Gender equality in the field of ethnic works - view from objectives development strategies
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
GENDER EQUALITY IN THE FIELD OF ETHNIC WORKS
- VIEW FROM OBJECTIVES DEVELOPMENT STRATEGIES
Giang Khac Binha
Ha Quang Khueb
Vietnam Academy for Ethnic Minorities
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
06/9/2021
08/9/2021
18/9/2021
25/9/2021
30/9/2021
he Government issued Resolution No. 28/NQ-CP on March 3rd, 2021, promulgating the National
T
Strategy on Gender Equality for the period of 2021-2030 with specific targets to further narrow
the gender gap, creating conditions and opportunities for women and men to participate and enjoy equal
benefits in all fields of social life, contributing to the sustainable development of the country. From the
results and shortcomings in the implementation of the National Strategy on Gender Equality for the
period of 2011-2020, it can be seen that the implementation of the objectives of the National Strategy on
Gender Equality for the period of 2021-2030 will face many difficulties and challenges. Especially the
implementation of gender equality in the field of ethnic works due to the socio-economic characteristics
as well as the culture, customs and practices of ethnic minorities. This situation raises many issues that
need to be studied.
Keywords: Gender equality; National Strategy on Gender Equality; Gender equality in the field of
ethnic works.
1. Đặt vấn đề
từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan,
trong đó có nguyên nhân từ đặc điểm văn hóa, kinh
tế-xã hội vùng DTTS&MN .
Bình đẳng nam nữ - bình đẳng giới là vấn đề
luôn nhận được sự quan tâm của toàn nhân loại, là
một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế
về quyền con người, đặc biệt là Công ước Liên hợp
quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ (CEDAW). Do đó, bình đẳng nam nữ trở
thành một trong những tiêu chí đánh giá trình độ
văn minh, tiến bộ của một quốc gia.
2. Tổng quan nghiên cứu
Bình đẳng giới là vấn đề rộng, bao trùm lên các
lĩnh vực đời sống, từ chính trị cho đến kinh tế-xã
hội. Vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam, trong đó
có vấn đề bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN được
nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế quan
tâm. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu,
báo cáo chủ yếu sau:
Sau khi Thủ tưởng Chính phủ ký Quyết định số
2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010, phê duyệt Chiến
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-
2020, Ủy ban Dân tộc đã có những bước đi hết sức
cụ thể nhằm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình
đẳng giới giai đoạn 2011-2020 ở vùng dân tộc thiểu
số và miền núi (DTTS&MN). Trong quá trình thực
hiện, nhiều khó khăn, thách thức đã nảy sinh, nhiều
mục tiêu không thể hoàn thành. Điều đó xuất phát
- Các công trình nghiên cứu
Trong cuốn sách “Thực hiện bình đẳng giới ở
vùng dân tộc thiểu số Việt Nam” (Minh, 2020), các
tác giả trình bày những vấn đề cơ bản về bình đẳng
giới ở vùng DTTS &MN trong các lĩnh vực chính
trị, giáo dục, lao động việc làm, y tế và chăm sóc
Volume 10, Issue 3
15
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
sức khỏe…, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu Isee (2010), “Báo cáo hiện trạng bất bình đẳng giới
nhằm nâng cao hiệu quả chính sách bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số”, Hà Nội; Action
Aid. (2008), “Báo cáo khảo sát quyền tiếp cận
của phụ nữ trong các vùng phát triển của AAV tại
Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình) và Tam Đường (tỉnh Lai
Châu)”; UNFPA (2007), “Kiến thức và hành vi của
cộng đồng dân tộc thiểu số về sức khỏe sinh sản”,
Hà Nội; UNFPA (2006), “Thực trạng cung cấp và
sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 07
tỉnh tham gia chương trình quốc gia 7 do UNFPA
tài trợ: Báo cáo điều tra ban đầu”, UNFPA, Hà Nội;
UNFPA (2008a), “Sinh đẻ của cộng đồng dân tộc
thiểu số: nghiên cứu định tính tại Bình Định”, Hà
Nội; UNFPA (2008b), “Sức khỏe sinh sản của đồng
bào Mông tỉnh Hà Giang: Nghiên cứu nhân học
y tế”, Hà Nội; UNICEF-UNESCO-BGDĐT Việt
Nam (2008), “Nghiên cứu về chuyển tiếp từ tiểu
học lên trung học cơ sở của trẻ em gái người dân
tộc thiểu số”, Hà Nội… Qua các nghiên cứu định
tính, các báo cáo đã chỉ rõ kết quả và những hạn
chế trong công tác bình đẳng giới ở vùng đồng bào
DTTS&MN nước ta hiện nay trong những phạm vi
cụ thể.
ở vùng DTTS&MN. Trong cuốn “Bất bình đẳng
giới về giáo dục, việc làm, thu nhập và nghèo đói ở
đồng bằng sông Cửu Long hiện nay: tiếp cận nhân
học và xã hội học” (Tiep, 2017), từ việc khảo sát
và phân tích sự bất bình đẳng giới trong việc tiếp
cận cơ hội và thụ hưởng các vấn đề giáo dục, lao
động, việc làm, thu nhập và nghèo đói ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long, các tác giả đã xác định những
nguyên nhân của sự bất bình đẳng, mức độ bất bình
đẳng và hậu quả của sự bất bình đẳng, đồng thời dự
báo xu hướng về sự bất bình đẳng giới trong lĩnh
vực giáo dục, lao động, việc làm, thu nhập và nghèo
đói trong thời gian tới.
Vấn đề bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN cũng
rất được báo chí quan tâm. Ngày 05/01/2018, trang
Thông tin điện tử của Tổng cục dân số - kế hoạch
hóa gia đình có bài viết: “Bất bình đẳng giới trong
cộng đồng DTTS trong bối cảnh đảm bảo an ninh
con người: thực trạng và giải pháp”, tác giả phân
tích thực trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng
DTTS ở nhiều khía cạnh: phân công lao động theo
giới, tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, cơ hội trong
giáo dục và việc làm,… Qua đó, tác giả chỉ rõ
những bất bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN trước
hết xuất phát từ đặc điểm văn hóa, sự phân công lao
động truyền thống.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về bình
đẳng giới ở vùng DTTS&MN ở Việt Nam đã cho
thấy rõ những thành tựu mà chính sách bình đẳng
giới mang lại, góp phần cải thiện đáng kể sự bất
bình đẳng giới ở vùng đồng bào DTTS&MN. Tuy
nhiên, các báo cáo, công trình nghiên cứu cũng
đã chỉ ra rằng, việc thực hiện các chính sách bình
đẳng giới ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề
cần giải quyết. Điều đáng nói, chưa có công trình
nghiên cứu, báo cáo nào nghiên cứu vấn đề bình
đẳng giới ở vùng đồng bào DTTS&MN từ góc nhìn
mục tiêu chiến lược, đặc biệt là Chiến lược bình
đẳng giới giai đoạn 2021-2030.
Bên cạnh đó, có thể kể các công trình nghiên cứu
về bình đẳng giới tại các địa phương như “Nghiên
cứu, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực chuyên
môn về bình đẳng giới đối với cán bộ cấp xã trên địa
bàn tỉnh Yên Bái” do Phạm Tuấn Chung làm Chủ
nhiệm (đề tài cấp tỉnh, 2018); “Nghiên cứu một số
vấn đề về phụ nữ với gia đình và bình đẳng giới ở
tỉnh Kon Tum” do Vũ Thị Minh Huệ làm Chủ nhiệm
(đề tài cấp tỉnh, 1999); “Một số yếu tố liên quan tới
bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản
tại 8 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ” do Phạm Văn
Tác, Bùi Thị Thu Hà đồng Chủ nhiệm (nhiệm vụ
cấp Bộ, 2015); “Thực trạng và giải pháp thực hiện
bình đẳng giới trong gia đình và xã hội của phụ nữ
nông thôn tỉnh Khánh Hòa” do Bùi Thị Hồng Tiến
(nhiệm vụ cấp tỉnh, 2008), “Một số nét về bình đẳng
giới ở các dân tộc thiểu số (qua khảo sát một số địa
bàn tại Sa Pa)”, tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm,
“Nghiên cứu giới và gia đình”, số 2, 2006… Trong
các nghiên cứu trên, các tác giả đã phân tích thực
trạng bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN trên từng
lĩnh vực khác nhau, từ đó đề xuất những giải pháp
cụ thể nhằm nâng cao chất lượng bình đẳng giới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp tổng hợp,
so sánh, đối chiếu các tài liệu thứ cấp với một khối
lượng tài liệu khá phong phú, bao gồm các công
trình nghiên cứu, hệ thống văn bản chính sách, các
báo cáo về bình đẳng giới của cơ quan quản lý nhà
nước về công tác dân tộc, kết hợp với số liệu điều
tra thực trạng kinh tế-xã hội 53 DTTS do Ủy ban
Dân tộc và Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2015
và 2019.
4. Nội dung nghiên cứu
4.1. Vấn đề nhận thức về bình đẳng giới ở
Việt Nam
Luật Bình đẳng giới (Quoc hoi, 2006) ghi rõ:
“Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử
về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong
phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân
lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ
và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa
- Các báo cáo về bình đẳng giới
Rất nhiều báo cáo về bình đẳng giới ở vùng
DTTS&MN đã được các các cơ quan, tổ chức trong
nước và nước ngoài thực hiện: Oxfam, Actinaid,
16
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và quy định liên quan đến phụ nữ có chú trọng đến bình
gia đình”.
đẳng giới bảo vệ, nhưng vô hình trung lại khiến phụ
nữ giảm đi nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp hay
cống hiến cho xã hội khi sức khỏe vẫn còn dồi dào.
Theo lý thuyết về bình đẳng giới (Hoc vien
Chinh tri quoc gia Ho Chi Minh, 2018), có 03 kiểu
quan niệm về bình đẳng giới là bình đẳng giới kiểu
4.2. Việc thực hiện Chiến lược quốc gia về
hình thức, bình đẳng giới kiểu bảo vệ và bình đẳng bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 trong cơ quan
giới kiểu thực chất. Bình đẳng giới kiểu hình thức quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ góc nhìn
xuất phát từ quan niệm coi nam và nữ là như nhau, mục tiêu
không để ý đến sự khác biệt về sinh học cũng như sự
khác biệt do xã hội quy định. Quan niệm bình đẳng
giới kiểu hình thức cho rằng, phụ nữ có thể tiếp cận
các cơ hội giống như cách tiếp cận của nam giới
nên thường chọn cách đối xử với nam và nữ giống
hệt nhau. Do vậy, xét về bản chất, kiểu quan niệm
này tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ, buộc họ phải
thể hiện mình theo cách của nam giới. Trên thực tế,
việc lồng ghép giới trong các chương trình, chính
sách dân tộc thường tiếp cận bình đẳng giới theo
hướng này, không tính đến sự khác biệt giới tính,
do đó không đạt được hiệu quả như mong muốn.
Bình đẳng giới kiểu bảo vệ nhận diện được sự khác
biệt giữa nam và nữ, nhưng cho rằng cần tập trung
xem xét các điểm yếu của phụ nữ để tạo ra những
sự đối xử khác biệt. Quan niệm này dẫn đến việc cố
gắng tạo ra những “vỏ bọc bảo vệ phụ nữ”, chẳng
hạn như các chính sách, quy định, biện pháp... dành
riêng cho nữ (ví dụ chính sách của Việt Nam quy
định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sớm hơn nam giới 5
năm), giới hạn phụ nữ tham gia một số lĩnh vực hoạt
động được coi là không phù hợp đối với phụ nữ (các
nghề có tính hao tổn thể lực như lái xe tải, vận hành
máy... hạn chế sử dụng lao động nữ). Các biện pháp
tiếp cận bình đẳng giới kiểu bảo vệ có thể phát huy
tác dụng bảo vệ phụ nữ trong một số bối cảnh không
gian và thời gian đặc thù nào đó. Tuy nhiên, việc
thực hiện bình đẳng giới theo quan niệm này thực
ra là cản trở quyền tự do lựa chọn của phụ nữ. Phụ
nữ có thể bị tước đi hàng loạt cơ hội phát triển khiến
tình trạng bất bình đẳng giới ngày càng trở nên trầm
trọng. Nhìn chung, quan niệm này củng cố khuôn
mẫu định kiến giới và không dẫn đến biến đổi xã
hội theo hướng bình đẳng hơn.
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai
đoạn 2011-2020 (Thu tuong Chinh phu, 2020) đề
ra 7 mục tiêu cụ thể: Mục tiêu 1: Tăng cường sự
tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo,
nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong
lĩnh vực chính trị; Mục tiêu 2: Giảm khoảng cách
giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng
cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn,
phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn
lực kinh tế, thị trường lao động; Mục tiêu 3: Nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo
đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Mục tiêu 4: Bảo đảm
bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch
vụ chăm sóc sức khỏe; Mục tiêu 5: Bảo đảm bình
đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông tin; Mục
tiêu 6: Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia
đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới; Mục
tiêu 7: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình
đẳng giới.
Để thực hiện những mục tiêu trên, trong những
năm qua, Ủy ban Dân tộc đã thực hiện những giải
pháp cụ thể, thiết thực:
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các
văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới
Ủy ban Dân tộc đặc biệt quan tâm, chú trọng
việc tuân thủ, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.
Các luật, chương trình, chính sách về bình đẳng
giới có liên quan như: Luật Bình đẳng giới, Luật
Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng chống bạo lực
gia đình, Đề án Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới
vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018-2025 (Quyết
định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017 của Thủ
tướng Chính phủ), Đề án “Giảm thiếu tình trạng
tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng
bào dân tộc thiểu số” (Quyết định số 498/QĐ-TTg
ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ), Đề án
“Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
và tuyên truyền, vận động đồng bảo vùng dân tộc
thiểu số và miền núi” (Quyết định số 1163/QĐ-TTg
ngày 08/08/2017 của Thủ tướng Chính phủ)... được
thể hiện ở các văn bản hướng dẫn địa phương và
các văn bản phối hợp thực hiện với các bộ, ngành
liên quan.
Khi áp dụng quan niệm bình đẳng giới kiểu thực
chất, kết quả mang lại sẽ là rất lớn, chẳng hạn: Phụ
nữ và nam giới cùng được tôn trọng như nhau, cùng
chia sẻ, cùng bàn bạc và cùng ra quyết định mọi
công việc trong gia đình và xã hội, phụ nữ và nam
giới cùng được học tập, bồi dưỡng về văn hóa, khoa
học, kỹ thuật để nâng cao năng lực của mình; phụ
nữ tham gia bình đẳng với nam giới vào công việc
lãnh đạo, quản lý; phụ nữ được hưởng thụ đầy đủ
các lợi ích xã hội như nam giới.
Trên thực tế, do những hạn chế về nhận thức,
việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam mới chủ
yếu chú trọng về bình đẳng giới hình thức. Một số
- Lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào các
chương trình, chính sách phát triển
Volume 10, Issue 3
17
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Khi đề xuất xây dựng và triển khai thực hiện các
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
chương trình, chính sách lớn về phát triển kinh tế-xã hoạt động về bình đẳng giới
hội, Ủy ban Dân tộc luôn chú trọng việc lồng ghép
vấn đề bình đẳng giới, tạo tiền đề để thực thi bình
đẳng giới không chỉ trong nội bộ cơ quan Ủy ban
Dân tộc mà còn mở rộng cả ở vùng DTTS&MN. Ví
dụ, khi thực hiện Chính sách vay vốn phát triển sản
xuất đối với hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn
(Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007
của Thủ tướng Chính phủ về cho vay vốn phát triển
sản xuất đối với hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó
khăn), dựa trên thực trạng đời sống của hộ gia đình
người DTTS, trong đó có cả chủ hộ gia đình là nam
và nữ đều được bình đẳng như nhau, tại Chương
trình 135 có quy định tỷ lệ phụ nữ tham gia lập kế
hoạch thực hiện chương trình ở cấp xã không được
thấp hơn 30%, tại Hướng dẫn số 01/HD-BCĐ ngày
14/01/2019 của Ban chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn
quốc các DTTS Việt Nam lần thứ II có quy định chỉ
tiêu lựa chọn đại biểu theo giới tính, theo đó tỷ lệ
nữ ít nhất 30%...
Công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật nói
chung và kiến thức pháp luật về bình đẳng giới cho
đội ngũ cán bộ được Ủy ban Dân tộc quan tâm triển
khai khi thực hiện các đề án, chính sách. Trong năm
2018, riêng Đề án Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới
vùng DTTS&MN, Ủy ban Dân tộc đã tổ chức 05
lớp tập huấn tại 05 tỉnh (Lai Châu, Lào Cai, Cao
Bằng, Tuyên Quang, Kon Tum) cho khoảng 600
lượt người tham gia. Thành phần bao gồm đại biểu
là cán bộ Ban Dân tộc tỉnh, cán bộ phòng ban các
huyện, cán bộ xã, thôn, bản và các già làng, trưởng
bản, người có uy tín tham gia thực hiện Đề án. Nội
dung tập huấn chủ yếu là cung cấp thông tin, chính
sách, pháp luật về bình đẳng giới, hướng triển khai
thực hiện Đề án và các kỹ năng tuyên truyền, vận
động, tư vấn pháp luật về bình đẳng giới…
* Đánh giá trên cơ sở rà soát một số mục tiêu
Mặc dù đã đạt được những thành tựu rất đáng
khích lệ, tuy nhiên nếu đối chiếu với các mục tiêu,
chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
giai đoạn 2011-2020, nhiều chỉ tiêu thực hiện được
ở mức thấp, có thể coi là không đạt so với mục tiêu
đề ra1 (Ủy ban Dân tộc, 2019). Đối chiếu với Mục
tiêu 1, dù tỷ lệ cán bộ nữ trong các vị trí lãnh đạo,
quản lý đã có sự gia tăng đáng kể song vẫn còn
những hạn chế nhất định. Báo cáo của Ủy ban Dân
tộc về kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về bình
đẳng giới giai đoạn 2011-2020 cho thấy “tỉ lệ cán
bộ nữ, cán bộ người DTTS còn thấp, chưa tương
xứng với tỷ lệ dân số nữ người DTTS. Số lượng
cán bộ nữ giữ chức vụ chủ chốt chưa cao, cơ cấu
không đồng đều, nhiều nơi mất cân đối. Chất lượng
đội ngũ cán bộ DTTS tuy đã được nâng lên, nhưng
một số cán bộ vẫn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn”.
Ủy ban Dân tộc cũng đã phối hợp với Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Quốc gia
Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cơ quan, địa
phương có liên quan xây dựng kế hoạch triển khai
thực hiện Mô hình 5 trong Chương trình mục tiêu
quốc gia về bình đẳng giới với nội dung: mô hình
thí điểm về dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về bình đẳng giới
tại 30 xã, phường, thị trấn ở miền núi, vùng cao cho
đồng bào DTTS. Khảo sát đánh giá về thực trạng
bình đẳng giới tại các xã miền núi, vùng cao. Xây
dựng thí điểm một số dịch vụ thông tin, tư vấn (tại
các điểm bưu điện văn hóa xã, tại nhà người có uy
tín tại thôn, bản) nhằm nâng cao nhận thức về thực
hiện bình đẳng giới tại một số dân tộc có phong tục,
tập quán ảnh hưởng trực tiếp đến bất bình đẳng giới
(tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống). Kết
quả thực hiện chính sách này đã tác động rất lớn đến
đời sống kinh tế hộ gia đình và góp phần tích cực
trong việc thực hiện quyền bình đẳng trong hộ gia
đình DTTS.
Tổng hợp số liệu Kết quả điều tra thực trạng
kinh tế-xã hội 53 DTTS năm 2019 về tỷ lệ cán bộ,
công chức (CBCC) là người DTTS trong các cơ
quan Đảng, Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính
và các tổ chức chính trị - xã hội ở vùng DTTS&MN
cho thấy: Tỷ lệ cán bộ, công chức là nữ người DTTS
trong các cơ quan này đều rất thấp và chưa tương
xứng với quy mô của lực lượng lao động nữ DTTS.
- Công tác giáo dục, truyền thông về bình đẳng
giới
Kết quả điều tra, thu thập thông tin về thực trạng
kinh tế-xã hội của 53 DTTS năm 2019 cũng cho
thấy, ở các xã vùng DTTS&MN, tỷ lệ CBCC là nữ
DTTS trong cơ quan Đảng thấp nhất, chỉ chiếm
6,0%; tỷ lệ này trong Hội đồng nhân dân là 7,3%;
trong cơ quan hành chính là 11,4% và trong các tổ
Công tác giáo dục, truyền thông về bình đẳng
giới tại vùng DTTS&MN được thực hiện thường
xuyên thông qua nhiều hình thức như tuyên truyền
qua báo chí, cổng thông tin điện tử của Ủy ban Dân
tộc và cơ quan dân tộc các tỉnh, thành phố vùng
DTTS&MN; thông qua các buổi tập huấn, bồi
dưỡng kiến thức triển khai các chương trình, chính
sách dân tộc, lồng ghép tuyên truyền trong các buổi
bồi dưỡng kiến thức cho người có uy tín trong đồng
bào DTTS.
1. Báo cáo số 20/BC-UBDT của Ủy ban Dân tộc về Tình
hình thực hiện Luật Bình đẳng giới và mục tiêu quốc gia về
bình đẳng giới năm 2018 nêu rõ: “Bình đẳng giới vùng dân
tộc thiểu số còn tồn tại khoảng cách lớn ở nhiều chỉ tiêu so
với các vùng trong cả nước”.
18
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
chức chính trị-xã hội là 15,5%. Đáng chú ý là ở các trong đó Hội Phụ nữ có 100% cán bộ là nữ. Trái lại,
khu vực, vùng, địa phương có điều kiện kinh tế-xã
hội càng thấp và tỷ lệ đồng bào DTTS sinh sống
càng cao thì tỷ lệ CBCC là nữ DTTS càng cao. Cụ
thể, tỷ lệ nữ DTTS trong tổng số CBCC ở khu vực
biên giới, nông thôn cao hơn so với tỷ lệ tương ứng
ở khu vực thành thị. Tương tự, trong các vùng kinh
tế-xã hội, trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ nữ
DTTS trong tổng số CBCC trong các cơ quan Đảng,
Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính và tổ chức
chính trị cao nhất cả nước, tiếp theo là Tây Nguyên
và Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung không
chỉ ít về số lượng mà cơ cấu CBCC nữ DTTS phân
bổ trong các cơ quan, tổ chức ở vùng DTTS&MN
còn mang nặng định kiến giới.
tại các cơ quan Đảng, Hội đồng nhân dân, tỷ lệ nữ
CBCC là người DTTS chỉ tương ứng 6,0% và 7,3%,
chỉ bằng khoảng 1/6 so với nam DTTS. Tại cơ quan
hành chính cấp xã, tỷ lệ nữ CBCC là người DTTS
đạt 11,4%, tuy nhiên chủ yếu ở vị trí như văn thư,
hành chính, kế toán, tài vụ (Uy ban Dan toc & Tong
cuc Thong ke, 2019).
4.3. Thực hiện các mục tiêu Chiến lược quốc
gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2021-2030 đã có sự điều chỉnh trên nhiều mục tiêu
so với Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai
đoạn 2011-2020. Số mục tiêu giảm từ 7 (giai đoạn
2011-2020) xuống còn 6 (giai đoạn 2021-2030).
Các chỉ số cơ bản cũng được điều chỉnh tăng (theo
sự phát triển kinh tế-xã hội) hoặc điều chỉnh giảm
(phù hợp với điều kiện thực tiễn). Ví dụ:
Một vấn đề nữa là tình trạng mất cân đối trong cơ
cấu cán bộ nữ DTTS tại các cơ quan, tổ chức khác
nhau. Phân tích kết quả thu thập thông tin về thực
trạng kinh tế-xã hội của 53 DTTS năm 2019 cho
thấy, nữ CBCC là người DTTS chiếm tỷ lệ cao nhất
trong khối các tổ chức chính trị - xã hội (15,5%),
- Điều chỉnh giảm: tại Mục tiêu 2: Giảm khoảng
cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm,
Volume 10, Issue 3
19
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
giai đoạn 2011-2020 xây dựng chỉ tiêu: “Tỷ lệ nữ cũng lớn hơn nhiều so với phụ nữ dân tộc đa số.
Nguyên nhân chủ yếu bởi phụ nữ DTTS thường
ít được học hành, khả năng tiếp cận các luồng tư
tưởng mới khó khăn, nên ý thức về nữ quyền, về
bình đẳng giới rất hạn chế.
làm chủ doanh nghiệp đạt 30% vào năm 2015 và từ
35% trở lên vào năm 2020”; đến giai đoạn 2021-
2030 được điều chỉnh: “Tỷ lệ nữ làm giám đốc/chủ
doanh nghiệp, hợp tác xã đạt 27% vào năm 2025 và
30% vào năm 2030”.
Từ những phân tích trên có thể thấy, các mục
tiêu, chỉ số cụ thể trong Chiến lược quốc gia về
bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 được xây dựng
tương đối phù hợp, có tính khả thi nếu xét ở vùng đô
thị lớn hay cả các vùng nông thôn miền xuôi, nhưng
ở vùng DTTS&MN là những thách thức rất lớn, cần
những giải pháp quyết liệt và hiệu quả hơn.
- Điều chỉnh tăng: tại Mục tiêu Nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực nữ, giai đoạn 2011-2020 xác
định: “Tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 40% vào năm 2015 và
50% vào năm 2020. Tỷ lệ nữ tiến sỹ đạt 20% vào
năm 2015 và 25% vào năm 2020”; đến giai đoạn
2021-2030 xác định: “Tỷ lệ nữ thạc sĩ trong tổng
số người có trình độ thạc sĩ đạt không dưới 50% từ
năm 2025 trở đi. Tỷ lệ nữ tiến sĩ trong tổng số người
có trình độ tiến sĩ đạt 30% và năm 2025 và 35% vào
năm 2030”.
6. Kết luận
Có thể nói, bình đẳng giới là một trong những
mục tiêu nhằm hướng đến một xã hội tiến bộ, bình
đẳng và phát triển bền vững, được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm, đánh giá là một động lực và mục
tiêu phát triển quốc gia. Đặc biệt, thực hiện bình
đẳng giới trong cộng đồng các DTTS là công tác xã
hội quan trọng cần ưu tiên, đặt lên hàng đầu, tạo sự
phát triển của vùng DTTS&MN, góp phần cải thiện
đời sống, nâng cao trình độ, dân trí, đảm bảo trật tự
an ninh xã hội và chủ quyền quốc gia. Để nâng cao
chất lượng, hiệu quả của các chính sách bình đẳng
giới, mỗi lãnh đạo, quản lý, mỗi cán bộ, công chức,
viên chức trong cơ quan Ủy ban Dân tộc cần nâng
cao tư tưởng, nhận thức về bình đẳng giới, loại trừ
những định kiến hay tự định kiến, từ đó nâng cao
chất lượng đề xuất, tham mưu, tổ chức thực hiện
các chương trình, chính sách phát triển kinh tế-xã
hội, trong đó đảm bảo vai trò, vị trí của phụ nữ, đảm
bảo mục tiêu phát triển bền vững vùng DTTS&MN
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
5. Thảo luận
Có thể thấy, mặc dù các mục tiêu, chỉ số trong
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2021-2030 đã có sự điều chỉnh, song để đạt được
các mục tiêu đó vẫn là những thách thức lớn, đặc
biệt là trong lĩnh vực công tác dân tộc, ở vùng
DTTS&MN. Bên cạnh những định kiến về giới
trong cộng đồng các DTTS thường nặng nề hơn
nhiều so với cộng đồng dân tộc đa số, thì sự tác
động của các yếu tố ngoại cảnh (quá trình di dịch
cư, dịch bệnh..) tác động lên phụ nữ DTTS cũng lớn
hơn nhiều so với dân tộc đa số.
Các định kiến giới thường tác động mạnh lên
sự phân công lao động truyền thống (đàn ông lo
việc xã hội, phụ nữ lo việc gia đình, chăm sóc con
cái…), nhưng sự tác động của nó đến phụ nữ DTTS
Tai lieu tham khao
Hoc vien Chinh tri quoc gia Ho Chi Minh.
(2018). Giao trinh cao cap ly luan chinh tri:
Gioi trong lanh dao quan ly. Nxb. Ly luan
chinh tri.
Tiep, N. Van. (2017). Bat binh dang gioi ve giao
duc, viec lam, thu nhap va ngheo doi o dong
bao song Cuu Long hien nay: Tiep can nhan
hoc va xa hoi hoc. Nhiem vu nghien cuu khoa
hoc cap quoc gia, ma so: IV5.3-2012.23.
Minh, N. H., & Hoa, D. T. (2020). Thuc hien
binh dang gioi o vung dan toc thieu so Viet
Nam. Ha Noi: Nxb. Khoa hoc Xa hoi.
Uy ban Dan toc. (2019). Tinh hinh thuc hien
luat Binh dang gioi va muc tieu quoc gia ve
binh dang gioi nam 2018. Báo cáo số 20/BC-
UBDT.
Quoc hoi. (2006). Luat Binh dang gioi. Van ban
luat so 73/2006/QH11, ngay 29/6/2006.
Uy ban Dan toc & Tong cuc Thong ke. (2019).
Ket qua dieu tra, thu thap thong tin ve thuc
trang kinh te - xa hoi cua 53 dan toc thieu so
nam 2019.
Thu tuong Chinh phu. (2020). Chien luoc
quoc gia ve binh dang gioi giai doan 2011-
2020. Quyet dinh so 2351/QĐ-TTg ngay
24/12/2010.
20
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC CÔNG TÁC DÂN TỘC
– NHÌN TỪ MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
Giang Khắc Bìnha
Hà Quang Khuêb
Học viện Dân tộc
Ngày nhận bài:
06/9/2021
Ngày phản biện: 08/9/2021
Ngày tác giả sửa: 18/9/2021
Ngày duyệt đăng: 25/9/2021
Ngày phát hành: 30/9/2021
gày 03/3/2021, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 28/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về bình
N
đẳng giới giai đoạn 2021-2030 với những mục tiêu cụ thể nhằm tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới,
tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước. Từ kết quả và những tồn tại trong quá trình thực hiện Chiến
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, có thể thấy, việc thực hiện các mục tiêu của Chiến
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 sẽ gặp không ít khó khăn, thách thức, đặc biệt là việc
thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực công tác dân tộc do những đặc trưng về kinh tế-xã hội cũng như
văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số. Thực trạng này đang đặt ra nhiều vấn đề
cần được quan tâm nghiên cứu.
Từ khóa: Bình đẳng giới; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới; Bình đẳng giới trong lĩnh vực công
tác dân tộc.
Volume 10, Issue 3
21
Bạn đang xem tài liệu "Gender equality in the field of ethnic works - view from objectives development strategies", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
gender_equality_in_the_field_of_ethnic_works_view_from_objec.pdf

