Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền ở Việt Nam

Sự phát triển không đồng đều  
giữa các vùng miền ở Việt Nam  
Hoàng Bá Thịnh1, Đoàn Thị Thanh Huyền2  
1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
2 Học viện Phụ nữ Việt Nam.  
Nhận ngày 2 tháng 10 năm 2017. Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 10 năm 2017.  
Tóm tắt: Trong quá trình phát triển xã hội có một quy luật, phát triển diễn ra không đồng đều giữa  
các quốc gia, trong một quốc gia cũng có sự khác biệt giữa các vùng miền (nơi phát triển nhanh,  
nơi phát triển trung bình và nơi chậm phát triển). Thực tiễn trong quá trình hơn 30 năm Việt Nam  
thực hiện chính sách đổi mới đất nước đã chứng minh quy luật phát triển này. Nhiều địa phương  
phát triển rất nhanh, trong khi một số địa phương khác lại chậm phát triển. Ngay trong từng vùng,  
các chỉ số phát triển con người (HDI) cũng không đồng đều (như vùng đồng bằng sông Hồng đứng  
thứ 2 về HDI, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ đứng thứ 3, vùng Tây Nguyên có  
chỉ số HDI thấp nhất).  
Từ khóa: Phát triển không đồng đều, bất bình đẳng, thể chế, quản lý xã hội.  
Phân loại ngành: Xã hội học  
Abstract: There exists a rule in the social development process that development occurs unevenly  
both among countries, and among regions in a country: some grow fast, some develop in a medium  
manner, and some are underdeveloped. The reality over the past more than 30 years of Vietnam’s  
đổi mới, or renovation, process has proven that law of development. Many localities have  
developed very rapidly, while the development of some other ones has been slow. Among regions,  
the scores of the human development index (HDI) are also uneven, e.g. the Red River Delta ranked  
second in terms of the HDI, the North Central Coast and the South Central Coast ranked third, and  
the Central Highlands had the lowest HDI score.  
Keywords: Uneven development, inequality, institutional, social management.  
Subject classification: Sociology  
19  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
1. Mở đầu  
Các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia  
Đông Nam Á (ASEAN) cũng có sự phát  
triển không đồng đều, với 2 nhóm phát  
triển: nhóm ASEAN-6 phát triển hơn (bao  
gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapor,  
Philippin và Thái Lan); và nhóm ASEAN-4  
(còn gọi là CLMV, với 4 quốc gia  
Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam).  
Mặc dù ASEAN đã thiết lập Cộng đồng  
Kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015, hướng  
tới một khu vực năng động bậc nhất trên thế  
giới, nhưng khu vực này vẫn chứa đựng  
những bất ổn, mà một trong số đó là thực  
trạng về khoảng cách phát triển giữa các  
vùng miền, nhất là giữa nhóm nước phát  
triển hơn (gồm Brunei, Indonesia,  
Malaysia, Singapor, Philippin và Thái Lan)  
và nhóm các nước gia nhập sau của  
ASEAN (gồm Campuchia, Lào, Myanmar  
và Việt Nam). Chênh lệch khoảng cách  
giữa các nước ASEAN thể hiện trên nhiều  
phương diện. Về thu nhập, thu nhập đầu  
người của các nước ASEAN có sự tương  
phản rất sâu sắc. Mức thu nhập bình quân  
đầu người (tính theo ngang giá) năm 2009  
của Brunei, Singapor đạt xấp xỉ 50.000  
USD. Đây là nhóm các nước có mức thu  
nhập bình quân đầu người không chỉ cao  
nhất trong khu vực, mà còn có thể so sánh  
với một số quốc gia phát triển hàng đầu trên  
thế giới. Mức thu nhập này cao gấp 17 lần  
so với Việt Nam (2.900 USD), và gấp 50  
lần so với Myanmar là nước nghèo nhất khu  
vực (1.100 USD). Malaysia, Thái Lan có  
mức thu nhập cao hơn nhiều so với CLMV  
nhưng cũng chỉ bằng một phần ba của  
Singapore hay Brunei. Quy mô thị trường  
và cấu trúc của các ngành kinh tế trong các  
nước ASEAN cũng có sự khác biệt và  
chênh lệch rất lớn. Trong khi tổng sản  
phẩm quốc nội (GDP) của Indonesia đạt  
Trong mỗi quốc gia thường có sự phát triển  
không đồng đều giữa các vùng, miền. Ngay  
trong mỗi vùng, có tỉnh phát triển nhanh, có  
tỉnh phát triển trung bình hoặc chậm phát  
triển. Một số nguyên nhân dẫn đến sự khác  
biệt về mức độ phát triển giữa các vùng,  
miền là: điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, tài  
nguyên thiên nhiên, khí hậu), chất lượng  
nguồn nhân lực, thay đổi cơ cấu kinh tế,  
công nghiệp hóa và đô thị hóa, chính sách  
và định hướng phát triển của các địa  
phương, văn hóa, phong tục, tập quán của  
địa phương, vùng, miền. Chính sự phát  
triển không đồng đều sẽ tạo nên bất bình  
đẳng xã hội.  
Một trong những báo cáo thường niên  
hàng năm rất quan trọng của Chương trình  
Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) là Báo  
cáo phát triển con người, với báo cáo đầu  
tiên được thực hiện từ năm 1990. Trong  
Báo cáo phát triển con người, tiêu chí đo  
lường về thu nhập (thu nhập bình quân đầu  
người), chia các quốc gia theo các nhóm:  
thu nhập cao, thu nhập trung bình (trong  
mỗi nhóm này lại chia là hai mức) và thu  
nhập thấp. Nhìn chung, các nước đang phát  
triển đều nằm ở nhóm thu nhập thấp hoặc  
thu nhập trung bình. Bên cạnh tiêu chí thu  
nhập bình quân, còn có các tiêu chí đo về  
chỉ số phát triển con người (HDI), về chỉ số  
bình đẳng giới (GDI). Dựa trên thành tựu  
về chỉ số phát triển con người, báo cáo này  
chia các quốc gia làm bốn nhóm: HDI rất  
cao, HDI cao, HDI trung bình và HDI thấp.  
Theo Báo cáo phát triển con người năm  
2015, có 49 nước thuộc nhóm HDI rất cao,  
56 nước HDI cao, 38 nước HDI trung bình  
và 44 nước HDI thấp [1].  
20  
Hoàng Bá Thịnh, Đoàn Thị Thanh Huyền  
546 tỷ USD, của Thái Lan, Malaysia,  
Singapor cũng đạt trên dưới 200 tỷ USD  
thì những nền kinh tế như Lào, Myanmar,  
Campuchia chỉ đạt từ 5 đến 18 tỷ USD,  
thấp hơn 80-90 lần so với các thành viên  
khác. Về thương mại, Singapor là nước có  
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất  
trong số 10 nước thành viên ASEAN với trị  
giá 516 tỷ USD, chiếm 33,5% tổng trị giá  
xuất nhập khẩu hàng hóa của ASEAN. Tiếp  
đến là Thái Lan chiếm 18,6%, Malaysia  
chiếm 18,3%. Trong khi đó, tổng kim  
ngạch xuất nhập khẩu của ba nước Lào,  
Myanmar, Campuchia chỉ đạt 2,2%. Bên  
cạnh đó, kết cấu hạ tầng giao thông vận tải  
và năng lượng cũng thể hiện rõ sự chênh  
lệch về trình độ phát triển giữa ASEAN-6  
và các nước CLMV. Từ năm 2007,  
Singapor và Thái Lan đã có hệ thống đường  
trải nhựa với tỷ lệ gần như 100%, Malaysia  
78%. Còn ở các nước Campuchia, Lào và  
Việt Nam thì đến năm 2009 tỷ lệ đó vẫn chỉ  
trên 20%.  
vững. Làm thế nào để thu hẹp khoảng cách  
về sự phát triển và giảm sự bất bình đẳng  
trong quá trình phát triển? Tìm hiểu thực  
trạng này không chỉ nhận diện bức tranh bất  
bình đẳng trong quá trình phát triển, mà còn  
gợi ý quản lý xã hội sao cho giảm bớt sự  
không đồng đều giữa các vùng miền, để xã  
hội phát triển bền vững. Bài viết3 này phân  
tích thực trạng phát triển không đồng đều  
giữa các vùng ở Việt Nam.  
2. Phát triển không đồng đều về thu nhập  
Trong những năm đất nước tiến hành công  
cuộc đổi mới, do thực hiện tốt các chính  
sách của Nhà nước và kinh tế tăng trưởng  
với tốc độ cao, nên thu nhập bình quân của  
hầu hết các hộ gia đình cũng được nâng  
lên và cải thiện rất rõ nét. Có thể thấy điều  
này ở kết quả khảo sát mức sống hộ gia  
đình qua các năm. Tuy nhiên, có sự khác  
biệt về thu nhập bình quân đầu người giữa  
các vùng:  
Thực tiễn phát triển không đồng đều và  
bất bình đẳng là một thách thức đối với  
quản lý xã hội hướng đến phát triển bền  
Bảng 1: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế (Đơn vị tính: 1.000 đồng) [3]  
Năm  
2006  
2008  
2010  
2012 Sơ bộ 2014  
Cả nước  
636  
442  
995  
657  
1.387  
905  
2.000  
1.258  
2.351  
1.505  
1.643  
3.173  
1.797  
2.640  
1.613  
3.278  
1.982  
2.008  
4.124  
2.326  
Trung du và miền núi phía Bắc  
Đồng bằng sông Hồng  
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung  
Tây Nguyên  
666  
1.065  
728  
1.580  
1.018  
1.088  
2.304  
1.247  
476  
522  
795  
Đông Nam Bộ  
1.146  
628  
1.773  
940  
Đồng bằng sông Cửu Long  
21  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
Bảng trên cho thấy, với thu nhập bình  
quân 4,12 triệu đồng/người/tháng, người  
dân ở vùng Đông Nam Bộ có thu nhập cao  
gấp hơn 2,5 lần so với người dân vùng  
Trung du và miền núi phía Bắc (1,61 triệu  
đồng/người/tháng). Đông Nam Bộ cũng có  
thu nhập bình quân đầu người cao hơn 2  
lần so với vùng Tây Nguyên và vùng Bắc  
Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Sự  
khác biệt về thu nhập dẫn đến phân hóa  
giàu nghèo trong xã hội. Đáng chú ý là,  
khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam có xu  
hướng tăng theo thời gian. Năm 1990,  
khoảng cách thu nhập bình quân đầu người  
của nhóm 20% thu nhập cao nhất gấp 4,1  
lần so với 20% nhóm thu nhập thấp nhất.  
Khoảng cách đó vào năm 2010 đã tăng lên  
9,2 lần. Trong thời gian từ năm 1993 đến  
năm 2008, chênh lệch giữa người nghèo và  
người không giàu liên tục nới rộng thêm,  
với mức chi tiêu bình quân đầu người của  
người nghèo giảm xuống chỉ bằng 30%  
mức tương ứng của người không nghèo  
trong năm 2008, trong khi năm 1993 tỷ lệ  
này vẫn đạt 40%. Hệ số Gini tiếp tục có xu  
hướng gia tăng từ 0,418 năm 2000 lên 0,43  
năm 2010. Đánh giá của Ngân hàng Thế  
giới cho thấy: “Phần tăng thu nhập của  
10% dân số có thu nhập cao nhất gần lớn  
bằng tổng thu nhập của 10% dân số có thu  
nhập thấp nhất ở Việt Nam năm 2010.  
Trong khi đó, trong cùng thời kỳ, tỷ trọng  
thu nhập của 10% dân số thu nhập thấp  
nhất giảm đi 20%. Nếu tập trung chú ý vào  
nhóm thu nhập cao nhất trong phân bố thu  
nhập thì có thể thấy rằng, tỷ trọng phần thu  
hiện có tỷ lệ nghèo cao của cả nước là vùng  
Trung du miền núi phía Bắc và Tây  
Nguyên. Năm 2012, theo chuẩn nghèo  
chính thức, tỷ lệ hộ nghèo vùng Trung du  
và miền núi phía Bắc cao gấp 2,52 lần bình  
quân cả nước, tỷ lệ đó ở Tây Nguyên gấp  
1,6 lần bình quân cả nước. Đáng chú ý,  
khoảng cách này có xu hướng giãn ra, trong  
khi so với năm 2010, tỷ lệ nghèo ở vùng  
Trung du và miền núi phía Bắc cao hơn  
trung bình cả nước là 2,34 lần. Tại những  
xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ nghèo của nhóm  
dân tộc thiểu số cũng luôn cao hơn hẳn so  
với nhóm dân tộc Kinh. Trong các nhóm  
dân tộc thiểu số, người Mông có tỷ lệ nghèo  
cao hơn cả, sau đó là các dân tộc bản địa ở  
khu vực Tây Nguyên. “Dù 53 dân tộc thiểu  
số của Việt Nam chỉ chiếm 15% tổng dân  
số, nhưng lại chiếm gần một nửa (47%)  
tổng số người nghèo ở Việt Nam và chiếm  
68% số người nghèo cùng cực. Tuy điều  
kiện sống của nhiều nhóm dân tộc thiểu số  
đã được cải thiện từ cuối thập kỷ 90, nhưng  
tỷ trọng dân tộc thiểu số trong số người  
nghèo lại gia tăng đáng kể, tăng 25 phần  
trăm đối với người nghèo cùng cực (từ 43%  
vào năm 1998 lên 68% vào năm 2010) và  
tăng 19 phần trăm đối với người nghèo (từ  
28% năm 1998 lên 47% năm 2010” [3].  
Quy luật phát triển không đồng đều giữa  
các vùng miền còn được thể hiện ở chỗ các  
tỉnh có tỷ lệ nghèo cao đều thuộc các vùng  
miền có vị trí địa lý khó khăn (vùng cao,  
miền núi). Số liệu thống kê cho thấy, trong  
10 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước,  
nhập của nhóm 5% dân số có thu nhập cao thì có 8tỉnh thuộc vùng Trung du và miền  
nhất tăng từ 20,6% lên 22,5% trong giai  
đoạn 2004-2010” [3].  
núi phía Bắc, 2 tỉnh thuộc vùng Tây  
Nguyên, không có tỉnh nào thuộc các vùng  
đồng bằng sông Hồng hay vùng Đông Nam  
Bộ. Theo số liệu khảo sát mức sống dân cư  
Việt Nam năm 2006, 2008, 2010 trong Niên  
giám thống kê 2011, tỷ lệ hộ nghèo của các  
tỉnh như sau (Bảng 2).  
Vấn đề khoảng cách giàu nghèo của Việt  
Nam thể hiện rõ nhất ở tình trạng nghèo của  
đồng bào dân tộc thiểu số, cho dù đây là  
nhóm đối tượng đích của hầu hết các chính  
sách giảm nghèo hơn 20 năm qua. Hai vùng  
22  
Hoàng Bá Thịnh, Đoàn Thị Thanh Huyền  
Bảng 2: Các tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất (%)  
Tỉnh  
2006  
58,2  
42,9  
41,5  
38,0  
35,6  
39,0  
39,2  
31,2  
22,4  
26,6  
2008  
53,7  
39,3  
37,6  
35,6  
33,2  
36,3  
36,8  
26,7  
20,6  
23,3  
2010  
50,2  
50,8  
50,0  
38,1  
40,0  
37,9  
32,1  
31,9  
28,8  
28,3  
2011  
46,8  
46,4  
45,5  
35,5  
36,6  
34,8  
28,6  
28,9  
26,8  
26,5  
Vùng  
Lai Châu  
Điện Biên  
Hà Giang  
Cao Bằng  
Lào Cai  
Trung du và miền  
núi phía Bắc (TD  
và MNPB)  
Sơn La  
Bắc Kạn  
Kon Tum  
Tuyên Quang  
Đắk Nông  
Tây Nguyên  
TD và MNPB  
Tây Nguyên  
Trong khi đó, 10 tỉnh/thành phố có tỷ lệ  
hộ nghèo thấp nhất đều thuộc các vùng kinh  
tế - xã hội phát triển như: vùng Đông Nam  
Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc  
Trung Bộ và duyên hải miền Trung, vùng  
Đồng bằng sông Cửu Long. Đáng chú ý,  
một vài tỉnh/thành phố có tỷ lệ hộ nghèo  
cực thấp (0,1% ở Tp. Hồ Chí Minh, 0,2% ở  
Bình Dương) (Bảng 3).  
Bảng 3: Các tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất (%)  
Tỉnh  
2006  
0,5  
2008  
0,3  
2010  
0,3  
2011  
0,1  
Vùng  
Tp. Hồ Chí Minh  
Bình Dương  
Đồng Nai  
Đông Nam Bộ  
0,5  
0,4  
0,5  
0,2  
5,0  
4,3  
3,7  
3,0  
Bắc Trung Bộ và duyên  
hải miền Trung  
Đà Nẵng  
4,0  
3,5  
5,1  
3,7  
Hà Nội  
-
6,6  
6,3  
6,0  
6,3  
6,4  
7,0  
5,3  
6,8  
6,0  
6,5  
8,0  
7,2  
4,3  
4,8  
5,5  
5,8  
5,9  
6,6  
Đồng bằng sông Hồng  
Đông Nam Bộ  
Bà Rịa - Vũng Tàu  
Tây Ninh  
7,0  
7,0  
7,8  
7,9  
7,5  
Hải Phòng  
Quảng Ninh  
Cần Thơ  
Đồng bằng sông Hồng  
Đồng bằng sông Cửu Long  
So sánh tỷ lệ hộ nghèo ở bảng 2 và bảng nghèo cao nhất (tỉnh Lai Châu: 46,8%) và  
3 cho thấy, mức chênh giữa tỉnh có tỷ lệ hộ tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất (Tp. Hồ  
23  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
Chí Minh 0,1%) là 468 lần. Và mức độ  
chênh lệch giữa tỉnh đứng thứ 10 trong  
nhóm địa phương chậm phát triển (Đắk  
Nông: 26,5%) với tỉnh thứ 10 trong nhóm  
các tỉnh phát triển (Cần Thơ: 6,6%) là 4 lần.  
hiện trước hết ở trình độ học vấn, chuyên  
môn kỹ thuật. Tỷ lệ không có bằng cấp và  
chưa bao giờ đến trường của dân số từ 15  
tuổi trở lên của nhóm hộ nghèo nhất là  
38,1%, cao hơn 4,6 lần so với nhóm hộ giàu  
nhất. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi có bằng cao  
đẳng trở lên của nhóm hộ giàu nhất gấp 169  
lần nhóm hộ nghèo nhất, trong khi tỷ lệ  
chưa bao giờ đến trường của nhóm nghèo  
nhất nhiều gấp 11 lần nhóm giàu nhất  
(Bảng 4).  
3. Phát triển không đồng đều về chất  
lượng nguồn nhân lực  
Có sự khác biệt rất rõ về chất lượng nguồn  
nhân lực giữa các nhóm thu nhập với nhau,  
giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng,  
miền trên phạm vi cả nước. Điều này thể  
Bảng 4: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo bằng cấp cao nhất và chia theo 5 nhóm thu nhập,  
nhóm 1: nghèo nhất; nhóm 5: giàu nhất năm 2010 ( đơn vị%) [6]  
Chưa  
Không  
có  
Tốt  
nghiệp  
tiểu  
Công Trung  
Cao  
đẳng  
đại  
Nhóm  
thu  
bao  
giờ  
Tốt  
Tốt  
Trung  
cấp  
Cao  
đẳng  
nghề  
Trên  
đại  
Sơcấp  
nghề  
nhân  
học  
nghiệp nghiệp  
bằng  
cấp  
kỹ  
chuyên  
nhập  
đến  
THCS THPT  
nghề  
học  
học  
thuật nghiệp  
học  
trường  
1
2
15,5  
7,5  
22,6  
18,1  
26,8  
27,0  
25,0  
30,0  
8,1  
0,8  
1,9  
0,4  
1,1  
0,1  
0,1  
0,5  
1,5  
0,2  
0,4  
0,1  
0,4  
-
-
12,2  
3
4
5
4,7  
2,5  
1,4  
14,9  
10,6  
6,8  
24,7  
20,8  
15,3  
30,8  
28,2  
21,6  
14,4  
16,4  
18,0  
3,3  
5,1  
5,6  
1,8  
3,2  
3,6  
0,3  
0,5  
0,6  
2,8  
5,2  
6,8  
1,0  
2,4  
3,4  
1,3  
4,9  
0,0  
0,1  
1,0  
15,9  
Xét theo vùng miền, vùng đồng bằng chất lượng nhân lực thấp nhất; ở đó tỷ lệ người  
sông Hồng có chất lượng nguồn nhân lực chưa bao giờ đến trường là 11,7%, nhiều gấp 4  
cao nhất, tiếp theo là vùng Đông Nam Bộ. lần so với vùng đồng bằng sông Hồng và 3 lần  
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có so với vùng Đông Nam Bộ (Bảng 5).  
24  
Hoàng Bá Thịnh, Đoàn Thị Thanh Huyền  
Bảng 5: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên chia theo bằng cấp cao nhất và chia theo vùng năm 2010  
(1: Đồng bằng sông Hồng; 2: Trung du và miền núi phía Bắc; 3: Bắc Trung Bộ và duyên hải miền  
Trung; 4: Tây Nguyên; 5: Đông Nam Bộ; 6: Đồng bằng sông Cửu Long) (đơn vị%) [6]  
Chưa  
Không  
có  
Tốt  
nghiệp  
tiểu  
Công Trung Cao  
bao  
giờ  
Tốt  
Tốt  
Sơ  
Trung  
cấp  
Cao  
đẳng  
nghề  
Trên  
đại  
nhân  
học  
đẳng  
đại  
Vùng  
nghiệp nghiệp  
cấp  
bằng  
cấp  
kỹ  
chuyên  
đến  
trường  
2,7  
THCS THPT nghề  
nghề  
học  
học  
thuật nghiệp  
học  
1
2
3
4
5
6
6,4  
13,0  
21,1  
22,6  
26,1  
26,0  
32,1  
35,9  
29,0  
29,3  
26,3  
21,7  
17,0  
18,2  
11,6  
15,3  
13,4  
15,4  
7,9  
4,8  
3,1  
3,0  
3,0  
4,2  
2,1  
3,7  
2,4  
1,9  
1,1  
1,6  
0,7  
0,6  
0,3  
0,3  
0,2  
0,3  
0,1  
4,4  
4,1  
3,7  
3,1  
3,0  
2,3  
2,2  
1,3  
1,6  
1,1  
1,6  
0,9  
7,5  
2,6  
3,8  
3,0  
7,6  
2,5  
0,6  
0,0  
0,1  
0,0  
0,3  
0,1  
11,7  
5,4  
12,8  
13,0  
13,7  
14,4  
26,6  
9,0  
4,0  
7,8  
Phân tích số liệu từ các khảo sát của  
Tổng cục thống kê (TCTK) cho thấy, càng  
nhau rất thấp, 2,6% có trình độ sơ cấp,  
4,7% có trình độ trung cấp, 1,6% có trình  
ở cấp học cao thì học sinh nhóm hộ nghèo độ cao đẳng và 4,4% có trình độ đại học trở  
lên. Điều này cho thấy, có sự mất cân đối  
nhất định trong công tác đào tạo chuyên  
môn kỹ thuật hiện nay vì trình độ sơ, trung  
cấp chỉ chiếm một phần nhỏ trong các bậc  
đào tạo của dân số từ 15 tuổi trở lên. Trình  
độ chuyên môn kỹ thuật của dân số có sự  
khác biệt giữa khu vực đô thị và nông thôn.  
Chỉ có khoảng 8% dân số nông thôn tuổi 15  
trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ  
sơ cấp trở lên, và tỷ lệ có trình độ cao đẳng  
và đại học trở lên chỉ chiếm 3%. Trong khi  
đó, tỷ lệ người có trình độ chuyên môn kỹ  
thuật ở khu vực đô thị là 30% và tỷ lệ có  
trình độ cao đẳng trở lên là 18,3%. Thực  
trạng này cho thấy một sự mất cân đối  
nghiêm trọng trong phân bố lực lượng  
nhất càng ít được đến trường. Nếu không  
xét độ tuổi quy định thì trong 100 em ở  
nhóm hộ nghèo nhất có 53 em được đi học  
cấp Trung học phổ thông (THPT), trong khi  
con số này ở nhóm hộ giàu nhất là 90 em.  
Nếu xét theo độ tuổi quy định thì trong 100  
em ở nhóm hộ nghèo nhất trong độ tuổi quy  
định của cấp THPT có 42 em được đi học  
cấp THPT, trong khi con số này ở nhóm hộ  
giàu nhất là 75 em. Chi tiêu cho giáo dục  
đào tạo bình quân 1 người/tháng đạt khoảng  
68 ngàn đồng, chiếm 6% trong chi tiêu cho  
đời sống. Chi tiêu cho giáo dục đào tạo bình  
quân 1 người/tháng của nhóm hộ giàu nhất  
cao gấp hơn 5,6 lần so với nhóm hộ nghèo  
nhất, của hộ thành thị cao hơn 2,6 lần so chuyên môn, kỹ thuật giữa khu vực đô thị  
và nông thôn. Kết quả điều tra lao động  
việc làm năm 2010 cho thấy, 91,4% lao  
động ở nông thôn không có chuyên môn kỹ  
thuật, chỉ có 8,6% lao động có chuyên môn  
kỹ thuật (trong đó 3% qua dạy nghề, 2% đại  
học trở lên, 1% cao đẳng và 2,6% trung  
với hộ nông thôn.  
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và  
nhà ở Việt Nam năm 2009: tính chung toàn  
quốc, có đến 86,7% dân số từ 15 tuổi trở  
lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật.  
Tỷ lệ được đào tạo với các trình độ khác  
25  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
cấp). Nói cách khác, cứ 100 lao động nông nói riêng còn quá nhiều việc cần phải làm.  
thôn mới có gần 9 người có chuyên môn kỹ Với Việt Nam, việc đa số lao động không  
thuật ở các mức độ khác nhau. Những số có chuyên môn kỹ thuật là rào cản đất nước  
liệu này cho thấy, việc đào tạo và nâng cao trong tiến trình công nghiệp hóa, đô thị hóa  
chất lượng nguồn nhân lực cả nước nói và hội nhập quốc tế (Bảng 6).  
chung và đào tạo cho lao động nông thôn  
Bảng 6: Tỷ trọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, đô thị và nông thôn, năm  
2010 (đơn vị %) [6]  
Không có  
Tổng số chuyên môn  
kỹ thuật  
Dạy  
nghề  
Trung cấp Cao đẳng Đại học trở lên  
Toàn quốc  
Đô thị  
100.0  
100.0  
100.0  
85,3  
69,6  
91,4  
3,8  
6,4  
2,9  
3,5  
5,7  
2,6  
1,7  
2,9  
1,2  
5,7  
15,4  
1,9  
Nông thôn  
Sự khác biệt về trình độ chuyên môn kỹ  
thuật theo mức độ đô thị hóa thể hiện rõ nhất  
ở bậc chuyên môn kỹ thuật cao. Tỷ lệ dân số  
có chuyên môn kỹ thuật (đặc biệt là có trình  
độ đại học trở lên) cao nhất tại các đô thị loại  
đặc biệt như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và các  
đô thị loại I. Chẳng hạn, tỷ lệ dân số 15 tuổi  
trở lên có trình độ đại học hay cao hơn ở Hà  
Nội và Tp. Hồ Chí Minh là 16%; ở các các đô  
thị loại I, II, III lần lượt là 11%, 10%, 9%; ở  
các đô thị loại IV và V là gần 6%.  
Sự khác biệt về chất lượng nguồn nhân  
lực giữa các vùng miền, giữa nông thôn và  
đô thị cho thấy, lực lượng lao động không  
được đào tạo hoặc đào tạo trình độ thấp  
chẳng những không đáp ứng được yêu cầu  
của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa, mà còn là rào cản đối với sự phát triển  
của các địa phương, vùng, miền.  
hiện ở chỉ số HDI. Số liệu theo vùng thể  
hiện sự khác biệt đáng kể về thành tích ở  
các vùng của Việt Nam. Trên bình diện cả  
nước, giá trị HDI tăng từ 0,650 lên 0,752 từ  
năm 1999 đến năm 2012, tương đương với  
tốc độ tăng HDI hàng năm là 1,13%. Tốc  
độ tăng trưởng này có thể phân ra làm hai  
giai đoạn khác nhau - trước và sau cuộc  
khủng hoàng tài chính toàn cầu. Từ năm  
1999 đến 2008, tốc độ tăng bình quân hàng  
năm là 1,23%, giảm xuống còn 0,90% sau  
năm 2008. Mặc dù tất cả các vùng đều có  
tiến bộ và đạt được một mức độ đồng quy  
nhất định, nhưng vẫn tồn tại khác biệt đáng  
kể về kết quả và mức độ thay đổi (Bảng 7).  
Trong 6 vùng, vùng Trung du và miền núi  
phía Bắc có giá trị HDI thấp nhất với 0,679,  
sau đó là Tây Nguyên với 0,704. Miền  
Đông Nam Bộ có giá trị HDI cao nhất với  
0,811 (Tỷ lệ nhập học chung là % học sinh  
ở tất cả các cấp học, từ tiểu học đến đại học  
(trừ các lớp học thoát nạn mù chữ, các lớp  
bổ túc và các khóa học nghề ngắn hạn)  
trong nhóm dân cư từ 6 đến 24 tuổi).  
4. Phát triển không đồng đều về con người  
Một trong những chỉ báo về sự phát triển  
không đồng đều giữa các vùng được thể  
26  
Hoàng Bá Thịnh, Đoàn Thị Thanh Huyền  
Bảng 7: Sự khác biệt trong thành tựu phát triển con người theo vùng năm 2012 [4]  
GDP bình  
quân đầu  
Tỷ lệ người  
lớn biết chữ  
(% số người  
15 tuổi trở lên)  
Tuổi thọ  
kỳ vọng  
(năm)  
Tỷ lệ nhập người (đơn vị  
Giá trị  
học chung  
USD) tính  
theo sức mua  
tương đương  
(PPP)  
HDI  
(%)  
Cả nước  
0,752  
0,679  
73,05  
70,29  
94,50  
88,80  
63,43  
58,27  
3.979.3  
Trung du và miền núi  
phía Bắc  
1.939,7  
Đồng bằng sông Hồng  
Bắc Trung Bộ và duyên  
hải Nam Trung Bộ  
0,770  
0,730  
74,27  
72,41  
97,50  
94,30  
72,50  
62,79  
3.593,5  
2.890,7  
Tây Nguyên  
0,704  
0,811  
0,746  
69,40  
75,69  
74,39  
92,10  
96,90  
93,10  
59,80  
63,55  
59,29  
2.853,8  
8.020,5  
3.572,9  
Đông Nam Bộ  
Đồngbằng sông Cửu Long  
5. Kết luận  
hóa quốc gia lên một tầm cao mới; cần quan  
tâm đến việc làm và thu nhập ổn định cho  
người dân, tạo điều kiện và cơ hội bình đẳng  
cho các nhóm xã hội khác nhau, đặc biệt với  
những nhóm yếu thế, những người sống ở  
khu vực miền núi, vùng cao; nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực, phát triển con người  
(cần nhận thức rõ giáo dục và y tế là các  
thành tố cơ bản của phát triển con người, là  
trung tâm để thúc đẩy các năng lực của con  
người cũng như cho phép con người nắm bắt  
các cơ hội tăng năng suất lao động; phát triển  
hệ thống an sinh xã hội làm cho an sinh xã  
hội đóng vai trò then chốt trong việc phân  
phối lại của cải cho các thành viên dễ bị tổn  
thương nhất của xã hội, hỗ trợ tăng trưởng  
kinh tế, tạo ra sức tiêu thụ lớn hơn trong ngắn  
hạn cũng như giảm nhẹ rủi ro và tăng năng  
Sự phát triển không đồng đều ở Việt Nam  
đã dẫn đến bất bình đẳng xã hội ở một số  
lĩnh vực với mức độ khác nhau, điều này lại  
tạo nên những bất ổn xã hội (mâu thuẫn,  
xung đột, phân hóa giàu nghèo, tham  
nhũng, mất an ninh, trật tự xã hội…). Bất  
bình đẳng xã hội không chỉ là trở ngại đối  
với phát triển mà còn tạo nên những khó  
khăn về quản lý xã hội. Để thu hẹp khoảng  
cách bất bình đẳng giữa các vùng miền, cần  
quan tâm giải quyết tốt trên mấy phương  
diện sau: xây dựng và hoàn thiện thể chế  
chính thức (luật pháp, chính sách) và thể  
chế không chính thức (niềm tin, phong tục,  
tập quán); cần có những chính sách, giải  
pháp để từng bước xóa bỏ những tập quán  
bảo thủ, lạc hậu, lối nghĩ, cách làm có xu  
hướng kìm hãm tiến bộ xã hội, để đưa văn suất lao động trong dài hạn).  
27  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 2 - 2018  
Chú thích  
[9] Berg, A. G. and Ostry J. D. (2013), “Inequality  
and Unsustainable Growth: Two Sides of the  
3
Same Coin?”, International Organisations  
Bài viết là kết quả đề tài KX04.15/16-20  
Research Journal, 8 (4.77-99).  
“Quản lý phát triển xã hội ở nước ta: Thực  
trạng, vấn đề đặt ra và định hướng chính sách”.  
[10] Chiu, W. H & Madden, P (1998), “Burglary  
and income inequality”, Journal of Public  
Economics, 69 (1). 123-141.  
Tài liệu tham khảo  
[11] Dutta, I. Madden, P. & Mishra, A (2014),  
Group Inequality  
and  
Conflict, The  
Manchester School, 82(3). 257-283.  
[12] OECD (2014), Changing the Conversation on  
Growth: Going Inclusive, Ford Foundation,  
New York City.  
[1] Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc  
(2015), Báo cáo phát triển con người năm  
2015: Việc làm vì phát triển con người,  
Communications Development Incorporated,  
Washington DC, USA.  
[13] Hoang Ba Thinh (2017),  
Education in Vietnam: Opportunities and  
Challenges , Advanced Science Letters, Vo.  
“Migration and  
[2] Điều tra mức sống dân cư Việt Nam (2002,  
2004, 2006, 2008, 2010, 2012), Nxb Thống kê,  
Hà Nội.  
”
23, No. 3, pp. 2166-2168.  
[14] UNDP (2014a), Human Development Report  
[3] Kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam  
2014, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2015.  
“Sustaining Human Progress: Reducing  
Vulnerabilities and Building Resilience  
”
,
[4] Ngân hàng Thế giới (2012), Khởi đầu tốt,  
nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn  
tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và  
những thách thức mới, Hà Nội.  
Communications Development Incorporated,  
Washington DC, USA.  
[15] UNICEF/UN Women (2013), Addressing  
Inequalities: Synthesis Report of  
Public Consultation. Global  
Global  
[5] Tổng cục Thống kê (2015), Số liệu thống kê về  
các chỉ số HDI,GDI, MPI cho báo cáo quốc  
gia về phát triển con người năm 2015, Nxb  
Thống kê, Hà Nội.  
Thematic  
Consultation on the Post-2015 Development  
Agenda, UNICEF.  
[16] Whyte, M (2010), Myth of the Social Volcano:  
Perceptions of Inequality and Distributive  
Injustice in Contemporary China, Stanford  
University Press, USA.  
[6] Tổng cục Thống kê (2011), Kết quả khảo sát  
mức sống dân cư năm 2010, Nxb Thống kê,  
Hà Nội.  
[7] Tổng cục Thống kê (2010), Tổng điều tra dân  
số và nhà ở Việt Nam ngày 1 tháng 4 năm  
2009, Nxb Thống kê, Hà Nội.  
[17] World Bank (2014a), Taking Stock: An Update  
on Vietnam’s Recent Economic Developments,  
Hanoi.  
[8] Alesina A., Rodrik D. (1994), “Distributive  
[18] World Bank (2012b), World Development  
Politics and Economic Growth”, Journal of  
Report  
2012:  
Gender  
Equality  
and  
Economics.  
Development, Washington, DC.  
28  
Hoàng Bá Thịnh, Đoàn Thị Thanh Huyền  
29  
pdf 11 trang baolam 25220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng miền ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_phat_trien_khong_dong_deu_giua_cac_vung_mien_o_viet_nam.pdf