Cảm hứng nhân văn trong văn xuôi Nguyễn Thị Kim Hòa

VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
CẢM HỨNG NHÂN VĂN TRONG VĂN XUÔI NGUYỄN THỊ KIM HÒA  
Phạm Đặng Thùy Dương  
Trường Đại học Văn Hiến  
Ngày nhận bài: 24/10/2018; Ngày duyệt đăng: 17/12/2018  
Tóm tắt  
Nguyễn Thị Kim Hòa sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện dài, tản văn nhưng đều xuất  
phát từ một nguồn cảm hứng nhân văn. Đó là những trăn trở, suy tư, rung động mãnh liệt của tác  
giả về hiện thực đời sống và con người vùng nắng, gió Phan Rang. Bài viết dựa trên kết quả nghiên  
cứu kết hợp với phương pháp phân tích - tổng hợp để giới thiệu những nét độc đáo trong cảm hứng  
nghệ thuật và văn phong của nhà văn trẻ Nguyễn Thị Kim Hòa.  
Từ khóa: cảm hứng nhân văn, phong cách, Nguyễn Thị Kim Hòa.  
Humanitarian inspiration in the prose works of Nguyen Thi Kim Hoa  
Abstract  
Nguyen Thi Kim Hoa composed many genres: short stories, long stories, and literature but all  
came from a human inspiration. Those are the concerns, thoughts and vibrations of the author  
about the real life and people in the sunny and windy areas of Phan Rang. The article is based on  
research results combined with analysis - synthetic methods to introduce the unique features in  
artistic inspiration and style of young writer Nguyen Thi Kim Hoa.  
Keywords: humanitarian inspiration, style, Nguyen Thi Kim Hoa.  
Mở đầu  
Nhà văn trẻ Nguyễn Thị Kim Hòa - vệt  
nhớ miền sa mạc  
Vượt qua hơn 1000 tác phẩm dự thi và giành  
được giải Nhất cuộc thi Truyện ngắn Tạp chí  
Văn nghệ quân đội 2013 - 2014, Nguyễn Thị  
Kim Hòa1 được bạn đọc gần xa yêu thích và  
đánh giá cao. Dù viết về đề tài lịch sử, chiến  
tranh hay xã hội nhà văn luôn dành sự ưu ái,  
quan tâm đến những người mẹ, người vợ, người  
chị bởi cuộc đời họ thường chịu nhiều thua thiệt,  
tổn thương mà không gì có thể bù đắp được. Tuy  
nhiên, đến thời điểm này chưa có nhiều công  
trình nghiên cứu đề cập đến tác giả và tác phẩm  
một cách hệ thống. Vì thế, bài viết mong muốn  
cung cấp một số cảm hứng nhân văn mới mẻ  
trong văn xuôi Nguyễn Thị Kim Hòa để giúp  
người đọc có cái nhìn bao quát về những vấn đề  
mà nhà văn trăn trở, ưu tư trong tác phẩm.  
Bắt đầu sáng tác năm 2009, đến năm 2014,  
Nguyễn Thị Kim Hòa đã khẳng định được tên  
tuổi của mình bằng các giải thưởng cao như: Giải  
Nhất cuộc thi Truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ  
quân đội 2013 - 2014 với ba truyện ngắn Đỉnh  
khói, Hương thôn dã, Thôi mùa cỏ cháy; Giải  
Nhất cuộc Vận động sáng tác Văn học thiếu nhi  
giai đoạn 2013 - 2015 của Hội nhà văn Đan Mạch  
phối hợp NXB – Kim Đồng tổ chức, với tác phẩm  
Hoàng tử Rơm; Giải C Liên hiệp các hội Văn học  
nghệ thuật Việt Nam 2015 với tập Đỉnh Khói,…  
Nguyễn Thị Kim Hòa thử sức song song hai  
lĩnh vực người lớn, trẻ em và lĩnh vực nào nhà  
văn cũng gặt hái thành công. Đối với truyện  
thiếu nhi rất kén chọn cách viết nhưng chị lại  
1 Nhà văn Nguyễn Thị Kim Hòa tên thật cũng là bút danh,  
sinh năm 1984 tại Ninh Thuận. Hiện nay, tác giả đang sống  
và làm việc tại Ninh Thuận. Chị cũng là hội viên Hội Văn  
học tỉnh Ninh Thuận và Hội Nhà văn Việt Nam.  
88  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
hóa thân thành công trong thế giới nhân vật ấy.  
Có lẽ nhờ tiếp xúc thường xuyên với các học trò  
nên tác giả dễ thấu hiểu các em để từ đó thể hiện  
trên trang viết một cách tự nhiên, trong sáng.  
Nguyễn Thị Kim Hòa mê đọc sách, yêu văn  
chương từ nhỏ. Lên cấp ba, tác giả bộc lộ tài  
năng qua giải thưởng học sinh giỏi Văn quốc gia  
nhưng chưa bao giờ chị nghĩ sẽ gắn bó cuộc đời  
mình với văn chương.  
Đọc những dòng tâm sự của Nguyễn Thị  
Kim Hòa trên báo Phụ nữ online về công việc,  
thời gian sáng tác, chúng ta thật sự cảm phục  
trước sức mạnh nội lực của nhà văn trẻ. Giờ đây,  
chị xem “viết như là hơi thở”, để “được sống  
nhiều trong cùng một kiếp người”. Càng đi vào  
con đường văn chương nhà văn càng được mở  
rộng tầm mắt về cuộc sống chung quanh, càng  
hiểu mọi người và hiểu mình hơn. Qua mỗi cảnh  
đời, mỗi một số phận nhân vật, chị như được  
tiếp thêm ước mơ, hy vọng để vững bước trong  
cuộc đời “Nếu như trước năm 25 tuổi, tôi đã  
luôn dùng lạc quan để mỉm cười, chấp nhận thiệt  
thòi sức khỏe số phận đã dành cho mình, thì từ  
năm 25 tuổi đến bây giờ, khi đối diện thêm với  
căn bệnh cột sống, may làm sao, ngoài lạc quan  
tôi còn có văn chương” (Hoàng Đăng Khoa,  
2017: tr. 60).  
Khi Tản văn Sa mạc và những vệt nhớ ra đời,  
Nguyễn Thị Kim Hòa đã nhận được không ít lời  
khen từ các nhà văn đi trước. Khi tiếp xúc với  
thế giới truyện của Nguyễn Thị Kim Hòa, chúng  
tôi nhận ra cái tình của nhà văn trẻ đối với quê  
hương sâu nặng vô cùng. Tác giả vận dụng hoàn  
toàn chất liệu cuộc sống của vùng đất miền gió  
cát Phan Rang. Những cái tên như sông Dinh,  
chợ Nại, núi Chà Bang, động cát Nam Cương,  
những loại cây như: xương rồng, bồn bồn, nem,  
những đặc sản như: nho, cừu, cát trắng, dông,  
tất cả đều thường trực trong trang viết của nhà  
văn. Rồi từng ngọn bấc, hạt mưa cho đến những  
bông hoa mọc lên từ sa mạc cằn cỗi bỗng trở nên  
tươi đẹp, sống động lạ thường qua lăng kính của  
tác giả. Nên hiện thực trong truyện của Nguyễn  
Thị Kim Hòa là hiện thực cuộc sống đời thường,  
quen biết xung quanh. Chỉ khác là hiện thực ấy  
được sinh ra từ cảm xúc nhiệt thành, từ sự rung  
động tha thiết của trái tim dành cho xứ sở.  
Qua chín năm kết duyên cùng văn chương,  
Nguyễn Thị Kim Hòa đã khẳng định được tài  
năng, vị trí của mình trong đội ngũ những người  
sáng tác trẻ cả nước. Điều đáng quý là chị sử  
dụng khá lớn từ ngữ của đất và người vùng  
nắng, gió trong tác phẩm của mình: “Nguyễn  
Thị Kim Hòa đem được cái gân guốc dữ dội của  
cuộc sống vào con chữ” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2012: tr. 9). Chính đặc điểm này đã tạo cho cây  
bút xứ Phan Rang một văn phong riêng biệt  
mang đậm dấu ấn cá nhân.  
Biểu hiện chủ yếu của cảm hứng nhân văn  
trong văn xuôi Nguyễn Thị Kim Hòa  
Trên con đường sáng tạo nghệ thuật, ngoài  
quá trình làm việc nghiêm túc, cần mẫn, mỗi cây  
bút phải có thêm cảm hứng thì mới dễ dàng đạt  
được kết quả mong muốn. Cảm hứng và công  
sức luôn được xem là “hai điều kiện không thể  
thiếu được trong sáng tạo nghệ thuật. Chúng  
nâng đỡ nhau, bổ sung cho nhau, làm cho sáng  
tạo nghệ thuật vừa là hứng thú, niềm vui, sự thỏa  
mãn, vừa là lao động khó khăn và đầy trách  
nhiệm” (Nguyễn Văn Hạnh và cộng sự, 1995:  
tr. 118). Khảo sát văn xuôi của Nguyễn Thị Kim  
Hòa, chúng tôi nhận thấy có ba nguồn cảm hứng  
chủ đạo xuyên suốt con đường văn chương của  
chị. Đó là sự đồng cảm, yêu thương những phận  
người bé mọn, trân quý, ân tình đối quê hương  
đất nước và nhiệt thành phê phán những mặt trái  
của cơ chế xã hội, nhân tình.  
Đồng cảm, yêu thương những phận người  
bé mọn  
Bằng những suy tư, chiêm nghiệm về chuyện  
đời chuyện người và sự thổn thức của trái tim  
giàu tình yêu nhân loại, nhà văn Nguyễn Thị  
Kim Hòa đã phát hiện ra những phận nghèo  
trong Ven sông, Tựu trường ngày mưa, Giữa  
vùng nắng gió, Đỉnh khói…  
Hiện lên trong Ven sông là thảm cảnh của hai  
chị em Mén. Để nuôi em trai lớn khôn, chị Mén  
chấp nhận vào làm tiếp viên trong quán Chiều  
Mơ. Nào ngờ, đồng lương ít ỏi chị không đủ  
nuôi em trai ăn học mà còn phải hứng chịu thêm  
bao nỗi oan ức từ tên ma cô trong quán. Vậy mà,  
cái khổ không chịu buông tha họ, một lần nữa  
89  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
hai chị em bỏ nhà dắt díu nhau tiếp tục cuộc  
hành trình phía trước còn lắm gian nan: “Băng  
băng đi ngược dòng sông, đang lặng lờ trôi về  
phía phố, phía những ánh đèn vàng lấp lánh, hai  
cái bóng - một mảnh dẻ nhỏ bé, một gầy guộc  
lêu nghêu dắt tay nhau, cắm cúi về chân trời  
trước mặt” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 99).  
Còn hoàn cảnh hai chị em Nhi trong Tựu trường  
ngày mưa gợi nhiều tâm tư cho người đọc. Vì  
mồ côi mà một đứa trẻ sáu tuổi đã biết tự lo cho  
bản thân: tự dậy sớm, tự thay quần áo, tự nhắc  
chị dẫn đi học: “Mắt Mèo dậy từ lúc nào, mặc  
xong xuôi bộ quần tây xanh áo trắng thẳng thớm  
mới tinh. Em ngó nghiêng vài ba chập rồi đeo  
cái cặp nhỏ trên vai, lại gần cầm tay chị giật giật:  
Mình đi thôi chị!” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012:  
tr. 113). Còn gì buồn hơn khi độ tuổi như Mắt  
Mèo, các bạn khác có cha mẹ nâng niu, chăm  
chút cho từng bữa ăn giấc ngủ, từng bộ quần áo,  
từng quyển tập… Nhưng với đôi mắt tinh tường,  
nhà văn đã cảm nhận được vẻ đẹp lấp lánh trong  
từng mảnh đời “khiếm khuyết”. Dẫu phía trước  
còn nhiều thử thách nhưng chị em Mắt Mèo sẽ  
quyết tâm thực hiện giấc mơ đẹp của mình. Giấc  
mơ ngọt ngào “có lớp, có trường, có bảng đen  
và những quyển vở trắng thơm mùi giấy mới”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 122). Hay cô  
Bé Năm trong Đỉnh khói. Cả quãng đời tuổi thơ  
sống bằng bãi rác phi trường: “Nào đồ hộp còn  
chưa khui nắp, túi gạo còn lưng lửng, lon bia, ca  
i-nốc… đôi khi còn trúng mánh được cái đồng  
hồ, cặp mắt kính còn mới nguyên” (Nguyễn Thị  
Kim Hòa, 2015: tr. 111). Cái mũi của những đứa  
con nhà nghèo đâu chỉ để thở mà chủ yếu là để  
lọc mùi rác tìm thức ăn: “Tụi nhỏ trong xóm như  
thằng Bình, rồi cả Bé Năm xuống tuốt luốt dưới  
ngã ba còn nghe được đâu là mùi rác mới đổ,  
đâu là rác để lâu năm mới chớm ngay mũi đã  
nhức bưng đầu” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015:  
tr. 111). Qua những câu chuyện trên, ta nhận  
thấy tác giả Đỉnh khói luôn có cái nhìn ưu ái,  
trân trọng đối với những đứa trẻ côi cút, sớm  
hứng chịu bụi bặm của cuộc đời. Mặc dù hiện  
thực có phũ phàng thì những con người bé nhỏ  
ấy vẫn giữ vững được nhân cách không vẩn đục  
và luôn hướng về chân trời trươi sáng phía  
trước. Tuy còn trẻ tuổi nhưng họ có khát vọng  
sống chân chính, luôn xem tình thương là lẽ  
sống và vươn lên. Đó cũng là bài học giàu tính  
nhân văn mà tác giả muốn nhắn gửi phía sau  
từng trang sách.  
Tình yêu là tinh hoa của cuộc sống, là niềm  
tin hạnh phúc của cuộc đời mà bất kỳ ai cũng  
ước mơ có được. Viết về những nhân vật bé  
mọn, ngòi bút của nhà văn còn hướng về những  
người phụ nữ gặp bất hạnh trong tình yêu. Chỉ  
có tình yêu mới giúp ta nhận rõ được bản chất  
của con người.  
Tuy không mới nhưng câu chuyện tình yêu  
trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Kim Hòa  
luôn có sức lôi cuốn người đọc. Chính vẻ đẹp  
đồng nội của con người và cảnh vật vùng quê  
mình đã làm nên hương vị riêng cho trang viết  
của chị. Con đường đến với tình yêu có muôn  
vàn thử thách, dường như bất cứ ai trên đời cũng  
một lần được nếm vị đắng của nó. Trong đó,  
người được mệnh danh là “phái yếu” bao giờ  
cũng chịu nhiều thua thiệt. Như chuyện tình của  
Mị trong Thiêu thân cánh mỏng. Mị là cô giáo  
dạy tiếng Anh cho Hiện nên khi ngay từ lời ngỏ  
đầu tiên Mị đã từ chối không cần suy nghĩ. Tình  
yêu vốn là kẻ vô hình khi càng lẩn tránh thì nó  
càng hành hạ ta ghê gớm. Cuối cùng Mị trở  
thành người đàn bà sau năm năm ròng rã chơi  
trò cút bắt. Thật ra, Mị rất yêu Hiện nhưng ngại  
với luân lý đạo đức mà Mị giả vờ lạnh nhạt: “Tại  
sao Mị không thể yêu chàng trai này, người đàn  
ông này. Tại sao Mị phải chối bỏ tình yêu này.  
Mị có quyền yêu Hiện chứ. Mọi con người đều  
có quyền yêu và được yêu kia mà” (Nguyễn Thị  
Kim Hòa, 2012: tr.104). Để có Hiện, Mị chấp  
nhận đánh đổi tất cả: “chuyển trường, chuyển  
chỗ ở, cắt đứt liên lạc với bạn bè cũ” (Nguyễn  
Thị Kim Hòa, 2012: tr. 105). Mị cũng chấp nhận  
không cần danh phận, không cần đám cưới,  
không cần lời chúc phúc, Mị chỉ cần “mỗi Hiện  
mà thôi”. Vậy mà ước mơ của cô cũng bất thành  
bởi tình yêu này vốn tồn tại trong giấc mơ mà  
thôi. Câu chuyện khép lại trong dang dở nhưng  
vẻ đẹp tình yêu chân thành của Mị làm người  
đọc suy ngẫm mãi không thôi: “Tình yêu sẽ kết  
thúc bằng một đám cưới, có ba, có mẹ, có biết  
90  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
bao bạn bè chúc phúc. Tình yêu cho Hiện một  
người vợ đáng tự hào, người đường hoàng bước  
bên Hiện dưới những ánh mắt nhìn, hỗ trợ Hiện  
thăng tiến trên con đường mà Hiện đang đi. Vì  
tình yêu đó, chỗ đứng đó Mị chẳng thể nào cho  
Hiện” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 108). Vẻ  
đẹp của lòng tự trọng sẽ giúp Mị đứng lên và  
bước tiếp trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tình  
yêu đích thực là cho chứ không phải là nhận và  
biết dừng lại đúng lúc cũng là biết yêu.  
mình mà còn bộc lộ một trái tim yêu thương cảm  
thông đến tận cùng bao đau khổ của kiếp người.  
Đặc biệt, nhà văn muốn gửi lời chia sẻ với người  
đọc: phải biết sống có trách nhiệm với gia đình,  
phải biết vượt lên đau khổ, thất vọng của bản  
thân và đừng bao giờ làm tổn thương người  
mình yêu thương. Vì yêu thương ai đó thực sự  
là làm cho người ta hạnh phúc. Có làm được như  
vậy thì con người mới sống nhân văn hơn.  
Trân quý, ân tình với quê hương đất nước  
Dù viết về đề tài lịch sử, chiến tranh hay  
người phụ nữ thì Nguyễn Thị Kim Hòa vẫn luôn  
hướng về quê hương bằng cái nhìn đầy tin yêu,  
đôn hậu. Vì mang nặng ân tình này mà thôi thúc  
chị cho ra đời quyển sách Sa mạc và những vệt  
nhớ. Mười chín vệt nhớ trong truyện được chị  
xem như là lời tri ân sâu sắc dành cho vùng đất  
Ninh Thuận - nơi chị sinh ra và lớn lên.  
Hiện lên trên trang viết của tác giả là hình  
ảnh những dòng sông quê hương. Đó cũng là  
con sông Dinh từng xuất hiện nhiều lần trong tác  
phẩm của chị như: Cơn lũ vẫn chưa qua, Lũ về  
sông Dinh, Những kẻ tìm sông. Con sông xinh  
đẹp hiền hòa đã từng đi vào ký ức của bà, của  
mẹ: “Sông Dinh của mẹ còn có bãi cát trắng hơn  
cả màu áo học trò, có những đám khoai, rẫy bắp  
hai bên bờ xanh mướt” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2016: tr. 18). Dù sông luôn gắn bó, tồn tại bên  
cạnh cuộc sống mỗi người vậy mà không ai nhớ:  
“chỉ mùa lụt lội, mưa bão, người ta mới giật  
mình chợt nhớ đến sông” (Nguyễn Thị Kim  
Hòa, 2016: tr. 20). Chỉ đơn giản thế thôi mà sao  
ta cảm nhận nỗi buồn tràn ngập dòng sông. Nỗi  
buồn cho những con người vì mãi đuổi theo  
danh lợi mà quên đi những kỷ niệm ngọt ngào  
của tuổi thơ: “Con người giờ trăm ngàn thứ để  
nhớ. Nhớ lợi nhuận, cơ hội. Nhớ đấu đá, giành  
giật. Hơi sức nào đem nhớ cho ba thứ xa xỉ như  
sông” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2016: tr. 17). Để  
rồi khi mệt mỏi, ta chợt nhận ra mình không có  
gì làm điểm tựa trong cuộc đời. Vậy nên mọi  
người hãy sống chậm lại, yêu thương nhiều hơn  
để cuộc sống luôn tràn đầy niềm vui.  
Còn Biển khóc là câu chuyện tình đầy bi kịch  
của con người. Tình yêu giữa hai người vốn đã  
quá nhiều rắc rối, vậy thì cuộc tình tay ba làm  
sao có kết thúc đẹp. Hậu quả của bi kịch là cả ba  
người đều bị lương tâm cắn rứt suốt đời. Một  
người vì hối hận đã trở thành người điên, một  
người thì mang “gương mặt nát sẹo” với một  
đứa con sáu tuổi chưa một lần gọi được tiếng  
“cha ơi”, một người thì ra đi mãi mãi không về.  
Câu chuyện cũng là bài học về cách ứng xử  
trong tình yêu cho giới trẻ hôm nay. Khi tình yêu  
không thành hoặc không được đáp lại thì lăng  
mạ nhau, hãm hại nhau, thậm chí có người còn  
nhẫn tâm cướp đi sinh mạng của người mình  
yêu. Đấy không phải là tình yêu, vì tình yêu thực  
sự không bao giờ chấp nhận sự ích kỷ và tàn  
nhẫn. Tình yêu vốn gắn liền với lòng chung  
thủy, vị tha và đức hi sinh. Điều này thật khác  
với tình yêu của Ngọc trong Giữa vùng nắng  
gió. Ngọc và Nam ở cạnh nhà nhau, “từ nhỏ đến  
lớn hai anh chị lúc nào cũng kết thành một cặp”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 73). Từ ngày  
Nam lên thành phố học, việc nhà của Nam một  
tay Ngọc lo hết. Đến ngày Nam thành đạt cũng  
là lúc tình yêu họ kết thúc. Ngày cưới Nam,  
Ngọc không sang, không oán trách Nam lời nào:  
“Trong nhà tiếng võng chị Hai nằm đưa kẹt kẹt,  
tóc đen dài Hai thả đung đưa theo nhịp võng,  
đung đưa cả nỗi buồn” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2012: tr. 78). Cũng là một chuyện tình dang dở  
nhưng nỗi đau không được nhà văn miêu tả một  
cách dữ dội, chỉ là nỗi buồn đung đưa mà sao  
khiến ta nặng trĩu trong lòng.  
Viết về những con người có số phận bất hạnh  
nhỏ bé, tác giả không chỉ thể hiện sự am hiểu  
sâu sắc về cuộc sống của con người xung quanh  
Tình yêu quê hương của người viết còn được  
gửi gắm qua nhân vật người mẹ trong Tiếng đất.  
Một người mẹ cả đời dành trọn tình yêu cho con  
91  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
và cho đất: “Đất là máu, là thịt, là nước mắt”.  
“Đất cũng là mẹ” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015:  
tr. 47). Đất là nơi chở nặng ân tình của người mẹ  
cả đời lam lũ. Đất là nơi che chở cho ba đứa con  
trai của mẹ lớn khôn: “Kệ đi. Có nằm đất, ăn cát  
lớn lên thì tụi nó mới biết thương, biết quý đất  
chớ!” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015: tr. 31). Vậy  
mà không đứa con nào biết quý đất: “không đứa  
con nào cùng bà giữ đất. Thằng con đầu bán cả  
vạt cát đỡ lấy nó lúc chào đời. Thằng con thứ  
hai đổi những trận độ gà, chiếc xe xịn bằng  
khoảng đất đã bọc nó ngủ vùi… Thằng con út…  
Đứa con duy nhất không động vào một tấc đất.  
Lại không phải vì yêu thương, gìn giữ mà chỉ là  
vì nó không cần, không tha thiết. Dù với nơi đã  
nuôi nó lớn” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015: tr.  
46). Trước sự vô tình của con, người mẹ bất đắc  
dĩ phải mượn linh hồn người chồng đã mất để dạy  
con: “Đất là thịt. Là máu. Bán, tao cấm! Mày…”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015: tr. 41). Người mẹ  
đáng thương ấy còn nghe được cả âm thanh rên  
xiết, giận dữ của đất. Nhưng dường như, mọi cố  
gắng của người mẹ không thể thay đổi được. Như  
vậy, đằng sau câu chuyện tình mẫu tử, nhà văn  
còn khái quát được một vấn đề mang tính triết lý.  
Đó chính là tình cảm đối với quê hương, với cội  
nguồn trong trái tim của mỗi người con. Tiếng  
đất cũng như là tiếng mẹ. Đất và mẹ luôn hòa  
nguyện vào nhau thành một. Thế nên mỗi người  
hãy trân trọng, hãy cống hiến tài năng để cho quê  
hương, xứ sở ngày càng giàu mạnh.  
lành chất phác, trong sáng, luôn lấy chữ  
“thương” và chữ “nghĩa” làm trọng. Đó là ông  
Năm trong câu chuyện Tái sinh. Ông đã cứu một  
người phụ nữ bị bọn đàn ông phá rừng hãm hại.  
Nếu không có ông cứu thì người phụ nữ ấy chắc  
chắn sẽ chết. Những tháng ngày gần gũi, người  
phụ nữ nhận ra mình yêu ông. Cô mạnh dạn bày  
tỏ trước, nào ngờ ông quyết liệt từ chối tình yêu  
của cô: “Nhưng mặt lại giần giật vẻ giận dữ lẫn  
bàng hoàng khi cô bất thình lình ôm riết lấy ông  
từ phía sau, hổn hển hơi thở trẻ trung khao khát.  
Thật dữ dội, ông gạt tay cô bước ra ngoài”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 64). Rồi ông  
Năm còn cất công tìm một chàng rể tốt cho cô,  
chỉ mong sao cô được hạnh phúc. Nào ngờ, gia  
đình tan vỡ, cô mang thêm một nỗi đau trong  
cuộc đời mình. Nhưng đổi lại từ đây cô có một  
tình yêu vĩ đại hơn - tình phụ tử thiêng liêng.  
Tình yêu ấy sẽ tái sinh và đưa mẹ con cô đến  
một cuộc đời mới, nhiều hy vọng hơn: “Ông sẽ  
bất ngờ và vui lắm khi lại nhìn thấy Mắt Đen -  
một Mắt Đen tái sinh còn bé xíu, lại còn biết bú  
sữa bình, và một cô - tái sinh trên ngọn lửa lòng  
đang tắt” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 70).  
Còn đến Cơn lũ vẫn chưa qua, ta thật sự ấn  
tượng trước tấm lòng tốt bụng, sẵn sàng giúp đỡ  
hàng xóm láng giềng khi hữu sự của bà Năm. Bà  
chuyên làm nghề đỡ đẻ cho người nghèo. Ngày  
chị Xảo mất chính bà Năm là người đã khóc  
thương và tiễn chị đến nơi an nghỉ cuối cùng.  
Thỉnh thoảng, bà còn giúp Dương “kỳ cọ những  
vệt phẩm màu giả ghẻ lở bám xanh đỏ hết tay  
chân” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2014: tr. 24).  
Cũng chính bà Năm dẫn Dương đến trường để  
được học: “Dạ, nhà khổ quá cô. Không cha, mẹ  
nó lại khùng khịu, cậu mợ nó không ai lo…”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2014: tr. 26). Nào ngờ,  
khi mợ biết, không một lời cảm ơn mà còn oán  
trách bà: “Đèn nhà ai nấy sáng, trán nhà ai nấy  
xỉ. Thím rảnh thím xỉ đầu con cháu nhà thím. Ai  
mượn thím dài tay!” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2014: tr. 26). Nếu không có những người như bà  
Năm thì cuộc sống này thật đáng buồn. Cuộc  
sống của người miền quê tuy nghèo về vật chất  
nhưng cái tình, cái nghĩa lại đầy ắp trong mỗi  
con người, mỗi xóm làng Việt Nam. Đây cũng  
Bên cạnh dòng sông, ta còn bắt gặp một ngôi  
nhà cũ, một bụi ớt, một gốc mãng cầu… tất cả  
đều hiện diện hữu hình, thân thương. Không  
những thế, nhà văn miền sa mạc còn khắc sâu  
tình cảm của mình qua các món ăn dân dã quê  
nhà như: bánh canh, lá xào dông, bánh tráng…  
Đâu cần đợi đi xa mới nhớ, chị vẫn sống tại quê  
hương mình mà nỗi nhớ luôn cồn cào, day dứt  
không thôi. Bằng những hình ảnh bình dị, gợi  
cảm của thiên nhiên, của sản vật miền quê, tác  
giả đã đem đến cho ta một cái nhìn yêu thương  
và trân trọng đối với xứ sở Phan Rang.  
Viết về quê hương, trang văn của Nguyễn  
Thị Kim Hòa dành nhiều cho những con người  
đậm đà chất chân quê. Họ sống ở nông thôn hiền  
92  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
là một nét đẹp mộc mạc, dung dị không thể  
nhầm lẫn với bất cứ dân tộc nào trên thế giới.  
Thời gian lặng lẽ trôi qua, cuộc sống bộn bề  
lo toan làm ta lãng quên nhiều thứ, thế nhưng  
những ký ức tuổi thơ luôn có sức sống lâu bền  
nhất trong mỗi con người. “Chính những kỷ  
niệm hồn nhiên thời thơ ấu thường lại để nhiều  
ấn tượng sâu sắc nhất. Nó sẽ theo đuổi người  
cầm bút trong suốt cả cuộc đời sáng tác”  
(Nguyễn Đăng Mạnh, 1994: tr. 48).  
dòng ký ức về tình bạn tuổi học trò. Nhờ có bạn,  
chị mới hiểu, được biển “mênh mông lắm, hiền  
hòa mà cũng đáng sợ lắm. Biển cho gia đình nó  
những ngày ấm no từ con thuyền ba ăm ắp cá.  
Biển hòa cùng lời mẹ ru giấc nồng cho anh em  
nó từ lúc nằm nôi… Nhưng… biển cũng thật tàn  
nhẫn biết bao khi để thuyền ba nó mãi mãi  
không trở về sau một cơn bão lớn” (Nguyễn Thị  
Kim Hòa, 2016: tr. 103). Người bạn ấy còn  
mang đến cho tác giả một tình yêu biển mãi  
không bao giờ phai. Tình yêu ấy đã đỡ chị đứng  
lên sau mỗi lần vấp ngã và giữ vững một niềm  
tin trong cuộc đời mình: “Chỉ biết mỗi lần từ  
biển trở về là một lần tôi như được tiếp thêm sức  
mạnh, để tự mình đứng dậy từ những khó khăn,  
để chiến thắng con người yếu đuối trong tôi mà  
vững vàng bước tiếp, không bao giờ vấp ngã”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2016: tr. 104).  
Những kỷ niệm thời thơ ấu được Kim Hòa  
nhắc đến nhiều lần trong: Những kẻ tìm sông,  
Biển của một thời, Thơ bé xa xưa, Có nỗi nhớ  
mang tên… bánh tráng. Đó là những buổi chiều  
lộng gió được ngồi quây quần nghe mẹ kể  
chuyện sông: “Đám tụi nội ngày xưa hả, quậy  
lắm! Toàn hái trộm khoai, bắp rẫy người ta ra  
bờ sông nướng!” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2016:  
tr.18). Chen vào giữa câu chuyện là những trận  
cười hồn nhiên của đám trẻ nhỏ. Hay những lần  
về thăm quê ngoại vào mỗi dịp nghỉ hè, chỉ có  
một đoạn đường bảy cây số mà sao quá nhiều kỷ  
niệm: “Tôi nắm chặt tay mẹ, vừa lội cát vừa chơi  
trò xóa đuôi con rắn. Có lúc chưa kịp giơ chân,  
gió đã giành phần, xô đám cát xung quanh ụp  
lên ngay trước chân tôi. Tiếc ngẩn ngơ”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2016: tr. 46). Rồi khi  
nghỉ chân dưới bóng cây bạch đàn, chị được mẹ  
“tẩn mẩn lột vỏ cho tôi khi thì củ khoai, khi trái  
chuối luộc… chốc chốc lại được ba đưa cho  
bình nước, bưng khà một hơi như ông cụ”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2016: tr. 47). Với nhà  
văn xứ Phan, đêm quê ngoại đầy tĩnh lặng  
nhưng tuyệt diệu vô cùng. Còn gì thích bằng khi  
được nghe giọng đọc thơ trầm ấm của ông  
ngoại: “Ông đọc say sưa. Những bài thơ tôi biết  
và chưa biết. Những bài thơ buồn như nỗi lòng  
ông giáo già da diết trong hoài niệm về những  
tháng ngày cũ” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2016: tr.  
48). Hoặc những lúc ăn bánh tráng là kỷ niệm  
với bà ngoại ùa về. Người bà một thời làm nghề  
tráng bánh để nuôi sống gia đình, đến lúc tuổi  
già vẫn chưa quên hương vị ấy: “Mùi bột gạo  
xem vậy mà quấn quýt ám lấy ngoại, cả đời  
không quên được” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2016: tr. 122). Còn truyện Biển của một thời là  
Những hoài niệm về quê hương, tuổi thơ  
trong các sáng tác của Nguyễn Thị Kim Hòa  
mang đậm bản sắc của vùng “sa mạc nắng”. Hồn  
đất, hồn người cùng những kỷ niệm thân thương  
luôn trở thành nguồn cảm hứng trong trang văn  
của cây bút trẻ giàu nghị lực này.  
Nhiệt thành phê phán những mặt trái của  
cơ chế xã hội, nhân tình  
Trong những truyện viết về nỗi bất hạnh của  
các em nhỏ, Nguyễn Thị Kim Hòa còn nhiệt  
thành phê phán thái độ vô trách nhiệm của các  
bậc làm cha mẹ đối với con cái. Chính sự thiếu  
quan tâm của bố mẹ đã làm cho các em phải chịu  
nhiều tổn thương trong cuộc đời và dẫu cho  
người lớn có ăn năn thì cũng không bao giờ bù  
đắp được.  
Trong câu chuyện Đi qua mùa gió, suốt cả  
quãng đời tuổi thơ, chị Hai luôn sống trong nỗi  
đau bị ba bỏ rơi. Tuy không nhắc đến nhưng chị  
biết vết thương lòng này vẫn mãi không lành:  
“Mẹ không một lần nhắc về ba từ sau buổi trưa  
ấy đến cuối cuộc đời mình. Chị cũng không  
nhắc. Sợ sẽ lại thấy những sợi gió mang vết  
thương ngỡ cũ nhưng chưa hề khép miệng”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 13). Ngày mẹ  
mất, người cha ngày nào tìm về ngôi nhà cũ  
nhưng sự trở lại của ông không thể sưởi ấm lại  
ngọn lửa tình phụ tử vốn đã tắt từ lâu: “Ngôi nhà  
93  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
chị em chị đã quen rồi chỗ trống của một người  
cha. Sự trở về muộn màng không cứu vãn được  
những gì đã bị thổi tung đi trong mùa gió tràn  
năm cũ” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 13).  
Phải chăng cũng vì sự tổn thương ấy mà chị Hai  
quyết định từ chối quyền làm vợ và sẵn sàng  
chấp nhận mang tai tiếng “không chồng mà lại  
có con”: “Chắc chị cũng chẳng cần tìm cho Bo  
một người cha. Biết đâu rồi cũng như mẹ, để vệt  
buồn kéo lê cái đuôi dài nặng trịch quét đến hết  
cuộc đời mình, quét sang cả cuộc đời con”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2012: tr. 18). Thế mới  
biết chính sự vô tâm của cha mẹ không những  
cướp đi cuộc sống tốt đẹp mà còn giết chết hạnh  
phúc, tương lai tươi sáng của con trẻ.  
Còn ở câu chuyện Chung dòng, nhà văn cũng  
nêu lên một thực trạng đau lòng. Gia đình tan vỡ  
thường để lại nhiều nỗi đau mất mát cho con trẻ  
là điều không tránh khỏi. Đó cũng là câu chuyện  
buồn của hai chị em sinh đôi Phiên - Hiên, ba  
mẹ ly hôn, Phiên là chị ở lại với ba còn em gái  
là Hiên thì đi theo mẹ. Từ đây, tuổi thơ của Hiên  
là những ngày tháng lớn lên trong nước mắt, ba  
mãi bận bịu với giàn nho còn mẹ kế thì không  
bao giờ quan tâm đến Phiên. Nhiều lần Phiên bị  
anh trai là con riêng của mẹ kế ức hiếp, Phiên  
cầu cứu mẹ nhưng đáp lại Phiên là sự im lặng  
rất tài tình: “Và nếu má không thích thỉnh  
thoảng đáp lại Phiên bằng sự im lặng rất tài”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015: tr. 53). Năm Phiên  
16 tuổi, “Phiên đạp lăn rầm vào cửa thằng con  
trai 18 tưởng Phiên ngủ len lén vạch mùng”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015: tr. 54). Sau đó, mẹ  
kế giả vờ rủa Xin nhưng khi ba vừa đi khỏi, mẹ  
lại nói: “Anh giỡn có chút xíu mà con tính đạp  
cho nó đập đầu chết hả con?” (Nguyễn Thị Kim  
Hòa, 2015: tr. 54). Nhưng nỗi đau này có đáng  
là gì so với nỗi đau năm Phiên 13 tuổi. Gặp lại  
người mẹ từng mang nặng đẻ đau, niềm vui  
chưa kịp thốt lên lời, Phiên đã thấy: “Ánh mắt  
lạnh quét hết Phiên sang đứa em gái thò lò mũi  
Phiên nách một bên hông. Rồi cánh cửa sắt sập  
một tiếng rầm. Trên đường về, ngó cái bóng nhỏ  
nhoi mình xiêu đổ dưới bóng chiều, Phiên nghĩ:  
giá mà có một cơn gió nhỉ. Cơn gió cuốn cái  
bóng mỏng tang như chiếc lá vèo xuống lòng  
sông” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015: tr. 57, 58).  
Tại sao mẹ ruột lại tuyệt tình với Phiên? Tại sao  
người lớn không chịu tha thứ cho một đứa trẻ  
con: “Mày giúp người ta giựt chồng của mẹ mày  
thì đi mà ở với người ta” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2015: tr. 61). Phải chăng chính sự vô tình, cố  
chấp của người lớn mà hai chị em Phiên - Hiên  
một lần nữa gánh chịu mất mát trong cuộc đời.  
Hiên ôm con về nhà mẹ đẻ, còn Phiên quyết định  
ở vậy để chia sẻ nỗi đau cùng em gái: “Nhất định  
Phiên sẽ không để điều đó xảy ra. Bên cạnh  
Hiên, nhất định Phiên sẽ cho đứa cháu bé bỏng  
này một gia đình. Một gia đình chỉ có yêu  
thương. Không phản bội, không thù hằn, tiếc  
nuối. Một gia đình có thể không có ba. Nhưng  
bù lại sẽ có hai người mẹ” (Nguyễn Thị Kim  
Hòa, 2015: tr. 62). Kết thúc câu chuyện cũng là  
thông điệp giàu tính nhân văn của tác giả: “Có  
những người lớn biết tha thứ cho trẻ con và cả  
cho nhau” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2015: tr. 62).  
Những câu chuyện trên cũng chính là lời  
thức tỉnh của Nguyễn Thị Kim Hòa dành cho  
các bậc cha mẹ. Bởi lẽ, được làm cha, làm mẹ là  
niềm hãnh diện, hạnh phúc lớn nhất trên thế gian  
này. Chẳng gì có thể đánh đổi được tình cảm của  
cha mẹ đối với con cái. Thế nên, các thành viên  
trong gia đình hãy yêu thương, tin tưởng và tha  
thứ cho nhau để mái ấm gia đình mãi mãi là bến  
đỗ bình yên cho mọi người trong suốt cuộc đời.  
Hãy trân trọng, nâng niu, nuôi dưỡng hạnh phúc  
gia đình và đừng bao giờ vì yêu thương mà lại  
làm đau chính mình và những người mình yêu  
quý nhất.  
Số phận bi ai của người phụ nữ hiện lên trên  
trang viết của Nguyễn Thị Kim Hòa đâu chỉ có  
đau khổ vì nghèo, vì bất hạnh trong tình duyên,  
mà họ còn gánh chịu nhiều nỗi cay đắng do  
những tập tục cổ hủ gây ra.  
Tập tục cổ hủ đã làm khổ biết bao người phụ  
nữ vô tội. Với quan niệm “Nhất nam viết hữu,  
thập nữ viết vô”, người phụ nữ Việt Nam đã bị  
đẩy xuống địa vị thấp nhất trong thời gian qua.  
Thế nên, trong truyện Cơn lũ vẫn chưa qua,  
người đọc hiểu được vì sao ngày Dương chào  
đời, người mợ đã dửng dưng đứng bịt mũi ngoài  
cửa sổ cười chê: “Rồi !... Làm gì không làm lại  
94  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
đi làm giống nằm ngửa cho lũ đàn ông chơi!”  
(Nguyễn Thị Kim Hòa, 2014: tr. 12). Dưới chế  
độ cũ, người phụ nữ còn bị cấm không cho đi  
học, Hướng Dương cũng vậy, tám tuổi vẫn chưa  
có giấy khai sinh, một cái tên đầy đủ họ cũng  
không. Rồi quan niệm về “chữ trinh” đã làm khổ  
biết bao người con gái. Trước ngày lấy chồng,  
người con gái có yêu ai thì không được đánh mất  
“chữ trinh”. Trong Cơn lũ vẫn chưa qua, nếu  
Thụ không biết rõ Hướng Dương còn trong  
trắng thì chắc gì cô được làm vợ Thụ: “Thấy  
chưa… Đàn ông thực ra vẫn thích lắm được làm  
chủ đốm hoa chấm màu trinh trắng” (Nguyễn  
Thị Kim Hòa, 2014: tr. 63, 64). Khi gia đình  
không hạnh phúc, bao giờ người phụ nữ cũng bị  
gia đình chồng kết tội. Mẹ chồng Hướng Dương  
cũng thế, biết con trai mình hư hỏng, say khướt  
cả ngày, bà không khuyên dạy được nửa lời. Đã  
thế, bà còn đổ lỗi cho con dâu: “từ khi bước vào  
nhà là đem xui đem rủi, làm hại làm hư con trai  
duy nhất của bà” (Nguyễn Thị Kim Hòa, 2014:  
tr. 94). Đại diện cho thành kiến trong câu  
chuyện không phải ai xa lạ mà chính là mẹ Thụ.  
Trên đời này không có ai là người hoàn hảo,  
có chăng chỉ là sự tự đề cao mình mà thôi. Ai  
cũng có quá khứ nhưng đâu phải ai cũng may  
mắn, hạnh phúc có một quá khứ đẹp và trong  
sạch. Vậy mà, cái lý do Hướng Dương bị chồng  
từ chối quyền làm vợ, làm mẹ chỉ vì quá khứ:  
“Tôi gửi đơn lên tòa là để nhờ luật pháp giải  
quyết cho rõ ràng. Tôi đồng ý cho cô ta ẵm con  
trai tôi đi vì nó còn nhỏ quá, cần có mẹ. Còn con  
gái tôi, cháu đang tuổi ăn tuổi lớn, sống với một  
người mẹ quá khứ phức tạp như cô ta lỡ cháu bị  
ảnh hưởng thì sao” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2014: tr. 94). Đúng là Dương có tội: “Tội lớn  
nhất của Dương là trốn chạy. Dương phải làm gì  
đây khi thứ Dương muốn chạy trốn đó đã đuổi  
ngay đến chân Dương. Và giờ người ta đang  
dùng nó để tấn công Dương, tước con gái  
Dương ra khỏi tay Dương” (Nguyễn Thị Kim  
Hòa, 2014: tr. 95). Phải chăng vì thành kiến tàn  
nhẫn ấy đã giết chết ước mơ, khát vọng của một  
người phụ nữ đáng thương. Dương phải trả một  
cái giá quá đắt cho cái gọi là “quá khứ”. Hay  
chính những người làm cha, làm mẹ ấy đã góp  
phần nuôi dưỡng những tập tục bất công, góp  
phần làm khổ người phụ nữ.  
Cho đến hôm nay, người đời vẫn còn lắm  
thành kiến. Họ cho rằng những cô gái làm nghề  
“bán hoa” đều là kẻ bay bướm, bạc tình. Và  
không cần phân biệt ai tốt, ai xấu, hễ người nào  
làm cái nghề này luôn bị xã hội khinh miệt, cười  
chê. Nếu cô gái nào có người yêu cũng chưa  
chắc được gia đình chàng trai chấp nhận cưới.  
Như trong truyện Cơn lũ vẫn chưa qua, khi biết  
anh Cộc yêu chị Xảo, ba mẹ anh Cộc bảo rằng:  
“Mày lụi tao với với mẹ mày chết tươi đi rồi hãy  
qua rước đĩ về nhà!” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2014: tr. 18). Câu nói của cha mẹ anh Cộc chính  
là phát ngôn cho thành kiến xã hội.  
Ngoài Cơn lũ vẫn chưa qua, truyện ngắn của  
Nguyễn Thị Kim Hòa còn xuất hiện rất nhiều  
người phụ nữ sống bằng nghề buôn hương bán  
phấn như: Ven sông, Tái sinh, Thôi mùa cỏ cháy.  
Tuy mỗi người có hoàn cảnh sống khác nhau  
nhưng họ đều có điểm chung là tứ cố vô thân,  
nghèo khổ song hết thảy đều có tấm lòng nhân  
ái, sống tình cảm, ước mơ đẹp đáng để chúng ta  
trân trọng. Họ thật sự đáng thương hơn đáng  
trách. Suy đến cùng, họ không có lỗi, mại dâm  
cũng không phải là lỗi của người phụ nữ nhưng  
định kiến xã hội bao đời nay vẫn chưa buông tha  
cho họ. Chính xã hội với những mặt trái, những  
bất công của chế độ nam quyền, phụ quyền đã  
xô đẩy người phụ nữ và buộc họ làm cái nghề  
đáng khinh bỉ này.  
Đằng sau số phận của Hướng Dương, Xảo,  
Bèo, Mén, nhà văn lên án gay gắt những phong  
tục, lễ giáo cổ hủ đã đối xử bất công với người  
phụ nữ. Đồng thời nhà văn đã cho chúng ta thấy  
được khoảng tối trong tâm hồn những con người  
lỡ sa chân vào cái nghề lắm bạc bẽo này. Từ đó  
người viết kín đáo gửi gắm sự yêu thương và  
chia sẻ với họ. Đây cũng là cái tâm của một  
người cầm bút mà từ những tác phẩm đầu tiên  
chúng ta có thể cảm nhận được ở cây bút trẻ xứ  
Phan Rang.  
Cảm hứng nhân văn - dấu văn Nguyễn Thị  
Kim Hòa trong đời sống văn học trẻ Việt  
Nam đầu thế kỷ XXI  
Trong nền văn học Việt Nam trung đại, tác  
95  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
giả nữ rất hiếm hoi: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện  
Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm… Sang đầu thế kỷ  
XX, các nhà văn nữ vẫn vắng bóng trên văn đàn  
bởi quan niệm phong kiến hà khắc, người phụ  
nữ bị trói buộc bởi bổn phận làm mẹ, làm vợ. Ở  
giai đoạn 1930 – 1945, người phụ nữ cũng bị chi  
phối bởi hoàn cảnh xã hội, đất nước chiến tranh  
nên sáng tác văn học ưu thế vẫn thuộc về các  
nhà văn nam như Thạch Lam, Nam Cao, Ngô  
Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,… Nhưng đến 1945 -  
1975 một số cây bút nữ đã khẳng định được vị  
thế trên văn đàn: Vũ Thị Thường, Lê Minh  
Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Tú,… Sau năm 1975,  
xuất hiện nhiều nhà văn nữ tên tuổi như: Võ Thị  
Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đoàn Lê, Phạm Thị  
Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Dạ ngân, Y Ban,  
Nguyễn Ngọc Tư… mà phần lớn tài năng văn  
chương của họ được khẳng định qua những giải  
thưởng, tạo ấn tượng sâu đậm trong tâm trí bạn  
đọc. Nhiều tác phẩm đã công khai “danh tính”  
của giới nữ ngay từ nhan đề: Hành trang người  
đàn bà Âu Lạc (Võ Thị Hảo, 2015), Người đàn  
bà ám khói (Nguyễn Thị Thu Huệ, 2006), Người  
đàn bà bơi trên sóng (Bích Ngân, 2011)…  
Hầu hết, thế hệ nhà văn nữ sau 1975 tỏ ra  
năng động. Nhà văn Văn Giá cho rằng: “Cái tôi  
trong văn học nữ hôm nay là cái tôi đa diện, đã  
ngã”. Hơn ai hết, họ đến với văn chương “như  
một sự lắng nghe, một sự thấu hiểu. Vì đó chính  
là tiếng lòng của họ, là những khát khao tự giải  
phóng bản thân mình” (Phùng Gia Thế và cộng  
sự, 2016: tr. 278).  
Đáng mừng là bước sang thế kỷ XXI, bên  
cạnh những cây bút quen thuộc, văn đàn nước ta  
được tiếp thêm sức trẻ bởi các nhà văn thuộc thế  
hệ 8X. Các tác giả này đã có hàng loạt truyện  
ngắn được xuất bản làm cho đời sống văn học  
sôi động hẳn lên như: Nguyễn Anh Đào - Chỉ  
cần em biết khóc, Đỗ Đức Anh - Những sắc màu  
của gió, Ngô Thị Hạnh - Khúc hát giờ kẹt xe,  
Trương Thanh Thùy - Một nửa của tình yêu,  
Nguyễn Thị Hải - Quả đồi phía Tây, Tiểu Quyên  
- Con tàu đi tìm sân ga… Trong những nhà văn  
ấy thì Nguyễn Thị Kim Hòa được bạn đọc gần  
xa biết đến nhiều hơn, mặc dù chị không tham  
gia những phong trào mới thời thượng về sáng  
tác, về cách tân theo khuynh hướng trào lưu như  
các nhà văn trẻ cùng thời. Nguyễn Thị Kim Hòa  
cũng tiếp thu cái mới của văn học hiện đại (nữ  
quyền) nhưng chủ yếu là về những người phụ  
nữ xung quanh: “Những người thân yêu ruột  
thịt, bạn bè, hàng xóm, những người quen sơ  
hay cả những người chưa gặp một lần. Tất cả họ,  
dù khác nhau về hoàn cảnh sống, gia đình hay  
vị trí xã hội, vẫn có chung nhau một khát khao  
cháy bỏng khôn cùng về hạnh phúc” (Nguyễn  
Thị Kim Hòa, 2012: tr. bìa).  
Nguyễn Thị Kim Hòa sáng tác nhiều thể loại:  
truyện dài, truyện ngắn, tản văn nhưng lĩnh vực  
truyện ngắn đã đem đến thành công và hình  
thành nên văn phong đặc biệt cho chị. Dù viết  
về đề tài thế sự, chiến tranh hay lịch sử, cây bút  
trẻ đều khẳng định được dấu văn của mình trên  
văn đàn.  
Ở đề tài thế sự, nhà văn viết về những vấn đề  
gia đình, xã hội đương thời, gắn với không gian  
của vùng đất Ninh Thuận. Tác giả đã khẳng định  
những câu chuyện được kể luôn “có xen lẫn cả  
biển, cả cát, cả cái gió như “phan” và nắng như  
“rang” của vùng đất quê tôi. Những câu chuyện  
mà hình như đau đáu trong đó cả những khao  
khát của chính tôi…” (Nguyễn Thị Kim Hòa,  
2012: tr. bìa). Nhân vật trong truyện của nhà văn  
sa mạc thuộc nhiều thành phần trong xã hội:  
người mẹ, người vợ, người chị lao động ở miền  
quê, các em sinh viên, học sinh, thầy, cô giáo,  
ông già chăn cừu, anh thợ hớt tóc, các chị tiếp  
viên, bà chủ quán… Hiện lên trong mỗi câu  
chuyện là vẻ đẹp của cảnh vật thiên nhiên, cuộc  
sống của người dân lam lũ chất phác ở vùng đất  
có khí hậu đầy khắc nghiệt để từ đó chúng ta  
thông cảm cho những gian khổ trong việc mưu  
sinh cũng như khâm phục được tinh thần lạc  
quan, vượt lên hoàn cảnh của họ.  
Ở đề tài chiến tranh, Nguyễn Thị Kim Hòa  
đã mở ra một điểm nhìn khác cho người đọc.  
Mượn hiện thực từ thân phận người phụ nữ để  
cảm nhận cuộc chiến, nhà văn trẻ đã làm nổi bật  
những bi kịch đau thương - mất mát mà trước đó  
văn học chưa đề cập đến. Đó là nỗi đau ghê gớm  
của người chị có hai em trai đối đầu nhau trong  
cuộc chiến. Đó là tâm tư của một cô gái làng  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
chơi đêm đêm hứng chịu biết bao tiếng khóc của  
những kẻ đàn ông ở “phía bên kia”. Hay nỗi ám  
ảnh chiến tranh đã làm cho một người con gái  
“mỗi lần nhìn về quê hương chỉ thấy kinh sợ,  
thấy đau đớn”. Bằng cảm hứng nhìn thẳng, nói  
thực về cuộc chiến tác giả đã mang đến cho độc  
giả cảm nhận mới mẻ, đầy đủ về cái tàn nhẫn  
chiến tranh. Chiến tranh đâu chỉ tàn phá thể xác  
mà còn có cả tâm hồn. Những chiến công oanh  
liệt, những danh vị cao sang cũng không thể bù  
đắp được quyền lợi thiêng liêng của mỗi con  
người. Đó là quyền: làm chồng, làm cha, làm  
vợ, làm mẹ… Từ đây nhà văn đã phát hiện và  
thông cảm với những số phận bất hạnh của họ.  
Qua đó nhà văn đã tiến thêm một bước nữa trong  
sự nghiệp của mình.  
Khi tập truyện viết về đề tài lịch sử Con chim  
phụng cuối cùng ra đời, dấu ấn của Nguyễn Thị  
Kim Hòa hiện ra đậm nét. Bằng chất liệu hiện  
thực quê hương - vương quốc Champa thuở nào  
kết hợp với thế mạnh thân phận giới của mình,  
tác giả đã tái dựng nên chín bức chân dung lịch  
sử chân thực và sinh động. Thông qua những  
câu chuyện ấy mà người đọc hiểu thêm về bi  
kịch của những người phụ nữ chốn nội cung. Họ  
chỉ là “con cờ” của “trò chơi quyền lực”. Dù thời  
bình hay thời chiến, dù hoàng hậu hay thường  
dân cuối cùng cũng có kết cục giống nhau. Từ  
bi kịch chốn hậu cung người viết muốn cảm  
thông, chia sẻ với nỗi đau của người xưa đồng  
thời gửi gắm bài học kinh nghiệm sống cho  
người đời nay.  
bi kịch nhưng trên tất cả họ sống với tâm hồn  
đầy nữ tính làm tròn trách nhiệm của một người  
làm mẹ, làm chị. Đằng sau mỗi trang viết là  
những trăn trở, suy tư nghiêm túc của nhà văn  
về cuộc đời về lẽ sống đầy sâu sắc.  
Kết luận  
Sự trân quý đối với quê hương xứ sở, sự yêu  
thương, trăn trở cho những phận người bé mọn  
và thái độ phê phán nhiệt thành những mặt trái  
của cơ chế xã hội, nhân tình vốn là nguồn cảm  
hứng chủ đạo trong sáng tác của cây bút vùng sa  
mạc. Đó cũng là tiếng nói cất lên từ trái tim, từ  
tiếng lòng tha thiết của nhà văn trẻ đầy lương  
tâm, trách nhiệm với cuộc đời. Những câu  
chuyện của chị dù viết về đề tài nào cũng hướng  
đến những tình cảm tốt đẹp như: tình mẫu tử  
thiêng liêng, tình anh em máu mủ, tình vợ chồng  
chung thủy, tình bạn keo sơn… Tất cả đều là  
những vấn đề quan trọng và luôn có giá trị vĩnh  
cửu đối với sự tồn vong của con người và xã hội.  
Với cảm hứng độc đáo này, Nguyễn Thị Kim  
Hòa đã có những đóng góp tích cực cho nền văn  
học Việt Nam đương đại đồng thời định hình  
được dấu văn của mình trên văn đàn.  
Tài liệu tham khảo  
Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương (1995).  
Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ. Hà Nội,  
Nxb Giáo dục, tr.118.  
Võ Thị Hảo, Phương Diệp, Nguyễn Thị Thu Huệ,  
Đỗ Bích Thủy và Di Li (2015). Truyện ngắn  
5 tác giả nữ. Nxb Văn học.  
Nguyễn Thị Kim Hòa (2012). Nho đắng (Truyện  
ngắn). Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa - Văn  
nghệ.  
Nguyễn Thị Kim Hòa (2014). Cơn lũ vẫn chưa qua  
(Truyện dài). Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa  
- Văn nghệ.  
Nguyễn Thị Kim Hòa (2015). Đỉnh khói (Truyện  
ngắn). Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa - Văn  
nghệ.  
Nguyễn Thị Kim Hòa (2016). Sa mạc và những vệt  
nhớ (Tản văn). Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Văn  
hóa - Văn nghệ.  
Có thể thấy ngôn từ trong hầu hết sáng tác  
của Nguyễn Thị Kim Hòa từ ngôn ngữ dẫn  
chuyện đến ngôn ngữ nhân vật đều mang nét đặc  
trưng của đất và người vùng nắng gió: “ Nguyễn  
Thị Kim Hòa đem được cái gân guốc dữ dội của  
cuộc sống vào con chữ…” (Nguyễn Thị Kim  
Hòa, 2012: tr. 9). Số lượng từ ngữ vùng đất Nam  
Trung bộ được nhà văn sử dụng khá lớn trong  
tác phẩm của mình. Chính đặc điểm này đã tạo  
cho truyện ngắn của cây bút xứ Phan Rang một  
văn phong riêng biệt mang đậm dấu ấn cá nhân.  
Dù viết về đề tài nào, văn xuôi của Nguyễn  
Thị Kim Hòa luôn lấy cảm hứng từ thân phận  
người phụ nữ. Mặc dù cuộc đời họ đều rơi vào  
Nguyễn Thị Huệ (2006). 37 truyện ngắn. Nxb Văn  
học.  
Hoàng Đăng Khoa (2017). Song hành và đối thoại. Tp.  
Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp, tr. 60.  
97  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
Nguyễn Đăng Mạnh (1994). Con đường đi vào thế  
giới nghệ thuật của nhà văn. Hà Nội, Nxb  
Giáo dục, tr. 48.  
bản). Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Văn nghệ.  
Phùng Gia Thế - Trần Thiện Khanh (2016). Văn học  
và giới nữ - Một số vấn đề lý luận và lịch sử.  
Hà Nội, Nxb Thế giới, tr. 278.  
Bích Ngân (2011). Người đàn bà bơi trên sóng (tái  
98  
pdf 11 trang baolam 26880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cảm hứng nhân văn trong văn xuôi Nguyễn Thị Kim Hòa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcam_hung_nhan_van_trong_van_xuoi_nguyen_thi_kim_hoa.pdf