Tính cách cá nhân - Sự khác biệt trong cường độ networking trong quá trình tìm kiếm việc làm

TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
TÍNH CÁCH CÁ NHÂN - SỰ KHÁC BIỆT TRONG CƯỜNG ĐỘ  
NETWORKING TRONG QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM VIỆC LÀM  
PERSONALITY TRAITS - THE DIFFERENCE IN TERMS OF THE NETWORKING  
INTENSITY IN THE JOB SEARCH PROCESS  
Ngày nhận bài: 15/12/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 28/12/2020  
Lê Sơn Tùng  
TÓM TẮT  
Tính cách cá nhân được xem là một trong những nhân tố then chốt góp phần vào thành công của  
mỗi người, và nó cũng ảnh hưởng lớn tới quá trình và kết quả tìm kiếm việc làm của sinh viên.  
Mục đích của nghiên cứu này là khám phá sự tác động của 6 tính cách HEXACO trong việc sử  
dụng Networking cho việc tìm kiếm thông tin việc làm. Nghiên cứu này được thực hiện bằng  
phương pháp nghiên cứu định lượng, với mẫu khảo sát 773 sinh viên ở các chuyên ngành khác  
nhau. Kết quả đã chỉ ra các tính cách khác nhau sẽ có xu hướng thể hiện các cường độ hành vi  
Networking khác nhau. Kết quả và ý nghĩa của nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết.  
Từ khóa: Tính cách cá nhân, HEXACO, Networking, tìm kiếm việc làm, phương pháp định lượng..  
ABSTRACT  
Personality trait is seen as a key factor contributing people’s success, and it also influences  
significantly the job search process and outcomes of students. The goal of this research is to  
investigate the effect of six HEXACO traits in using Networking for looking for a job, with a sample  
of 773 students who study in many different majors. Results indicated that different traits tend to  
express dissimilar levels of Networking. Results and implication will be discussed.  
Keywords: Personality trait, HEXACO, Networking, job search, quantitative method.  
cá nhân đối với kết quả tuyển dụng, tuy  
1. Giới thiệu  
nhiên vẫn còn ít sự quan tâm dành cho việc  
Những nhân tố góp phần vào sự hiệu quả  
tìm hiểu vai trò của tính cách cá nhân đối với  
và thành công của mỗi người thường thu hút  
hành vi tìm kiếm việc làm, và cụ thể đó là  
sự quan tâm của các học giả. Rất nhiều  
hành vi Networking trong quá trình tìm kiếm  
những nghiên cứu trước đây đã chỉ ra vai trò  
của tính cách cá nhân trong nhận thức công  
việc làm.  
Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu  
vai trò của các loại tính cách khác nhau trong  
việc liên hệ với bạn bè, người quen về các  
thông tin việc làm, hay còn gọi là hành vi  
Networking (Wanberg & cộng sự, 2000),  
điều này ảnh hưởng tích cực kết quả tìm  
kiếm việc làm.  
việc, hiệu quả làm việc và thành công trong  
cuộc sống (Barrick & Mount, 1991; Fullarton  
& cộng sự, 2013; Kramer & cộng sự, 2014;  
Smidt & cộng sự, 2018). Tính cách cá nhân  
cũng ảnh hưởng lớn tới quá trình tìm kiếm  
việc làm của sinh viên và kết quả tìm kiếm  
việc làm của họ (Boswell & cộng sự, 2006;  
Boudreau & cộng sự, 2001; Kanfer & cộng  
sự, 2001, Saks, 2006). Ví dụ, những người có  
tính cách hướng ngoại có xu hướng nắm bắt  
được nhiều cơ hội việc làm và tìm kiếm được  
công việc mong muốn. Mặc dù các nghiên  
cứu trước đây đã chỉ ra vai trò của tính cách  
Lê Sơn Tùng, Khoa Kinh tế, Trường Đại học  
Hàng Hải Việt Nam  
95  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
làm, cụ thể là hành vi Networking – một  
phương pháp tìm kiếm việc làm hiệu quả.  
2. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu.  
2.1. Hành vi Networking và hiệu quả tìm kiếm  
2.2. Tính cách cá nhân HEXACO  
Theo Wanberg và cộng sự (2000) cho  
rằng hành vi Networking là việc liên hệ với  
bạn bè, người quen biết để tìm kiếm thông tin  
việc làm, qua đó làm gia tăng cơ hội tuyển  
dụng. Mặc dù đây là một phương pháp tìm  
kiếm việc làm không chính thức, nhưng rất  
nhiều nghiên cứu trước đây khẳng định  
Networking là một phương pháp đặc biệt  
hiệu quả và được sử dụng rất phổ biến ở rất  
nhiều quốc gia (Forret, 2014; Lin & Le,  
2019; Van Hoye & cộng sự, 2009; Wanberg  
& cộng sự, 2000). Theo nghiên cứu của tác  
giả Franzen & Hangartner (2006), có trên  
40% người lao động ở Nhật và Mỹ tìm kiếm  
được việc làm thông qua các mối quan hệ xã  
hội, trong khi đó tỷ lệ này ở Phillipines là  
trên 80%. Networking cũng được kiểm  
chứng là phương pháp đem lại nhiều cơ hội  
phỏng vấn việc làm, và cơ hội tuyển dụng  
cho người tìm việc (Lin & Le, 2019).  
Vào năm 2004, nhóm tác giả Ashton và  
cộng sự lần đầu tiên giới thiệu về mô hình  
HEXACO về 6 loại tính cách cá nhân, bao gồm  
tính trung thực-khiêm tốn (honesty–humility),  
tính đa cảm (emotionality), tính hướng ngoại  
(extraversion), tính dễ chịu (agreeableness),  
tính tận tâm (conscientiousness), và tính sẵn  
sàng trải nghiệm (openness to experience).  
Mô hình được chứng minh là miêu tả tốt  
nhất về các loại tính cách con người so với  
mô hình 5 loại tính cách trước đây của  
Costa & McCrae (1992).  
Ashton và cộng sự cho biết mỗi một loại  
tính cách phản ánh những đặc trưng cá nhân  
riêng. Tính trung thực – khiêm tốn được  
phản ánh thông qua những đặc trưng cơ bản  
như trung thực, chân thành, công bằng,  
không tham lam và khiêm tốn. Trong khi đó  
tính đa cảm lại được đặc trưng bởi những  
mặt tiêu cực như sợ hãi, lo lắng, phụ thuộc,  
ủy mị. Còn tính cách hướng ngoại phản ánh  
những đặc điểm tích cực trong việc tương tác  
xã hội như thể hiện, mạnh dạn, tương tác và  
sôi nổi. Tính cách dễ chịu là một dạng tính  
cách của những đặc trưng sự tha thứ, lịch sự,  
linh hoạt và kiên nhẫn. Tính cách tận tâm  
phản ánh tính chất của một người cẩn thận, tỉ  
mỉ trong mọi việc như tổ chức, siêng năng,  
cầu toàn, thận trọng. Cuối cùng là tính sẵn  
sàng trải nghiệm là một dạng tính cách phản  
ánh thích sự mới mẻ, sáng tạo được khái quát  
thông qua tính thẩm mỹ, ham học hỏi, sáng  
tạo và độc đáo.  
Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số  
lớn, đang bước vào thời kì “cơ cấu dân số  
vàng” với độ tuổi trung bình khá trẻ. Theo  
như số liệu của Cục thống kê, tính đến hết  
năm 2020 dân số Việt Nam khoảng 97,58  
triệu người, và hàng năm có khoảng 1 triệu  
lao động bước vào thị trường lao động. Điều  
đó là một thách thức đối với các cấp, các  
ngành trong công tác tạo công ăn việc làm và  
ổn định kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, đối với  
các cá nhân mức độ cạnh tranh trên thị  
trường lao động ngày càng gia tăng do cơ hội  
tuyển dụng thu hút càng nhiều ứng viên tham  
gia ứng tuyển. Bức tranh đó đòi hỏi các nhà  
nghiên cứu, nhà làm công tác tư vấn nghề  
nghiệp cần phải xây dựng những phương  
pháo tìm kiếm việc làm hiệu quả cho các  
người tìm kiếm việc làm. Nghiên cứu này  
được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam sẽ  
góp phần làm phong phú cơ sở lý luận về các  
nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm việc  
2.3. Mối quan hệ giữa HEXACO và  
Networking  
Theo nhóm tác giả Molho và cộng sự  
(2016), người có tính cách trung thực và  
khiêm tốn có xu hướng nhận được sự yêu quí  
của những người xung quanh và thậm chí là  
96  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
sự hỗ trợ. Tuy nhiên theo tác giả Lee &  
xu hướng nhận được các sự quý mến của mọi  
người (Selden & Goodie, 2017). Trước đây,  
các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy rằng tính  
dễ chịu có liên quan đến tần suất giao tiếp,  
điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc  
duy trì các mối quan hệ xã hội (Huang và  
cộng sự, 2018; Wu và cộng sự, 2008). Dựa  
trên logic cơ bản được trình bày, chúng tôi  
dự đoán rằng:  
Ashton (2004) cho rằng những người có tính  
cách trung thực và khiêm tốn lại muốn sự  
công bằng với tất cả mọi người, và họ không  
vì lợi ích cá nhân để tìm kiếm sự hỗ trợ của  
người khác. Chính vì vậy, những sinh viên  
tìm kiếm việc làm có tính cách này dường  
như cũng tránh việc sử dụng các mối quan hệ  
cá nhân để tìm kiếm sự giới thiệu trong công  
việc. Chúng tôi giả thuyết rằng:  
H4: Sinh viên với tính cách dễ chịu sẽ  
tăng cường sử dụng Networking cho việc tìm  
kiếm việc làm.  
H1: Sinh viên với tính cách trung thực –  
khiêm tốn sẽ hạn chế sử dụng Networking  
cho việc tìm kiếm việc làm.  
Sự tận tâm có liên quan đến chất lượng  
tình bạn và giảm xung đột trong mối quan  
hệ (Selden & Goodie, 2017), nhưng có liên  
quan tiêu cực với tần suất trao đổi về ý  
tưởng, suy nghĩ và thông tin (Huang và  
cộng sự, 2018). Một số nghiên cứu cho rằng  
tính tận tâm không dự đoán được quy mô  
hoặc số lượng các mối quan hệ mới (Selden  
& Goodie, 2017). Dường như những người  
có đặc điểm lương tâm gắn liền với sự tự  
chủ, chuẩn bị kỹ lưỡng để tránh sai lầm và  
tránh sự nhờ vả từ người khác (Lee &  
Ashton, 2004; Roberts và cộng sự, 2012).  
Do đó, chúng tôi dự đoán rằng:  
Đối với các cá nhân có tính cách đa cảm,  
có đặc điểm như lo lắng, sợ hãi và ít cảm xúc  
với người khác, chúng tôi dự đoán rằng  
những sinh viên với đặc điểm này dường như  
có ít kỹ năng xã hội và hạn chế tiếp xúc  
người khác. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến  
kỹ năng giao tiếp, tương tác của họ với người  
khác trong quá trình tìm kiếm thông tin việc  
làm. Do đó, tác giả giả thuyết rằng:  
H2: Sinh viên với tính cách đa cảm sẽ hạn  
chế sử dụng Networking cho việc tìm kiếm  
việc làm.  
Những người có tính hướng ngoại cao  
thường có xu hướng tìm kiếm và kết nối các  
mối quan hệ xã hội; và họ cũng có kỹ năng  
tương tác xã hội tốt hơn và cảm thấy ít lo  
lắng hơn những người hướng nội (Argyle &  
Lu, 1990; Selden & Goodie, 2017). Các  
nghiên cứu trước đây đã chỉ ra bằng chứng  
cho thấy người có tính cách hướng ngoại có  
liên quan tích cực đến hành vi Networking  
(Forret & Dougherty, 2001; Van Hoye và  
cộng sự, 2009; Wanberg và cộng sự, 2000;  
Wolff & Kim, 2012). Chúng tôi cho rằng:  
H5: Sinh viên với tính cách tận tâm sẽ  
hạn chế sử dụng Networking cho việc tìm  
kiếm việc làm.  
Huang & cộng sự (2018) khẳng định rằng  
những người có tính cách sẵn sàng trải  
nghiệm thích trao đổi ý tưởng, suy nghĩ và  
thông tin thường xuyên. Bằng chứng từ một  
số nghiên cứu cho thấy rằng tính cách sẵn  
sàng trải nghiệm tỷ lệ thuận với số lượng các  
mối quan hệ, họ thích tương tác và giao lưu  
với mọi người (Wagner và cộng sự, 2014;  
Zhu và cộng sự, 2013). Chúng tôi đưa ra giả  
thuyết rằng:  
H3: Sinh viên với tính cách hướng ngoại  
sẽ tăng cường sử dụng Networking cho việc  
tìm kiếm việc làm.  
H6: Sinh viên với tính cách sẵn sàng trải  
nghiệm sẽ tăng cường sử dụng Networking  
cho việc tìm kiếm việc làm.  
Những người có tính dễ chịu cao thường  
ít gây ra xung đột với người khác, và họ có  
97  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Dựa trên những lập luận và giả thuyết ở  
phía trên, tác giả xây dựng mô hình nghiên  
cứu như sau:  
dựa vào các nghiên cứu của các tác giả trước  
đây để xây dựng thang đo lường cho các  
nhân tố nghiên cứu.  
Nhân tố “Tính cách cá nhân” được đo  
lường bằng thang đo của Ashton và cộng sự  
(2009) phát triển, bao gồm các loại tính cách  
trung thực-khiêm tốn, đa cảm, hướng ngoại,  
dễ chịu, tận tâm, và sẵn sàng trải nghiệm.  
Thang đo này có tất cả 60 biến quan sát, mỗi  
tính cách cá nhân được đo lường bởi 10 biến  
quan sát. Ashton và cộng sự (2009), báo cáo  
độ tin cậy của các thang đo trung thực-khiêm  
tốn, đa cảm, hướng ngoại, dễ chịu, tận tâm,  
và sẵn sàng trải nghiệm lần lượt là 0,79;  
0,78; 0,80; 0,77; 0,78 và 0,77.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nhân tố “Networking-tìm kiếm việc làm”  
sử dụng thang đo được xây dựng bởi  
Wanberg và cộng sự (2000). Thang đo này  
có 9 biến quan sát. Theo Wanberg và cộng sự  
(2000), thang đo của nhân tố “Networking-  
tìm kiếm việc làm” có hệ số tin cậy  
Cronbach’s Alpha là 0,93. Dựa trên những  
thang đo có độ tin cậy cao của các nghiên  
cứu trước đây, tác giả đã sử dụng những  
thang đo này vào nghiên cứu hiện tại. Độ tin  
cậy của thang đo trong bối cảnh ở Việt Nam  
và kết quả phân tích dữ liệu được trình bày  
trong phần kết quả nghiên cứu.  
3.1. Đối tượng và qui trình khảo sát  
Để đánh giá và kiểm tra mô hình nghiên  
cứu, tác giả tiến hành khảo sát trên nhóm  
sinh viên bằng hình thức khảo sát online. Tác  
giả gửi mail tới sinh viên, trong đó có đính  
kèm 1 đường link khảo sát online bằng  
google form. 850 email được gửi đi, và kết  
quả nhận được 773 kết quả hợp lệ, tương ứng  
với tỷ lệ phản hồi là 91%. Trong đó, có 355  
người là nữ và 418 người là nam, tương ứng  
lần lượt là 45,9 và 54,1%. Độ tuổi trung bình  
là 23,22 tuổi.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Để đánh giá độ tin cậy của bộ dữ liệu  
khảo sát, tác giả sử dụng Cronbach’s Alpha.  
Bên cạnh đó, để biết thang đo các tính cách  
cá nhân, và networking có phù hợp hay  
không, chúng tôi đã sử dụng phương pháp  
phân tích khám phá (EFA). Sau khi có được  
thang đo tin cậy, tác giả tiếp tục sử dụng mô  
hình SEM để phân tích sự tương quan giữa  
các biến trong mô hình nghiên cứu.  
4.1. Mô tả dữ liệu nghiên cứu  
Dữ liệu nghiên cứu được trình bày chi tiết  
theo giới tính, độ tuổi và ngành nghề theo  
Bảng 1.  
Bảng 1. Đặc điểm mẫu khảo sát.  
Chỉ tiêu  
Số lượng  
Tỷ lệ %  
Giới tính  
Nam  
418  
355  
54,1  
45,9  
Nữ  
3.2. Thang đo lường  
Độ tuổi  
20-21  
Tất cả các nhân tố đo lường được đánh  
giá dựa vào thang đo Likert 5 mức độ, từ rất  
không đồng ý đến rất đồng ý. Nhóm tác giả  
13  
1,7  
22-23  
605  
78,3  
98  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
24-25  
128  
27  
16,5  
3,5  
KT, DC, HN, DC, TT, SSTN, NET có hệ số  
Cronbach’s Alpha thu được từ SPSS lần lượt  
như sau: 0,91; 0,89; 0,91; 0,90; 0,89; 0,89;  
0,93.  
Over 25  
Chuyên ngành  
Finance  
140  
180  
199  
218  
36  
18,1  
23,3  
25,7  
28,2  
4,6  
Business  
4.3. Phân tích khám phá EFA  
Accounting  
Engineering  
Other  
Sau khi kiểm tra độ tin cậy của thang đo,  
bước tiếp theo tác giả tiến hành đánh giá trị  
hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo. Để  
làm được điều này, tác giả sử dụng phân tích  
khám phá EFA. Kết quả phân tích dữ liệu  
cho biết hệ số KMO của nghiên cứu là 0,865  
nằm trong (0;1) (hoàn toàn phù hợp), kiểm  
định Barlett với Sig = 0,000 < 0,05 (đạt độ  
tin cậy cao), và giá trị Eigenvalue = 1,356 >  
1 (phù hợp) theo tiêu chuẩn của Hair & cộng  
sự (2010). Kết quả dữ liệu cũng cho biết có 7  
nhân tố độc lập, bao gồm TT-KT, DC, HN,  
DC, TT, SSTN, và NET đạt hai giá trị độc  
lập và phân biệt.  
4.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo  
Cronbach’s Alpha  
Để kiểm tra độ tin cậy của thang đo các  
biến nghiên cứu, tác giả sử dụng hệ số  
Cronbach’s Alpha để đánh giá. Việc sử dụng  
hệ số này, giúp cho tác giả nhận biết được  
những biến quan sát không phù hợp để loại  
bỏ, nhằm thu được bảng thang đo phù hợp  
nhất, có độ tin cậy cao.  
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng  
phần mềm SPSS 22.0 để tính hệ số  
Cronbach’s Alpha của các biến tính trung  
thực- khiêm tốn (TT-KT), tính đa cảm (ĐC),  
tính hướng ngoại (HN), tính dễ chịu (DC),  
tính tận tâm (TT), tính sẵn sàng trải nghiệm  
(SSTN), Networking (NET). Các biến TT-  
4.4. Kiểm tra độ tương quan  
Công việc tiếp theo là kiểm tra mức độ  
tương quan giữa các biến, và tác giả sử dụng  
ma trận tương Pearson để đánh giá mức độ  
tương quan này.  
Bảng 2. Ma trận tương quan Pearson giữa các biến nghiên cứu.  
Biến  
Giá trị TB  
3.31  
1
1
2
3
4
5
6
1. Tính trung thực – khiêm tốn  
2. Tính đa cảm  
3.27  
-.25**  
.03  
1
3.85  
-.02  
1
3. Tính hướng ngoại  
4. Tính dễ chịu  
3.96  
.04  
-.13**  
-.17**  
-.19**  
.17**  
.05  
1
4.02  
.01  
.07  
.09*  
1
5. Tính tận tâm  
3.62  
-.04  
.06  
.02  
1
6. Tính sẵn sàng hướng ngoại  
7. Networking tìm kiếm việc  
3.98  
.26** -.52**  
.43**  
.28**  
.19**  
.26**  
làm  
dạng: y= α + β1x1i + β2x2i + β3x3i + ...... + βkxki  
+ εi. Nghiên cứu này, phương trình hồi quy  
tuyến tính được trình bày như sau:  
Networking- tìm kiếm việc làm = α + β1  
(tính trung thực – khiêm tốn) + β2 (tính đa  
4.5. Kiểm định giả thuyết  
Tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến  
tính đa biến để giải thích vai trò tác động của  
các biến tính cách tới hành vi Networking để  
tìm kiếm việc làm. Mô hình tổng quát có  
99  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
cảm) + β3 (tính hướng ngoại) + β4 (tính dễ  
chịu) + β5 (tính tận tâm) + β6 (tính sẵn sàng  
trải nghiệm) + ε. Để kiểm tra hệ số hồi quy β,  
và trị số P-value tác giả sử dụng phần mềm  
AMOS 22.0 để kiểm tra mô hình cấu trúc  
tuyến tính.  
Bảng 3. Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.  
Giả thuyết  
H1  
Hướng  
Tính trung thực – khiêm tốn  
Estimated S.E.  
C.R  
P
Networking  
Networking  
Networking  
Networking  
Networking  
Networking  
0,123 0,019 4,055  
***  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
<---  
H2  
H3  
H4  
H5  
H6  
Tính đa cảm -0,446  
0,022 -12,836 ***  
Tính hướng ngoại 0,412  
0,027 13,129  
0,027 4,393  
***  
***  
Tính dễ chịu  
Tính tận tâm  
0,128  
0,078  
0,052 0,693 0,462  
0,018 4,949 ***  
Tính sẵn sàng trải nghiệm 0,148  
Giả thuyết H1: Sinh viên với tính cách  
Giả thuyết H6: Sinh viên với tính cách  
sẵn sàng trải nghiệm sẽ tăng cường sử dụng  
Networking cho việc tìm kiếm việc làm. Kết  
quả phân tích dữ liệu có hệ số dự báo là β =  
0,148, với độ tin cậy p < 0,05. Giả thuyết  
được chấp nhận.  
trung thực – khiêm tốn sẽ hạn chế sử dụng  
Networking cho việc tìm kiếm việc làm. Kết  
quả phân tích dữ liệu có hệ số dự báo là β =  
0,123, với độ tin cậy p < 0,05. Giả thuyết  
được chấp nhận. Tuy nhiên, với hệ số β =  
0,123 cho biết những sinh viên có tính cách  
trung thực khiêm tốn có cường độ sử dụng  
Networking cho việc tìm kiếm việc làm là lớn.  
5. Kết luận  
Dựa vào lý thuyết sự khác biệt cá nhân  
(individual difference theory), nghiên cứu đã  
chỉ ra vai trò của tính cách cá nhân trong quá  
trình tìm kiếm việc làm, đóng góp quan trọng  
vào cơ sở lý luận việc làm và tuyển dụng. Cụ  
thể, phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu  
là nhận biết được vai trò của các loại tính  
cách khác nhau trong việc liên hệ với bạn bè,  
những người xung quanh trong việc tìm kiếm  
thông tin việc làm hay còn gọi là hành vi  
Networking. Trong khi những tính cách trung  
thực - khiêm tốn, tính hướng ngoại, tính dễ  
chịu, và tính sẵn sàng trải nghiệm có ảnh  
hưởng tích cực tới việc gia tăng sử dụng mối  
quan hệ xã hội trong vấn đề tìm kiếm việc  
làm, ngược lại tính đa cảm lại khiến cho sinh  
viên lảng tránh các mối quen biết này.  
Giả thuyết H2: Sinh viên với tính cách đa  
cảm sẽ hạn chế sử dụng Networking cho việc  
tìm kiếm việc làm. Kết quả phân tích dữ liệu  
có hệ số dự báo là β = - 0,446, với độ tin cậy  
p < 0,05. Giả thuyết được chấp nhận.  
Giả thuyết H3: Sinh viên với tính cách  
hướng ngoại sẽ tăng cường sử dụng  
Networking cho việc tìm kiếm việc làm. Kết  
quả phân tích dữ liệu có hệ số dự báo là β =  
0,412, với độ tin cậy p < 0,05. Giả thuyết  
được chấp nhận.  
Giả thuyết H4: Sinh viên với tính cách dễ  
chịu sẽ tăng cường sử dụng Networking cho  
việc tìm kiếm việc làm. Kết quả phân tích dữ  
liệu có hệ số dự báo là β = 0,128, với độ tin  
cậy p < 0,05. Giả thuyết được chấp nhận.  
Trong khi sinh viên có tính cách hướng  
ngoại thể hiện tính cách chủ động, tích cực  
và tăng cường mở rộng các mối quan hệ xã  
hội, điều này góp phần làm gia tăng sự tương  
tác và phạm vi các mối quan hệ xã hội.  
Chính vì vậy kết quả nghiên cứu đã chỉ ra  
Giả thuyết H5: Sinh viên với tính cách  
tận tâm sẽ hạn chế sử dụng Networking cho  
việc tìm kiếm việc làm. Kết quả phân tích dữ  
liệu có hệ số dự báo là β = 0,078, với độ tin  
cậy p > 0,05. Giả thuyết bị bác bỏ.  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
những sinh viên với tính cách này thể hiện  
quanh, điều đó dẫn tới họ không có nhiều  
hoạt động Networking để tìm kiếm việc làm.  
cường độ Networking trong quá trình tìm  
kiếm việc làm rất cao. Ngược lại, đối với  
sinh viên có tính cách Đa cảm thể hiện sự bất  
ổn trong tính cách. Họ thể hiện sự bất  
thường, gây mâu thuẫn xung đột với những  
người xung quanh. Điều đó dẫn tới việc họ  
có ít mối quan hệ, và có chất lượng mối quan  
hệ thấp. Nghiên cứu này đã chỉ ra những sinh  
viên có tính cách này liên quan tới cường độ  
Networking ở mức thấp. Bên cạnh đó, những  
sinh viên có tính cách trung thực – khiêm  
tốn, dễ chịu có được những mối quan hệ thân  
thiết do bản tính hòa đồng và dễ gần của  
mình. Những sinh viên này thường nhận  
được sự ủng hộ và giúp đỡ từ những người  
xung quanh. Cuối cùng là tính cách sẵn sàng  
trải nghiệm cũng cho thấy vai trò đối với việc  
Networking. Những sinh viên có tính cách  
này thường sẵn sàng trải nghiệm với điều  
mới mẻ, họ cũng sẵn sàng thể hiện sự tương  
tác xã hội nếu cần.  
Nghiên cứu này có ý nghĩa đáng kể đối với  
cả sinh viên và những người làm công tác giáo  
dục. Trước hết đối với sinh viên, họ có thể  
nhận biết được lợi thế hay bất lợi của mình khi  
biết mình thuộc nhóm tính cách nào. Qua đó,  
sinh viên có thể đẩy mạnh hoạt động  
Networking để gia tăng cơ hội việc làm cho  
chính mình. Đối với các nhà quản lý giáo dục,  
có thể sử dụng các biện pháp đào tạo để thúc  
đẩy tính cách có lợi cho sinh viên hoặc đưa ra  
biện pháp để giảm nhẹ những tính cách ảnh  
hưởng xấu đến quá trình tìm kiếm việc làm.  
Mặc dù nghiên cứu này có những đóng  
góp quan trọng, tuy nhiên cũng có một vài  
giới hạn không thể tránh khỏi. Hạn chế đầu  
tiên phải kể đến đó là nghiên cứu này được  
thực hiện theo nghiên cứu cắt ngang (cross-  
sectional study), mà không phải là nghiên  
cứu dài hạn (longitudinal studies). Lý do là  
để thực hiện được một nghiên cứu dài hạn  
cần rất nhiều điều kiện như thời gian, tài  
chính, nhân lực,… Tuy nhiên, để tránh  
những sai lệch do nghiên cứu cắt ngang gây  
ra, nhóm tác giả đã trộn lẫn các câu hỏi đo  
lường của các biến lại với nhau, để đối tượng  
tham gia khảo sát không nhận biết được các  
nhân tố, từ đó thu được dữ liệu đáng tin cậy.  
Hạn chế thứ hai là nghiên cứu được thực hiện  
ở ba trường đại học ở khu vực miền Bắc. Các  
nghiên cứu trong tương lai có thể tiến hành ở  
qui mô 3 miền Bắc, Trung, Nam để đảm bảo  
mức độ phân bố của dữ liệu nghiên cứu. Một  
hướng nghiên cứu tiềm năng thứ hai là kiểm  
tra các biến trung gian giữa các loại tính cách  
cá nhân và hành vi Networking như độ thân  
thiết của các mối quan hệ, hoặc số lượng các  
mối quan hệ của các cá nhân, để chứng minh  
cơ chế tác động của các tính cách cá nhân  
đến hành vi Networking trong quá trình tìm  
kiếm việc làm.  
Nghiên cứu này cũng đã phần nào làm  
sáng tỏ cho câu hỏi tại sao các cá nhân lại có  
hiệu quả tìm kiếm việc làm và cơ hội tuyển  
dụng khác nhau. Mặc dù có rất nhiều nghiên  
cứu trước đây nghiên cứu về các yếu tố như  
trình độ học vấn, năng lực, kỹ năng,… ảnh  
hưởng đến cơ hội tuyển dụng của sinh viên,  
tuy nhiên họ lại bỏ qua yếu tố tính cách cá  
nhân. Đóng góp ý nghĩa của nghiên cứu này  
là chỉ ra vai trò của tính cách của sinh viên  
trong quá trình tìm kiếm việc làm. Đối với  
những sinh viên mà sở hữu tính cách hướng  
ngoại hay tính cách sẵn sàng trải nghiệm có  
xu hướng chủ động phát triển và liên hệ với  
mối quan hệ xã hội để tìm hiểu và nắm bắt cơ  
hội việc làm. Trong khi đó, những sinh viên  
có tính cách đa cảm hoặc tính cách hướng  
nội thì họ dường như ít khi thể hiện sự chủ  
động trong các mối quan hệ và cũng thường  
xuyên có những xung đột với các người xung  
101  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này nằm trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường và được tài  
trợ bởi Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Argyle, M., & Lu, L. (1990). The happiness of extraverts. Personality and Individual  
Differences, 10, 1011-1017. doi:10.1016/0191-8869(90)90128-E  
Ashton, M. C., & Lee, K. (2009). The HEXACO-60: A short measure of the major dimensions  
of  
personality.  
ournal  
of  
Personality  
Assessment,  
91(4),  
340-345.  
doi:10.1080/00223890902935878  
Ashton, M. C., Lee, K., Perugini, M., Szarota, P., Vries, R. E., Blas, D. L., . . . Raad, B. D.  
(2004). A six-factor structure of personality-descriptive adjectives: solutions from  
psycholexical studies in seven languages. Journal of Personality and Social  
Psychology, 86(2), 356–366. doi:10.1037/0022-3514.86.2.356  
Barrick, M. R., & Mount, M. K. (1991). The big five personality dimensions and job  
performance: A meta-analysis. Personnel Psychology, 44(1), 1-26. doi:10.1111/j.1744-  
6570.1991.tb00688.x  
Boswell, W. R., Roehling, M. V., & Boudreau, J. W. (2006). The role of personality,  
situational, and demographic variables in predicting job search among European  
managers.  
Personality  
and  
Individual  
Differences,  
40(4),  
783–794.  
doi:10.1016/j.paid.2005.09.008  
Boudreau, J. W., Boswell, W. R., Judge, T. A., & Bretz, J. R. (2001). Personality and cognitive  
ability as predictors of job search among employed managers. Personnel Psychology,  
5(54), 25–50. doi:10.1111/j.1744-6570.2001.tb00084.x  
Costa, P. T., & McCrae, R. R. (1992). Normal personality assessment in clinical practice: The  
NEO Personality Inventory. Psychological Assessment, 4(1), 5-13. doi:10.1037/1040-  
3590.4.1.5  
Forret, M. L. (2014). Networking as a job-search behavior and career management strategy. In  
U.-C. Klehe , & E. Van Hooft, The Oxford Handbook of Job Loss and Job Search (pp.  
275-291). Oxford University Press. doi:10.1093/oxfordhb/9780199764921.013.022  
Forret, M. L., & Dougherty, T. W. (2001). Correlates of networking behavior for managerial  
and professional employees. Group & Organization Management, 26, 283–311.  
doi:10.1177/1059601101263004  
Franzen, A., & Hangartner, D. (2006). Social networks and labour market outcomes: The non-  
monetary benefits of social capital. European Sociological Review, 22(4), 353–368.  
doi:10.1093/esr/jcl001  
Fullarton, C., Fuller-Tyszkiewicz, M., & Treuer, K. V. (2013). The mediating role of work  
climate perceptions in the relationship between personality and performance. 23(4),  
525-536. doi:10.1080/1359432X.2013.764601  
Hair, J. F., Anderson, R. E., Babin, B. J., & Black, W. C. (2010). Multivariate data analysis: A  
global perspective (Vol. 7). USA: Upper Saddle River.  
Hoye, G. V., Hooft, E. V., & Lievens, F. (2009). Networking as a job search behaviour: A  
social network perspective. Journal of Occupational and Organizational Psychology,  
82, 661–682. doi:10.1348/096317908X360675  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ - SỐ 8(04) - 2020  
Huang, H.-C., Cheng, T., Huang, W.-F., & Teng , C.-I. (2018). Who are likely to build strong  
online social networks? The perspectives of relational cohesion theory and personality  
theory. Computers in Human Behavior, 82, 111-123. doi:10.1016/j.chb.2018.01.004  
Kanfer, R., Wanberg, C. R., & Kantrowitz, T. M. (2001). Job search and employment: A  
personality-motivational analysis and meta-analytic review. Journal of Applied  
Psychology, 86, 837–855. doi:10.1037/0021-9010.86.5.837  
Kramer, A., Bhave, D. P., & Johnson, T. D. (2014). Personality and group performance: The  
importance of personality composition and work tasks. Personality and Individual  
Differences, 58, 132–137. doi:10.1016/j.paid.2013.10.019  
Lee, K., & Ashton, M. C. (2004). Psychometric properties of the HEXACO personality  
inventory. 39(2), 329-358. doi:10.1207/s15327906mbr3902_8  
Lin, S.-P., & Le, S.-T. (2019). Predictors and outcomes of Vietnamese university  
graduates’networking behavior as job seekers. Social behavior and Personality, 47(10),  
1-11. doi:10.2224/sbp.8379  
Molho, C., Roberts, S. G., de Vries, R. E., & Pollet, T. V. (2016). The six dimensions of  
personality (HEXACO) and their associations with network layer size and emotional  
closeness to network members. Personality and Individual Differences, 99, 144-148.  
doi:10.1016/j.paid.2016.04.096  
Roberts, B. W., Lejuez, C. W., Krueger, R. F., & Richards, J. M. (2012). What Is  
conscientiousness and how can it be assessed? Developmental Psychology, 50(5),  
1315–1330. doi:10.1037/a0031109  
Saks, A. M. (2006). Multiple predictors and criteria of job search success. Journal of  
Vocational Behavior, 68, 400–415. doi:10.1016/j.jvb.2005.10.001  
Selden, M., & Goodie, A. S. (2017). Review of the effects of Five Factor Model personality  
traits on network structures and perceptions of structure. Social Networks, 52, 81-99.  
doi:10.1016/j.socnet.2017.05.007  
Smidt, W., Kammermeyer, G., Roux, S., & Theisen, C. (2018). Career success of preschool  
teachers in Germany – the significance of the Big Five personality traits, locus of  
control, and occupational self-efficacy. Early Child Development and Care, 188(10),  
1340–1353. doi:10.1080/03004430.2017.1314275  
Wagner, J., Lüdtke, O., Roberts, B. W., & Trautwein, U. (2014). Who belongs to me? social  
relationship and personality characteristics in the transition to young adulthood.  
European Journal of Personality, 28(6), 586-603. doi:10.1002/per.1974  
Wanberg, C. R., Kanfer, R., & Banas, J. T. (2000). Predictors and outcomes of networking  
intensity among unemployed job seekers. Journal of Applied Psychology, 85, 491–503.  
doi:10.1037/0021-9010.85.4.491  
Wolff, H.-G., & Kim, S. (2012). The relationship between networking behaviors and the Big  
Five personality dimensions. Career Development International, 17(1), 43-66.  
doi:10.1108/13620431211201328  
Wu, P.-C., Foo, M.-D., & Turban, D. B. (2008). The role of personality in relationship  
closeness developer assistance and career success. Journal of Vocational Behavior,  
73(3), 440-448. doi:10.1016/j.jvb.2008.08.005  
Zhu, X., Woo, S. E., Porter, C. M., & Brzezinski, M. (2013). Pathways to happiness: From  
personality to social networks and perceived support. Social Networks, 35(3), 382–393.  
doi: 10.1016/j.socnet.2013.04.005  
103  
pdf 9 trang baolam 24560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tính cách cá nhân - Sự khác biệt trong cường độ networking trong quá trình tìm kiếm việc làm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_cach_ca_nhan_su_khac_biet_trong_cuong_do_networking_tro.pdf