỤC TIÊU:  
Sau khi học xong phần này người học có khả năng:  
- Trình bày các nội dung và thời gian của mô đun;  
- Nghiêm túc chấp hành nội quy, quy định của doanh nghiệp;  
- Rèn luyện ý thức lao động, tác phong công nghiệp, có trách nhiệm và sáng tạo.  
B. DỤNG CỤ - THIẾT BỊ - VẬT LIỆU:  
1
C. NỘI DUNG:  
1. NỘI DUNG CỦA MÔ ĐUN.  
Nội dung của mô đun sẽ giúp cho người học có đủ kiến thức và kỹ năng nghề, đáp  
úng nhu cầu công việc như:  
- Trình bày được các nguyên tắc hoạt động của máy in, máy fax, máy quét ảnh,  
máy ảnh số, máy Camera, máy Photocopy, máy chiếu;  
- Vận hành và sử dụng thành thạo của máy in, máy fax, máy quét ảnh, máy ảnh  
số, máy Camera, máy Photocopy, máy chiếu;  
- Khắc phục một số sự cố đơn giản của máy in, máy fax, máy quét ảnh, máy ảnh  
số, máy Camera, máy Photocopy , máy chiếu;  
- Cài đặt và sử dụng thành thạo các thiết bị nhớ ngoài và các loại card rời;  
- Rèn luyện ý thức lao động, tác phong công nghiệp, có trách nhiệm và sáng tạo.  
2. PHÂN PHỐI THỜI GIAN.  
SỐ  
TT  
Thời gian  
Lý Thực Kiểm  
số thuyết hành  
Tên các bài trong mô đun  
Tổng  
tra  
Bài mở đầu  
1
2
3
4
5
1
15  
8
1
4
2
2
1
0
11  
5
Cài đặt và sử dụng máy in  
Cài đặt và sử dụng máy quét ảnh  
Sử dụng máy ảnh số và camera  
Cài đặt và sử dụng máy Fax  
1
8
6
4
3
Sử dụng và vận hành máy Photocopy  
Lắp đặt và sử dụng máy chiếu  
6
7
12  
12  
60  
3
2
15  
8
8
41  
1
2
4
Cộng  
2
Bài 1.  
CÀI ĐẶT VÀ SỬ DỤNG MÁY IN  
Thời gian: 15h (LT :4h ; TH :11h).  
A. MỤC TIÊU:  
Sau khi học xong phần này người học có khả năng:  
- Trình bày được chức năng, cấu tạo và nguyên lý hoạt động của các loại máy in;  
- Cài đặt, sử dụng được các loại máy in thông dụng;  
- Khắc phục được một số sự cố thường gặp;  
- Rèn luyện ý thức lao động, tác phong công nghiệp, có trách nhiệm và sáng tạo.  
B. DỤNG CỤ - THIẾT BỊ - VẬT LIỆU.  
C. NỘI DUNG:  
1.1. CHỨC NĂNG.  
Máy in là một thiết bị dùng để thể hiện ra các chất liệu khác nhau các nội dung  
được soạn thảo hoặc thiết kế sẵn.  
Máy in là một thiết bị ngoại vi trong đó nó có chức năng sản xuất một văn bản  
hoặc hình ảnh của tài liệu lưu trữ trong thiết bị lưu trữ, thường là trên các phương tiện  
thông tin in vật lý như giấy hoặc vật liệu trong suốt. Nhiều máy in chủ yếu được sử dụng  
như thiết bị ngoại vi địa phương, được gắn bởi một cáp máy in, hoặc một cáp USB đến  
một máy tính. Một số máy in, thường được gọi là máy in mạng, đã được xây dựng trong  
giao diện mạng, thường không dây hoặc Ethernet. Máy in cá nhân thường được thiết kế  
để hỗ trợ cả hai địa phương và mạng lưới người dùng kết nối cùng một lúc. Ngoài ra,  
một vài máy in hiện đại có thể in trực tiếp với các phương tiện truyền thông điện tử như  
thẻ nhớ, hoặc các thiết bị chụp hình ảnh như máy ảnh kỹ thuật số và máy quét, một số  
máy in được kết hợp với máy quét hoặc fax máy trong một đơn vị duy nhất và có thể  
hoạt động như máy photocopy. Hầu hết các máy in đa chức năng bao gồm in, quét,  
photocopy và fax.  
1.2. PHÂN LOẠI, CẤU TẠO VÀ NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG.  
1.2.1. Phân loại.  
1.2.1.1. Máy in kim.  
Máy in kim là loại máy sử dụng các kim để chấm qua một băng mực làm hiện mực  
lên trang giấy cần in. Hiện nay loại máy này ít được ưa chuộng hơn hai loại máy trên.  
3
Bởi nhược điểm in chậm, độ phân giải của bản in rất thấp và khi làm việc chúng rất ồn.  
Hiện nay phần lớn chỉ có các siêu thị và cửa hàng mới sử dụng máy in kim để in các hoá  
đơn như một thiết bị nhỏ gọn cho các bản in với chi phí rất thấp. Điển hình là chiếc máy  
in kim Epson LQ-2180, điểm nổi bật trong thiết kế của máy in này đó là kiểu dáng hiện  
đại, gọn nhẹ và tốc độ in khá nhanh, đều màu cho bản in đẹp tuyệt đối.  
Máy in kim thông dụng có 2 loại gồm loại 9 kim và loại 24 kim. Trong quá trình  
sử dụng máy có thể bị gãy kim, nguyên nhân là do việc tái sử dụng băng mực nhiều lần  
(bằng cách nhuộm hoặc thay ruột băng).  
Hình 1.1: Máy in kim.  
- Ưu điểm: Máy có độ bền cao hơn các chủng loại khác. Giá mực rẻ hơn so với  
mực in phun và mực in laser. In được trên giấy nhiều liên, giấy than, giấy cuộn, hóa đơn  
thuế, mực cực bền, khó xóa mực in, khó sửa chữa. In số lượng lớn và hàng ngày, in đơn  
sắc ( trắng đen ) và không yêu cầu chất lượng bản in cao thì nên chọn máy in kim.  
- Khuyết điểm: Khi in phát ra tiếng ồn, tốc độ in chậm; chất lượng in không cao,  
độ nét thấp.  
1.2.1.2. Máy in phun.  
Máy in phun là loại máy được hoạt động theo theo nguyên lý phun mực vào giấy  
in. Mực in sẽ được phun qua một lỗ nhỏ theo từng giọt với một tốc độ lớn để tạo ra các  
điểm mực đủ nhỏ giúp bản in có chất lượng cực sắc nét.  
Đa số các máy in phun thường là các máy in màu và có thêm tính năng in đen  
trắng. Thường thì để in đa sắc các bạn sẽ cần tối thiểu 3 loại mực. Các màu sắc được thể  
hiện bằng cách pha trộn ba màu cơ bản với nhau.  
4
Trước đây các hộp mực màu của máy in phun thường được thiết kế cùng khối, tuy  
nhiên nếu in nhiều bản in thiên về một màu nào đó sẽ dẫn đến hiện tượng có một màu  
hết trước, để tiếp tục in cần thay hộp mực mới nên gây lãng phí đối với các màu còn lại  
chưa hết. Ngày nay các hộp màu được tách riêng biệt và tăng số lượng các loại màu để  
phối trộn (nhiều hơn 3 màu - không kể đến hộp màu đen) sẽ cho bản in đẹp hơn, giảm  
chi phí hơn trước.  
Một số loại máy in phun có khả năng in ảnh trực tiếp từ máy ảnh kỹ thuật số, in  
thẻ nhớ, in trên DVD, CD và in 2 mặt tự động. Ngoài ra, máy in phun còn in được hình  
ảnh trên giấy ảnh với độ phân giải cao, ảnh sắc nét, màu đẹp... nhờ có bộ phận phối trộn  
mực.  
a. Máy in phun hộp mực độc lập. b. Máy in phun mực in liên tuc.  
Hình 1.2: Máy in phun.  
- Ưu điểm: Máy tương đối rẻ, in ảnh rất đẹp và có thể đạt độ phân giải cao, mịn  
nét…  
- Khuyết điểm: mực dễ bay hơi, hao mực ,giá mực in loại này hiện nay khá cao.  
Mực máy in phun rất dễ bị khô dẫn đến không sử dụng tiếp được. Đối với máy in màu  
phải sử dụng từ 2 hộp- 4 hộp mực hoặc 6 hộp, tùy loại máy nên hơi tốn kém ...  
1.2.1.3. Máy in laser.  
Máy in laser là loại máy thông dụng nhất hiện nay. Máy hoạt động dựa trên nguyên  
tắc dùng tia la de để chiếu lên một trống từ, trống từ quay qua ống mực có tính chất từ  
để mực được hút vào trống và giấy được chuyển qua trống đưa mực được bám vào giấy  
và xuất ra ngoài. Chúng ta có thể kể đến những chiếc máy in Canon, máy in Epson,...thế  
nhưng máy in Canon vẫn được sử dụng nhiều hơn hết. Máy in laser có tốc độ in thường  
cao hơn các loại máy in khác, chi phí cho mỗi bản in thường tương đối thấp và có hai  
5
loại in đơn sắc và in đa sắc. Chính vì thế đây là loại máy khá thông dụng phục vụ việc  
in ấn tại gia đình hay văn phòng công ty.  
a. Máy in laser trắng đen.  
Hình 1.3: Máy in laser.  
b. Máy in laser màu.  
-Ưu điểm: Rất phù hợp để in văn bản do tốc độ in cao, in được liên tục, văn bản in  
rõ nét và không bị lem màu. Mực in không đắt lắm, dễ thay thế và độ bền rất tốt. Một  
số loại máy còn có thêm chức năng chống kẹt giấy...  
- Khuyết điểm: Giá tiền cao. Tiêu thụ điện năng nhiều hơn các dòng sản phẩm khác  
cùng loại. Không in hình ảnh được trên giấy ảnh...  
1.2.2. Cấu tạo.  
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều chủng loại máy in được sản xuất bởi những  
hãng nổi tiếng trên thế giới như HP, Epson, Lemax…chúng có những tính năng và tham  
số kỹ thuật khác nhau, tuy nhiên tất cả các chủng loại máy in đó đều phải dựa trên một  
nền tảng về cấu trúc được chia thành năm khối chức năng cơ bản như sau:  
- Khối cung cấp giấy.  
- Khối đầu in (in kim, in phun), đối với máy in Laser là bộ phận quang học (Laser/  
Scaner).  
- Khối chuyển động của đầu in (chỉ áp dụng với máy in kim và in phun).  
- Khối nguồn cung cấp.  
- Khối điều khiển điện tử.  
1.2.2.1. Khối cung cấp giấy.  
Mỗi máy in đều phải thực hiện chức năng điều khiển giấy. Giấy phải được máy in  
tiếp nhận, vận chuyển đến khối đầu in, sau đó được đưa tới bộ phận đỡ giấy ở đầu ra  
của máy in. Có hai phương pháp phổ biến về việc vận chuyển giấy là kiểu máy kéo và  
kiểu ma sát.  
6
Hình 1.4: Hệ thống kéo giấy kiểu máy kéo trong máy in kim Epson LX – 300.  
Mọi đường truyền đều hướng giấy cuốn quanh một trục quay bằng cao su (đối diện  
với đầu in) và đưa qua các đĩa bánh răng bằng nhựa. Các trục quay khác tạo thành một  
hàng ngang nằm phía dưới trục quay chính tạo sức ép nhẹ nhằm giữ cho giấy phẳng và  
đều trong trục quay chính. Mỗi bánh răng làm cho các răng trùng khớp với các lỗ nằm  
ở hai bên mép của giấy. Các bánh răng được liên kết với nhau và được liên kết cơ học  
với trục quay bằng một chuỗi các bánh răng, dây cua roa hoặc hệ thống pu li. Khi trục  
quay quay tới, nó làm quay hai đĩa bánh răng cùng một quãng đường đi để kéo giấy đến  
và đưa giấy ra khỏi máy in.Hệ thống vận chuyển giấy kiểu máy kéo đòi hỏi giấy phải  
liên tục, cung cấp đều đặn cho máy in. Hệ thống vận chuyển giấy kiểu máy kéo được áp  
dụng trong các máy in kim đời cũ, và chúng sử dụng loại giấy cuộn đặc biệt. Hiện nay  
các máy in kim đời mới như Epson 1170, 2170, 2180... được thiết kế sử dụng kết hợp  
cả hai kiểu vận chuyển giấy là kiểu máy kéo và kiểu ma sát.  
Hệ thống vận chuyển giấy kiểu ma sát, sử dụng phương pháp đòn bẩy cơ học, tạo  
lực cuốn giấy thông qua một bộ phận cuốn giấy (gọi là ru lô cuốn giấy) thường có hình  
dạng tròn, bán nguyệt, được gắn trên một trục quay. Khi giấy được đưa vào máy in đòn  
bẩy được nhả ra, trục quay di chuyển bộ phận cuốn giấy tiếp xúc chặt với giấy và theo  
đà kéo giấy vào bên trong máy in. Những hệ thống kéo giấy kiểu ma sát có thể sử dụng  
thích hợp cho trường hợp in từng tờ một, áp dụng cho những loại giấy có trong lượng  
hoặc kích cỡ khác nhau không theo quy định. Như vậy hệ thống cung cấp giấy bằng ma  
sát rất mềm dẻo linh hoạt khi không có sự cố. Vì rằng giấy được kéo vào máy in nhờ  
sức ép, nó sẽ chuyển động không bị thay đổi theo hướng mà nó được kéo vào. Nếu giấy  
không được định hướng đúng, nó sẽ bị dịch qua trái hoặc qua phải khi trục quay quay  
7
tới. Đôi khi trong cả những trường hợp giấy được kéo vào đúng hướng, nhưng vì các  
trục quay trong máy in biến dạng, do cao su bị mài mòn hoặc lão hoá (đối với những  
máy in cũ) sẽ gây ra sự chuyển động nghiêng ngả của giấy trong máy in. Tất cả những  
máy in tĩnh điện hiện nay (máy in Laser) đều sử dụng hệ thống kéo giấy kiểu ma sát.  
Hình 1.5: Hệ thống kéo giấy kiểu ma sát trong máy in HP LaserJet 5000.  
Các máy in sử dụng hệ thống kéo giấy kiểu ma sát yêu cầu người sử dụng phải nạp  
và điều hướng giấy trước khi in, bộ phận nạp chính là khay đựng giấy của máy in. Việc  
điều hướng cho giấy thẳng hàng được thông qua khay đựng giấy. Bộ phận cuốn giấy sẽ  
kéo từng tờ giấy vào bên trong máy in.  
1.2.2.2. Khối đầu in.  
Khối đầu in là một thiết bị tạo ra sự in vĩnh cửu lên bề mặt trang giấy. Ba công  
nghệ chủ yếu đã được nghiên cứu chế tạo để thực hiện quá trình đó là: in đập, in phun  
mực và in tĩnh điện. Một máy in thường được phân loại theo công nghệ riêng mà nó sử  
dụng.Ba công nghệ cơ bản đó được mô tả như dưới đây:  
- Công nghệ in đập.  
Đúng như vậy tên gọi của nó ám chỉ các ký tự, ký hiệu được đập vào bề mặt trang  
giấy theo đúng nghĩa đen qua một ruy băng bằng vải hoặc nhựa đã được bôi mực. Lực  
va đập tạo ra một sức ép mực qua băng mực và in lên giấy. Có hai loại máy in đập là  
máy in ký tự và máy in ma trận chấm.Máy in ký tự ngày nay không còn được sử dụng  
nữa mà chỉ còn kiểu máy in ma trận chấm.  
8
Bên trong các đầu in đập ma trận chấm (DMI – DOT MATRIX PRINTER) sử  
dụng một chuỗi các đầu kim riêng biệt bằng kim loại bố trí theo phương thẳng đứng.  
Mỗi đầu kim làm việc bởi một cuộn solenoid (cuộn hút) của riêng mình, các cuộn hút  
này tạo ra dòng điện độc lập với nhau. Các chữ cái, chữ số, ký hiệu hoặc hình ảnh đều  
có thể được tạo ra bằng cách, khi dòng điện chảy qua cuộn hút sẽ biến cuộn hút thành  
một nam châm điện đẩy các đầu kim đâm vào băng mực theo một sự tổ hợp trong khi  
đầu in chuyển động ngang qua trang giấy. Sự va chạm giữa kim gắn trong bộ phận đầu  
in và ruy băng mực sẽ tạo ra hình ảnh truyền sang trang giấy. Bề mặt của một đầu in  
(DMI – DOT MATRIX IMPACT) có thể phẳng hoặc cong để cho khớp với bán kính  
của trục quay. Các đầu in kim khi lắp đặt được điều chỉnh phẳng so với bề mặt để đảm  
bảo sự tạo thành chấm được đều đối với mỗi đầu kim.  
Công nghệ in đập có những nhược điểm chính sau. Trước tiên, các đầu in đập cần  
một năng lượng đáng kể để hoạt động, sau đó là chúng tạo ra những tiếng ồn lớn, tiếng  
lạch cạch, tiếng rít do các kim trong bộ phận đầu in khi hoạt động gây nên. Ngoài ra tốc  
độ của những máy in này thường rất chậm, chất lượng bản in thấp. Do đó nó gây nên sự  
khó chịu đối với nguời sử dụng.  
- Công nghệ in phun mực.  
In phun mực mở ra một phương pháp in mới, nó cho tốc độ in khá nhanh và khi  
hoạt động tiếng ồn không đáng kể, cho chất lượng bản in cao, nhanh chóng và yên lặng  
có thể làm việc với phần lớn các loại giấy bất kỳ. Phương pháp này hút mực nước từ  
một bình chứa trung tâm, sau đó “phun mực qua các lỗ tạo thành các chấm” những chấm  
này sẽ tạo thành ký tự hoặc hình ảnh mong muốn lên bề mặt tờ giấy. Hiện nay các máy  
in kiểu phun mực rất đa dạng.  
Có ba phương pháp in phun mực chủ yếu là: Dòng phun liên tục, phun áp điện và  
phun bọt (hoặc nhiệt). Phương pháp phun dòng liên tục không thích hợp cho các máy in  
vi tính và hiện nay không còn được sử dụng nữa.  
+ Đầu in kiểu phun bằng áp điện sử dụng mực ở dạng lỏng chứa trong bình nhỏ  
được bơm đầy vào một chuỗi kênh dẫn mực. Thông thường có 9 hoặc 24 kênh dẫn mực.  
Mỗi kênh được bao bởi một cái miệng vòi, đó chính là một lỗ cực nhỏ được khoan vào  
một đế kim loại. Một tinh thể áp điện nhỏ tại mỗi kênh hoạt động như một “máy bơm  
mực”. Một xung điện ngắn có năng lượng cao từ các mạch kích của máy in làm cho tinh  
9
thể dao động làm phun ra ngoài một giọt mực. Các máy in phun hiện nay chủ yếu sử  
dụng công nghệ này.  
+ Đầu in phun mực kiểu bọt (cũng còn được gọi là phun nhiệt) rất giống các đầu  
phun áp điện, nhưng các tinh thể cộng hưởng được thay thế bằng các phần tử nung nóng.  
Một xung điện kích thích làm nóng mực chứa trong kênh. Một bong bóng được tạo thành  
và lớn dần cho đến khi nổ vỡ ra. Lực khí bong bóng nổ sẽ làm phun ra ngoài một giọt  
mực.  
- Công nghệ in tĩnh điện (ES - ELECTRICITY STATIC).  
Hoàn toàn khác với bất kỳ một công nghệ in nào đã được nói đến trước đây. Một  
đầu in tĩnh điện thực sự là một tổ hợp của các bộ phận, hợp nhất tia sáng, tĩnh điện, hoá,  
quang học, nhiệt và áp suất để tạo ra một bản in vĩnh cửu trên giấy. Các hình ảnh tạo ra  
là một mạng các chấm ghi trên một trống nhạy quang. Các tia laser dùng để ghi các  
chấm. Công nghệ in tĩnh điện có nhiều ưu việt hơn so với các công nghệ khác. Nó có  
tốc độ nhanh, hoạt động êm, cho bản in có độ phân giải cao.Máy in sử dụng công nghệ  
tĩnh điện hiện nay rất phổ biến cả máy in đen trắng và máy in màu.  
1.2.2.3. Khối Chuyển động đầu in.  
Phần lớn các đầu in nối tiếp chỉ tạo ra một cột đơn của các chấm. Do vậy, đầu in  
cần phải chuyển động tới và lui, ngang qua trang giấy. Chuyển động đó được thực hiện  
bởi một cơ chế vận chuyển gọi là con trượt (carriage).  
Hình 1.6: Hệ thống vận chuyển bằng con trượt trên máy in kim Epson LX-300.  
10  
Hệ thống chính yếu là một con trượt chuyển động tự do dọc theo một hệ thống  
đường ray. Đầu in được lắp đặt một cách cẩn thận trên đường trượt được giữ bởi các  
đinh vít hoặc các kẹp đỡ ở phía dưới. Một hệ thống pu-li đơn giản được kéo bởi mô tơ  
bước được dùng để tạo ra sự chuyển động của con trượt.  
Một cảm biến được lắp đặt trong hệ thống vận chuyển bằng con trượt. Đó chính là  
cảm biến báo điểm dừng của con trượt ở phía bên trái máy in hay nó còn được gọi là  
cảm biến báo vị trí đầu. Cảm biến này báo cho mạch điều khiển của máy in biết khi nào  
con trượt dịch đến vị trí đầu của nó. Một bộ mã hoá quang học được thiết kế vào mạch  
điều khiển mô tơ chuyển động đầu in. Bộ mã hoá này sẽ gửi thông tin về khoảng cách  
và chiều đến của con trượt cho mạch điều khiển đầu in, và mạch này sẽ điều khiển vị  
trí tức thời của đầu in.  
Chú ý: Trong hệ thống máy in tĩnh điện, khối này nằm trong hệ thống tạo ảnh.  
1.2.2.4. Khối nguồn cung cấp.  
Khối nguồn cung cấp có nhiệm vụ biến đổi điện áp lưới thành một hoặc nhiều mức  
điện áp một chiều ổn định cần thiết để cung cấp cho các linh kiện điện và điện tử trong  
máy in. Khối nguồn này thường có công suất khác nhau cho từng loại máy in cụ thể.  
Đối với các máy in kiểu ma trận đập (máy in kim), máy in phun nguồn cung cấp thường  
tạo ra các điện áp như + 5 V, + 9 V, + 35 V, + 42 V sai số (± 5 %). Máy in tĩnh điện  
(máy in Laser) thường sử dụng các điện áp điển hình là + 5 V, + 12 V, + 24 V ngoài ra  
các máy in đời mới còn sử dụng thêm nguồn + 3.3 V với sai số (± 5 %). Trong các máy  
in Laser ngoài các nguồn kể trên còn có thêm một mạch cung cấp nguồn cao áp thường  
tạo ra điện áp âm một chiều khoảng 600 V sai số (± 10 %). Một vài loại máy in phun sử  
dụng khối nguồn cung cấp ở bên ngoài gọi là Adapter.  
Có hai kiểu nguồn cung cấp là nguồn tuyến tính và nguồn kiểu xung ngắt mở.  
Chúng được phân biệt bởi cách dùng để điều khiển các điện áp ra. Các bộ nguồn nuôi  
kiểu tuyến tính hiện nay không còn được sử dụng trong máy in nữa. Máy in hiện nay chỉ  
sử dụng nguồn cung cấp kiểu xung ngắt mở. Ưu điểm của loại nguồn này là có kích  
thước nhỏ gọn, công suất tương đối lớn.  
1.2.2.5. Khối điều khiển điện tử.  
Khối điều khiển điện tử là sự tổ hợp các linh kiện điện tử và các mạch điều khiển  
hoạt động trong máy in. Đối với máy in kim và in phun khối điều khiển điện tử điển  
11  
hình thường được tạo bởi bốn khối chính được chỉ rõ trong sơ đồ khối ở hình 2.1.2.5.  
nó bao gồm giao diện trao đổi thông tin, bảng điều khiển, bộ nhớ và mạch logic chính.  
Mặc dù có sự khác biệt giữa các máy in, nhưng mỗi mô đen đều chứa các mạch điện tử  
để điều khiển các khu vực đó.  
Đường  
dữ liệu từ  
máy vi  
tính  
Giao diện  
trao đổi  
thông tin  
Bộ nhớ  
Các bộ điều vận  
Bảng mạch  
điều khiển  
(Formatter)  
Các dữ liệu đầu in, dữ  
liệu mô tơ chuyên  
dịch đầu in, dữ liệu  
mô tơ kéo giấy  
Bảng điều  
khiển  
Vị trí của con trượt,  
bảng mẫu, giấy ra,  
con trượt đầu in  
Hình 1.7: Sơ đồ khối của khối điều khiển điện tử trong máy in kim và in phun.  
1.2.2.5.1. Giao diện trao đổi thông tin.  
Thực hiện việc điều khiển truyền dữ liệu giữa máy in và máy tính. Nó cũng điều  
hành sự phối hợp các tín hiệu “thoả thuận” để đồng bộ việc truyền dữ liệu. Dữ liệu được  
truyền, thông qua giao diện nối tiếp hoặc song song đều làm việc tốt đối với phần lớn  
các máy in thông thường.  
1.2.2.5.2. Bảng mạch điều khiển (Formatter).  
Dùng để tạo ra các mức điện áp và dòng điện cần thiết điều khiển mô tơ, các cuộn  
hút (solenoid) và đầu in.  
1.2.2.5.3. Bảng điều khiển.  
Cho phép người sử dụng làm việc với máy in một cách trực tiếp bằng cách ấn vào  
các phím chức năng trên bảng điều khiển (như in thử một bản in kiểm tra, thiết lập phông  
12  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 87 trang baolam 23501 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Sử dụng thiết bị văn phòng (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_su_dung_thiet_bi_van_phong_phan_1.pdf