Bài giảng Tổng hợp về kẹo Jelly bean

1. GIỚI THIỆU VỀ JELLY BEAN  
1.1. Khái quát  
Jelly bean là một loại kẹo bán mềm, hình dạng giống như hạt đậu với rất nhiều hương  
vị trái cây khác nhau. Bên ngoài viên kẹo là lớp vỏ đường cứng, bên trong mềm hơn và dai.  
1.2. Phân loại: Có 2 loại kẹo bọc đường là kẹo vỏ cứng và kẹo vỏ mềm.  
Kẹo vỏ cứng có lớp bọc cứng, có tinh thể tạo thành ở lớp vỏ và trong nhân chứa hạnh  
tẩm đường, nhân bạc hà, đậu lăng hay trứng phủ socola và đường. Lớp vỏ cứng được tạo  
thành bằng cách cho nhân bên trong trộn đều trong thùng quay. Syrup đường được thêm vào  
và phủ đều lên bề mặt nhân và ẩm được bốc hơi nhanh chóng. Lực ma sát giữa các hạt nhân  
với nhau giúp đường trải đều trên bề mặt và kết tinh thành một lớp mỏng. Những lớp tiếp theo  
được tạo cho đến khi lớp vỏ đạt được độ dày mong muốn. Quá trình này được kết hợp với  
nhiệt độ để tăng vận tốc của quá trình. Vì mỗi lớp đường chỉ dày khoảng 10-14µm và mỗi lần  
chỉ bọc 1 lớp nên quá trình này thường rất lâu. Lớp vỏ bao phủ toàn bộ nhân nên sản phẩm  
cuối vẫn duy trì được hình dạng nhân.  
Kẹo vỏ mềm có lớp vỏ dày, mểm bao bọc lấy nhân. Thay vì sử dụng nhiệt độ để làm  
khô và tạo lớp vỏ, kẹo vỏ mềm sử dụng syrup không có khả năng kết tinh như syrup 100%  
glocose, hay hỗn hợp suryp đường/glucose. Hỗn hợp này bao lấy nhân và đạt độ ẩm mong  
muốn khi thêm bột đường vào. Đây là một quá trình lạnh, cả thùng quay và syrup đều không  
được gia nhiệt trước và cũng không có dòng không khí nào được dùng để sấy. Tuy nhiên nó  
cũng là một quá trình nhanh và lớp vỏ đường dày được hình thành trong một thời gian vô cùng  
ngắn mặc dù hình dạng của nhân thường không được giữ nguyên.  
Bảng sau so sánh sự khác nhau giữa kẹo vỏ cứng và kẹo vỏ mềm  
Vỏ cứng  
Vỏ mềm  
Cấu trúc vỏ  
Cứng  
Mềm  
Hình dạng sản phẩm  
Kích thước thùng quay  
Tốc độ quá trình  
Nhiệt độ  
Giống nhân  
Lớn  
Chậm  
ấm  
Khó xác định  
Nhỏ  
Nhanh  
Mát  
Dạng syrup  
Phương pháp tạo lớp vỏ áo  
Sucrose  
Syrup đường tạo tinh thể  
bằng cách gia nhiệt  
Syrup glucose và sucrose  
Bột đường mịn được cho  
vào để đạt hàm ẩm yêu cầu.  
Jelly bean là sản phẩm đặc trưng của nhóm kẹo vỏ mềm.  
1.3. Đặc điểm: jelly bean rất đa dạng về màu sắc, hương vị, hình dạng cũng như là công  
thức phối trộn.  
Màu sắc:  
1
Màu thuần (nhân và vỏ có màu giống nhau): đỏ, hồng, tím, cam, vàng, xanh lá, xanh  
dương, đen, trắng.  
Màu hỗn hợp (nhân và vỏ có màu khác nhau): bên trong đỏ bên ngoài xanh….  
Hương vị:  
Hương trái cây: blue berry, lê, dưa đỏ, đào, dưa hấu.  
Hương nước giải khát: bia, champagne, daiquiri. JELLY BEAN  
Hương các loại kẹo khác và bánh ngọt: kẹo gum, masmallow, bạc hà, bánh kem, bánh  
hương quế.  
Hương hỗn hợp  
Một số hương thông dụng: berry blue, blueberry, bubble gum, buttered popcorn, cafe  
latte, cantaloupe, cappuccino, caramel apple, caramel corn, chocolate pudding, cinnamon,  
coconut, cotton candy, cream soda, crushed pineapple, dr pepper, french vanilla, grape jelly…  
Ngoài ra còn có những loại kẹo cho người ăn kiêng: Sugar Free Cherry, Green Apple,  
Juicy Pear, Lemon, Licorice, Pineapple, Cinnamon, Strawberry và Tangerine.  
Hình dạng: loại hơi tròn và loại hơi dài  
Cách phối trộn:  
- Jelly bean truyền thống: chỉ có màu và mùi ở lớp vỏ cứng bên ngoài.  
- Gourmet jelly bean: màu và mùi ở cả bên trong và bên ngoài kẹo, phần kèo bên trong  
mềm dẻo hơn, nhỏ hơn jelly bean truyền thống.  
Bề mặt: trơn bóng và phủ đường  
2
2. NGUYÊN LIỆU  
2.1. Sacharose  
Nguồn gốc:  
Đường saccharose rất phổ biến trong tự nhiên, có nhiều trong mía, củ cải đường, thốt  
nốt  
Tính chất:  
- Tồn tại dưới dạng tinh thể, cũng có thể tồn tại dưới dạng vô định hình nhưng  
không bền  
- Công thức phân tử là: C12H22O11.  
- Khối lượng phân tử: M = 342.  
- Khối lượng riêng của đường d = 1.5879 g/cm3.  
- Saccharose có hoạt tính quang học: [ ] 20 = +66.50  
D
- Trong môi trường acid, đặc biệt ở nhiệt độ cao saccharose dễ bị thuỷ phân cho ra  
glucose và frutose. Hiện tượng này gọi là nghịch đảo đường.  
- Đường saccharose có nhiệt độ nóng chảy tương đối cao to  
nc = 188oC.  
- Thông thường saccharose ít hút ẩm nhưng khi đun nóng ở nhiệt độ cao (khoảng từ  
130oC) thì có khả năng hút ẩm mạnh, còn đến 160oC thì bắt đầu cho phản ứng caramel  
hoá.  
- Saccharose tan tốt trong nước. Độ hoà tan ở 25oC là 2.04 kg/kg nước, đồng thời  
độ hoà tan này tăng theo nhiệt độ.  
- Độ ngọt của saccharose trong dung dịch phụ thuộc vào sự có mặt của các chất  
khác và điều kiện môi trường như độ pH, độ nhớt, hàm lượng NaCl, …  
Trong quá trình sản xuất kẹo, khi làm nguội và tạo hình, khối kẹo có hiện tượng co thể  
tích. Nguyên nhân là do các tạp chất như keo trên bề mặt saccharose gây nên.  
3
Bảng 2.1: Chỉ tiêu chất lượng của saccharose dùng sản xuất kẹo  
Chỉ tiêu  
Yêu cầu  
Saccharose  
Ẩm  
99.7%  
0.15%  
0.15%  
0.15%  
Hàm lượng tro  
Đường kính  
Chất không tan  
Độ pH  
60mg  
trắng  
tinh  
/
kg  
7
Màu sắc  
2.2. Mạch nha  
2.2.1. Nguồn gốc  
Mạch nha là một dung dịch đậm đặc và đã qua chế biến của đường D- glucose và  
maltose cũng như các polymer khác của D-glucose thu được từ sự thuỷ phân tinh bột. Các  
loại tinh bột dùng để sản xuất mạch nha là tinh bột bắp, tinh bột khoai tây hay lúa mạch,  
trong đó tinh bột bắp được dùng phổ biến hơn cả.  
Thực tế cho thấy nếu thuỷ phân tinh bột bằng enzyme thì mạch nha thu được có chất  
lượng cao hơn so với thuỷ phân bằng acid.  
Mạch nha đã được sử dụng như một nguyên liệu chính trong công nghiệp chế biến  
kẹo  
2.2.2. Thành phần  
Glucose  
+ Công thức cấu tạo C6H12O6 (M=180).  
+ Glucose là đường khử trong mạch nha tồn tại dưới dạng vô định hình. Glucose íthút  
ẩm nhưng sau khi được gia nhiệt thì khả năng hút ẩm tăng lên đặc biệt là khi nó đạt tới nhiệt  
độ tới hạn (135oC). Thông thường hàm lượng glucose trong mạch nha là 25 -30%.  
Maltose  
+ Công thức cấu tạo C12H22O11 (M=342).  
+ Maltose cũng là đường khử thuộc loại disaccharide. Khi hoà tan vào nước tạo ra  
dung dịch có tính nhớt. Maltose ít hút nước nhưng khi được đun nóng đến 90 - 100oC thì bắt  
đầu phân huỷ diễn ra mãnh liệt và hút nước rất mạnh. Trong mạch nha thì hàm lượng  
maltose vào khoảng 10-15%.  
4
Frutose  
+ Công thức phân tử:C6H12O6.  
+ Frutose không trực tiếp hình thành khi thuỷ phân tinh bột mà nó được tạo thành là  
do sự chuyển hoá glucose thành frutose (sự chuyển hóa này thường xảy ra trong môi trường  
acid và nhiệt độ cao) vì vậy hàm lượng frutose trong mạch nha không nhiều. Frutose mang  
tính hút ẩm.  
Dextrin  
+ Công thức phân tử (C6H10O5)n.  
+ Dextrin thuộc loại polysaccharide, không có tính ngọt, có khối lượng phân tử lớn  
nên dextrin có độ nhớt cao và tính dính. Dextrin có khả năng tạo keo tốt. Trong mạch nha  
hàm lượng dextrin thường vào khoảng 35-40%.  
2.2.3. Tác dụng của mạch nha đối với kẹo  
Chống nấm men và nấm mốc nhờ nồng độ chất khô cao:  
Kẹo không được để cho lên men cũng như không để cho các loại nấm mọc và các hư  
hỏng vi sinh khác trong suốt thời gian tồn trữ.  
Các kinh nghiệm thực tế trong sản xuất kẹo cho thấy nếu hàm lượng chất khô trong  
kẹo thấp hơn 75% khối lượng thì chắc chắn rằng nấm mốc và nấm men sẽ phát triển và gây  
hư hỏng cho kẹo, còn ngược lại, nếu hàm lượng chất khô cao hơn 75% thì điều đó rất khó  
xảy ra.  
Nồng độ saccharose bão hoà trong nước ở 20oC là 67.1% khối lượng. Bởi vậy nếu chỉ  
dùng saccharose thì không thể thu được sản phẩm có hàm lượng chất khô cao trên 75% đề  
phòng các hư hỏng như đã đề cập ở trên. Chính vì vậy chúng ta sử dụng mạch nha để tạo  
dung dịch ổn định không bị kết tinh và có hàm lượng chất khô đạt yêu cầu.  
Hạn chế hiện tượng lại đường: Đối với việc sản xuất các loại kẹo từ đường hàm lượng  
cao thì rõ ràng là không thể tạo được sản phẩm có hàm lượng chất khô 97% mà không bị  
hiện tượng “lại đường”, biểu hiện qua việc xuất hiện các tinh thể không mong muốn (chủ  
yếu là tinh thể đường saccharose), kết quả là làm giảm giá trị cảm quan do tạo cảm giác  
nhám, thô đối với lưỡi khi ngậm kẹo. Tuy nhiên vấn đề này có thể được giải quyết nhờ sử  
dụng mạch nha, đó là nhờ mạch nha có thể tạo cho dung dịch độ nhớt cao hơn, điều này giúp  
làm giảm tốc độ kết dính của các phân tử vào các mầm hạt trong sự kết tinh, bởi vậy một  
dung dịch có độ nhớt thật cao mà người ta gọi là trạng thái đặc giả của kẹo đường sẽ ngăn  
cản sự kết tinh hạt.  
5
2.2.4. Sử dụng mạch nha trong sản xuất kẹo  
Bảng 2.2: Chỉ tiêu chất lượng mạch nha dùng trong sản xuất kẹo  
Chỉ tiêu  
Yêu cầu  
80 - 85%  
35 - 40%  
4.8 – 5.5  
không  
Độ khô  
Đường khử  
pH  
Tinh bộ  
t
không  
Acid tự do  
Tro  
0.6%  
0.001%  
0.5%  
Kim loại nặng  
Muối NaCl  
Mạch nha thường dễ bị lên men tạo ra vị chua và mùi rượu. Để tránh tình trạng này  
người ta thường cô đặc mạch nha cho đến nồng độ chất khô khoảng 80%, nếu đạt nồng độ  
chất khô cao hơn thì rất khó cô đặc đồng thời cũng khó sử dụng khi lấy mạch nha ra khỏi  
bao bì.  
Để đánh giá mức độ thuỷ phân của tinh bột trong chế biến mạch nha người ta đưa ra  
chỉ số DE. Chỉ số DE là chỉ số đặc trưng cho khả năng khử của các sản phẩm thuỷ phân từ  
tinh bột, chỉ số này được mô tả bằng số gam đường D-glucose trên 100 gam chất khô của sản  
phẩm và vì thế đường D- glucose theo định nghĩa có chỉ số DE là 100. Các loại mật từ  
đường glucose đã sấy khô là sản phẩm thuỷ phân tinh bột khô có chỉ số DE lớn hơn 20 và  
maltodextrin có chỉ số DE từ 20 trở xuống.  
Mạch nha cũng có thể được phân làm 2 nhóm: ngọt và không ngọt.  
- Nhóm ngọt có DE cao bao gồm nhiều maltose, frutose, glucose nên kẹo dễ hút  
ẩm.  
- Nhóm không ngọt có DE thấp, nghĩa là hàm lượng dextrin cao nên kẹo có tính  
keo, truyền nhiệt kém.  
2.3. Gelatin  
2.3.1. Giới thiệu  
Gelatin có bản chất là protein được thu nhận từ quá trình phân hủy collagen của  
xương và da động vật.  
Có hai loại gelatin chính:  
6
+ Loại A có pH đẳng điện từ 7-9, được sản xuất bằng quá trình acid hóa.  
+ Loại B có pH đẳng điện từ 4.8-5.2, là kết quả của việc xử lý collagen bằng phương  
pháp kiềm hóa.  
Gelatin tạo thành gel thuận nghịch khi hòa tan trong nước và nhiệt độ nóng chảy của  
gel dưới 350C (tức là dưới nhiệt độ của cơ thể) làm cho các sản phẩm có nguồn gốc từ  
gelatin có mùi vị và tính chất cảm quan rất đặc trưng như khả năng hòa tan trong miệng.  
Nhược điểm của gelatin là do gelatin có nguồn gốc từ da và xương động vật vì thế nên nó sẽ  
không thích hợp với những người theo chế độ ăn kiêng hay theo đạo Hồi và những người ăn  
chay.  
2.3.2. Thành phần hóa học  
Gelatin là protein lưỡng tính với pH đẳng điện nằm trong khoảng từ 5-9 phụ thuộc  
vào nguồn nguyên liệu thô ban đầu và phương pháp chế biến. Thành phần chủ yếu của  
gelatin gồm có 14% hydroxyproline, 16% proline và 26% glycine. Gelatin là một tri- peptide  
có dạng “glycine-X-Y” trong đó X và Y có thể là bất kỳ một amino acid nào nhưng thường  
proline ở vị trí X còn hydroxyproline thì ở vị trí Y.  
Gelatin là sản phẩm từ quá trình biến tính hay phân hủy collagen. Về mặt dinh dưỡng  
thì gelatin không phải là một protein hoàn hảo do nó không có chứa tryptophan và chứa rất ít  
methionine. Gelatin thương mại của Rousselot bao gồm khoảng 85% protein,< 13% nước và  
< 2% khoáng.  
Cấu trúc của phân tử gelatin điển hình bao gồm –Ala-Gly-Pro-Arg-Gly-Glu-4Hyp(4-  
hydroxyproline)-Gly-Pro-  
Hình 2.1: Cấu trúc phân tử gelatin  
2.3.3. Tính chất của gelatin ứng dụng trong ngành sản xuất kẹo  
Tan trong nước:  
Gelatin khi gặp nước sẽ bị trương nở và hydrate hóa. Ở nhiệt độ khoảng 400C gelatin  
sẽ bị nóng chảy tạo thành dung dịch. Nếu dung dịch gelatin được sấy phun hay sấy thùng  
quay ở dạng bột thì gelatin tạo thành có thể tan trong nước lạnh. Trong dung dịch gelatin có  
thể sử dụng kết hợp với một số alcohol háo nước như glycerol, propylen glycol, sorbitol vì  
thế mà những chất này thường được sử dụng để điều chỉnh độ cứng của mạng gelatin.  
Trong những sản phẩm mà độ ẩm không cao như kẹo, sự có mặt của một số polymer  
7
khác như các polymer tồn tại trong dung dịch glucose syrup sẽ cạnh tranh với gelatin trong  
việc liên kết với nước tự do làm cho gelatin bị tủa và gây đục sản phẩm. Trong những trường  
hợp như vậy thì độ hòa tan của gelatin phụ thuộc rất nhiều vào điện tích của phân tử protein  
hoặc pH của sản phẩm. Vì vậy, nếu pH của sản phẩm càng lệch so với pH đẳng điện thì độ  
hòa tan của gelatin càng cao.  
Khả năng kết dính:  
Tính chất này đã được ứng dụng đầu tiên để sản xuất ra keo dán. Để có thể kết dính  
thì dung dịch gelatin sử dụng phải còn ấm và gelatin không được tạo gel trước khi bề mặt  
các sản phẩm gắn lại được với nhau. Tính chất này được ứng dụng trong ngành dược hay  
ngành sản xuất kẹo để kết dính các lớp.  
Khả năng tạo gel:  
Đây là ứng dụng phổ biến của gelatin do nó có khả năng tạo gel khi hòa tan trong  
nước và gel tạo thành có tính chất thuận nghịch dưới tác dụng của nhiệt độ (thermol  
reversible).  
Trong ngành công nghiệp sản xuất kẹo dẻo thì gelatin là thành phần chính. Nó phối  
hợp cùng với đường và glucose syrup để liên kết với các phân tử nước tự do từ đó hình thành  
cấu trúc gel cho sản phẩm. Trong một số loại nước quả như nước thơm hay đu đủ có tồn tại  
một số enzyme protease có khả năng làm thủy phân gelatin và phá hủy cấu trúc gel của nó vì  
vậy ta cần phải gia nhiệt dịch quả trước khi bổ sung vào dung dịch gelatin để vô hoạt các  
enzyme protease.  
Gelatin có trọng lượng phân tử càng thấp thì khả năng tạo gel càng yếu và độ nhớt  
của dung dịch càng thấp, tuy nhiên người ta thấy rằng chỉ có dạng alpha collagen (MW =  
100kD và độ bền gel = 364g Bloom) là chất tạo gel chính còn những thành phần khác  
mặc dù có trọng lượng phân tử cao hơn như mạch beta có MW = 200kD, mạch gamma có  
MW = 300KD, microgel có MW > 300KD nhưng lại không ảnh hưởng nhiều đến khả năng  
tạo gel cũng như độ bền gel mà chỉ ảnh hưởng lớn đến độ nhớt của dung dịch.  
Trong sản xuất kẹo người ta quan tâm nhiều đến năng lực đông tụ (năng lực tạo keo)  
của gelatin và cũng dựa vào đó mà người ta cung cấp gelatin theo chỉ tiêu này. Trên thị  
trường hiện nay có hai loại gelatin:  
- Gelatin 125 (với năng lực đông tụ là 125g/cm3)  
- Gelatin 250 (với năng lực đông tụ là 250 g/cm3)  
Nếu gia nhiệt trong một thời gian dài thì gelatin sẽ bị phân huỷ và làm giảm năng lực  
đông tụ.  
Để tạo ra dung dịch gelatin có nồng độ cao phục vụ cho việc sản xuất kẹo thì người ta  
có thể áp dụng các biện pháp sau:  
- Đánh trộn gelatin trong nước ấm với máy đánh trộn với tốc độ cao.  
- Ngâm gelatin trong nước lạnh một thời gian sau đó hoà tan hoàn toàn bằng cách đun  
cách thuỷ.  
8
- Ngâm gelatin trong nước lạnh, sau đó hoà tan trực tiếp cùng với nguyên liệu cần  
Thông thường người ta sử dụng cách thứ 2 hay sử dụng cách thứ 2 kết hợp cùng với  
trộn  
cách thứ 1.  
Bảng 2.3: Chỉ tiêu chất lượng của gelatin dùng trong sản xuất kẹo  
Chỉ tiêu Yêu cầu  
Gelatin 125  
Gelatin 250  
Hóa lý:  
+ Hàm lượng ẩm  
+ Năng lực đông tụ  
+Hàm lượng SO2  
+ Hàm lượng tro  
10%  
120 -135g/cm3  
50ppm  
10%  
240 - 260g/cm3  
50%  
2%  
2%  
Màu vàng nhạt hoặc không màu, trong suốt, không  
mùi vị  
Cảm quan  
175 - 250  
Độ Bloom  
2.4. Tinh bột  
2.4.1. Thành phần của tinh bột  
Tinh bột có công thức hóa học: (C6H10O5)n) là một polysacaride carbohydrate chứa  
hỗn hợp amylose và amylopectin, tỷ lệ phần trăm amilose và amilopectin thay đổi tùy thuộc  
vào từng loại tinh bột, tỷ lệ này thường từ 20:80 đến 30:70.  
Amylose  
Phân tử amylose có cấu tạo mạch thẳng gồm những đơn vị glucose liên kết với nhau  
bằng liên kết -1,4 glycoside, mạch cuộn xoắn ốc, mỗi vòng xoắn có 6 đơn vị glucose và có  
khoảng 1 – 2% liên kết -1,6 glycoside.  
Khi tương tác với iod, amylose sẽ cho phức màu xanh đặc trưng. Khi đó phân tử iod  
được sắp xếp bên trong phân tử amylose có dạng hình xoắn ốc. Các dextrin có ít hơn6 gốc  
glucose không cho phản ứng với iod vì không tạo được một vòng xoắn ốc hoànchỉnh.  
Amylose dễ hòa tan trong nước ấm tạo thành dung dịch có độ nhớt không cao. Khi  
nhiệt độ dung dịch hạ thấp, amylose dễ bị thoái hóa, tạo ra các gel tinh thể và các kết tủa  
không thuận nghịch. Vận tốc thoái hoá phụ thuộc vào pH, sự có mặt các ion, nồng độ của  
amylose cũng như khối lượng phân tử của amylose .Dung dịch được nấu chín sẽ tạo thành  
9
các phức hợp amylose, bảo vệ một phần khỏi sự thoái hóa.  
Hình 2.2: Một phần cấu trúc amilose  
Amylopectin  
Thành phần thứ hai của tinh bột là amylopectin chiếm khoảng 70 – 100% trong tinh  
bột. Amylopectin là cao phân tử có mạch phân nhánh do các gốc -D glycoside kết hợp lại  
với nhau bằng liên kết -1,4 glycoside, còn ở điểm phân nhánh thì bằng liên kết-1,6  
glycoside.  
Phản ứng giữa amylopectin và iod cho màu tím đỏ, đó là kết quả của sự tạo thành các  
hợp chất hấp phụ. Amylopectin chỉ hòa tan trong nước nóng và tạo dung dịch có độ nhớt  
cao. Do cấu trúc cồng kềnh lập thể nên các phân tử amylopectin không có khuynh hướng kết  
tinh lại, vì vậy dung dịch amylopectin thường không bị hiện tượng thoái hóa.  
Khi thuỷ phân bằng enzyme amylose, amylopectin chỉ bị phân giải đến 50 – 60%,  
nghĩa là liên kết - 1,6 glycoside không thuận lợi cho enzyme. Amylopectin hấp thụ nhiều  
nước khi nấu, là thành phần chủ yếu tạo nên sự trương phồng của hạt tinh bột. Các hạt tinh  
bột giàu amylopectin sẽ dễ hoà tan trong nước ở 95oC hơn các hạt giàu amylose.  
Hình 2.3: Một phần cấu trúc amilopectin  
10  
2.4.2. Sự trương nở của hạt tinh bột trong nước  
Khi ngâm hạt tinh bột trong nước ở điều kiện nhiệt độ thường, người ta nhận thấy có  
sự tăng thể tích của tinh bột. Sự tăng này gây nên sự hấp thụ nước vào trong hạt tinh bột, làm  
hạt tinh bột trương phồng lên. Hiện tượng tăng thể tích như vậy gọi là hiện tượng trương nở  
của hạt tinh bột.  
Như ta đã biết hạt tinh bột ở điều kiện thường liên kết với nhau bằng liên kết hydro  
như ở dạng II nêu ở phần trên. Ở điều kiên nhiệt độ và độ ẩm không khí bình thường, phần  
lớn tinh bột tồn tại dạng monohydrat n(C6H10O5H2O), trong đó phân tử nước liên kết với  
nhóm OH sơ cấp của mỗi gốc glucose. Khi trong điều kiện bão hòa (ngâm trong nước) do  
kích thước nhỏ bé các phân tử nước dễ dàng tấn công đến cả nhóm OH thứ cấp kém hoạt  
động hơn tạo nên dạng tinh bột trihydrat n(C6H10O5 3H2O). Lúc này do sự hiện diện của  
các phân tử nước nên kích thước hạt tinh bột tăng lên.  
Tùy thuộc vào cấu trúc của các loại tinh bột khác nhau mà khả năng trương nở trong  
điều kiện bão hòa sẽ mạnh hay yếu hơn. Thông thường tinh bột giàu amylopectin sẽ trương  
nở mạnh hơn do liên kết hydro trong nội nhũ phân tử kém bền hơn.  
2.4.3. Tinh bột được được sử dụng ở đây với mục đích:  
Nguyên liệu chính sản xuất jelly bean.  
Tinh bột làm khuôn cho kẹo  
Trong quá trình tạo lớp vỏ ngoài cho kẹo, tinh bột cũng được thêm vào nhằm giúp  
cho kẹo không bi dính vào nhau.  
Bảng 2.4. Thành phần tinh bột khoai tây, bột bắp, bột sắn và bột nếp  
Tinh bột, % Amiloza, %  
Nhiệt độ hồ  
Loại tinh  
bột  
Đường kính  
hạt (μm)  
theo chất  
khô  
theo tinh  
bột  
Hình dạng  
hoá ( C)  
Khoai tây  
18-25  
65-70  
23  
25  
52-70  
62-75  
1-120  
10-30  
Bầu dục  
Đa giác,  
tròn  
Bắp  
Khoai mì  
18-25  
18-25  
20  
20  
52-59  
68-74  
15-80  
15-80  
Tròn  
Tròn  
Nếp  
11  
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu chất lượng của tinh bột  
Chỉ tiêu chấtlượng  
Tiêu chuẩn UDC  
664 – 272(*)  
Tiêu chuẩn  
FAO - 1975  
Tiểu chuẩn  
TCVN–  
1985  
1
2
3
84  
4
84  
1.Hàm lượng Hydratcacbone (%)  
2.Độ ẩm(%)  
88.5  
12.5  
(12 – 13)  
>1470  
0.2  
(12 – 14)  
>1400  
0.2  
3.Năng lượng (cal/100g)  
4.Hàm lượng tro tổngsố (%)  
5.Hàm lương Protein cao nhất (%)  
6.Hàm lượng Xenluloza (%)  
7. Hàm lượng Lipits (%)  
8.Độ pH  
>
1475  
0.1  
0.2  
0.5  
0.5  
0.1  
0.2  
0.2  
0.1  
0.1  
0.2  
5-  
7
5-  
7
5 -  
40  
700  
7
9.Hàm lượng Ca (PPm)  
10.Độ dẻo(BU)  
< (20 – 25)  
50  
700  
97  
700  
92  
11.Độ trắng (%)  
85  
<1.5  
>98  
12. Hàm lượng Fe (%)  
13. Độ mịn hạt qua sàng  
14. Hàm lượng Sulfure (PPm)  
<
1.5  
99.5  
<130  
< 2  
>
> 99.5  
-
2.4.4. Tinh bột biến tính bằng acid  
Trong thực tế sản xuất, ứng với mỗi một sản phẩm thực phẩm thường đòi hỏi 1 dạng  
tinh bột hoặc một dẫn suất tinh bột nhất định. Vì vậy, để có được những loại hình tinh bột  
phù hợp người ta phải biến tính tinh bột .  
12  
Dưới tác dụng của axit một phần các liên kết giữa các phân tử và trong phân tử tinh  
bột bị đứt. Do đó làm cho kich thước phân tử giảm đi và tinh bột thu được những tính chất  
mới.  
Trong sản xuất công nghiệp, người ta cho khuếch tán tinh bột (huyền phù tinh bột 12-  
15Bx) trong dung dịch axit vô cơ có nồng độ 1-3%, rồi khuấy đều ở nhiệt độ 50-550C trong  
12-14 h. Sau đó trung hòa, lọc rữa và sấy khô.  
Tinh bột biến tính bằng axit so với tinh bột ban đầu có những tính chất sau:  
- Giảm ái lực với iot;  
- Độ nhớt đặc trưng bé hơn;  
- Áp suất thẩm thấu cao hơn do khối lượng phân tử trung bình bé hơn;  
- Khi hồ hóa trong nước nóng hạt trương nở kém hơn;  
- Trong nước ấm có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ hồ hóa thì độ hòa tan cao hơn;  
- Nhiệt độ hồ hóa cao hơn;  
- Chỉ số kiềm cao hơn;  
Ứng dụng: vì có độ nhớt thấp nên được dùng trong công nghiệp dệt để hồ sợi, sản  
xuất kẹo đông, làm bóng giấy để tăng chất lượng in và mài mòn.  
Có 2 phương pháp biến tính bằng axit đó là:  
- Biến tính bằng axít trong môi trường ancol  
- Biến tính bằng axít trong môi trường nước  
Biến tính bằng phương pháp axít trong môi trường ancol.  
Tạo ra những sản phẩm tinh bột mạch ngắn hơn, các dextrin hoặc các đường. Trong  
môi trường ancol như etanol hoặc metanol, do các ancol này có độ phân cực nhỏ hơn nước  
nên độ phân ly của axit tham gia xúc tác cũng nhỏ hơn; do đó phản ứng thủy phân làm biến  
dạng tinh bột diễn ra chậm hơn so với trong môi trường nước. Vì vậy chúng ta có thể điều  
chỉnh và khống chế quá trình biến tính tinh bột để tạo ra các sản phẩm có mạch phân tử  
mong muốn một cách dễ dàng hơn và đạt hiệu suất thu hồi cao hơn.  
Qui trình sản xuất theo phương pháp Robyt.  
Axít HCl đậm đặc trộn với 100 ml môi trường, sau đó khuấy đều, đậy kín miệng bình  
và biến tính trong 72 giờ.  
13  
Hình: Quy trình sản xuất tinh bột theo phương pháp Robyt  
Biến tính tinh bột bằng phương pháp axit trong môi trường nước  
Qui trình theo phương pháp Ali và Kemf:  
14  
Qui trình biến tính tinh bột bằng axit theo phương pháp Ali và Kemf  
Biến tính trong môi trường etanol, metanol đắt tiền, tái chế phức tạp, thời gian dài,  
tốn nhiều thiết bị, giá thành cao. Biến tính bằng axit trong môi trường nước khắc phục được  
những nhược điểm trên.  
Tinh bột khô được phân tán trong nước thành dịch huyền phù với nồng độ 33% và  
biến tính với xúc tác là dung dịch axit HCl 0,5N ở 500C trong điều kiện khuấy trộn liên tục.  
Khi biến tính kết thúc, trung hòa bằng dung dịch NaOH 1N đến trung tính và rửa sạch tinh  
bột bằng máy li tâm siêu tốc và nước nhiều lần.Cuối cùng là sấy, nghiền, rây để thành phẩm  
có W<12%.  
Trong quá trình biến tính có sự thay đổi lớn về cấu trúc mạch tinh bột làm cho nhiệt  
độ hồ hóa bị thay đổi.Nói chung tinh bột nào có mức độ phân cắt cao hơn thì nhiệt độ hồ hóa  
cao hơn.  
Giải thích: Khi bị phân cắt thành những phân tử nhỏ hơn, mạch ngắn hơn nhưng  
không đồng đều. Do mạch phân tử tinh bột biến tính có kích thước ngắn hơn nên dễ dàng  
xắp sếp chặc chẽ hơn làm cản trở quá trình hydrat hóa và trương nở của tinh bột. Mặc khác  
cũng có thể là do lúc đó trong hạt, mức độ có trật tự của các mixen đã tăng lên, các mạch  
tinh bột nằm trong vùng vô định hình bị thủy phân nên các mixen đó đã liên kết với nhau,  
15  
tạo ra những mảng mạch khá lớn và vì vậy làm nhiệt độ hồ hóa tăng lên.  
2.5. Nước  
Nước là thành phần cơ bản trong thực phẩm và nó cũng được quy định sử dụng như  
các thành phần khác. Nước được sử dụng trong sản xuất kẹo để hoà tan đường trước khi đưa  
vào nồi nấu, và pha phụ gia trong quá trình phối chế. Nước sử dụng trong công nghệ sản  
xuất thực phẩm nói chung phải đạt tiêu chuẩn của nước uống.  
Bảng 2. 6: Chỉ tiêu chất lượng của nước theo TCVN 5502  
Tên chỉ tiêu  
Đơn vị  
mg/I Pt  
Tối đa  
15  
Màu sắc  
Mùi vị  
Độ đục  
pH  
-
Không có  
5
NTU  
-
6-8.5  
300  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
Độ cứng, tính theo CaCO3  
Hàm lượng oxy hòa tan, tính theo O  
Tổng chất rắn hòa tan  
Hàm lượng amoniac, tính theo N  
Hàm lượng asen  
6
1000  
3
0.01  
0.05  
250  
Hàm lượng antimon  
Hàm lượng clorua  
Hàm lượng chì  
0.01  
0.05  
1.0  
Hàm lượng crom  
Hàm lượng đồng  
Hàm lượng florua  
0.7-1.5  
3.0  
Hàm lượng kẽm  
16  
Hàm lượng hydro sulfua  
Hàm lượng mangan  
mg/l  
mg/l  
0.05  
0.5  
Hàm lượng nhôm  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
0.5  
Hàm lượng nitrat, tính theo N  
Hàm lượng nitri, tính theo N  
Hàm lượng sắt (Fe2+ và Fe3+)  
Hàm lượng thủy ngân  
10.0  
1.0  
0.5  
0.001  
0.07  
Hàm lượng cyanua  
Hàm lượng chất hoạt động bề mặt, tính  
theo Linear Ankyl benzen Sufonat (LAS)  
mg/l  
0.5  
Benzen  
mg/l  
0.01  
0.01  
0.1  
0.01  
0.1  
2.2  
0
Phenol và các dẫn xuất của phenol  
Dầu mỏ và các hợp chất của dầu mỏ  
Hàm lượng thuốc trừ sâu lân hữu cơ  
Hàm lượng thuốc trừ sâu clo hữu cơ  
Colifom tổng số  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
mg/l  
MPN/ 100ml  
MPN/100ml  
pCi/l  
E. Coli và colifom chịu nhiệt  
Tổng hoạt độ α  
3
Tổng hoạt độ β  
pCi/l  
30  
NTU (Nephelometric Turbidity Unit): Đơn vị đo độ đục  
MPN/100ml (Most Probable Number per100mililiters): Mật độ khuẩn lạc trong  
pCi/l (picocuries per liter): Đơn vị đo độ phóng xạ Picocuri trên lí  
17  
3.  
QUY TRÌNH SẢN XUẤT  
3.1. Quy trình sản xuất sử dụng nguyên liệu tạo gel là gelatin  
Nước  
Saccharose  
Mạch nha  
Nước  
Gelatin  
Ngâm  
Phối trộn  
Nấu kẹo  
Làm nguội  
Gia nhiệt  
Phối trộn  
Rót khuôn  
Làm nguội  
Khuôn tinh  
bột  
Tách khuôn  
Đường, syrup,  
hương, màu  
Tạo lớp áo kẹo  
Đánh bóng  
Bao gói  
Bao bì  
Sản  
phẩm  
18  
3.1.1. Hòa tan  
Mục đích: chuẩn bị  
Đây là một quá trình quan trọng trong sản xuất kẹo. Mục đích chính của quá trình là  
hoà tan các nguyên liệu vào nước, chuẩn bị cho quá trình nấu kẹo. Nếu quá trình hòa tan  
đường saccharose không triệt để sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đường tái kết tinh trong  
kẹo thành phẩm (do các tinh thể đường hòa tan chưa hết sẽ đóng vai trò là các mầm tinh thể  
của quá trình kết tinh). Trong quy mô công nghiệp, yêu cầu của quá trình hòa tan  
là:  
+ Đảm bảo thời gian hòa tan đường ngắn nhất  
+ Lượng nước cần ít nhất  
+ Đường saccharose khó bị kết tinh trở lại  
Thực hiện:  
Quá trình hòa tan đường được thực hiện trong thiết bị liên tục có gia nhiệt thông qua  
lớp vỏ áo, bên trong thiết bị có cánh khuấy  
Đầu tiên sẽ hòa tan đường saccharose vào nước, lượng nước sử dụng bằng 1/3  
lượng đường saccharose, ngoài ra còn phối trộn thêm chất chống bọt (thường dùng sáp).  
Gia nhiệt và khuấy trộn đến khi đường tan hoàn toàn.  
Sau đó cho mạch nha vào, do mạch nha làm tăng độ nhớt, nếu cho vào sớm sẽ làm  
giảm tốc độ hòa tan của saccharose. Mạch nha có tác dụng chống tái kết tinh đường trong kẹo  
thành phẩm. Tỷ lệ nha : sacharose là 1:1.  
Biến đổi:  
Hóa học: tăng nồng độ chất khô của dung dịch  
Vật lý: Nhiệt độ tăng do quá trình hòa tan có gia nhiệt  
Hóa lý: hòa tan các thành phần nguyên liệu vào nước thành một pha đồng nhất  
Các yếu tố ảnh hưởng:  
- Lượng nước dùng để hòa tan đường: Nước nhiều tan nhanh nhưng sẽ tốn chi phí  
năng lượng cho quá trình nấu kẹo tiếp theo.  
- Nhiệt độ: Đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hòa tan đường saccharose.  
Nhiệt độ càng cao tốc độ hòa tan đường saccharose càng tăng, nhưng nhiệt độ quá cao sẽ xảy  
ra các phản ứng phân hủy đường. Trong công nghiệp, nhiệt độ tối ưu cho quá trình hòa tan  
đường là 100oC.  
- Cách thức trình tự hòa tan: mạch nha hay các nguyên liệu tạo độ nhớt nếu cho vào  
sớm sẽ làm giảm tốc độ hòa tan đường.  
3.1.2. Quá trình nấu kẹo  
Mục đíc h: chuẩn bị  
Cô đặc dịch siro đến hàm lượng chất khô nhất định chuẩn bị cho quá trình tạo gel của  
19  
gelatin, giúp quá trình tạo gel diễn ra nhanh.  
Thực hiện:  
Nấu kẹo áp suất chân không đến hàm lượng chất khô 90%. Nhiệt độ kết thúc quá  
o
trình nấu kẹo: 110 C  
Biế n đổi  
Vật lý:  
- Nhiệt độ tăng, xuất hiện gradient nhiệt độ  
- Thể tích và khối lượng dung dịch giảm  
- Tỷ trọng, nồng độ tăng.  
Hóa học:  
- Hàm ẩm giảm, hàm lượng chất khô tăng  
- Phản ứng caramel, nghịch đảo đường  
Hóa lý:  
- Nước bốc hơi, xuất hiện bọt khí  
- Độ nhớt tăng  
Sinh học:  
- VSV bị tiêu diệt  
3.1.3. Làm nguội  
Mục đích  
Chuẩn bị cho quá trình phối trộn tạo gel, do gelatin dễ bị biến tính dưới tác dụng của  
nhiệt độ.  
Thực hiệ n  
Syrup kẹo được tháo qua bồn làm nguội vỏ áo hoặc vận chuyển dọc theo hệ thống  
ống xoắn ruột gà, bên ngoài có tác nhân lạnh (thường sử dụng nước) để làm nguội về 80–  
o
85 C  
Biế n đ ổi  
Vật lý: Nhiệt độ giảm  
Hóa lý: Tăng độ nhớt  
3.1.4. 4. Chuẩ n bị dịch gelatin  
Mục đíc h: Chuẩn bị cho quá trình phối trộn các nguyên liệu. Gelatin không tan trong  
nước lạnh mà hút nước để trương nở. Khi trương nở, gelatin tạo thành dung  
d
ị
ch keo có tính  
đàn hồi.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 31 trang baolam 16680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Tổng hợp về kẹo Jelly bean", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_tong_hop_ve_keo_jelly_bean.pdf