Đánh giá tác động của đô thị hóa đến việc làm của người dân tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐÔ THỊ HÓA ĐẾN VIỆC LÀM  
CỦA NGƯỜI DÂN TẠI THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN  
Trần Thái Yên1, 2*, Nguyễn Thanh Trà3  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu nhằm xác định tác động của đô thị hóa đến việc làm của người bị thu hồi đất nông nghiệp và đề  
xuất một số kiến nghị bảo đảm việc làm cho người bị thu hồi đất. Số liệu từ điều tra 2 bước đối với 100 hộ  
gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp và 100 cán bộ, công chức, viên chức. Các số liệu được phân tích thông  
qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá và mô hình hồi quy tuyến tính bằng phần mềm  
SPSS 20.0. Trong giai đoạn 2008 - 2019, tỷ lệ đô thị hóa của thành phố Vinh tăng từ 37,21% lên 68,30%. Có 5  
nhóm yếu tố tác động đến việc làm. Nhóm yếu tố thu hồi đất có tác động lớn nhất với tỷ lệ tác động 28,25-  
29,01%; nhóm yếu tố đô thị hóa có tỷ lệ tác động 21,63 - 21,56%; nhóm yếu tố lao động có tỷ lệ tác động 19,02  
- 18,58%; nhóm yếu tố hỗ trợ có tỷ lệ tác động 18,46 -18,22%; nhóm yếu tố bồi thường có tỷ lệ tác động 12,63 -  
12,84%. Các giải pháp đề xuất bao gồm: bảo đảm việc làm cho các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp nhiều, hỗ  
trợ chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp và giải pháp về bồi thường về đất, tài sản gắn liền  
với đất.  
Từ khóa: Đô thị hóa, tác động, việc làm, thành phố Vinh, yếu tố.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ9  
lĩnh vực phi nông nghiệp. Ngoài ra, đô thị hóa  
thường song hành với thu hồi đất, nhất là đất nông  
nghiệp để thực hiện các dự án đầu tư có sử dụng đất  
và làm cho một bộ phận nông dân bị mất đất nông  
nghiệp, phải chuyển sang làm việc trong lĩnh vực phi  
nông nghiệp (Đỗ Thị Thanh Huyền, 2020). Nói cách  
khác, đô thị hóa có tác động đến cơ cấu việc làm.  
Đô thị hóa làm thay đổi cơ cấu kinh tế, môi  
trường sống và thu nhập, việc làm của nhiều người  
dân, trong đó có người dân bị thu hồi đất và nhất là  
người dân bị thu hồi đất nông nghiệp (Lưu Đức Hải,  
2011; Vương Diện Phương và Lưu Chị Kiệt, 2014). Đô  
thị hóa là sự gia tăng dân số của đô thị theo thời gian  
và được đánh giá theo các tiêu chí “tỷ lệ đô thị hóa”,  
“tốc độ đô thị hóa”. Tỷ lệ đô thị hóa là tỷ lệ phần trăm  
giữa tổng số thị dân (dân số thuộc các phường, thị  
trấn) trên tổng số dân (tổng số dân của các phường,  
xã, thị trấn). Tốc độ đô thị hóa là tỷ lệ gia tăng của tỷ  
lệ đô thị hóa theo thời gian (Ủy ban Thường vụ Quốc  
hội, 2016). Việc làm theo Điều 13, Bộ luật Lao động  
năm 2012 là hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị  
pháp luật cấm. Việc làm có thể là các công việc để  
nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng  
hiện vật cho công việc đó, hay là các công việc để thu  
lợi nhuận mà pháp luật không cấm (Quốc hội nước  
CHXHCN Việt Nam, 2012). Theo đặc điểm của công  
việc, việc làm được phân thành việc làm trong lĩnh  
vực: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương  
mại, dịch vụ. Đô thị hóa tạo cơ hội để nhiều người  
chuyển việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp sang  
Đến nay, có một số nghiên cứu liên quan đến đô  
thị hóa và việc làm ở những khía cạnh khác nhau.  
Nghiên cứu của Kim Ngọc Thu Trang và Vũ Vân  
Anh (2020) nhằm đánh giá tác động của đô thị hóa  
đến đời sống của người dân thông qua các tiêu chí  
như thay đổi nghề nghiệp, cơ sở vật chất của người  
dân, thay đổi về cảnh quan, môi trường... Phan Thị  
Ngọc (2018), Mahapatra S. (2007) nghiên cứu về  
thay đổi sinh kế của người dân dưới tác động của quá  
trình đô thị hóa. Đỗ Thị Thanh Huyền (2020), Diriba  
Dadi Debela (2016) nghiên cứu về một số khía cạnh  
kinh tế - xã hội của các hộ nông dân bị thu hồi đất  
sản xuất nông nghiệp cho công nghiệp hóa và đô thị  
hóa. Nguyễn Đình Phúc (2017), Ravallion M. và Van  
de Walle D. (2007) nghiên cứu các yếu tố tác động  
đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp của  
lao động nông thôn trong quá trình đô thị hóa.  
Acharya Akash (2002) nghiên cứu về thu hồi đất và  
việc làm trong quá trình đô thị hóa.  
1 Nghiên cứu sinh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
2 Trường Đại học Kinh tế Nghệ An  
Các nghiên cứu trên đã đánh giá những thay đổi  
về việc làm hay khả năng chuyển đổi lao động từ lĩnh  
3 Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
* Email: [email protected]  
134  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp của Bước thứ hai điều tra về mức độ tác động của các yếu  
người dân khi bị thu hồi đất trong quá trình đô thị tố đã được xác định trong bước thứ nhất. Số lượng hộ  
hóa. Mặc dù vậy, các nghiên cứu chưa đi sâu vào các gia đình điều tra được xác định theo công thức 1.  
yếu tố tác động đến việc làm của người dân bị thu hồi Chọn độ tin cậy là 95%, giá trị phân phối tương ứng là  
đất nông nghiệp, cũng như mức độ tác động của đô 1,96, sai số cho phép chọn 10% và giả định (p x q) lớn  
thị hóa so với các yếu tố khác đến việc làm của người nhất có thể xảy ra là (0,5 x 0,5), số hộ gia đình điều  
dân bị thu hồi đất nông nghiệp để có cơ sở đề xuất tra là 96, nghiên cứu điều tra 100 hộ gia đình. Nội  
giải pháp phù hợp nhằm bảo đảm việc làm, thu nhập dung chính của phiếu điều tra ở bước thứ nhất bao  
ổn định cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp gồm những thông tin cơ bản về người trả lời điều tra  
trong quá trình đô thị hóa. Do vậy, đánh giá tác động và các yếu tố giả định tác động đến việc làm của đối  
của đô thị hóa đến việc làm của người dân là cần tượng bị thu hồi đất nông nghiệp và phần để ghi các  
thiết và có ý nghĩa thực tiễn.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Phạm vi nghiên cứu  
yếu tố tác động khác để người trả lời bổ sung. Các  
yếu tố giả định tác động đến việc làm của người thu  
hồi đất là các yếu tố kế thừa từ các nguyên cứu trước  
và do tác giả tự điều tra một số cán bộ, công chức,  
viên chức và người dân trên địa bàn nghiên cứu để  
bổ sung vào phiếu điều tra.  
Nghiên cứu chọn địa bàn thành phố Vinh làm  
địa bàn nghiên cứu do từ khi trở thành đô thị loại I  
(năm 2008), quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh và tác  
động mạnh đến kinh tế - xã hội, trong đó có việc làm  
của người dân bị thu hồi đất nông nghiệp (UBND  
thành phố Vinh, 2020) nhưng đến nay chưa có  
nghiên cứu về tác động của đô thị hóa đến việc làm  
trên địa bàn thành phố.  
n = t2. p.q/e2 (Hair et al. 1998)  
(1)  
Trong đó: n - số hộ gia đình điều tra; t - giá trị  
phân phối tương ứng với độ tin cậy lựa chọn; p - ước  
tính tỷ lệ % của tổng thể; q =1 - p; e - sai số cho phép  
(5 -15%).  
Bảng 1. Tổng hợp số phiếu điều tra theo cơ quan,  
Nghiên cứu mức độ tác động của nhóm yếu tố  
đô thị hóa (tỷ lệ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa) so  
với các nhóm yếu tố khác đến việc làm của người bị  
thu hồi đất nông nghiệp tại thành phố Vinh, tỉnh  
Nghệ An theo số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế -  
xã hội và thu hồi đất nông nghiệp giai đoạn 2008 -  
2019 (từ khi thành phố Vinh được công nhận là đô thị  
loại I đến hết năm 2019).  
tổ chức  
Số  
Cơ quan, đơn vị  
lượng  
phiếu  
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh  
Nghệ An  
6
6
4
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội  
Phòng Tài nguyên và Môi trường  
thành phố Vinh  
2.2. Thu thập số liệu  
- Số liệu thứ cấp: Số liệu về điều kiện tự nhiên,  
kinh tế - xã hội được thu thập tại Chi cục Thống kê  
thành phố Vinh; số liệu về thu hồi đất nông nghiệp  
được thu thập tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh  
Nghệ An, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành  
phố Vinh; số liệu về việc làm được thu thập tại Sở Lao  
động, Thương binh và Xã hội tỉnh Nghệ An và Phòng  
Lao động, Thương binh và Xã hội thành phố Vinh.  
Phòng Lao động, Thương binh và Xã  
hội thành phố Vinh  
3
6
Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành  
phố Vinh  
UBND xã, phường Thành phố Vinh  
(25 phường xã, mỗi phường xã 3  
người – 1 lãnh đạo, 1 công chức địa  
chính, 1 công chức lao động, thương  
binh, xã hội)  
75  
- Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được được thu  
thập thông qua điều tra 2 bước bằng phiếu điều tra in  
sẵn ngẫu nhiên những hộ gia đình bị thu hồi đất  
nông nghiệp (mỗi hộ gia đình 1 phiếu do chủ hộ đại  
diện trả lời) và tất cả cán bộ, công chức, viên chức  
(100 người, bảng 1) trực tiếp nắm bắt việc làm của  
người bị thu hồi đất. Bước thứ nhất điều tra về các  
yếu tố tác động đến việc làm của người bị thu hồi đất.  
Tổng  
100  
Các yếu tố được chọn sau điều tra ở bước thứ  
nhất là các yếu tố có tỷ lệ đánh giá trên 50% tổng số  
người trả lời là có tác động đến đến việc làm. Kết quả  
xử lý số liệu cho thấy có 17 yếu tố tác động, được  
chia thành 5 nhóm yếu tố tác động theo đặc điểm  
135  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
của yếu tố (Bảng 2). Mô hình nghiên cứu các yếu tố hiện tại hình 1.  
tác động đến việc làm tại thành phố Vinh được thể  
Bảng 2. Các nhóm yếu tố tác động đến việc làm tại thành phố Vinh  
Nhóm yếu tố  
Nhóm yếu tố  
Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi lớn hơn 70%  
(TH4)  
1. Nhóm yếu tố đô thị hóa (ĐT)  
- Tỷ lệ đô thị hóa (ĐT1)  
4. Nhóm yếu tố bồi thường (BT)  
Bồi thường đất (BT1)  
- Tốc độ đô thị hóa (ĐT2)  
2. Nhóm yếu tố lao động (LĐ)  
Bồi thường cây cối, hoa màu (BT2)  
Bồi thường vật nuôi (BT3)  
5. Nhóm yếu tố hỗ trợ (HT)  
Hỗ trợ tìm kiếm việc làm (HT1)  
- Tuổi của người trong độ tuổi lao động (LĐ1)  
- Giới tính của người trong độ tuổi lao động (LĐ2)  
- Học vấn của người trong độ tuổi lao động (LĐ3)  
- Khả năng chuyển đổi việc làm của người trong độ  
tuổi lao động (LĐ4)  
Hỗ trợ tạo việc làm (HT2)  
Hỗ trợ chuyển đổi việc làm (HT3)  
Hỗ trợ sản xuất (HT4)  
3. Nhóm yếu tố thu hồi đất nông nghiệp (TH)  
- Diện tích đất bị thu hồi (TH1)  
- Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi nhỏ hơn 30% (TH2)  
- Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi từ 30% - 70% (TH3)  
Hỗ trợ đào tạo việc làm (HT5)  
cần đạt được là 50 + 8*p (p là số biến - p = 5)  
(Tabachnick và Fidell, 1996) nên số mẫu điều tra tối  
thiểu là 90. Để đảm bảo cả yêu cầu về phân tích nhân  
tố khám phá và phân tích hồi quy đa biến, nghiên  
cứu điều tra lần hai 100 hộ gia đình và 100 cán bộ,  
công chức, viên chức đã điều tra tại bước thứ nhất).  
2.3. Xử lý, phân tích, đánh giá số liệu  
Số liệu thu thập được từ điều tra các hộ gia đình  
và cán bộ, công chức, viên chức được xử lý, phân tích  
riêng bằng phần mềm SPSS 20.0. Độ tin cậy của  
thang đo được kiểm định thông qua hệ số  
Cronbach’s Alpha. Số liệu đảm bảo độ tin cậy khi hệ  
số Cronbach’s Alpha nằm trong khoảng [0,6 - 0,95]  
(Hair et al., 1998), hệ số tương quan biến tổng > 0,3  
(Hair et al., 1998). Phân tích nhân tố khám phá  
(EFA) được sử dụng để rút gọn nhiều biến đo lường  
thành một tập hợp các biến (nhân tố) để chúng có ý  
nghĩa hơn nhưng vẫn chứa đựng hầu hết các thông  
tin của tập biến ban đầu (Hair et al., 1998). EFA được  
đánh giá thông qua hệ số thích hợp KMO, kiểm định  
Bartlett, hệ số Eigenvalues, tổng phương sai giải  
thích và hệ số tải. Các biến chỉ được chấp nhận khi  
KMO nằm trong khoảng [0,5 - 1] và các trọng số tải  
của chính nó ở nhân tố khác nhỏ hơn 0,35 (Igbaria et  
al., 1995) hoặc khoảng cách giữa 2 trọng số tải  
(Factor loading) cùng 1 biến ở 2 nhân tố khác nhau  
lớn hơn 0,3. Theo Hair et al. (1998), với cỡ mẫu  
khoảng 100 thì nên chọn trọng số tải lớn hơn 0,55  
nên với lượng mẫu điều tra 100, trong nghiên cứu  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu các nhóm yếu tố tác  
động đến việc làm tại thành phố Vinh  
Nội dung phiếu điều tra ở bước thứ hai gồm  
thông tin cơ bản về người trả lời điều tra, các yếu tố  
tác động và mức độ tác động của các yếu tố đó đến  
việc làm theo thang đo Likert năm mức độ (rất tác  
động - 5 điểm, khá tác động - 4 điểm, ít tác động - 3  
điểm, rất ít tác động - 2 điểm, không tác động - 1  
điểm) (Likert, 1932). Ngoài ra, trong phiếu có phần  
để người trả lời ghi các ý kiến liên quan tác động của  
các yếu tố đến việc làm như những tác động tích cực,  
tiêu cực và nguyên nhân để nghiên cứu có cơ sở đề  
xuất giải pháp khắc phục. Số lượng mẫu điều tra  
được xác định dựa theo yêu cầu của phân tích nhân  
tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) và  
hồi quy đa biến với ít nhất 5 quan sát cho 1 biến đo  
lường (Hoàng Trọng Chu và Nguyễn Mộng Ngọc,  
2005). Do vậy, với 17 biến đo lường, số mẫu là 85.  
Đối với phân tích hồi quy đa biến thì cỡ mẫu tối thiểu  
136  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
này chọn trọng số tải được chọn là lớn hơn 0,55. Bên  
Thành phố Vinh cách thủ đô Hà Nội khoảng 300  
cạnh đó, thang đo chỉ được chấp nhận khi tổng km về phía Bắc, là trung tâm chính trị, kinh tế - xã  
phương sai giải thích (Total variance explained) lớn hội, văn hóa - giáo dục, thể dục - thể thao của tỉnh  
hơn 50%; hệ số Barlett’s với mức ý nghĩa Sig. nhỏ hơn Nghệ An và là trung tâm vùng Bắc Trung bộ về các  
0,05 để đảm bảo các yếu tố có mối tương quan với lĩnh vực tài chính, thương mại, du lịch, khoa học -  
nhau; hệ số Eigenvalue có giá trị từ 1 để đảm bảo các công nghệ, công nghệ thông tin, nông nghiệp công  
nhóm nhân tố có sự khác biệt. Đồng thời, nghiên cứu nghệ cao, y tế, văn hóa, thể thao, giáo dục - đào tạo  
sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để xác (Thủ tướng Chính phủ, 2008). Thành phố Vinh có 25  
định mức độ tác động của các yếu tố đến việc làm tại đơn vị hành chính xã, phường, trong đó có 16  
thành phố Vinh. Mô hình có dạng sau:  
phường và 9 xã với diện tích tự nhiên toàn thành phố  
từ 67,53 km2 tăng lên đến 104,96 km2 (tăng 1,6 lần từ  
năm 2008 đến 2019), trong đó diện tích đô thị  
khoảng 36 km2. Dân số của thành phố năm 2019 là  
317.643 người, trong đó dân số đô thị là 216.965  
người (chiếm 68,3% tổng số dân) và dân số nông thôn  
là 100.678 người (chiếm 31,7%). Sản xuất, kinh doanh  
phi nông nghiệp, dịch vụ tăng nhanh nên hàng năm  
thành phố đã đóng góp khoảng 33,52% tổng thu ngân  
sách của tỉnh Nghệ An; thu nội địa năm 2019 đạt  
2.327,8 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng năm 2019 so với  
năm 2018 đạt 13,55%, giá trị sản xuất ngành công  
nghiệp năm 2019 đạt 12.124,12 tỷ đồng (UBND  
thành phố Vinh, 2020).  
Yi = βoi +β1i*ĐT + β2i*LĐ + β3i*TH+ β4i*BT +  
β5i*HT+ Ɛi  
Trong đó: Yi: Biến phụ thuộc thể hiện việc làm; i  
= 1 theo đánh giá của hộ gia đình; i = 2 đánh giá của  
cán bộ, công chức, viên chức; βoi: Hằng số; β1i; β2i;  
β3i; β4i; β5i: Các hệ số hồi quy của các biến tương ứng  
là đô thị hóa, lao động, thu hồi đất, bồi thường, hỗ  
trợ; các biến độc lập, tương ứng là các yếu tố: ĐT (đô  
thị hóa), LĐ (lao động), TH (thu hồi đất), BT (bồi  
thường), HT (hỗ trợ); Ɛi: Giá trị tác động của các yếu  
tố chưa xác định.  
Tiêu chí đánh giá về việc làm cho người dân bị  
thu hồi đất nông nghiệp dưới tác động của đô thị hóa  
là mức độ tác động của đô thị hóa đến việc làm so với  
các nhóm yếu tố tác động khác; thay đổi tỷ lệ lao  
động trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp - xây  
dựng, thương mại, dịch vụ trong giai đoạn nghiên  
cứu so sánh với tỷ lệ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa.  
Trong giai đoạn 2008 - 2019, tỷ lệ đô thị hóa tăng  
nhanh và tăng gần gấp 2 lần (từ 37,21% lên 68,30%),  
tốc độ đô thị hóa nhanh (102,94%) (Bảng 3). Dân số  
đô thị tăng chủ yếu là tăng cơ học (65,32%), còn lại là  
tăng tự nhiên (34,68%) (UBND thành phố Vinh,  
2020). Không gian đô thị Vinh được phát triển theo  
trục Đông - Tây và trục Bắc – Nam (Thủ tướng  
Chính phủ, 2015).  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Khái quát về quá trình đô thị hóa tại thành  
phố Vinh  
Bảng 3. Tỷ lệ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa thành phố Vinh giai đoạn 2008-2019  
Tổng dân số của thành phố  
(người)  
Tổng dân số của các phường  
(người)  
Tỷ lệ đô thị hóa  
(%)  
Tốc độ đô thị hóa  
(%)  
Năm  
2008  
2019  
287.319  
317.643  
106.913  
216.965  
37,21  
68,30  
102,94  
(UBND thành phố Vinh, 2020)  
thương mại, dịch vụ luôn trên 51% trong cả giai đoạn  
2008-2019.  
3.2. Biến động cơ cấu việc làm tại thành phố  
Vinh giai đoạn 2008 - 2019  
Điều này cho thấy, thành phố Vinh là thành phố  
mang tính chất của thành phố thương mại, dịch vụ và  
có tỷ lệ tăng song hành cùng tăng tỷ lệ đô thị (Bảng  
4). Nói cách khác, đô thị hóa thành phố Vinh đã làm  
thay đổi cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động  
nông nghiệp, tăng lao động phi nông nghiệp, đặc biệt  
là lao động thương mại, dịch vụ.  
Trong giai đoạn 2008 - 2019, cơ cấu lao động tại  
thành phố Vinh có sự thay đổi rõ rệt (Bảng 4). Tỷ lệ  
lao động nông nghiệp giảm từ 19,11% xuống 13,03%;  
tỷ lệ lao động công nghiệp, xây dựng và lao động  
thương mại, dịch vụ đều tăng mặc dù trong một số  
năm có sự tăng giảm không đồng đều. Tỷ lệ lao động  
137  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
Bảng 4. Cơ cấu lao động trong giai đoạn 2008 - 2019  
Lao động công nghiệp, xây  
Lao động thương mại, dịch  
vụ  
Lao động nông nghiệp  
dựng  
Năm  
(Người)  
25.102  
24.680  
23.451  
22.412  
22.510  
22.675  
23.432  
23.210  
23.054  
25.077  
25.032  
24.520  
Tỷ lệ (%)  
19,11  
18,25  
16,28  
14,35  
14,23  
14,16  
14,35  
14,12  
13,90  
13,96  
13,65  
13,03  
(Người)  
37.330  
39.772  
45.914  
51.068  
51.532  
51.824  
53.021  
53.400  
54.001  
51.773  
53.357  
56.255  
Tỷ lệ (%)  
28,41  
29,41  
31,88  
32,70  
32,57  
32,37  
32,48  
32,48  
32,56  
28,83  
29,10  
29,88  
(Người)  
68.948  
70.792  
74.668  
82.680  
84.198  
85.621  
86.807  
87.824  
88.804  
10.2727  
10.4971  
10.7476  
Tỷ lệ (%)  
52,48  
52,34  
51,84  
52,95  
53,20  
53,47  
53,17  
53,40  
53,54  
57,21  
57,25  
57,09  
2008  
2009  
2010  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
(UBND thành phố Vinh, 2020)  
được thực hiện thông qua hệ số thích hợp KMO. Kết  
quả nghiên cứu đã xác định KMO = 0,873 - 0,876 và  
thỏa mãn điều kiện 0,5 < KMO < 1, nên phân tích  
nhân tố khám phá là thích hợp với dữ liệu thực tế.  
Bên cạnh đó, kết quả kiểm định Barlett cho giá trị  
Sig. bằng 0,00 và nhỏ hơn 0,05 (Bảng 6). Điều này  
chứng tỏ các biến đo lường có tương quan tuyến tính  
với yếu tố đại diện. Hệ số nhân tố của các thành phần  
lớn hơn 0,60 (Bảng 7), nên phân tích EFA có ý nghĩa  
thực tiễn, các biến độc lập đảm bảo độ chính xác đưa  
vào mô hình phân tích hồi quy xác định mức độ tác  
động của các yếu tố đến việc làm.  
3.3. Đánh giá tác động của các yếu tố đến việc  
3.3.1. Phân tích độ tin cậy của thang đo và  
làm  
phân tích nhân tố khám phá  
Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo thông  
qua hệ số Cronbach’s Alpha đối với 5 nhóm yếu tố  
cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha dao động trong  
khoảng từ 0,763 - 0,891, hệ số tương quan biến tổng  
lớn hơn 0,3 theo số liệu đánh giá của hộ gia đình và  
cán bộ, công chức, viên chức (Bảng 5). Như vậy,  
thang đo sử dụng cho đánh giá các yếu tố tác động  
đến việc làm có độ tin cậy và phù hợp cho các phân  
tích tiếp theo. Kiểm định tính thích hợp của EFA  
Bảng 5. Kết quả phân tích độ tin cậy của thang đo  
Tương quan biến  
Tương quan biến  
tổng theo đánh giá  
của  
tổng theo đánh giá  
của  
Nhóm yếu tố và biến đo  
lường  
Nhóm yếu tố và biến đo lường  
Hộ  
gia  
Cán bộ,  
công chức,  
viên chức  
Hộ  
gia  
Cán bộ,  
công chức,  
viên chức  
đình  
đình  
1. Nhóm yếu tố đô thị hóa (ĐT  
– Alpha1=0,883; Alpha2=0,797)  
- Tỷ lệ diện tích đất bị thu  
hồi lớn hơn 70% (TH4)  
4. Nhóm yếu tố bồi thường  
(BT– Alpha1=0,763;  
0,832  
0,853  
- Tỷ lệ đô thị hóa (ĐT1)  
0,847  
0,869  
0,803  
0,765  
Alpha2=0,861)  
- Tốc độ đô thị hóa (ĐT2)  
Bồi thường đất (BT1)  
Bồi thường cây cối, hoa  
màu (BT2)  
0,776  
0,745  
0,742  
0,879  
0,843  
0,825  
2. Nhóm yếu tố lao động (LĐ –  
Alpha1=0,874; Alpha2=0,891)  
- Tuổi của người trong độ tuổi  
0,872  
0,877  
Bồi thường vật nuôi (BT3)  
138  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
lao động (LĐ1)  
- Giới tính của người trong độ  
tuổi lao động (LĐ2)  
5. Nhóm yếu tố hỗ trợ (HT–  
0,863  
0,841  
0,864  
0,823  
Alpha1=0,827; Alpha2=0,784)  
Hỗ trợ tìm kiếm việc làm  
(HT1)  
- Học vấn của người trong độ  
tuổi lao động (LĐ3)  
0,857  
0,846  
0,763  
0,747  
- Khả năng chuyển đổi việc làm  
của người trong độ tuổi lao  
động (LĐ4)  
0,822  
0,818  
Hỗ trợ tạo việc làm (HT2)  
3. Nhóm yếu tố thu hồi đất  
nông nghiệp (TH–  
Hỗ trợ chuyển đổi việc làm  
(HT3)  
0,765  
0,653  
Alpha1=0,854; Alpha2=0,845)  
- Diện tích đất bị thu hồi (TH1)  
- Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi  
nhỏ hơn 30% (TH2)  
0,865  
0,843  
0,861  
0,854  
Hỗ trợ sản xuất (HT4)  
Hỗ trợ đào tạo việc làm  
(HT5)  
0,752  
0,758  
0,695  
0,764  
- Tỷ lệ diện tích đất bị thu hồi từ  
30% - 70% (TH3)  
0,851  
0,870  
Alpha1 theo đánh giá của hộ gia đình; Alpha2 theo đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức.  
Bảng 6. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett’s Test  
Theo đánh giá của hộ  
gia đình  
Theo đánh giá của cán bộ, công  
chức, viên chức  
Các tiêu chí  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling  
0,873  
0,786  
Adequacy  
Approx. Chi-  
1.548.653  
1.643.784  
Square  
df  
Bartlett's Test of  
Sphericity  
178  
184  
Sig.  
0,000  
0,000  
Bảng 7. Trọng số của ma trận xoay  
Nhóm yếu tố tác động  
Biến  
Biến  
đo  
Theo đánh giá của cán bộ, công chức, viên  
chức  
Theo đánh giá của hộ gia đình  
đo  
lường  
ĐT1  
ĐT2  
LĐ3  
LĐ1  
LĐ2  
TH3  
TH2  
TH1  
TH4  
BT1  
BT3  
BT2  
HT1  
HT4  
HT5  
HT1  
HT3  
lường  
ĐT2  
ĐT1  
LĐ1  
LĐ3  
LĐ2  
TH4  
TH2  
TH1  
TH3  
BT1  
BT3  
BT2  
HT1  
HT2  
HT5  
HT3  
HT4  
1
2
3
4
5
1
2
3
4
5
0,867  
0,843  
0,773  
0,762  
0,862  
0,857  
0,791  
0,823  
0,812  
0,764  
0,858  
0,834  
0,812  
0,801  
0,827  
0,815  
0,809  
0,781  
0,856  
0,842  
0,831  
0,887  
0,862  
0,856  
0,840  
0,827  
0,811  
0,754  
0,722  
0,898  
0,845  
0,831  
0,772  
0,754  
139  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
nên không có hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc  
3.3.2. Phân tích hồi quy đa biến xác định mức độ  
tác động của các yếu tố đến việc làm  
nhất xảy ra (Bảng 8). Độ phóng đại phương sai (VIF)  
của tất cả các biến đưa vào mô hình đều nhỏ hơn 2  
nên mô hình nghiên cứu không có hiện tượng đa  
cộng tuyến. Ngoài ra, các biến đưa vào nghiên cứu  
đều có ý nghĩa thống kê (Sig. bằng 0 và nhỏ hơn  
0,05). Từ hệ số hồi quy chuẩn hóa, xác định được  
phương trình hồi quy có dạng sau:  
Kết quả phân tích hồi quy đa biến tại bảng 8 cho  
thấy, hệ số Sig. bằng 0,00 nhỏ hơn mức ý nghĩa α =  
1% nên mô hình hồi quy có ý nghĩa, các biến độc lập  
có tác động đến biến phụ thuộc Y. Giá trị R2 hiệu  
chỉnh dao động từ 0,817 đến 0,823 (Bảng 8) cho thấy  
các biến độc lập đưa vào chạy hồi quy tác động đến  
từ 81,7% đến 82,3% sự thay đổi của việc làm, còn lại  
18,3% - 17,7% là do các biến ngoài mô hình và sai số  
ngẫu nhiên. Bên cạnh đó, hệ số Durbin Watson có  
Y1 = 0,964*TH + 0,738*ĐT + 0,649*LĐ +  
0,630*HT + 0,431*BT + 1,652  
Y2 = 0,935*TH + 0,753*ĐT + 0,643*LĐ +  
giá trị 1,932-1,954, nằm trong khoảng từ 1,5 đến 2,5, 0,636*HT + 0,422*BT + 3,538  
Bảng 8. Kết quả phân tích hồi quy đa biến  
Theo đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức  
Theo đánh giá của hộ gia đình bị thu hồi đất  
Hệ số  
hồi  
Thống kê đa  
cộng tuyến  
Hệ số  
hồi  
Thống kê đa  
cộng tuyến  
Tỷ lệ Thứ  
Tỷ lệ  
tác  
Chênh  
lệch tỷ  
lệ (%)  
Nhóm  
yếu tố  
tác  
động  
(%)  
tự  
tác  
Nhóm  
yếu tố  
t
t
quy  
quy  
động  
(%)  
Sai số  
VIF  
(Sig.)  
Sai số  
VIF  
(Sig.)  
chuẩn  
hóa  
chuẩn  
hóa  
động  
Hằng  
số  
Hằng  
số  
1,652  
3,538  
0,964  
0,738  
0,649  
0,630  
0,431  
28,25  
21,63  
19,02  
18,46  
12,63  
0,983  
0,731  
0,630  
0,617  
0,435  
1,523 29,01  
1,673 21,56  
1,536 18,58  
1,462 18,22  
1,657 12,84  
0,06  
0,66  
0,58  
0,17  
0,31  
TH  
ĐT  
LĐ  
HT  
BT  
5,543  
4,474  
5,763  
3,765  
5,762  
0
0
0
0
0
1,643  
1,454  
1,248  
1,652  
1,753  
1
2
3
4
5
TH  
ĐT  
LĐ  
HT  
BT  
6,543  
5,641  
4,642  
5,784  
4,546  
0
0
0
0
0
Sig. F = 0,000  
Hệ số R2 = 0,821  
Sig. F = 0,000  
Hệ số R2 = 0,849  
Hệ số R2 hiệu chỉnh = 0,817  
Hệ số R2 hiệu chỉnh = 0,823  
Durbin-Watson = 1,932  
Durbin-Watson = 1,954  
Bảng 8 cho thấy, tất cả 17 yếu tố đưa vào mô  
3.4. Đề xuất một số giải pháp đảm bảo việc làm  
hình nghiên cứu có tác động đến việc làm tại thành cho người bị thu hồi đất do đô thị hóa tại thành phố  
phố Vinh với tỷ lệ tác động của các nhóm yếu tố Vinh  
khác nhau. Nhóm yếu tố đô thị hóa có tác động lớn  
Do mức độ tác động của 5 nhóm yếu tố đến việc  
thứ hai sau nhóm yếu tố thu hồi đất với tỷ lệ tác  
làm khác nhau nên để bảo đảm việc làm cho người  
động từ 21,63% đến 21,56% (tương ứng theo đánh  
dân bị thu hồi đất cần ưu tiên thực hiện các giải pháp  
giá của hộ gia đình và cán bộ, công chức, viên  
theo mức độ tác động của các nhóm yếu tố. Trước  
chức). Tiếp theo là nhóm yếu tố lao động và hỗ trợ.  
tiên cần ưu tiên bảo đảm việc làm cho những hộ gia  
Nhóm yếu tố bồi thường tác động nhỏ nhất đến việc  
đình có diện tích đất nông nghiệp và tỷ lệ diện tích bị  
làm với tỷ lệ tác động từ 12,63% đến 12,84% do thực  
thu hồi lớn do họ bị mất phương tiện sản xuất nhiều  
hiện bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất  
nhất. Bên cạnh đó cần tận dụng các mặt tích cực của  
thực hiện khá tốt. Kết quả tại bảng 8 cho thấy, mức  
đô thị hóa để chuyển một bộ phận người bị thu hồi  
độ tác động đến việc làm của các nhóm yếu tố theo  
đất tham gia hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp,  
đánh giá của hộ gia đình và cán bộ, công chức, viên  
xây dựng, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp để có  
chức có độ xấp xỉ bằng nhau, điều này chứng tỏ kết  
thu nhập như buôn bán, cho thuê nhà ở, chăm sóc  
quả đánh giá tác động của các nhóm yếu tố có độ  
da, tóc… khi số lượng dân cư đô thị tăng hàng năm.  
tin cậy.  
Ngoài ra, cần thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đào tạo  
140  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
chuyển đổi nghề cho người nông dân trong độ tuổi  
2. Hoàng Trọng Chu và Nguyễn Mộng Ngọc  
lao động, tiếp nhận họ vào các cơ sở sản xuất sau khi (2005). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà  
được đào tạo, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu lao xuất bản Hồng Đức. Thành phố Hồ Chí Minh.  
động. Những hộ còn đất nông nghiệp sau thu hồi thì  
3. Kim Ngọc Thu Trang và Vũ Vân Anh (2020).  
cần tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản  
Tác động của đô thị hóa đến đời sống người dân thị  
xuất hàng hoá để thêm việc làm, tăng thu nhập.  
xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Tạp chí Khoa học và  
Đồng thời, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp,  
Công nghệ - Đại học Thái Nguyên. 225 (07): 440 -  
khôi phục, phát triển các làng nghề; khuyến khích  
446.  
nông dân góp cổ phần vào các doanh nghiệp bằng  
4. Lưu Đức Hải (2011). Đô thị sinh thái trong  
quyền sử dụng đất, tăng cường mối quan hệ giữa  
phát triển đô thị Việt Nam. Tạp chí Quy hoạch đô thị.  
doanh nghiệp và người lao động. Bên cạnh đó, cần  
(05): 48 - 52.  
thực hiện bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất  
5. Nguyễn Đình Phúc (2017). Các yếu tố tác  
động đến khả năng tham gia việc làm phi nông  
nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn thị xã An  
Nhơn, tỉnh Bình Định. Tạp chí Khoa học - Trường  
Đại học An Giang. 13 (1): 11 - 18.  
đảm bảo bồi thường đúng, đủ, kịp thời các thiệt hại  
mà người bị thu hồi đất phải gánh chịu để cho họ có  
điều kiện làm việc tốt hơn lúc trước khi bị thu hồi  
đất.  
4. KẾT LUẬN  
6. Phan Thị Ngọc (2018). Từ sản xuất nông  
nghiệp đến kinh doanh nhà trọ: biến đổi sinh kế ở  
một làng ven đô Hà Nội dưới tác động của công  
nghiệp hóa, đô thị hóa. Tạp chí Khoa học Xã hội và  
Nhân văn. 4 (1b): 33 - 43.  
Trong giai đoạn 2008-2019, tỷ lệ đô thị hóa của  
thành phố Vinh tăng nhanh, từ 37,21% lên 68,30%, tốc  
độ đô thị hóa 102,94%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp  
giảm từ 19,11% xuống 13,03%; tỷ lệ lao động công  
nghiệp, xây dựng và lao động thương mại, dịch vụ  
đều tăng mặc dù trong một số năm có sự tăng giảm  
không đồng đều. Tỷ lệ lao động thương mại, dịch vụ  
luôn ở mức trên 51%. Tất cả 17 yếu tố đưa vào mô  
hình nghiên cứu có tác động đến việc làm. Nhóm yếu  
tố đô thị hóa có tác động lớn thứ hai sau nhóm nhóm  
yếu tố thu hồi đất với tỷ lệ tác động từ 21,63% đến  
21,56%. Tiếp theo là nhóm yếu tố lao động và hỗ trợ.  
Nhóm yếu tố bồi thường tác động nhỏ nhất đến việc  
làm với tỷ lệ tác động từ 12,63% đến 12,84% do thực  
hiện bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất thực  
hiện khá tốt. Để bảo đảm việc làm cho người dân bị  
thu hồi đất cần ưu tiên thực hiện các giải pháp theo  
mức độ tác động của các nhóm yếu tố. Trước tiên cần  
thực hiện giải pháp bảo đảm việc làm cho các hộ bị  
thu hồi đất nhiều, tiếp theo là giải pháp hỗ trợ  
chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực phi nông  
nghiệp và giải pháp về bồi thường về đất, tài sản gắn  
liền với đất.  
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2012). Bộ  
luật Lao động, NXB Lao động, 2012.  
8. Thủ tướng Chính phủ (2008). Quyết định số  
1210/QĐ - TTg ngày 5 tháng 9 năm 2008 về việc  
công nhận thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là đô thị  
loại I trực thuộc tỉnh Nghệ An.  
9. Thủ tướng Chính phủ (2015). Quyết định số  
52/QĐ - TTg ngày 14 tháng 01 năm 2015 phê duyệt  
Điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Vinh, tỉnh  
Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn 2050.  
10. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2016). Nghị  
quyết số 1210/2016/UBTVQH13 ngày 25 tháng 5  
năm 2016 về phân loại đô thị.  
11. UBND thành phố Vinh (2020). Báo cáo tình  
hình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn từ 2008  
đến 2019.  
12. Vương Diện Phương và Lưu Chị Kiệt (2014).  
Mô hình quy hoạch đô thị của các nước phát triển.  
Tạp chí Xây dựng Đô thị và Nông thôn Trung Quốc.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đỗ Thị Thanh Huyền (2020). Một số khía  
cạnh kinh tế - xã hội của các hộ nông dân bị thu hồi  
đất sản xuất nông nghiệp cho công nghiệp hóa và đô  
thị hóa trên địa bàn huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.  
Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020. 18  
(9): 678 - 686.  
13. Acharya Akash (2002). Land Acquisition,  
Loss of Employment and Women’s Participation in  
Income Generation: A Case study of Coastal Belt of  
South Gujarat. Journal of Man and Development. 14  
(3): 79 - 86.  
141  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ  
14. Diriba Dadi Debela (2016). The Impacts of  
17. Likert, R. A (1932). A technique for  
Industrialization on Farmer’s Livelihoods Land Use measuarement a attitudes, Archives of Phychology,  
and the Environment in Ethiopia: The Cases of Gelan Vol. 140, No 55.  
and Dukem Towns. PhD Dissertation. pp. 90 - 95.  
18. Mahapatra S. (2007). Livelihood pattern of  
15. Hair Jr. J. F., Anderson R. E., Tatham R. L. agricultural labour households in rural India. South  
and Black  
W. C. (1998). Multivariate Data Asia Research. 27 (1): 79-103.  
Analysis (5th ed.). New York: Macmillan Publishing  
Company.  
19. Ravallion M. and Van de Walle D. (2007).  
Does rising landlessness signal success or failure for  
16. Igbaria M., Livari J. and Maragahh H. (1995). Vietnam's  
agrarian  
transition?  
Journal  
of  
Why do individuals use computer technology? A finish Development Economics. 87 (2): 191-209.  
case study. Information and Management. 29: 227 -  
20. Tabachnick, B. G., and Fidell, L. S. (1996).  
Using Multivariate Statistics (3rd ed.). New York:  
Harper Collins.  
238.  
IMPACT OF URBANIZATION ON EMPLOYMENT OF PEOPLE IN VINH CITY, NGHE AN PROVINCE  
Tran Thai Yen, Nguyen Thanh Tra  
Summary  
The study aims to determine the impact of urbanization on the employment of people whose  
agricultural land is acquired and to propose some recommendations to secure employment for  
those who have land acquired. Data were collected from the functional departments and from the  
2-step survey on 100 households whose agricultural land was acquired and 100 officials, civil  
servants and public employees. The data were analyzed through Cronbach's Alpha coefficients,  
exploratory factor analysis and linear regression models using SPSS 20.0 software. In the period  
2008 - 2019, the urbanization rate of Vinh city increases from 37.21% to 68.30%. There are 5 groups  
of factors that influence employment. The group of factors of land acquisition has the biggest  
impact with the impact rate of 28.25 to 29.01%; the group of urbanization factors has an impact  
rate of 21.63-21.56%; group of labor factors has an impact rate of 19.02 - 18.58%; the group of  
supporting factors has an impact rate of 18.46 - 18.22%; the group of compensation factors has an  
impact rate of 12.63 - 12.84%. The proposed solutions include: securing jobs for households with a  
lot of land acquisition, support for career change to non - agricultural sectors, and compensation  
for land and land - attached assets.  
Keywords: Employment, factor, impact, urbanization, Vinh city.  
Người phản biện: TS. Dương Ngọc Thí  
Ngày nhận bài: 8/10/2020  
Ngày thông qua phản biện: 9/11/2020  
Ngày duyệt đăng: 16/11/2020  
142  
N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 11/2020  
pdf 9 trang baolam 22840 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tác động của đô thị hóa đến việc làm của người dân tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_tac_dong_cua_do_thi_hoa_den_viec_lam_cua_nguoi_dan.pdf