Biến đổi đời sống hộ gia đình dân tộc Mường hiện nay (Qua nghiên cứu tại xã Yên Lập, huyện Cao Phong và xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình)

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
Original Article  
Changes in the Daily Life of Muong Ethnic Households Today  
(Through Research in Yen Lap Commune, Cao Phong District  
and Du Sang Commune, Kim Boi District,  
Hoa Binh Province)  
Mai Linh  
VNU University of Social Sciences and Humanities, 336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam  
Received 16 November 2020  
Revised 02 December 2020; Accepted 03 December 2020  
Abstract: The improvement in living standards among households of ethnic minorities has always  
been a prioritized issue in Vietnam's socio-economic development. According to the statistics about  
ethnic groups across the country, the Kinh make up 86,0% of the population, and the next respective  
largest groups are Tay, Thai, Muong, Khmer, Nung, Mong and Dao, which collectively account for  
about 10% of the total population [1]. The Muong ethnic group has the most concentrated population  
in Hoa Binh province, they are interspersed with Kinh and other ethnic groups, mainly in  
mountainous districts such as Mai Chau, Kim Boi, and Cao Phong,… Despite the support from the  
State's policies, the lives of a number of households in these regions still face many difficulties.  
Therefore, through quantitative and qualitative research, with subjects being Muong ethnic  
households in two communes Yen Lap, Cao Phong district and Du Sang commune, Kim Boi district,  
Hoa Binh province, this research aims at perceiving, providing a general outlook at the current living  
conditions of Muong ethnic households, as well as the changes in their daily life compared to the  
previous period.  
Keywords: Change in the daily life, Households, Ethnic Minorities, Change in the daily life of  
Muong ethnic households.  
________  
Corresponding author.  
Email address: [email protected]  
86  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
87  
Biến đổi đời sống hộ gia đình dân tộc Mường hiện nay  
(Qua nghiên cứu tại Xã Yên Lập, Huyện Cao Phong và Xã Đú  
Sáng, Huyện Kim Bôi, Tỉnh Hòa Bình)  
Mai Linh  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN,  
336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 16 tháng 11 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 02 tháng 12 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 03 tháng 12 năm 2020  
Tóm tắt: Phát triển đời sống hộ gia đình người dân tộc thiểu số luôn là vấn đề được ưu tiên trong  
phát triển kinh tế - xã hội của Viêt  
̣
Nam. Theo số liệu thống kê về các dân tộc trên cả nước, người  
, và các nhóm lơn nhât tiêp theo là Tày, Thái, Muơng, Khmer,  
̉
m khoang 10% tông dân số. [1] Dân tộc Mường có số dân tập trung đông  
̉
̉
Kinh chiê  
́
m hon 86% tông dân sô  
́
́
́
́
̀
̛
̛
Nùng, Mông và Dao chiê  
́
nhất là ở Hòa Bình, họ sống xen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác, chủ yếu ở các huyện miền  
núi như Mai Châu, Kim Bôi, Cao Phong,… Mặc dù đã nhận được sự hỗ trợ từ các chính sách của  
Nhà nước song đời sống của một số hộ gia đình thuộc các vùng này vẫn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy,  
thông qua việc nghiên cứu định lượng và định tính các khách thể là các hộ gia đình dân tộc Mường  
thuộc hai xã Yên Lập, huyện Cao Phong và xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình nhằm khái quát,  
nhìn nhận được thực trạng đời sống các hộ dân tộc Mường, sự biến đổi trong đời sống sinh hoạt của các  
hộ so với thời kì trước. Đồng thời nghiên cứu cũng đi vào tìm hiểu các yếu tố dẫn tới sự thay đổi để từ đó  
đánh giá được những ưu nhược điểm và đưa ra các giải pháp, khuyến nghị phù hợp.  
Từ khóa: Biến đổi đời sống, Hộ gia đình, Dân tộc thiểu số, Đời sống hộ gia đình dân tộc Mường.  
việc tiếp cận cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công  
như y tế và giáo dục [1]  
1. Mở đầu  
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân  
Dân tộc Mường tập trung phần lớn ở tỉnh  
Hòa Bình. Dưới sự tác động mạnh mẽ của các  
điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội, sự tăng  
cường giao lưu hội nhập, đời sống cả về vật  
chất lẫn tinh thần của dân tộc Mường đang có  
những biến đổi mạnh mẽ. Có thể thấy từ  
sinh hoạt đời thường, phong tục tập quán cho  
đến việc sở hữu các vật dụng trong gia đình  
như xe máy, tủ lạnh, ti-vi,…, mức sống hàng  
ngày đều đang có ít nhiều sự đổi khác so với  
thời kì trước đây.  
tộc cùng sinh sống. Người Kinh chiếm 86,0%  
dân số Việt Nam, với 78,32 triệu người. 53 dân  
tộc thiểu số (DTTS) còn lại chỉ chiếm 14,0% dân  
số cả nước. Đồng bào các DTTS thường tập  
trung vào các vùng núi và vùng sâu vùng xa. Các  
DTTS sinh sống ở khu vực thành thị thường sung  
túc hơn các DTTS sống ở khu vực nông thôn.  
Nhiều làng, xã có tới 3-4 DTTS khác nhau cùng  
sinh sống. Vị trí địa lý đóng một vai trò quan  
trọng trong các tập tục văn hóa của các DTTS,  
song cũng đồng thời tạo ra những rào cản trong  
________  
Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]k  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
88  
Nhắc đến dân tộc Mường, có rất nhiều các  
là quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm,…) và  
nguồn vốn này cũng đóng vai trò quan trọng  
trong việc phục hồi sinh kế cho người dân sau tái  
định cư và là những nhân tố quan trọng để đạt  
được sinh kế bền vững.  
tài liệu, bài báo, bài nghiên cứu về các mặt đời  
sống của người dân ở đây. Một trong số đó phải  
kể đến luận án Tiến sĩ Xã hội học của tác giả  
Nguyễn Thị Hằng “Những biến đổi văn hóa và  
tính cố kết cộng đồng dân tộc Mường hiện nay  
(Nghiên cứu trường hợp dân tộc Mường tỉnh  
Hòa Bình)” năm 2016 [2]. Luận án tập trung  
nghiên cứu sự biến đổi về đời sống văn hóa của  
dân tộc Mường như: về trang phục, nhà ở, ngôn  
ngữ, tín ngưỡng, tổ chức xã hội,…; tính cố kết  
cộng đồng và từ đó tìm hiểu các yếu tố ảnh  
hưởng đến sự thay đổi đời sống đó bao gồm:  
chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm  
địa bàn cư trú, sự phát triển lực lượng sản xuất...  
Nghiên cứu đã làm rõ được những khái niệm, cơ  
sở lý luận và thực tiễn, sử dụng các phương pháp  
của chuyên ngành để thu thập, phân tích và đánh  
giá thực trạng biến đổi, các yếu tố ảnh hưởng đến  
sự biến đổi để từ đó đề xuất ra các giải pháp xây  
dựng chính sách quản lý xã hội cũng như chính  
sách nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa  
dân tộc Mường.  
Việc nghiên cứu về phong tục tập quán của  
người Mường cũng được đề cập đến trong luận  
án “Văn hóa nước của người Mường tại tỉnh Hòa  
Bình” năm 2016 của Lê Thanh Hòa [4], những  
kết quả nghiên cứu về văn hoá truyền thống của  
người Mường góp phần quan trọng trong việc  
nghiên cứu thế giới quan bản địa, quan niệm vạn  
vật hữu linh cũng như những phong tục, nghi lễ  
liên quan đến nước của người Mường. Luận án  
sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học để hiểu  
logic trong mối quan hệ giữa người Mường và  
môi trường sinh thái và tìm hiểu những ý nghĩa  
bên trong của các biểu thị văn hoá sinh thái tộc  
người cũng như những biến đổi của chúng trong  
bối cảnh hiện đại.  
Thông qua một số nghiên cứu đi trước, tác  
giả của nghiên cứu này có thêm cái nhìn toàn  
diện hơn về đời sống của người Mường tại tỉnh  
Hòa Bình. Tuy nhiên các nghiên cứu đi trước còn  
hạn chế trong việc phác họa đời sống hộ gia đình  
người Mường và những thay đổi của nó trong  
thời kỳ mới. Bài viết mong muốn đưa ra cái nhìn  
tổng quan về đời sống của dân tộc Mường tại tỉnh  
Hòa Bình hiện nay và những biến đổi của nó  
trong thời kỳ 2013-2018.  
Khác với bài viết trên, luận án tiến sĩ “Biến  
đổi kinh tế của người Mường vùng lòng hồ thủy  
điện Hòa Bình ở nơi tái định cư” năm 2018 của  
Trịnh Thị Hạnh lại đi sâu vào tìm hiểu sự biến  
đổi về đời sống kinh tế của người Mường [3].  
Nghiên cứu đã cho thấy một số kết quả mới như  
nói lên ý nghĩa vô cùng quan trọng của chính  
sách tái định cư trong việc tổ chức lại đời sống  
cho người dân. Việc tái định cư thủy điện Hòa  
Bình khiến cho số lượng người phải di chuyển  
thực tế lớn gấp đôi số lượng người dự kiến nhưng  
lại chưa có một chính sách và kế hoạch tái định  
cư hoàn chỉnh, điều này khiến cho mọi nguồn  
vốn sinh kế của người dân bị suy giảm nghiêm  
trọng, đặc biệt là nguồn vốn xã hội… Nghiên cứu  
của luận văn này còn góp phần làm rõ các mô  
hình tái định cư, các kiểu thích ứng với xã hội và  
môi trường mới của các cộng đồng buộc phải rời  
bỏ nơi cũ. Kết quả của nghiên cứu này cũng cho  
thấy rằng những nghiên cứu trước đây thường  
quan tâm phân tích tầm quan trọng của nguồn  
vốn vật chất mà bỏ xa nguồn vốn xã hội (chủ yếu  
2. Số liệu và phương pháp  
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu  
Đề tài cấp nhà nước của Ủy ban Dân tộc “Tác  
động của biến đổi xã hội đến ổn định và phát  
triển vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay”, mã  
số CTDT.33.18/16-20 do PGS.TS. Nguyễn Thị  
Kim Hoa làm chủ nhiệm đề tài.  
Đề tài tiến hành khảo sát 277 hộ gia đình dân  
tộc Mường thuộc 2 xã Yên Lập , huyện Cao  
Phong và xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa  
Bình. Cơ cấu mẫu cụ thể như sau:  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
89  
Bảng 1. Cơ cấu mẫu cụ thể của xã Yên Lập và xã Đú Sáng  
Địa bàn  
Xã Yên Lập  
Xã Đú Sáng  
Số lượng mẫu nghiên cứu  
Giới tính  
Nam  
147  
Số lượng Tỷ lệ (%)  
130  
Số lượng  
Tỷ lệ (%)  
55,4  
44,6  
4,9  
22,0  
29,3  
29,3  
11,4  
3,2  
80  
67  
15  
19  
49  
36  
13  
14  
120  
1
54,5  
45,6  
10,3  
13,0  
33,6  
24,7  
8,9  
9,6  
83,3  
0,7  
72  
58  
6
27  
36  
36  
14  
4
Nữ  
Trình  
độ Dưới tiểu học/ chưa từng đi học  
học vấn  
Tiểu học  
Trung học cơ sở  
Trung học phổ thông  
Trung cấp  
Đại học  
Nghề  
Nông dân  
130  
0
96,3  
0,0  
nghiệp  
Công nhân  
Hưu trí  
0
0,0  
1
0,7  
Công chức  
14  
1
2
9,7  
0,7  
1,4  
2,8  
2
0
0
2
1,5  
0,0  
0,0  
1,5  
Bộ đội/ Công an  
Kinh doanh/ Bác sỹ  
Cán bộ chính quyền/ đoàn thể  
4
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu của đề tài)  
Với phương pháp phỏng vấn sâu, chúng tôi  
hàng hóa của nhân dân trong xã, các hệ thống  
trường lớp học cũng được quan tâm đầu tư, công  
trình thủy lợi phục vụ cho tưới tiêu cũng được  
quan tâm đầu tư xây dựng. Về văn hóa – giáo  
dục, y tế, công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe trên  
địa bàn được đảm bảo. Ngoài ra, địa phương  
cũng thường xuyên có những chế độ bảo trợ xã  
hội cho người yếu thế, tình hình an ninh trên địa  
bàn ổn định, công tác quốc phòng cũng được  
quan tâm, chú trọng.  
thực hiện với 30 PVS gồm: 10 cán bộ, 20 người  
dân chia đều ở hai xã. Nội dung phỏng vấn sâu  
xoay quanh những dữ liệu về thực tế đời sống  
của người DTTS, những chính sách mà họ được  
thụ hưởng, sự giúp đỡ của các cơ quan đoàn thể  
tại địa phương và những khuyến nghị để  
nâng cao đời sống cho người DTTS tại địa bàn  
nghiên cứu.  
Về địa bàn nghiên cứu, Yên Lập là một xã  
vùng 135 của huyện Cao Phong, cách trung tâm  
huyện 14km. Có vị trí địa lý phía Bắc giáp xã  
Xuân Phong và Dũng Phong, phía nam giáp với  
xã Yên Thượng, phía Đông giáp với xã Yên  
Thượng và xã Thượng Tiến huyện Kim Bôi, phía  
Tây giáp với xã Nam Phong huyện Cao Phong.  
Năm 2018, xã có diện tích tự nhiên là 2.281,95  
ha và được chia thành 7 xóm, có 525 hộ, 2.242  
khẩu. Dân tộc Mường chiếm 98,2% còn lại là  
dân tộc Kinh và các dân tộc khác. Về tình hình  
kinh tế của xã, nông nghiệp chiếm 96% còn dịch  
vụ 4%. Đây là một xã thuần nông, người dân  
sống chủ yếu bằng nghề chăn nuôi và trồng trọt,  
các ngành nghề khác chưa phát triển. [5] Đường  
các xóm đã được hoàn thành và đi vào sử dụng  
tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và trao đổi  
Xã Đú Sáng là xã thuộc miền núi, có chương  
trình chính sách 135 và là xã khó khăn. Năm  
2018, tổng diện tích quản lý hành chính của xã  
là 5.030,45 ha, dân số 6.002 khẩu; tổng số hộ là  
1.384; hộ chính sách có công là 39; đối tượng  
hưởng chính sách xã hội là 173; số hộ nghèo là  
728; hộ cận nghèo 337; dân tộc mường chiếm  
80% dân số; dân tộc Dao chiếm 18% còn lại là  
dân tộc kinh và một số dân tộc khác, xã thuộc  
diện đặc biệt khó khăn chương trình 135 của  
Chính phủ, có 01 trường mầm non, có 03 trường  
TH&THCS, 01 trung tâm học tập cộng đồng và  
01 trạm y tế. Trong xã có các đoàn thể như mặt  
trận tổ quốc, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội  
nông dân, công đoàn cơ sở. Hội đặc thù là hội  
cao tuổi, chữ thập đỏ, khuyến học, hội thanh niên  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
90  
xung phong, hội cựu giáo chức, hội chất độc da  
cam. Cũng giống như xã Yên Lập, Đú Sáng cũng  
là một xã thuần nông, hàng năm thu về nhiều lợi  
nhuận từ ngành này [6].  
lương thực chính. Ngoài ruộng nước, người  
Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình,  
săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công  
nghiệp (dệt vải, đan lát,…)  
Tình hình thực hiện chương trình Quốc gia  
giảm nghèo bền vững năm 2018 tại huyện Kim  
Bôi được thực hiện khá tốt, tỉ lệ hộ nghèo giảm  
từ 25,21% xuống còn 20,58%; tỉ lệ hộ cận nghèo  
từ 21,63% giảm xuống còn 20,49% [8]. Với tình  
hình chung của huyện Cao Phong, theo Báo cáo  
năm 2017, kinh tế của huyện đã có bước phát  
triển khá, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,4%;  
cơ cấu kinh tế nông – lâm nghiệp, thủy sản đạt  
46%; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – xây  
dựng đạt 28%; du lịch – dịch vụ đạt 26% [9].  
Nhờ đó mà mức thu nhập của người làm nông  
cũng tăng lên đáng kể. Mức thu nhập trung bình  
tháng của người dân tại xã Yên Lập là 2,5 triệu  
trong khi tại xã Đú Sáng là 3 triệu đồng.  
3. Biến đổi đời sống hộ gia đình dân tộc  
Mường tại xã Yên Lập, huyện Cao Phong và  
xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình  
Dân tộc Mường con tên tự gọi là Mol (hoặc  
Mon, Moan, Mual) với số dân là 1.452.095  
người, chiếm 1,47% [7] dân số cả nước với ngôn  
ngữ chủ yếu là tiếng Mường thuộc nhóm ngôn  
ngữ Việt – Mường trong ngữ chi Việt thuộc ngữ  
tộc Môn – Khmer của ngữ hệ Nam Á. Người  
Mường sống tập trung chủ yếu ở tỉnh Hòa Bình  
và một số các huyện miền núi của tỉnh Thanh  
Hóa, Phú Thọ, Sơn La,…  
Trong hoạt động sản xuất, nông nghiệp  
ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây  
Bảng 2. Nguồn thu nhập từ các ngành nghề của các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Đú Sáng và xã Yên Lập  
(Năm 2013 - 2018, đơn vị %).  
Ngành nghề  
Đú Sáng  
2018  
Yên Lập  
2018  
Năm  
2013  
79,1  
3,1  
35,7  
4,7  
2013  
87,9  
1,4  
21,4  
12,1  
0,0  
Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp  
Buôn bán – Kinh doanh  
Làm thuê  
80  
3,1  
40  
6,2  
0,8  
0,8  
88,4  
4,8  
26  
15,1  
0,0  
0,7  
Lương  
Thuê tài sản  
Trợ cấp  
0,8  
0,8  
0,0  
Nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình ở  
đây chủ yếu vẫn đến từ công việc làm nông, cho  
thấy rằng các gia đình ở đây vẫn chủ yếu là các  
hộ thuần nông. Mặt khác số gia đình có nguồn  
thu nhập từ việc làm thuê cũng đang có xu hướng  
tăng lên khi chiếm đến 40% ở Đú Sáng và 26%  
ở Yên Lập. Số ít khác nguồn thu nhập của các hộ  
gia đình còn đến từ buôn bán, cho thuê tài sản,  
tiền trợ cấp, tiền lương.  
ngoài nông nghiệp có mức tăng trưởng khá cao  
khi ở Yên Lập, thu nhập từ việc kinh doanh buôn  
bán tăng 3,4% so với năm 2013 còn ở Đú Sáng,  
nguồn thu từ làm thuê có mức tăng lên đến 4,3%.  
Về nhà ở, có 3 loại nhà chính đó là nhà gỗ,  
nhà xây khép kín và nhà bán kiên cố. Tuy nhiên  
tại hai xã thực hiện nghiên cứu, lại có sự khác  
nhau về loại nhà ở. Trong khi tại xã Yên Lập kiểu  
nhà gỗ nhà sàn chiếm phần lớn hơn (chiếm  
46,9%) thì ở xã Đú Sáng, nhiều hộ gia đình lại  
chọn kiểu nhà bán kiên cố nhiều hơn (chiếm  
52,2%). Nhà xây khép kín ở hai nơi đều có tỉ lệ  
tương đương nhau lần lượt là Yên Lập chiếm  
Nguồn thu nhập của người dân so với thời  
điểm cách đây 5 năm đã có sự cải thiện đáng kể  
khi nhìn chung thu nhập từ các nguồn đều tăng  
lên. Điều này cho thấy thu nhập từ các ngành  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
91  
30,6%, Đú Sáng là 33,8%, chứng tỏ rằng đời  
sống của các hộ dân tộc Mường đã có sự cải thiện  
hơn, họ có xu hướng lựa chọn những ngôi nhà có  
tính chất vững chắc hơn để chống chọi với các  
hiện tượng thiên nhiên bất thường.  
60  
52.2  
50  
40  
30  
20  
10  
0
46.9  
33.8  
30.6  
Đú Sáng  
Yên Lập  
18.4  
11  
3.4  
2.9  
0.7  
0
Nhà xây khép  
kín  
Khác  
Nhà gỗ, nhà  
Nhà bán kiên Nhà tạm, lều,  
cố lán  
sàn  
Biểu đồ 1. Loại nhà ở của các hộ gia đình dân tộc Mường ở xã Yên Lập và xã Đú Sáng (năm 2018, đơn vị %)  
Nhìn chung người dân tộc Mường trên địa  
bàn đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản về nhà ở vì  
hầu hết các gia đình đều có nhà ở khép kín. Con  
số này so với thời kì 5 năm trước cũng không có  
sự thay đổi gì nhiều. Tuy nhiên ở hai địa phương  
vẫn còn tồn tại những ngôi nhà tạm bợ như lều,  
lán (là 2,9% tại xã Đú Sáng và 3,4% tại xã Yên  
Lập) cần được quan tâm và giúp đỡ.  
So với năm 2013, kiểu nhà vệ sinh ở các hộ  
gia đình dân tộc Mường đã có sự thay đổi đáng  
kể. Hầu hết các gia đình phần lớn đều sử dụng  
các nhà vệ sinh thô sơ thì đến năm 2018, số nhà  
vệ sinh tự hoại đã tăng lên, đặc biệt là ở Đú Sáng,  
từ 24,1% lên đến 41,4%. Điều này cho thấy nhận  
thức người dân đã được nâng cao, đời sống  
người dân đã được cải thiện, nhiều hộ gia đình  
đã sửa sang lại nhà vệ sinh vừa giúp thuận tiện  
cho sinh hoạt, đảm bảo vệ sinh lại góp phần bảo  
vệ môi trường sống.  
Hầu hết các hộ gia đình người Mường đều có  
nhà vệ sinh, phần lớn là kiểu nhà vệ sinh thô sơ  
chiếm 42,2% tại xã Yên Lập, 57,9% tại xã Đú  
Sáng, trong khi đó tỉ lệ nhà vệ sinh tự hoại/ bán  
tự hoại lần lượt là 55,1% và 41,4% tại Yên Lập  
và Đú Sáng. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số  
ít các gia đình không có nhà vệ sinh, con số này  
lớn hơn tại xã Yên Lập với 2,7% số hộ gia đình.  
Điều này đòi hỏi các chính quyền địa phương cần  
quan tâm sát sao hơn đến các hộ gia đình này bởi  
nó không chỉ gây ảnh hưởng đến hộ gia đình đó  
mà còn tạo ra những bất cập đến làng xóm và  
môi trường xung quanh.  
Về khía cạnh nguồn nước sử dụng, các hộ gia  
đình vẫn sử dụng nước giếng là chủ yếu khi tỉ lệ  
này ở Yên Lập là 63,2% còn ở Đú Sáng là 67,6%.  
Bên cạnh nguồn nước giếng, người dân còn  
sử dụng nước từ các ao, hồ, sông, suối gần đó.  
Một điều mà tôi thấy rõ nhất là rất ít các gia đình  
có nguồn nước máy để sử dụng và nguồn nước  
mưa thì gần như tỉ lệ người sử dụng xấp xỉ  
bằng không.  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
92  
70  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
57.9  
55.1  
42.2  
41.4  
Đú Sáng  
Yên Lập  
2.7  
0.8  
Không nhà VS  
Nhà VS tự hoại/bán tự  
hoại  
Nhà VS thô sơ  
Biểu đồ 2. Kiểu nhà VS của các hộ gia đình dân tộc Mường ở xã Yên Lập và xã Đú Sáng (năm 2018, đơn vị %).  
80  
75.2  
70  
60  
57.7  
50  
40  
Đú Sáng  
30  
20  
10  
0
30.3  
24.1  
Yên Lập  
12  
0.8  
Không nhà VS  
Nhà VS tự hoại/bán tự  
hoại  
Nhà VS thô sơ  
Biểu đồ 3. Loại nhà ở của các hộ gia đình dân tộc Mường ở xã Yên Lập và xã Đú Sáng (năm 2013, đơn vị %).  
Bảng 3. Nguồn nước sử dụng của các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Yên Lập và xã Đú Sáng (Năm 2013 -  
2018, đơn vị %)  
Nguồn nước  
Năm  
Nước máy  
Đú Sáng  
2018  
Yên Lập  
2018  
2013  
10,4  
3,7  
2013  
3,6  
2,1  
14  
0,7  
6,3  
0,0  
Nước mưa  
Nước giếng  
Nước từ ao, hồ, sông, suối  
69,6  
14,1  
67,6  
14,2  
60  
27,9  
63,2  
24,3  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
93  
động, tủ lạnh, bếp ga. Một số gia đình ngoài các  
vật dụng trên, thông qua khảo sát, nhận thấy còn  
sử dụng đầu DVD, đầu kỹ thuật số (ở Yên Lập  
là 23,1%; Đú Sáng là 12,6%); đài radio ( 19,7%  
ở Yên Lập). Một số hộ khá giả hơn còn có ô tô,  
máy giặt, máy vi tính, điều hòa, bình nóng lạnh.  
Tuy nhiên số hộ có các vật dụng này có tỉ lệ lớn  
hơn ở địa bàn xã Yên Lập. Điều này cũng cho  
thấy sự thay đổi đáng kể trong đời sống của  
người dân khi tỉ lệ này là rất thấp so với thời kì  
cách đây 5 năm.  
Khảo sát người dân tại hai xã, hầu hết cho  
rằng họ đều có đủ nước để sinh hoạt hàng ngày  
(81,3% ở Yên Lập và 71,6%). Đánh giá về chất  
lượng nguồn nước sử dụng, 43,8% người dùng  
hài lòng ở xã Yên Lập, trong khi đó phần lớn các  
hộ ở Đú Sáng lại cho rằng chất lượng nước chỉ  
dừng lại ở mức bình thường (chiếm 55,6% số hộ  
được khảo sát). Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều  
gia đình không có đủ nước để sinh hoạt hàng  
ngày, đặc biệt là các hộ thuộc xã Đú Sáng khi  
con số ấy lên đến 23,1%.  
Hầu hết người dân trong xã đều có đủ điện  
áp để sử dụng, tuy nhiên vẫn còn 8,8% số hộ ở  
Đú Sáng và 7,5% số hộ ở Yên Lập không có đủ  
điện để sử dụng. Phần lớn điện sinh hoạt của  
người dân là từ nguồn điện lưới quốc gia (ở Yên  
Lập là 99,3%, ở Đú Sáng là 96,3%), số ít người  
dân ở xã Đú Sáng sử dụng nguồn điện khác từ  
máy phát, điện từ pin mặt trời.  
Nhận thấy nguồn nước người dân sử dụng so  
với thời kỳ 5 năm trước ít có khi sự thay đổi  
nhiều. Người dân vẫn lựa chọn nguồn nước mà  
mình dùng hàng ngày, chỉ có mức độ sử dụng là  
tăng lên, nhiều nhất là ở nguồn nước máy và  
nước mưa.  
Về các vật dụng trong gia đình, nhìn chung  
các hộ gia đình dân tộc Mường đều có một số vật  
dụng cơ bản như ti-vi, xe máy, điện thoại di  
Bảng 4. Nguồn điện sử dụng của các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Đú Sáng và xã Yên Lập (năm 2013 –  
2018, đơn vị %)  
Điện sinh hoạt  
Năm  
Đú Sáng  
2018  
Yên Lập  
2018  
2013  
96,2  
1,5  
1,5  
0,8  
2013  
88,8  
4,2  
0,0  
2,8  
Điện lưới quốc gia  
Điện máy phát, máy nổ  
Điện pin mặt trời  
Điện dùng nhờ (hàng xóm, họ hàng)  
Khác  
96,3  
1,5  
1,5  
0,7  
0,0  
99,3  
0,0  
0,0  
0,0  
0,7  
0,0  
4,2  
Về lương thực, thực phẩm, do tính chất nông  
Nguồn điện áp mà các hộ gia đình đang sử  
dụng nhìn chung đều ổn định. Một số nơi do điều  
kiện địa hình nên đôi lúc mức truyền tải điện  
chưa được tốt, nhiều hộ gia đình chưa có điện để  
sử dụng. Đặt ra yêu cầu đòi hỏi chính quyền địa  
phương cần quan tâm và đưa ra các giải pháp phù  
hợp để khắc phục tình trạng này.  
nghiệp của địa phương nên đa số người dân đều  
có đủ lương thực để ăn. Tuy nhiên, vẫn còn rất  
lớn số lượng các hộ gia đình cho rằng số lượng  
thực thực phẩm mà họ có không đáp ứng được  
nhu cầu của gia đình.  
Mặc dù tỉ lệ các hộ thiếu lương thực vẫn còn  
cao song nhìn chung con số ấy đã giảm đáng kể  
so với thời điểm 5 năm trước từ 22,1% còn  
15,3% ở Yên Lập và từ 40,2% xuống 32,6% tại  
xã Đú Sáng. Điều này cho thấy sự quan tâm hỗ  
trợ từ địa phương cùng các chính sách của Nhà  
nước đã mang lại sự hiệu quả, góp phần thay đổi  
đời sống người dân tộc thiểu số.  
Nhận thấy sự thay đổi về nguồn điện sử dụng  
của các hộ gia đình ở Đú Sáng so với 5 năm năm  
trước cũng không có sự thay đổi nào đáng kể.  
Tuy nhiên ở Yên Lập, năm 2018 số hộ sử dụng  
điện lưới quốc gia gia tăng đáng kể (lên đến  
10,5%), nhờ vậy mà số hộ dùng điện nhờ hàng  
xóm đã không còn, do vậy đời sống của các hộ  
đã được cải thiện hơn trước rất nhiều.  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
94  
Bảng 5. Mức độ đáp ứng về nhu cầu lương thực thực phẩm của các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Đú Sáng  
và xã Yên Lập (năm 2013-2018, đơn vị %)  
Đú Sáng  
2018  
Yên Lập  
2018  
Năm  
2013  
40,2  
59,1  
0,8  
2013  
22,1  
77,9  
0,0  
Không đủ  
Vừa đủ  
Dư thừa  
32,6  
66,7  
0,8  
15,3  
81,9  
2,8  
hình trang trại và theo công nghệ mới, có hộ nuôi  
hàng trăm con lợn, bên cạnh đó còn nuôi gà  
vườn” (PVS, Nam, xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi,  
tỉnh Hòa Bình). Khi được hỏi về người  
quyết định sản xuất chính trong gia đình, đa số  
đều trả lời người quyết định là cả hai vợ chồng  
khi chiếm tỉ lệ 81,1% tại Đú Sáng và 73,6% tại  
Yên Lập.  
Về tình hình lao động sản xuất của người dân  
tộc thiểu số, hầu hết các gia đình trên địa bàn hai  
xã đều có nghề chính là làm nông nghiệp  
“người dân sống chủ yếu bằng nghề chăn nuôi  
và trồng trọt, các ngành nghề khác thì chưa  
phát triển” (PVS, Nam, xã Yên Lập, huyện  
Cao Phong).  
Các hộ gia đình đều có đất riêng phục vụ cho  
quá trình sản xuất, chăn nuôi. Đất sản xuất của  
người dân có diện tích khoảng 2.000 ha chiếm  
phần lớn tại hai xã. “Đất này người ta chủ yếu  
dùng để trồng trọt, các loại cây trồng như lúa,  
mía, cây ăn quả, trong đó lúa chiếm 63,32 ha,  
mía 192 ha, cây ăn quả là 74,82 ha. Tổng sản  
lượng lương thực quy thóc là 800 tấn bằng 88%  
so với đầu nhiệm kỳ và kế hoạch, nguyên nhân  
không đạt về sản lượng do chuyển dịch dần từ  
đất trồng lúa sang trồng cây công nghiệp” (PVS,  
Nữ, xã Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa  
Bình). “Trong chăn nuôi, các loài gia súc chính  
vẫn là trâu, bò, lợn, người dân nuôi theo mô  
Chúng ta thường thấy ở các dân tộc thiểu số,  
quan niệm trọng nam khinh nữ diễn ra khá phổ  
biến, đàn ông gia trưởng, là người quyết định  
mọi việc trong gia đình. Song từ việc khảo sát  
về người quyết định chính việc sản xuất trong gia  
đình, tỉ lệ hộ cho rằng cả hai vợ chồng đều tham  
gia chiếm đa số là một tín hiệu đáng mừng, cho  
thấy thay đổi trong suy nghĩ của người dân tộc  
thiểu số, sự bình đẳng giữa nam giới và nữ giới.  
Bên cạnh đó việc quyết định về những vấn đề  
khác như về chi tiêu, mua bán các vật dụng trong  
gia đình,… cũng đều có sự tham gia của hai vợ  
chồng.  
90  
80  
70  
60  
50  
40  
30  
81.1  
73.6  
Đú  
Sáng  
17.1  
20  
9.8  
7.6  
5.7  
3.6  
10  
0
1.5  
Khác  
Chồng  
Vợ  
Cả 2  
Biểu đồ 4: Người quyết định chính trong gia đình ở xã Yên Lập và xã Đú Sáng, tỉnh Hòa Bình  
(năm 2018, đơn vị %)  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
95  
Tiếp theo, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu thực  
trạng các vấn đề giáo dục, y tế, sự tham gia các  
hoạt động tại địa phương của người dân và các  
vấn đề an sinh xã hội đang hàng ngày tác động,  
chi phối các hoạt động khác trong đời sống  
chung của các hộ gia đình dân tộc Mường trên  
hai địa bàn mà nghiên cứu thực hiện.  
quốc gia, thực hiện tốt chế độ ăn bán trú ở các  
bậc học đảm bảo theo quy định, thực hiện tốt  
công tác phổ cập giáo dục ở các cấp học” (PVS,  
cán bộ xã Yên Lập, huyện Cao Phong)  
“Xã luôn thực hiện tốt các chương trình  
khuyến học, khuyến tài cho các con em học giỏi,  
có năng lực học tập vượt khó, có hoàn cảnh đặc  
biệt khó khăn vươn lên trong học tập ở các cấp.  
Trong những năm vừa qua hội khuyến học xã,  
xóm đã trao thưởng cho nhiều em học sinh thi đỗ  
đại học cao đẳng, đại học và học giỏi các cấp  
trên địa bàn xã nhằm thúc đẩy các em có ý thức  
vượt khó chăm lo cho học tập nhiều hơn” (PVS,  
cán bộ xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi)  
Về giáo dục, việc đến trường của con em  
luôn nhận được sự quan tâm của các gia đình.  
Các cáo dục, việc đến trường của con em luôn  
nhận được sự quan tâm của các gia đình. m gia  
các hoạt độnghuyên môn để đáp ứng nhu cầu học  
tập của người dân, thực hiện tốt công tác phổ cập  
giáo dục. 100% trẻ em các gia đình dân tộc trong  
hai xã nghiên cứu đều được đến trường, hàng  
năm đều có khen thưởng cho những em học sinh  
giỏi, học sinh xuất sắc tại địa phương.  
Đánh giá về mức độ quan tâm đến việc đi  
học của con cháu trong gia đình, đa số các hộ đều  
chọn ở mức quan tâm và rất quan tâm (75,6% ở  
Đú Sáng và 83,2% ở Yên Lập). Chất lượng giáo  
dục tại địa phương cũng được người dân hài lòng  
và đánh giá tốt. Nhưng có một tồn tại đáng quan  
tâm đó là số hộ cho rằng gia đình không có đủ  
tiền cho con đi học lại chiếm tỉ lệ khá cao, đặc  
biệt là tại xã Đú Sáng, con số ấy gần xấp xỉ với  
số hộ nói mình vừa đủ tiền cho con đi học. Tuy  
nhiên, so với thời kì cách đây 5 năm, đời sống của  
các hộ cũng được cải thiện phần nào, số trẻ em  
trong độ tuổi đi học đều được đến trường đầy đủ.  
“Các trường trên địa bàn xã đã xây dựng kế  
hoạch hoạt động năm học mới để đảm bảo các  
điều kiện tốt nhất cho các em học sinh trong năm  
học mới, phối hợp với các ban ngành đoàn thể,  
các tổ chức chính trị xã hội vận động các em đến  
trường đầy đủ theo kế hoạch, không để tình trạng  
bỏ học, thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục.  
Bên cạnh đó, xã tiếp tục duy trì và nâng cao chất  
lượng giáo dục và đào tạo, ưu tiên nguồn lực đầu  
tư xây dựng cơ sở hạ tầng giáo dục đảm bảo đáp  
ứng yêu cầu dạy và học, có 2/3 trường đạt chuẩn  
Yên lập  
Đú Sáng  
2.2  
1.6  
21.3  
Không đủ  
Không đủ  
41.9  
Vừa đủ  
Vừa đủ  
Dư thừa  
Dư thừa  
56.5  
76.5  
Biểu đồ 5+6: Khả năng chi trả cho giáo dục của các hộ dân tộc Mường tại xã Yên Lập  
và xã Đú Sáng, tỉnh Hòa Bình (năm 2018, đơn vị %).  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
96  
Về y tế và chăm sóc sức khỏe, khác với quan  
Đánh giá về chất lượng hệ thống y tế, người  
dân đều hài lòng với dịch vụ y tế tại các cơ sở  
khám chữa bệnh ở địa phương (chiếm 82,9% ở  
Đú Sáng và 61,7% ở Yên Lập). “Công tác y tế  
luôn được xã quan tâm và làm tốt công tác chăm  
sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn, thực  
hiện đầy đủ các chương trình y tế dự phòng,  
tiêm chủng, uống thuốc các loại theo chương  
trình y tế dự phòng. Công tác dân số gia đình  
phối hợp với cộng tác viên dân số tuyên truyền  
vận động hội viên và nhân dân chấp hành tốt  
pháp lệnh dân số” (PVS, Cán bộ xã Đú Sáng,  
huyện Kim Bôi).  
niệm của người dân tộc thiểu số khi bị bệnh sẽ  
chọn cách chữa trị đến nhà thầy cúng vì tin rằng  
bị bệnh là do ma quỷ thì thông qua thu thập ý  
kiến, đa phần người dân sẽ chọn cách đến các cơ  
sở y tế ở địa phương như trạm y tế xã, trung tâm  
y tế huyện hoặc bệnh viện tư nhân. Điều này cho  
thấy sự thay đổi trong nhận thức của người dân  
tộc thiểu số, đẩy lùi mê tín dị đoan trong chữa  
bệnh. Đặc biệt tại Yên Lập, chỉ sau 5 năm, một  
số hộ từ việc chọn chữa bệnh ở nhà thầy lang thì  
nay chuyển hoàn toàn sang các trung tâm y tế cấp  
xã, huyện,…  
Bảng 6. Nơi khám chữa bệnh của các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Đú Sáng,  
huyện Kim Bôi và xã Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình (năm 2013-2018, đơn vị %).  
Nơi khám  
Đú Sáng  
2018  
Yên Lập  
2018  
Năm  
2013  
0
2013  
1,5  
Nhà thầy lang  
0
0
Nhà thờ, nhà chùa  
Trạm y tế phường  
Trung tâm y tế huyện  
Bệnh viện tỉnh  
Bệnh viện trung ương  
Bệnh viện tư nhân  
0
0
0,8  
0,7  
57,6  
44,1  
12,7  
0
46,4  
56,8  
15,2  
0
70,5  
53  
65,9  
58,7  
27,5  
10,9  
5,1  
25  
12,1  
2,3  
0
0,8  
Về văn hóa, phong tục tập quán, người dân  
cho biết vẫn phát huy và giữ gìn bản sắc dân tộc,  
thực hiện nếp sống văn minh trong cưới hỏi, tang  
lễ và lễ hội. Phòng chống các hủ tục lạc hậu, mê  
tín dị đoan. “Về tập quán, bà con thờ tổ tiên tín  
ngưỡng. Tỷ lệ sinh con thứ 3 hiện tại đã giảm,  
trong 1000 cặp chỉ có 1-2 cặp sinh con thứ 3.  
Bên cạnh đó, tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng  
giảm theo. Xã có tổ chức to vào các dịp lễ tết cổ  
truyền, tháng thanh minh, đặc biệt 2/9 và tết  
trung thu. Cưới xin tại đây thì giống người kinh,  
gồm có 1 lễ ăn hỏi, tổ chức đơn giản. Trước đây  
thì toàn đưa dâu, rể ăn 2 nhà. Còn về ma chay,  
không để quá 24 tiếng trong nhà, vẫn mời ông  
thầy Mo khóc hộ, trình hộ người đến viếng. Về  
đám giỗ thì cũng như người kinh, mâm cỗ thì  
phải giữ vệ sinh” (PVS, Nam, xã Đú Sáng,  
huyện Kim Bôi).  
Tại địa phương vẫn thường tổ chức các hoạt  
động văn nghệ, thể thao, có các câu lạc bộ, các  
hội như hội phụ nữ, hội nông dân,… được người  
dân tham gia sôi nổi và hưởng ứng nhiệt tình.  
Ở cả hai xã người dân đều có điện thoại  
thông minh để sử dụng nhưng số người có ở xã  
Đú Sáng lại chiếm tỉ lệ ít hơn khi số người chưa  
có điện thoại là 75% trên tổng số người được  
khảo sát. Rất ít các hộ có mạng Internet để sử  
dụng, các loại máy móc, công nghệ hiện đại như  
máy vi tính,… vẫn còn xa vời với đời sống của  
người dân. “Công nghệ thông tin thì có điểm văn  
hóa xã, Viettel, Vinaphone, người dân dùng 4G,  
5G phủ khắp xã chiếm 80-85%. Người dân truy  
cập mạng trên điện thoại, tiếp cận internet nhiều  
hơn. Tuy nhiên, máy tính nối mạng thì chỉ gia  
đình cán bộ, giáo viên” (PVS, cán bộ xã  
Yên Lập).  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
97  
71.1  
HĐ dòng họ  
38  
78.6  
Họp  
52.6  
36.4  
Thể thao  
Lễ hội  
Yên  
Lập  
13.5  
38.9  
21.5  
25.2  
HĐ văn nghệ  
17.3  
0
20  
40  
60  
80  
100  
Biểu đồ 7. Mức độ tham gia các hoạt động tập thể của các hộ dân tộc Mường tại xã Yên Lập và xã Đú Sáng,  
tỉnh Hòa Bình (năm 2018, đơn vị %)  
120  
100  
51.4  
80  
60  
40  
20  
0
58.2  
49.3  
Yên Lập  
Đú Sáng  
58.2  
6.8  
12.7  
4.1  
7.5  
7.5  
0.7  
Đoàn Thanh  
Hội Phụ nữ Hội Người cao Hội Cực chiến Hội Nông dân  
tuổi binh  
niên  
Biểu đồ 8. Tỉ lệ tham gia các đoàn thể tại địa phương của các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Đú Sáng, huyện  
Kim Bôi và xã Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình (Năm 2018, đơn vị %)  
Bảng 7. Tỉ lệ sử dụng Internet và công nghệ thông tin của các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Đú Sáng, huyện  
Kim Bôi và xã Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình  
Đú Sáng  
2018  
Yên Lập  
2018  
Năm  
2013  
12,2  
0,8  
2013  
22,4  
13,7  
31,5  
8,3  
Sử dụng máy móc  
Sử dụng Internet  
Sử dụng điện thoại thông minh  
Ti-vi có kết nối Internet  
Sử dụng máy vi tính  
31,1  
11,5  
25  
46,5  
41,9  
66,2  
31,5  
17,2  
7,6  
3,1  
0,8  
12,7  
7,1  
5,7  
Sau 5 năm, đời sống người dân đã có sự cải  
thiện rõ rệt khi ở các yếu tố nhìn chung đều có  
sự gia tăng tương đối lớn. Số người có điện thoại  
thông minh để sử dụng tăng đáng kể, đặc biệt  
nhiều gia đình đã có ti-vi kết nối Internet, nhất là  
ở xã Yên Lập, mức tăng trưởng này lên đến  
23,5% trong vòng 5 năm.  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
98  
Về an sinh xã hội, người dân cho biết vẫn  
những ngôi nhà kiên cố hơn, đầy đủ các vật dụng  
sinh hoạt và có đủ nguồn lương thực để sinh  
sống. Về nguồn điện và nguồn nước, về cơ bản  
các hộ đều được sử dụng nguồn điện lưới quốc  
gia, có đủ điện và nước để dùng. Tình hình sản  
xuất nông nghiệp của các hộ cũng gặp nhiều  
thuận lợi, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của  
gia đình của toàn xã.  
luôn giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong đời sống  
hàng ngày. Các vấn đề về trật tự xã hội, an ninh  
vẫn được chính quyền địa phương quan tâm để  
đảm bảo đời sống người dân ổn định.  
“Công tác quản lý nhân hộ khẩu, thực hiện  
tốt công tác thống kê, quản lý nhân hộ khẩu đi,  
đến địa phương. Đẩy mạnh phong trào toàn dân  
bảo vệ an ninh tổ quốc, nâng cao ý thức chấp  
hành pháp luật của quần chúng nhân dân, xây  
dựng thế trận an ninh nhân dân, tuyên truyền vận  
động nhân dân chủ động phòng ngừa tố giác tội  
phạm và bài trừ các tệ nạn xã hội, làm giảm đáng  
kể các vụ việc vi phạm pháp luật, các vụ việc  
phải xử lý bằng pháp luật năm sau lại giảm hơn  
năm trước, an ninh trật tự an toàn xã hội được  
giữ vững” (PVS, cán bộ xã Yên Lập, huyện Kim  
Bôi).  
Về đời sống tinh thần, an sinh xã hội, toàn bộ  
trẻ em trong độ tuổi đến trường đều được đi học,  
hoàn thành phổ cập giáo dục. Chất lượng dịch vụ  
y tế cũng được nâng cao, người dân chú trọng  
hơn trong việc đến các trạm xá, bệnh viện hơn là  
đến các thầy lang. Văn hóa, phong tục tập quán  
mang bản sắc dân tộc vẫn được giữ vững, các hủ  
tục lạc hậu, mê tín dị đoan bị xóa bỏ. Người dân  
cũng tích cực tham gia vào các hoạt động, các  
hội, tổ chức đoàn thể trong địa phương. Trật tự  
an ninh được giữ vững, người dân tham gia tích  
cực đẩy lùi tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng đời  
sống tốt đẹp. Nhiều người dân đã có điện thoại  
thông minh để sử dụng tuy nhiên mạng lưới  
Internet và các thiết bị điện tử vẫn chưa được phổ  
biến, gây khó khăn trong việc cập nhật thông tin  
của người dân.  
“Tình hình an ninh chính trị đảm bảo giữ  
vững ổn định, trong 6 tháng đầu năm 2018 đã  
xảy ra 5 vụ, trong đó có 1 vụ đánh nhau, 1 vụ  
chiếm đoạt tài sản, 1 vụ trộm cắp, 1 vụ uống  
thuốc tự tử và 1 vụ va chạm giao thông nhẹ. Xã  
thực hiện tốt công tác giao ban, phản ảnh, trực  
ban, quản lý đội ngũ công an viên thực hiện  
nhiệm vụ có hiệu quả, xây dựng kế hoạch bảo vệ  
an ninh trật tự - an toàn xã hội trong các sự kiện,  
các ngày lễ” (PVS, cán bộ xã Đú Sáng, huyện  
Kim Bôi).  
Từ việc tìm hiểu thực trạng đời sống của các  
hộ gia đình dân tộc Mường tại hai xã, bài viết xin  
đưa ra một số khuyến nghị như sau:  
Trên địa bàn vẫn còn tồn tại nhiều gia đình  
sống trong nhà tạm, lều, lán. Phần lớn nhà vệ  
sinh là nhà vệ sinh thô sơ. Nhiều hộ chưa có đủ  
nguồn điện, nước, thiếu lương thực để ăn, gây  
khó khăn cho sinh hoạt hàng ngày. Điều này đòi  
hỏi sự quan tâm từ các cấp chính quyền trong  
việc thực hiện các chính sách, kêu gọi sự hỗ trợ,  
hỗ trợ kinh phí xây nhà cho số ít hộ ở trong nhà  
tạm, có những phương án hỗ trợ điện, nước và  
lương thực đầy đủ cho người dân.  
Người dân cho biết sẵn sàng tham gia vào  
ngăn chặn các vấn đề xã hội có thể xảy ra như  
đánh nhau, nạn trộm cắp, các tệ nạn xã hội như  
mại dâm, ma túy. Họ cũng đánh giá cao các hoạt  
động, chính sách góp phần nâng cao đời sống an  
sinh xã hội cho nhân dân. Vì vậy, tình hình an  
ninh chính trị trên địa bàn trong năm được đánh  
giá là khá ổn định và bền vững.  
Về mặt văn hóa – xã hội, các hộ gia đình vẫn  
chưa thể tiếp cận với Internet và máy vi tính.  
Điều này đòi hỏi chính quyền địa phương cần tạo  
ra đường truyền để người dân tiếp cận với mạng  
Internet để cập nhật thông tin cần thiết một cách  
nhanh chóng dễ dàng.  
4. Kết luận  
Như vậy, qua nghiên cứu về thực trạng đời  
sống các hộ gia đình dân tộc Mường tại xã Yên  
Lập và xã Đú Sáng có thể thấy rằng, nhìn chung  
đời sống vật chất của các hộ đã có nhiều thay đổi  
so với những năm trước đó. Tỉ lệ hộ nghèo đã  
giảm xuống, các hộ gia đình sinh sống trong  
Cần sắp xếp lại một cách có hệ thống các  
chương trình và chính sách phát triển kinh tế - xã  
M. Linh / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 3 (2021) 86-99  
99  
[3] T. T. Hanh, Economic Changes of Muong  
Households in the Reservoir Area of Hoa Binh  
Hydroelectric Power Station in the Place of  
Resettlement, Doctoral Thesis in Anthropology,  
Hanoi, 2018 (in Vietnamese).  
[4] L. T. Hoa, The Water Culture of the Muong in Hoa  
Binh Province, Doctoral Thesis, Hanoi, 2016 (in  
Vietnamese).  
[5] The People's Committee of Yen Lap Commune,  
Summary Report on Local Situation in 2017, Hoa  
Binh, 2018 (in Vietnamese).  
[6] Du Sang Commune People's Committee, Summary  
Report on Local Situation 2017, Hoa Binh, 2018  
(in Vietnamese).  
hội vùng DTTS gắn với tăng cường sự phối hợp  
giữa UBDT, Bộ LĐTBXH, và Bộ NNPTNT là  
những Bộ ngành chủ chốt trong chính sách phát  
triển kinh tế - xã hội vùng DTTS. Trong báo cáo  
rà soát chính sách về giảm nghèo liên quan đến  
DTTS của UBDT (2015) [10], chỉ có 9 trong số  
hơn 130 chính sách được liệt kê là do UBDT trực  
tiếp quản lý và tổ chức thực hiện; các chính sách  
còn lại là thuộc phạm vi quản lý của các bộ  
ngành khác. Do đó, tăng cường công tác phối  
hợp giữa các Bộ ngành liên quan đến giảm nghèo  
cho đồng bào DTTS trong đó phát huy vai trò là  
cơ quan quản lý Nhà nước về công tác dân tộc  
của UBDT là rất quan trọng.  
[7] Hien Them, The Name’s Origin, The Population of  
the Residential Area of the Muong Ethnic Group,  
12322/1/02050001844.pdf, 2013 (Accessed on  
May 29th, 2021 (in Vietnamese).  
References  
[8] Kim Boi District People's Committee, Summary  
Report of the Local Situation in the Second Half of  
2017, Hoa Binh, 2018 (in Vietnamese)  
[9] Cao Phong District People's Committee, Summary  
Report on Local Situation 2017, Hoa Binh, 2018  
(in Vietnamese).  
[10] World bank, Research Report: Factors Affecting  
the Socio-Economic Development of Ethnic  
Minorities in Vietnam, 2019 (in Vietnamese).  
[1] Population Committee, Irish Aid, UNDP,  
Overview of the Socio-Economic Situation of 53  
Ethnic Minorities, Hanoi, 2017 (in Vietnamese).  
[2] N. T. Hang, Cultural Changes and Cohesion  
Feature of the Muong Ethnic Community Today (A  
Case Study of The Muong Ethnic Group in Hoa  
Binh Province), Doctoral Thesis in Sociology,  
Hanoi, 2016 (in Vietnamese).  
pdf 14 trang baolam 21360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến đổi đời sống hộ gia đình dân tộc Mường hiện nay (Qua nghiên cứu tại xã Yên Lập, huyện Cao Phong và xã Đú Sáng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_doi_doi_song_ho_gia_dinh_dan_toc_muong_hien_nay_qua_ngh.pdf