Gender equality in the field of ethnic works - view from objectives development strategies

CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
GENDER EQUALITY IN THE FIELD OF ETHNIC WORKS  
- VIEW FROM OBJECTIVES DEVELOPMENT STRATEGIES  
Giang Khac Binha  
Ha Quang Khueb  
Vietnam Academy for Ethnic Minorities  
Received:  
Reviewed:  
Revised:  
Accepted:  
Released:  
06/9/2021  
08/9/2021  
18/9/2021  
25/9/2021  
30/9/2021  
he Government issued Resolution No. 28/NQ-CP on March 3rd, 2021, promulgating the National  
T
Strategy on Gender Equality for the period of 2021-2030 with specific targets to further narrow  
the gender gap, creating conditions and opportunities for women and men to participate and enjoy equal  
benefits in all fields of social life, contributing to the sustainable development of the country. From the  
results and shortcomings in the implementation of the National Strategy on Gender Equality for the  
period of 2011-2020, it can be seen that the implementation of the objectives of the National Strategy on  
Gender Equality for the period of 2021-2030 will face many difficulties and challenges. Especially the  
implementation of gender equality in the field of ethnic works due to the socio-economic characteristics  
as well as the culture, customs and practices of ethnic minorities. This situation raises many issues that  
need to be studied.  
Keywords: Gender equality; National Strategy on Gender Equality; Gender equality in the field of  
ethnic works.  
1. Đặt vấn đề  
từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan,  
trong đó có nguyên nhân từ đặc điểm văn hóa, kinh  
tế-xã hội vùng DTTS&MN .  
Bình đẳng nam nữ - bình đẳng giới là vấn đề  
luôn nhận được sự quan tâm của toàn nhân loại, là  
một mục tiêu quan trọng trong các văn kiện quốc tế  
về quyền con người, đặc biệt là Công ước Liên hợp  
quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với  
phụ nữ (CEDAW). Do đó, bình đẳng nam nữ trở  
thành một trong những tiêu chí đánh giá trình độ  
văn minh, tiến bộ của một quốc gia.  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Bình đẳng giới là vấn đề rộng, bao trùm lên các  
lĩnh vực đời sống, từ chính trị cho đến kinh tế-xã  
hội. Vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam, trong đó  
có vấn đề bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN được  
nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế quan  
tâm. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu,  
báo cáo chủ yếu sau:  
Sau khi Thủ tưởng Chính phủ ký Quyết định số  
2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010, phê duyệt Chiến  
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-  
2020, Ủy ban Dân tộc đã có những bước đi hết sức  
cụ thể nhằm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình  
đẳng giới giai đoạn 2011-2020 ở vùng dân tộc thiểu  
số và miền núi (DTTS&MN). Trong quá trình thực  
hiện, nhiều khó khăn, thách thức đã nảy sinh, nhiều  
mục tiêu không thể hoàn thành. Điều đó xuất phát  
- Các công trình nghiên cứu  
Trong cuốn sách “Thực hiện bình đẳng giới ở  
vùng dân tộc thiểu số Việt Nam” (Minh, 2020), các  
tác giả trình bày những vấn đề cơ bản về bình đẳng  
giới ở vùng DTTS &MN trong các lĩnh vực chính  
trị, giáo dục, lao động việc làm, y tế và chăm sóc  
Volume 10, Issue 3  
15  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
sức khỏe…, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu Isee (2010), “Báo cáo hiện trạng bất bình đẳng giới  
nhằm nâng cao hiệu quả chính sách bình đẳng giới trong cộng đồng dân tộc thiểu số”, Hà Nội; Action  
Aid. (2008), “Báo cáo khảo sát quyền tiếp cận  
của phụ nữ trong các vùng phát triển của AAV tại  
Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình) và Tam Đường (tỉnh Lai  
Châu)”; UNFPA (2007), “Kiến thức và hành vi của  
cộng đồng dân tộc thiểu số về sức khỏe sinh sản”,  
Hà Nội; UNFPA (2006), “Thực trạng cung cấp và  
sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 07  
tỉnh tham gia chương trình quốc gia 7 do UNFPA  
tài trợ: Báo cáo điều tra ban đầu”, UNFPA, Hà Nội;  
UNFPA (2008a), “Sinh đẻ của cộng đồng dân tộc  
thiểu số: nghiên cứu định tính tại Bình Định”, Hà  
Nội; UNFPA (2008b), “Sức khỏe sinh sản của đồng  
bào Mông tỉnh Hà Giang: Nghiên cứu nhân học  
y tế”, Hà Nội; UNICEF-UNESCO-BGDĐT Việt  
Nam (2008), “Nghiên cứu về chuyển tiếp từ tiểu  
học lên trung học cơ sở của trẻ em gái người dân  
tộc thiểu số”, Hà Nội… Qua các nghiên cứu định  
tính, các báo cáo đã chỉ rõ kết quả và những hạn  
chế trong công tác bình đẳng giới ở vùng đồng bào  
DTTS&MN nước ta hiện nay trong những phạm vi  
cụ thể.  
ở vùng DTTS&MN. Trong cuốn “Bất bình đẳng  
giới về giáo dục, việc làm, thu nhập và nghèo đói ở  
đồng bằng sông Cửu Long hiện nay: tiếp cận nhân  
học và xã hội học” (Tiep, 2017), từ việc khảo sát  
và phân tích sự bất bình đẳng giới trong việc tiếp  
cận cơ hội và thụ hưởng các vấn đề giáo dục, lao  
động, việc làm, thu nhập và nghèo đói ở vùng đồng  
bằng sông Cửu Long, các tác giả đã xác định những  
nguyên nhân của sự bất bình đẳng, mức độ bất bình  
đẳng và hậu quả của sự bất bình đẳng, đồng thời dự  
báo xu hướng về sự bất bình đẳng giới trong lĩnh  
vực giáo dục, lao động, việc làm, thu nhập và nghèo  
đói trong thời gian tới.  
Vấn đề bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN cũng  
rất được báo chí quan tâm. Ngày 05/01/2018, trang  
Thông tin điện tử của Tổng cục dân số - kế hoạch  
hóa gia đình có bài viết: “Bất bình đẳng giới trong  
cộng đồng DTTS trong bối cảnh đảm bảo an ninh  
con người: thực trạng và giải pháp”, tác giả phân  
tích thực trạng bất bình đẳng giới trong cộng đồng  
DTTS ở nhiều khía cạnh: phân công lao động theo  
giới, tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, cơ hội trong  
giáo dục và việc làm,… Qua đó, tác giả chỉ rõ  
những bất bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN trước  
hết xuất phát từ đặc điểm văn hóa, sự phân công lao  
động truyền thống.  
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về bình  
đẳng giới ở vùng DTTS&MN ở Việt Nam đã cho  
thấy rõ những thành tựu mà chính sách bình đẳng  
giới mang lại, góp phần cải thiện đáng kể sự bất  
bình đẳng giới ở vùng đồng bào DTTS&MN. Tuy  
nhiên, các báo cáo, công trình nghiên cứu cũng  
đã chỉ ra rằng, việc thực hiện các chính sách bình  
đẳng giới ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề  
cần giải quyết. Điều đáng nói, chưa có công trình  
nghiên cứu, báo cáo nào nghiên cứu vấn đề bình  
đẳng giới ở vùng đồng bào DTTS&MN từ góc nhìn  
mục tiêu chiến lược, đặc biệt là Chiến lược bình  
đẳng giới giai đoạn 2021-2030.  
Bên cạnh đó, có thể kể các công trình nghiên cứu  
về bình đẳng giới tại các địa phương như “Nghiên  
cứu, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực chuyên  
môn về bình đẳng giới đối với cán bộ cấp xã trên địa  
bàn tỉnh Yên Bái” do Phạm Tuấn Chung làm Chủ  
nhiệm (đề tài cấp tỉnh, 2018); “Nghiên cứu một số  
vấn đề về phụ nữ với gia đình và bình đẳng giới ở  
tỉnh Kon Tum” do Vũ Thị Minh Huệ làm Chủ nhiệm  
(đề tài cấp tỉnh, 1999); “Một số yếu tố liên quan tới  
bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản  
tại 8 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ” do Phạm Văn  
Tác, Bùi Thị Thu Hà đồng Chủ nhiệm (nhiệm vụ  
cấp Bộ, 2015); “Thực trạng và giải pháp thực hiện  
bình đẳng giới trong gia đình và xã hội của phụ nữ  
nông thôn tỉnh Khánh Hòa” do Bùi Thị Hồng Tiến  
(nhiệm vụ cấp tỉnh, 2008), “Một số nét về bình đẳng  
giới ở các dân tộc thiểu số (qua khảo sát một số địa  
bàn tại Sa Pa)”, tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm,  
“Nghiên cứu giới và gia đình”, số 2, 2006… Trong  
các nghiên cứu trên, các tác giả đã phân tích thực  
trạng bình đẳng giới ở vùng DTTS&MN trên từng  
lĩnh vực khác nhau, từ đó đề xuất những giải pháp  
cụ thể nhằm nâng cao chất lượng bình đẳng giới.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp tổng hợp,  
so sánh, đối chiếu các tài liệu thứ cấp với một khối  
lượng tài liệu khá phong phú, bao gồm các công  
trình nghiên cứu, hệ thống văn bản chính sách, các  
báo cáo về bình đẳng giới của cơ quan quản lý nhà  
nước về công tác dân tộc, kết hợp với số liệu điều  
tra thực trạng kinh tế-xã hội 53 DTTS do Ủy ban  
Dân tộc và Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2015  
và 2019.  
4. Nội dung nghiên cứu  
4.1. Vấn đề nhận thức về bình đẳng giới ở  
Việt Nam  
Luật Bình đẳng giới (Quoc hoi, 2006) ghi rõ:  
“Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử  
về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong  
phát triển kinh tế-xã hội và phát triển nguồn nhân  
lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ  
và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa  
- Các báo cáo về bình đẳng giới  
Rất nhiều báo cáo về bình đẳng giới ở vùng  
DTTS&MN đã được các các cơ quan, tổ chức trong  
nước và nước ngoài thực hiện: Oxfam, Actinaid,  
16  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và quy định liên quan đến phụ nữ có chú trọng đến bình  
gia đình”.  
đẳng giới bảo vệ, nhưng vô hình trung lại khiến phụ  
nữ giảm đi nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp hay  
cống hiến cho xã hội khi sức khỏe vẫn còn dồi dào.  
Theo lý thuyết về bình đẳng giới (Hoc vien  
Chinh tri quoc gia Ho Chi Minh, 2018), có 03 kiểu  
quan niệm về bình đẳng giới là bình đẳng giới kiểu  
4.2. Việc thực hiện Chiến lược quốc gia về  
hình thức, bình đẳng giới kiểu bảo vệ và bình đẳng bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 trong cơ quan  
giới kiểu thực chất. Bình đẳng giới kiểu hình thức quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ góc nhìn  
xuất phát từ quan niệm coi nam và nữ là như nhau, mục tiêu  
không để ý đến sự khác biệt về sinh học cũng như sự  
khác biệt do xã hội quy định. Quan niệm bình đẳng  
giới kiểu hình thức cho rằng, phụ nữ có thể tiếp cận  
các cơ hội giống như cách tiếp cận của nam giới  
nên thường chọn cách đối xử với nam và nữ giống  
hệt nhau. Do vậy, xét về bản chất, kiểu quan niệm  
này tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ, buộc họ phải  
thể hiện mình theo cách của nam giới. Trên thực tế,  
việc lồng ghép giới trong các chương trình, chính  
sách dân tộc thường tiếp cận bình đẳng giới theo  
hướng này, không tính đến sự khác biệt giới tính,  
do đó không đạt được hiệu quả như mong muốn.  
Bình đẳng giới kiểu bảo vệ nhận diện được sự khác  
biệt giữa nam và nữ, nhưng cho rằng cần tập trung  
xem xét các điểm yếu của phụ nữ để tạo ra những  
sự đối xử khác biệt. Quan niệm này dẫn đến việc cố  
gắng tạo ra những “vỏ bọc bảo vệ phụ nữ”, chẳng  
hạn như các chính sách, quy định, biện pháp... dành  
riêng cho nữ (ví dụ chính sách của Việt Nam quy  
định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sớm hơn nam giới 5  
năm), giới hạn phụ nữ tham gia một số lĩnh vực hoạt  
động được coi là không phù hợp đối với phụ nữ (các  
nghề có tính hao tổn thể lực như lái xe tải, vận hành  
máy... hạn chế sử dụng lao động nữ). Các biện pháp  
tiếp cận bình đẳng giới kiểu bảo vệ có thể phát huy  
tác dụng bảo vệ phụ nữ trong một số bối cảnh không  
gian và thời gian đặc thù nào đó. Tuy nhiên, việc  
thực hiện bình đẳng giới theo quan niệm này thực  
ra là cản trở quyền tự do lựa chọn của phụ nữ. Phụ  
nữ có thể bị tước đi hàng loạt cơ hội phát triển khiến  
tình trạng bất bình đẳng giới ngày càng trở nên trầm  
trọng. Nhìn chung, quan niệm này củng cố khuôn  
mẫu định kiến giới và không dẫn đến biến đổi xã  
hội theo hướng bình đẳng hơn.  
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai  
đoạn 2011-2020 (Thu tuong Chinh phu, 2020) đề  
ra 7 mục tiêu cụ thể: Mục tiêu 1: Tăng cường sự  
tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo,  
nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong  
lĩnh vực chính trị; Mục tiêu 2: Giảm khoảng cách  
giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng  
cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn,  
phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn  
lực kinh tế, thị trường lao động; Mục tiêu 3: Nâng  
cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo  
đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong  
lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Mục tiêu 4: Bảo đảm  
bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch  
vụ chăm sóc sức khỏe; Mục tiêu 5: Bảo đảm bình  
đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông tin; Mục  
tiêu 6: Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia  
đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới; Mục  
tiêu 7: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình  
đẳng giới.  
Để thực hiện những mục tiêu trên, trong những  
năm qua, Ủy ban Dân tộc đã thực hiện những giải  
pháp cụ thể, thiết thực:  
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các  
văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới  
Ủy ban Dân tộc đặc biệt quan tâm, chú trọng  
việc tuân thủ, thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.  
Các luật, chương trình, chính sách về bình đẳng  
giới có liên quan như: Luật Bình đẳng giới, Luật  
Hôn nhân và gia đình, Luật Phòng chống bạo lực  
gia đình, Đề án Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới  
vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2018-2025 (Quyết  
định số 1898/QĐ-TTg ngày 28/11/2017 của Thủ  
tướng Chính phủ), Đề án “Giảm thiếu tình trạng  
tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng  
bào dân tộc thiểu số” (Quyết định số 498/QĐ-TTg  
ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ), Đề án  
“Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật  
và tuyên truyền, vận động đồng bảo vùng dân tộc  
thiểu số và miền núi” (Quyết định số 1163/QĐ-TTg  
ngày 08/08/2017 của Thủ tướng Chính phủ)... được  
thể hiện ở các văn bản hướng dẫn địa phương và  
các văn bản phối hợp thực hiện với các bộ, ngành  
liên quan.  
Khi áp dụng quan niệm bình đẳng giới kiểu thực  
chất, kết quả mang lại sẽ là rất lớn, chẳng hạn: Phụ  
nữ và nam giới cùng được tôn trọng như nhau, cùng  
chia sẻ, cùng bàn bạc và cùng ra quyết định mọi  
công việc trong gia đình và xã hội, phụ nữ và nam  
giới cùng được học tập, bồi dưỡng về văn hóa, khoa  
học, kỹ thuật để nâng cao năng lực của mình; phụ  
nữ tham gia bình đẳng với nam giới vào công việc  
lãnh đạo, quản lý; phụ nữ được hưởng thụ đầy đủ  
các lợi ích xã hội như nam giới.  
Trên thực tế, do những hạn chế về nhận thức,  
việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam mới chủ  
yếu chú trọng về bình đẳng giới hình thức. Một số  
- Lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào các  
chương trình, chính sách phát triển  
Volume 10, Issue 3  
17  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
Khi đề xuất xây dựng và triển khai thực hiện các  
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ  
chương trình, chính sách lớn về phát triển kinh tế-xã hoạt động về bình đẳng giới  
hội, Ủy ban Dân tộc luôn chú trọng việc lồng ghép  
vấn đề bình đẳng giới, tạo tiền đề để thực thi bình  
đẳng giới không chỉ trong nội bộ cơ quan Ủy ban  
Dân tộc mà còn mở rộng cả ở vùng DTTS&MN. Ví  
dụ, khi thực hiện Chính sách vay vốn phát triển sản  
xuất đối với hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn  
(Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007  
của Thủ tướng Chính phủ về cho vay vốn phát triển  
sản xuất đối với hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó  
khăn), dựa trên thực trạng đời sống của hộ gia đình  
người DTTS, trong đó có cả chủ hộ gia đình là nam  
và nữ đều được bình đẳng như nhau, tại Chương  
trình 135 có quy định tỷ lệ phụ nữ tham gia lập kế  
hoạch thực hiện chương trình ở cấp xã không được  
thấp hơn 30%, tại Hướng dẫn số 01/HD-BCĐ ngày  
14/01/2019 của Ban chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn  
quốc các DTTS Việt Nam lần thứ II có quy định chỉ  
tiêu lựa chọn đại biểu theo giới tính, theo đó tỷ lệ  
nữ ít nhất 30%...  
Công tác bồi dưỡng kiến thức pháp luật nói  
chung và kiến thức pháp luật về bình đẳng giới cho  
đội ngũ cán bộ được Ủy ban Dân tộc quan tâm triển  
khai khi thực hiện các đề án, chính sách. Trong năm  
2018, riêng Đề án Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới  
vùng DTTS&MN, Ủy ban Dân tộc đã tổ chức 05  
lớp tập huấn tại 05 tỉnh (Lai Châu, Lào Cai, Cao  
Bằng, Tuyên Quang, Kon Tum) cho khoảng 600  
lượt người tham gia. Thành phần bao gồm đại biểu  
là cán bộ Ban Dân tộc tỉnh, cán bộ phòng ban các  
huyện, cán bộ xã, thôn, bản và các già làng, trưởng  
bản, người có uy tín tham gia thực hiện Đề án. Nội  
dung tập huấn chủ yếu là cung cấp thông tin, chính  
sách, pháp luật về bình đẳng giới, hướng triển khai  
thực hiện Đề án và các kỹ năng tuyên truyền, vận  
động, tư vấn pháp luật về bình đẳng giới…  
* Đánh giá trên cơ sở rà soát một số mục tiêu  
Mặc dù đã đạt được những thành tựu rất đáng  
khích lệ, tuy nhiên nếu đối chiếu với các mục tiêu,  
chỉ tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới  
giai đoạn 2011-2020, nhiều chỉ tiêu thực hiện được  
ở mức thấp, có thể coi là không đạt so với mục tiêu  
đề ra1 (Ủy ban Dân tộc, 2019). Đối chiếu với Mục  
tiêu 1, dù tỷ lệ cán bộ nữ trong các vị trí lãnh đạo,  
quản lý đã có sự gia tăng đáng kể song vẫn còn  
những hạn chế nhất định. Báo cáo của Ủy ban Dân  
tộc về kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về bình  
đẳng giới giai đoạn 2011-2020 cho thấy “tỉ lệ cán  
bộ nữ, cán bộ người DTTS còn thấp, chưa tương  
xứng với tỷ lệ dân số nữ người DTTS. Số lượng  
cán bộ nữ giữ chức vụ chủ chốt chưa cao, cơ cấu  
không đồng đều, nhiều nơi mất cân đối. Chất lượng  
đội ngũ cán bộ DTTS tuy đã được nâng lên, nhưng  
một số cán bộ vẫn chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn”.  
Ủy ban Dân tộc cũng đã phối hợp với Bộ Lao  
động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Quốc gia  
Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Trung  
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội  
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và các cơ quan, địa  
phương có liên quan xây dựng kế hoạch triển khai  
thực hiện Mô hình 5 trong Chương trình mục tiêu  
quốc gia về bình đẳng giới với nội dung: mô hình  
thí điểm về dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về bình đẳng giới  
tại 30 xã, phường, thị trấn ở miền núi, vùng cao cho  
đồng bào DTTS. Khảo sát đánh giá về thực trạng  
bình đẳng giới tại các xã miền núi, vùng cao. Xây  
dựng thí điểm một số dịch vụ thông tin, tư vấn (tại  
các điểm bưu điện văn hóa xã, tại nhà người có uy  
tín tại thôn, bản) nhằm nâng cao nhận thức về thực  
hiện bình đẳng giới tại một số dân tộc có phong tục,  
tập quán ảnh hưởng trực tiếp đến bất bình đẳng giới  
(tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống). Kết  
quả thực hiện chính sách này đã tác động rất lớn đến  
đời sống kinh tế hộ gia đình và góp phần tích cực  
trong việc thực hiện quyền bình đẳng trong hộ gia  
đình DTTS.  
Tổng hợp số liệu Kết quả điều tra thực trạng  
kinh tế-xã hội 53 DTTS năm 2019 về tỷ lệ cán bộ,  
công chức (CBCC) là người DTTS trong các cơ  
quan Đảng, Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính  
và các tổ chức chính trị - xã hội ở vùng DTTS&MN  
cho thấy: Tỷ lệ cán bộ, công chức là nữ người DTTS  
trong các cơ quan này đều rất thấp và chưa tương  
xứng với quy mô của lực lượng lao động nữ DTTS.  
- Công tác giáo dục, truyền thông về bình đẳng  
giới  
Kết quả điều tra, thu thập thông tin về thực trạng  
kinh tế-xã hội của 53 DTTS năm 2019 cũng cho  
thấy, ở các xã vùng DTTS&MN, tỷ lệ CBCC là nữ  
DTTS trong cơ quan Đảng thấp nhất, chỉ chiếm  
6,0%; tỷ lệ này trong Hội đồng nhân dân là 7,3%;  
trong cơ quan hành chính là 11,4% và trong các tổ  
Công tác giáo dục, truyền thông về bình đẳng  
giới tại vùng DTTS&MN được thực hiện thường  
xuyên thông qua nhiều hình thức như tuyên truyền  
qua báo chí, cổng thông tin điện tử của Ủy ban Dân  
tộc và cơ quan dân tộc các tỉnh, thành phố vùng  
DTTS&MN; thông qua các buổi tập huấn, bồi  
dưỡng kiến thức triển khai các chương trình, chính  
sách dân tộc, lồng ghép tuyên truyền trong các buổi  
bồi dưỡng kiến thức cho người có uy tín trong đồng  
bào DTTS.  
1. Báo cáo số 20/BC-UBDT của Ủy ban Dân tộc về Tình  
hình thực hiện Luật Bình đẳng giới và mục tiêu quốc gia về  
bình đẳng giới năm 2018 nêu rõ: “Bình đẳng giới vùng dân  
tộc thiểu số còn tồn tại khoảng cách lớn ở nhiều chỉ tiêu so  
với các vùng trong cả nước”.  
18  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
chức chính trị-xã hội là 15,5%. Đáng chú ý là ở các trong đó Hội Phụ nữ có 100% cán bộ là nữ. Trái lại,  
khu vực, vùng, địa phương có điều kiện kinh tế-xã  
hội càng thấp và tỷ lệ đồng bào DTTS sinh sống  
càng cao thì tỷ lệ CBCC là nữ DTTS càng cao. Cụ  
thể, tỷ lệ nữ DTTS trong tổng số CBCC ở khu vực  
biên giới, nông thôn cao hơn so với tỷ lệ tương ứng  
ở khu vực thành thị. Tương tự, trong các vùng kinh  
tế-xã hội, trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ nữ  
DTTS trong tổng số CBCC trong các cơ quan Đảng,  
Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính và tổ chức  
chính trị cao nhất cả nước, tiếp theo là Tây Nguyên  
và Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung không  
chỉ ít về số lượng mà cơ cấu CBCC nữ DTTS phân  
bổ trong các cơ quan, tổ chức ở vùng DTTS&MN  
còn mang nặng định kiến giới.  
tại các cơ quan Đảng, Hội đồng nhân dân, tỷ lệ nữ  
CBCC là người DTTS chỉ tương ứng 6,0% và 7,3%,  
chỉ bằng khoảng 1/6 so với nam DTTS. Tại cơ quan  
hành chính cấp xã, tỷ lệ nữ CBCC là người DTTS  
đạt 11,4%, tuy nhiên chủ yếu ở vị trí như văn thư,  
hành chính, kế toán, tài vụ (Uy ban Dan toc & Tong  
cuc Thong ke, 2019).  
4.3. Thực hiện các mục tiêu Chiến lược quốc  
gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030  
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn  
2021-2030 đã có sự điều chỉnh trên nhiều mục tiêu  
so với Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai  
đoạn 2011-2020. Số mục tiêu giảm từ 7 (giai đoạn  
2011-2020) xuống còn 6 (giai đoạn 2021-2030).  
Các chỉ số cơ bản cũng được điều chỉnh tăng (theo  
sự phát triển kinh tế-xã hội) hoặc điều chỉnh giảm  
(phù hợp với điều kiện thực tiễn). Ví dụ:  
Một vấn đề nữa là tình trạng mất cân đối trong cơ  
cấu cán bộ nữ DTTS tại các cơ quan, tổ chức khác  
nhau. Phân tích kết quả thu thập thông tin về thực  
trạng kinh tế-xã hội của 53 DTTS năm 2019 cho  
thấy, nữ CBCC là người DTTS chiếm tỷ lệ cao nhất  
trong khối các tổ chức chính trị - xã hội (15,5%),  
- Điều chỉnh giảm: tại Mục tiêu 2: Giảm khoảng  
cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm,  
Volume 10, Issue 3  
19  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
giai đoạn 2011-2020 xây dựng chỉ tiêu: “Tỷ lệ nữ cũng lớn hơn nhiều so với phụ nữ dân tộc đa số.  
Nguyên nhân chủ yếu bởi phụ nữ DTTS thường  
ít được học hành, khả năng tiếp cận các luồng tư  
tưởng mới khó khăn, nên ý thức về nữ quyền, về  
bình đẳng giới rất hạn chế.  
làm chủ doanh nghiệp đạt 30% vào năm 2015 và từ  
35% trở lên vào năm 2020”; đến giai đoạn 2021-  
2030 được điều chỉnh: “Tỷ lệ nữ làm giám đốc/chủ  
doanh nghiệp, hợp tác xã đạt 27% vào năm 2025 và  
30% vào năm 2030”.  
Từ những phân tích trên có thể thấy, các mục  
tiêu, chỉ số cụ thể trong Chiến lược quốc gia về  
bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 được xây dựng  
tương đối phù hợp, có tính khả thi nếu xét ở vùng đô  
thị lớn hay cả các vùng nông thôn miền xuôi, nhưng  
ở vùng DTTS&MN là những thách thức rất lớn, cần  
những giải pháp quyết liệt và hiệu quả hơn.  
- Điều chỉnh tăng: tại Mục tiêu Nâng cao chất  
lượng nguồn nhân lực nữ, giai đoạn 2011-2020 xác  
định: “Tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 40% vào năm 2015 và  
50% vào năm 2020. Tỷ lệ nữ tiến sỹ đạt 20% vào  
năm 2015 và 25% vào năm 2020”; đến giai đoạn  
2021-2030 xác định: “Tỷ lệ nữ thạc sĩ trong tổng  
số người có trình độ thạc sĩ đạt không dưới 50% từ  
năm 2025 trở đi. Tỷ lệ nữ tiến sĩ trong tổng số người  
có trình độ tiến sĩ đạt 30% và năm 2025 và 35% vào  
năm 2030”.  
6. Kết luận  
Có thể nói, bình đẳng giới là một trong những  
mục tiêu nhằm hướng đến một xã hội tiến bộ, bình  
đẳng và phát triển bền vững, được Đảng và Nhà  
nước ta quan tâm, đánh giá là một động lực và mục  
tiêu phát triển quốc gia. Đặc biệt, thực hiện bình  
đẳng giới trong cộng đồng các DTTS là công tác xã  
hội quan trọng cần ưu tiên, đặt lên hàng đầu, tạo sự  
phát triển của vùng DTTS&MN, góp phần cải thiện  
đời sống, nâng cao trình độ, dân trí, đảm bảo trật tự  
an ninh xã hội và chủ quyền quốc gia. Để nâng cao  
chất lượng, hiệu quả của các chính sách bình đẳng  
giới, mỗi lãnh đạo, quản lý, mỗi cán bộ, công chức,  
viên chức trong cơ quan Ủy ban Dân tộc cần nâng  
cao tư tưởng, nhận thức về bình đẳng giới, loại trừ  
những định kiến hay tự định kiến, từ đó nâng cao  
chất lượng đề xuất, tham mưu, tổ chức thực hiện  
các chương trình, chính sách phát triển kinh tế-xã  
hội, trong đó đảm bảo vai trò, vị trí của phụ nữ, đảm  
bảo mục tiêu phát triển bền vững vùng DTTS&MN  
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.  
5. Thảo luận  
Có thể thấy, mặc dù các mục tiêu, chỉ số trong  
Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn  
2021-2030 đã có sự điều chỉnh, song để đạt được  
các mục tiêu đó vẫn là những thách thức lớn, đặc  
biệt là trong lĩnh vực công tác dân tộc, ở vùng  
DTTS&MN. Bên cạnh những định kiến về giới  
trong cộng đồng các DTTS thường nặng nề hơn  
nhiều so với cộng đồng dân tộc đa số, thì sự tác  
động của các yếu tố ngoại cảnh (quá trình di dịch  
cư, dịch bệnh..) tác động lên phụ nữ DTTS cũng lớn  
hơn nhiều so với dân tộc đa số.  
Các định kiến giới thường tác động mạnh lên  
sự phân công lao động truyền thống (đàn ông lo  
việc xã hội, phụ nữ lo việc gia đình, chăm sóc con  
cái…), nhưng sự tác động của nó đến phụ nữ DTTS  
Tai lieu tham khao  
Hoc vien Chinh tri quoc gia Ho Chi Minh.  
(2018). Giao trinh cao cap ly luan chinh tri:  
Gioi trong lanh dao quan ly. Nxb. Ly luan  
chinh tri.  
Tiep, N. Van. (2017). Bat binh dang gioi ve giao  
duc, viec lam, thu nhap va ngheo doi o dong  
bao song Cuu Long hien nay: Tiep can nhan  
hoc va xa hoi hoc. Nhiem vu nghien cuu khoa  
hoc cap quoc gia, ma so: IV5.3-2012.23.  
Minh, N. H., & Hoa, D. T. (2020). Thuc hien  
binh dang gioi o vung dan toc thieu so Viet  
Nam. Ha Noi: Nxb. Khoa hoc Xa hoi.  
Uy ban Dan toc. (2019). Tinh hinh thuc hien  
luat Binh dang gioi va muc tieu quoc gia ve  
binh dang gioi nam 2018. Báo cáo số 20/BC-  
UBDT.  
Quoc hoi. (2006). Luat Binh dang gioi. Van ban  
luat so 73/2006/QH11, ngay 29/6/2006.  
Uy ban Dan toc & Tong cuc Thong ke. (2019).  
Ket qua dieu tra, thu thap thong tin ve thuc  
trang kinh te - xa hoi cua 53 dan toc thieu so  
nam 2019.  
Thu tuong Chinh phu. (2020). Chien luoc  
quoc gia ve binh dang gioi giai doan 2011-  
2020. Quyet dinh so 2351/QĐ-TTg ngay  
24/12/2010.  
20  
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH  
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC  
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LĨNH VỰC CÔNG TÁC DÂN TỘC  
– NHÌN TỪ MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN  
Giang Khắc Bìnha  
Hà Quang Khuêb  
Học viện Dân tộc  
Ngày nhận bài:  
06/9/2021  
Ngày phản biện: 08/9/2021  
Ngày tác giả sửa: 18/9/2021  
Ngày duyệt đăng: 25/9/2021  
Ngày phát hành: 30/9/2021  
gày 03/3/2021, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 28/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về bình  
N
đẳng giới giai đoạn 2021-2030 với những mục tiêu cụ thể nhằm tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới,  
tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống  
xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước. Từ kết quả và những tồn tại trong quá trình thực hiện Chiến  
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, có thể thấy, việc thực hiện các mục tiêu của Chiến  
lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 sẽ gặp không ít khó khăn, thách thức, đặc biệt là việc  
thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực công tác dân tộc do những đặc trưng về kinh tế-xã hội cũng như  
văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số. Thực trạng này đang đặt ra nhiều vấn đề  
cần được quan tâm nghiên cứu.  
Từ khóa: Bình đẳng giới; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới; Bình đẳng giới trong lĩnh vực công  
tác dân tộc.  
Volume 10, Issue 3  
21  
pdf 7 trang baolam 25620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Gender equality in the field of ethnic works - view from objectives development strategies", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgender_equality_in_the_field_of_ethnic_works_view_from_objec.pdf